Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2015

Hạ bệ hoàng tử Bạch mã của Grimm

NHỮNG CHUYỆN CỔ TÍCH “XẤU XÍ TĂM TỐI”: Kho tàng truyện cổ tích đen tối hơn truyện Grimm được tái khám phá đã hạ bệ huyền thoại hoàng tử Bạch mã ra sao?

Phỏng vấn dịch giả của kho tàng mới được phát hiện gồm những truyện cổ tích 150 năm chứa những điều ngạc nhiên khi chúng thay đổi giới tính của các nhân vật. [Lược dịch từ The Salon, đây chỉ là bản tôi dịch để tự tham khảo, có nhiều chỗ tôi lược đi - NTQ]

Năm 2012, người đọc thế giới thích thú khi biết rằng một nhà nghiên cứu ở bắc Bavaria đã phát hiện ra hàng trăm truyện cổ dân gian chưa từng được xuất bản do nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Franz Xaver von Schönwerth sưu tập. Làm việc chỉ vài chục năm sau anh em Grimm, Schönwerth đã ghi lại các câu chuyện nhiều chất liệu tình dục, khêu gợi và đặc biệt là tục tĩu hơn tuyển tập của anh em nhà Grimm vốn được xuất bản với tên gọi “Truyện kể cho trẻ em và người nội trợ”. Ai cũng biết rằng truyện cổ Grimm thì ảm đạm hơn các phiên bản được làm sạch sẽ của Disney, nhưng với truyện Schönwerth thì hành động trong đó còn trần trụi hơn nhiều.

Erika Eichenseer, người đã lôi ra những sản phẩm của Schönwerth từ Kho lưu trữ Regensburg, đã xuất bản những truyện được chọn bằng tiếng Đức trong nhiều năm qua, giờ đã có một bản tiếng Anh gồm hơn 70 truyện do Penguin Books xuất bản với tên gọi “Công chúa Củ Cải và những truyện cổ tích mới phát hiện khác”. Maria Tatar, trưởng bộ môn/chương trình Văn hóa dân gian và Thần thoại tại Đại học Harvard và là biên tập viên tài hoa của những cuốn sách như “Anh em Grimm Chú giải”, thực hiện từ nhiệm vụ hóc búa là diễn giải văn học dân gian vùng Bavaria thế kỷ 19 sang tiếng Anh hiện đại. Tôi đã trò chuyện với Tatar để tìm hiểu rõ hơn về kho báu đang đợi người đọc khám phá và những gì chúng sẽ làm ta ngạc nhiên về vai trò của các nam nữ nhân vật chính trong những câu chuyện xưa nhất và đại chúng nhất châu Âu.

Bà có thể cho tôi biết những bản thảo này đã được tìm thấy ra sao không? Nhiều người dường như cứ nghĩ rằng Erika Eichenseer chỉ có việc phát hiện ra một cái hộp đựng một kho báu, nhưng hẳn sự thể không hẳn đã diễn ra thế nhỉ?


Erika đã làm phát lộ hàng trăm câu chuyện trong kho lưu trữ thành phố Regensburg – đó là kết quả của một công tác nghiên cứu thư mục vất vả. Bà đã xuất bản một số truyện theo chuỗi, hoặc mang chúng ra ánh sáng tại Đức. Một tuyển tập đã được xuất bản vài năm trước bằng tiếng Đức. Tôi thêm vài truyện trong tuyển tập đó vào ấn phẩm của NXB Penguin. Nhưng cũng có những truyện thêm vào mà bà đã không phát hiện ra những năm trước.

Điểm nổi bật mang tính lịch sử hay học thuật của chúng là gì?

Với tôi, chúng tiêu biểu cho những gì mà đồng nghiệp của tôi, Allan Dundes, gọi là “dân gian/folklore chứ không phải giả dân gian/fakelore”. Những gì chúng ta có là những câu chuyện ít bị tác động hơn mọi câu chuyện cổ tích và dân gian quen thuộc. Có một tiến trình nguyên bản của cách kể chuyện đã diễn ra. Những câu chuyện ít bị biên tập hơn và chúng không bị kiểm duyệt. Anh em Grimm có sự tự do to lớn với những câu chuyện mà họ sưu tập. Tài năng của Grimm là đã tạo nên hình mẫu tiêu chuẩn hóa, cô đọng của truyện cổ tích. Họ hầu như đã tạo lập ra thể loại truyện kể là một phần của truyền thống kể chuyện truyền miệng [văn học truyền miệng?] và cũng là trong văn hóa văn chương [văn học thành văn?]. Schönwerth, theo một cách khác, đã không bận tâm tới người đọc bằng việc tái hiện lại những câu chuyện theo đúng như chúng đã được kể cho ông.

Một ví dụ trong cuốn sách này là một phiên bản của câu chuyện nổi tiếng “Chàng thợ may bé nhỏ dũng cảm” [bản tiếng Việt quen thuộc có tên “Một đòn chết bảy”], kể về chàng trai đã giết bảy con ruồi bằng một cú đấm. Bản Grimm kể là những con ruồi vo ve quanh cái bánh mật anh chàng vừa làm ra. Trong bản Schönwerth , những con ruồi vo ve quanh một đống phân bò. Vì vậy những điều đó mang lại cho bạn một nhận thức về phần năng lượng thô ráp trong các câu chuyện và cách Schönwerth quyết định ông sẽ kể chúng thẳng tuột ra, như là chúng vốn được kể vậy.

Bà có thể cho tôi biết một chút về những nguồn tư liệu của Schönwerth? Tôi biết rằng, với Grimm, một số nguồn mà chúng ta nghĩ tới có thể nhiều sự nhuận sắc hơn. Tôi không biết liệu “nông dân” có phải là một từ đúng không, nhưng người hầu…

… hoặc địa chủ. Grimm rất tuyệt vời trong việc thu nạp mọi nguồn tư liệu có thể. Trong một số trường hợp, đó là một người bạn đã kể cho họ nghe. Họ cũng gửi thư cho các đồng nghiệp và đề nghị những người này viết ra những câu chuyện được nghe kể. Họ nghe những gì mà họ gọi là “tiếng nói của nhân dân” – nghĩa là những nông dân, địa chủ, công nhân, thợ may. Vì vậy trong nhiều trường hợp họ có thể có những nguồn từ tầng lớp lao động. Họ cũng xem xét cả tài liệu văn học. Vì vậy họ vơ nhặt mọi thứ họ có thể tìm thấy, và ghi là của mình, tôi nghĩ vậy.

Schönwerth thì khiêm nhường hơn trong cách tiếp cận, mặc dù ông không cho chúng ta biết nhiều về các nguồn tư liệu đặc thù của mình. Ông không đơn thuần nêu tên hay mô tả họ, nhưng chúng ta có một cái tên bất chợt, và chúng ta biết ông đã dành nhiều tài lực vào ý tưởng hướng đến những con người thông thường, người đàn ông hay người đàn bà thông thường, và thuật lại câu chuyện như nó đã được kể. Thỉnh thoảng ông hối lộ mọi người, đưa cho họ… không phải là tiền mặt, mà là một vài khoản cấp dưỡng chẳng hạn. Do vậy, dĩ nhiên, bạn sẽ thấy nghĩa là người kể chuyện có thể sửa lại câu chuyện cho ông, cố gắng biến nó dễ chịu nhất có thể. Luôn luôn có một phần sai lạc khi bạn chuyển từ văn hóa truyền miệng sang bản in.

Nếu tôi nhớ đúng, nhiều truyện cổ mà Grimm sưu tập là những câu chuyện mà người trung lưu nhớ lại từ những gì các cô hầu gái hay những người hầu khác kể khi họ còn là trẻ con. Vì vậy những câu chuyện đó đã bị tác động và có thể đã bị sai lạc theo cách đó.

Đúng vậy. Schönwerth đã làm điều đó muộn hơn anh em Grimm một chút. Grimm thực sự còn khá trẻ khi họ làm công việc sưu tập, hai tập sách của họ ra đời năm 1812 và 1815. Schönwerth đã làm công việc của mình vào những năm 1850. Anh em Grimm biết về ông và tôn trọng ông. Nhưng họ biết Schönwerth đang làm thứ hoàn toàn khác, và dự án của ông không giống như của họ.

Bởi vì cách tiếp cận của ông có tính chất nhân học hơn, ngược lại với sự đại chúng hóa? Tôi hoàn toàn không thấy được sự phân biệt ở đây. Có phải bà muốn nói ông quan tâm đến việc ghi lại những thứ đó chính xác như có thể, chứ không tạo ra một cuốn sách ăn khách, như của Grimm?

Hoặc một hình thức tiêu chuẩn hóa của bản thân truyện cổ tích. Tôi nghĩ bạn đã nói chính xác, nó gần hơn với một mẫu hình nhân học, mang tính folklore. Schönwerth từ chối việc đồng nhất các câu chuyện, và bạn có thể tìm thấy có nhiều sự tráo đổi giới tính trong truyện Schönwerth. Không có sự phân chia rạch ròi về lao động theo giới tính như bạn thấy trong truyện Grimm. Truyện Grimm không có một Bạch Tuyết nam, ví dụ thế, trong khi truyện Schönwerth lại có. Schönwerth có cả cậu bé Lọ Lem. Ông có một cậu bé đi giày sắt đi tìm kiếm người phụ nữ cậu ta yêu, một hình ảnh như cô gái trong “Đông mặt trời, tây mặt trăng”. Ông có một hoàng tử phải chung chăn với một con ếch để giúp nó biến thành một nàng công chúa xinh đẹp. Bạn sẽ không tìm thấy điều đó trong truyện Grimm.

Cũng có một số thứ đặc trưng của giới tư sản thế kỷ 19 đem lại ý tưởng rằng chúng ta cần phải chia ra những gì nhân vật nữ làm và nhân vật nam làm. Nó là việc mà các nhân vật nữ phải học để yêu cóc và với nhân vật nam là hành trình đi diệt rồng.

Chính xác. Có chỗ nào ngoài truyện của Schönwerth mà bạn thấy một cậu bé làm việc trong bếp? Cậu ta hành động giống như một Lọ Lem. Bạn sẽ không bao giờ tìm thấy những cậu bé nấu nướng trong bếp trong truyện của anh em Grimm.

Điều gì trong nửa đầu thế kỷ 19 đã khiến người ta kiên trì trong kiểu dự án tập hợp truyện kể thế này vậy?

Đầu tiên có một sự ghi nhận rất rõ ràng rằng những câu chuyện đang biến mất. Nền văn hóa đã sản sinh ra chúng không biến mất nhưng đang tàn lụi. Nó có phần hơi sớm. Chúng ta vẫn chưa đến thời Cách mạng Công nghiệp. Nhưng có một nhận thức rằng đã có ít thời gian vui chơi hơn. Có sự mọc lên của thành phố và quá trình đô thị hóa. Nỗi hoài niệm về quá khứ và một sự khao khát bảo tồn một di sản văn hóa trước khi nó biến mất. Đây cũng là thời khi con người học cách đọc. Họ mua sách. Toàn bộ sự trỗi dậy của giai cấp tư sản và ý niệm về việc có một thư viện. Lấy ví dụ anh em Grimm, khi họ bắt đầu xuất bản những cuốn sách học thuật, họ chỉ bán được chừng 15 bản. Rồi đột nhiên với “Truyện kể cho trẻ em và người nội trợ”, họ có một cuốn sách bán chạy trong tay. Điều đó nằm trong quá trình tại sao họ bắt đầu biên tập và gạt đi những phần tục tĩu và (với chúng tôi) những phần sexy của những câu chuyện.

Những câu chuyện mà Grimm kể cũng phát triển nên một thứ khung kỷ luật. Họ gọi sách của mình là “một bản chỉ dẫn cho ứng xử”. Họ đã truyền đạt một di sản văn hóa và cũng dạy dỗ hành vi đúng đắn.

Tiếp:

Chúng ta nên làm rõ rằng có một tiến trình dẫn đến vai trò đó trong các ấn bản truyện cổ của Grimm. Trước hết, có một bản gốc, rồi tuyển tập học thuật ra đời, mà chúng ta có thể nói chúng góc cạnh thô ráp hơn. Nhưng khi tuyển tập được dùng như pho kinh điển cho trẻ thơ hay bà nội trợ, họ đã làm sạch sẽ nó và đưa ra nhiều nội dung đạo đức hơn.

Nhiều nội dung đạo đức hơn, và nhiều bạo lực kỳ quặc hơn, đem lại cho họ một loại bạo lực cảm xúc và khung kỷ luật đó. Ví dụ yêu thích của tôi ở trường hợp này là truyện Chàng ngốc Hans. Anh ta là loại người như bất kỳ ai, người có thể làm cho các cô gái mang thai bằng cách nhìn họ. Grimm đã mau chóng vứt bỏ chi tiết này đi! Nó không phải là gương sáng cho lối hành xử tốt. Nó không phải nằm trong di sản mà họ muốn truyền cho con cháu.

Tôi đã bị vướng mắc bởi vài chủ đề lặp đi lặp lại trong những truyện cổ này. Có một vài truyện trong đó bố mẹ quay sang chống lại con trai bởi vì cậu ta quá khỏe. Nó dường như không khác với những truyện quen thuộc hơn mà trong đó mẹ kế chống lại con gái vì cô xinh đẹp hơn bà ta. Chúng ta luôn được kể về bà mẹ kế phù thủy và bà ta đã thù ghét Bạch Tuyết thế nào khi nàng “đẹp nhất trần gian”. Đó là một sự cạnh tranh thế hệ có thực, nhưng sự cạnh tranh tương tự lại diễn ra giữa cha và con trai, ngoại trừ việc đó là về sức mạnh nam tính hay sức khỏe thay vì nhan sắc. Tôi rất hứng thú khi nhận thấy có một sự tương đồng của nam giới trong sự cạnh tranh nhan sắc.

Điều này đáng ghi nhận, trong một câu chuyện cụ thể, là bố mẹ đã hợp lực để chống lại con trai. Bạn sẽ nghĩ họ lợi dụng sức mạnh của cậu ta để làm việc cho họ. Thay vì thế, họ cố gắng xử lý cậu ta luôn! Đó là sự khác biệt lớn khác giữa Schönwerth và Grimm. Với Grimm, luôn là bà mẹ kế quỷ quyệt. Người cha dường như được miễn trừ. Thỉnh thoảng những ông bố theo phe các bà mẹ kế, và họ không được miêu tả là có đồng lõa, chỉ là bị lấn át bởi người vợ ma quỷ thôi. Trong khi đó với Schönwerth, có câu chuyện về Hoàng tử Tóc vàng, người cha tống cậu bé vào rừng và muốn giết cậu ta. Điều đó chưa hề được nghe thấy trong truyện cổ Grimm.

Bà đã chỉ ra rằng chúng ta có một cái nhìn một chiều về cách giới tính hoạt động trong những truyện cổ có phần là do Grimm đã biên tập lại trong sách của họ, nhưng bà không nghĩ là có phần vì qua thời gian, khi những người kể chuyện truyền miệng đại đa số là nữ, nên họ hẳn đã tập trung vào các nhân vật nữ hơn?

Tôi không chắc lắm. Grimm đã nhặt và chọn những truyện của họ, và tôi nghĩ họ có phần tôn kính sâu sắc cho những người cha. Những người cha có thể không làm gì sai trái với họ. Ví dụ, lấy câu chuyện Lọ Lem chẳng hạn, trong đó nhân vật phản diện là bà mẹ kế quỷ quyệt. Nhưng có một phiên bản khác của Lọ Lem lưu hành vào thế kỷ 19 có tên là “Da lừa” hoặc “Ngàn lông thú”, và trong đó người cha yêu con gái mình vô cùng. Khi người vợ qua đời, ông ta muốn thay thế bà bằng con gái mình. Vì thế bạn có một người cha hoàn toàn ngoài tầm kiểm soát. Rồi ông ta biến mất trong thế kỷ 19. Tôi nghĩ là bạn đúng, tôi không nên gán hết cho Grimm. Đó có hể là một xu hướng chung hướng đến việc tập trung vào những người phụ nữ ma quỷ.

Đọc tuyển tập này khiến tôi nhận ra mức độ của mối xung đột thế hệ trong truyện cổ không chỉ về các nhân vật nữ mà còn là một chủ đề thực sự phổ biến. Đó là về nhận thức của đứa trẻ rằng cha mẹ yêu thương chúng nhiều chừng nào, họ cũng nên biết rằng bọn trẻ rồi sẽ thế chỗ họ. Trẻ con có thể đáng sợ theo cách kỳ dị như thế, cũng như có lúc rất được khao khát [tạm dịch]. Cha mẹ có thể sẽ tàn tạ khi bọn trẻ đạt được sức mạnh, và vì thế những đứa con cũng tượng trưng cho cái chết của chính cha mẹ. Vì vậy có sự mâu thuẫn này trong mối quan hệ. Tôi không thực sự nhận thấy điều đó trước đây bởi vì nó luôn được thể hiện theo lối chia giới tính trong các truyện cổ quen thuộc, vốn được thể hiện như một mối xung đột giữa những người phụ nữ về dục vọng đối lập với điều gì đó còn bao trùm hơn thế.

Những truyện cổ về gia đình mắc chứng rối loạn tăng động giảm chú ý. Xét truyện “Jack người tiêu diệt khổng lồ” chẳng hạn: Tên khổng lồ là một ám chỉ cho người cha. Luôn có một điều gì đó kinh khủng xảy ra, những bi kịch gia đình lớn hơn cuộc sống và thật phi tự nhiên.

Bà tìm thấy điều gì đặc biệt cuốn hút đến vậy về thể loại này vậy?

 Điều tôi thực sự yêu thích ở truyện cổ là ở đó chúng giúp ta nói chuyện về những vấn đề rất quan trọng trong đời sống. Tôi nghĩ đến câu chuyện Cô bé quàng khăn đỏ và nguyên thủy nó đã nói về mối quan hệ kẻ ăn thịt-bị ăn như thế nào, và rồi nó trở thành một câu chuyện về sự ngây thơ và quyến rũ đối với chúng ta. Chúng ta dùng câu chuyện đó trở đi trở lại để vượt qua những vấn đề rất khắc nghiệt mà chúng ta phải đối mặt. Hy vọng của tôi là ấn phẩm này sẽ giúp mọi người nói chuyện không chỉ về những câu chuyện và tích truyện mà còn cả những vấn đề nằm bên dưới nữa.

Milan Kundera đã dùng câu trích dẫn này trong “Đời nhẹ khôn kham” về việc vẽ tranh dẫn đến thứ giông giống: Vẽ tranh là một sự lừa dối minh bạch trên mặt toan, nhưng bên dưới đó là một sự thật không minh bạch. Những truyện dân gian là sự lừa dối, chúng thể hiện sai mọi thứ, chúng dường như rất thẳng thắn và đơn giản đến sai lạc. Đó là sự thật không minh bạch bên dưới rất đỗi có sức nặng, và thế nên tại sao chúng ta vẫn nói về chúng. Chúng quá phức tạp. Chúng ta có một nghĩa vụ văn hóa dành cho văn hóa dân gian. Chúng ta tiếp tục kể lại những câu chuyện bởi vì chúng ta không bao giờ có được bản đúng của chúng.

Có thể cuốn này không hẳn đã là phiên bản đúng.

 Bạn nói đúng, không có cách nào là đúng để kể chúng cả. Chúng ta đành phải cố gắng làm điều gì đó mới thôi.

Laura Miller thực hiện

Thứ Hai, 16 tháng 2, 2015

Khói biếc cuộn về chứa chan

Đọc "Cậu ấm" của Trần Chiến, bài đăng Diễn đàn (http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/khoi-biec-cuon-ve-chua-chan).

1. Gần đây, tôi hay có việc phải về quê - tức là nơi bố mẹ sinh ra, cũng không xa Hà Nội lắm, thậm chí một nơi đã lên quận thuộc về nội thành. Cảm giác của tôi luôn là nặng nề, lạc lõng giữa không gian ngột ngạt của bê tông hóa không quy hoạch của làng xóm mới phất, và giữa lằng nhằng thủ tục hương thôn của một cộng đồng đang có chiều tan rã. Nó là một kết quả trông thấy từ lâu của quá trình đô thị hóa, hay là “thực dân” của làn sóng ảnh hưởng từ bên ngoài. Nhìn vào những ngôi nhà nông thôn thì thấy ngay. Những ngôi nhà xây lối truyền thống ba gian hai chái, vốn gần như không có không gian riêng tư. Những con người sống trong đấy chia sẻ hoặc phơi cả giường chiếu và lề thói sinh hoạt ra với cả đại gia đình, thậm chí đến ngày giỗ chạp thì cái giường cũng thành chỗ ngồi ăn cỗ của khách. Trong cơn sốt mua sắm tiện nghi vật chất, mâu thuẫn giữa sở hữu riêng và chung khiến cho những ngôi nhà này lạc thời. Ít nhất thì size của tủ lạnh hai buồng hay màn hình 42 inch nhiều khi vướng víu trong bước gian 2m, chưa kể thép mạ kền và nhựa cộc lệch với gỗ và gạch đỏ.

Vì thế dĩ nhiên xảy ra việc là họ đập đi xây nhà “biệt thự” hoặc xây một cái nhà mới trên đất dãy nhà ngang nhìn vào nhà cũ, giờ làm “nhà thờ tổ” chẳng hạn. Nhà mới thỏa mãn sức chứa đồ đạc của nả theo size hiện đại, có phòng riêng. Những cái vỏ ốc riêng tư, lấm tấm vết bùn trong một cái rổ chưa ráo nước ao bèo. Nhưng đám giỗ hay bữa chuyển mả vẫn là nơi thể hiện tuyệt vời phong tục cũ kỹ. Đàn ông tay dao tay thớt, đàn bà tay nhặt tay lựa. Người già nhanh mắt xếp khách vào mâm, người trẻ nhanh chân chuyển rượu rửa hài cốt. Hồi học đại học, tôi đã khá sửng sốt khi chứng kiến một thằng bạn tự mình quán xuyến việc mổ một con chó rồi nấu nướng pha phách đủ bảy món trong liên hoan cả lớp. Đứa bạn học này nhà cũng ở sát nách quê tôi, nhà nó giờ thuộc về quận Hà Đông. Giờ cậu ta ăn mặc đi lại trông hệt như ông cán bộ địa chính địa phương. Nó cũng có tâm hồn nghệ sĩ, cũng vẽ linh tinh, cũng thích Văn Cao. Mê thịt chó, thích Suối mơ. Nói chung là đa sắc như mấy cái quận thò thụt quanh Hà Nội.

Hồi bé tôi cũng có thời gian nghỉ hè hay về quê, hồi học đại học và mới đi làm cũng thích tìm hiểu không gian làng xã. Nhưng nói thế nào nhỉ, càng ngày tôi càng thấy văng khỏi không gian ấy. Tôi không biết rằng quá trình tôi trải qua có thể chính là một giai đoạn của các xã hội thay đổi về cơ cấu, từ chỗ nông thôn chiếm 85% dân số sang chỉ còn 2/3 và dự kiến còn một nửa trong thập niên tới. Riêng Hà Nội, dân số đã chiếm hơn 1/3 số dân đồng bằng sông Hồng. Vào lúc bé dại, đồng quê là một cái gì khiến tôi có cảm xúc. Khi lớn rồi, nguyên quán là cái gì khiến tôi như mô cấy ghép không bắt vào được. Tôi không phải là loại Tây An Nam, tôi cũng không có trải nghiệm phương Tây hoàn toàn. Nhưng bản sắc cổ truyền không thể có ở chúng tôi, những đứa con của phố “Hàng Đợi” (có ai nhớ tiểu thuyết “Những đứa con phố Arbat” đình đàm hồi Liên Xô cải tổ không?). Tôi cũng như nhiều người cùng thế hệ, đã là một loại thế hệ chuối ngay trên chính quê nhà. Ngoài vỏ chúng tôi màu vàng thậm chí còn có cả lấm chấm trứng cuốc như ai, nhưng ruột là thứ thịt chuối nhàn nhạt, chua chua như loại chuối biến đổi gen, quả to, chín đất đèn bán ê hề ngoài chợ lẫn siêu thị bây giờ. Chúng tôi cũng có nhiều kẻ thích hội hè đình đám, nhạc nào cũng nhảy, lễ nào cũng đến giơ máy ảnh chụp loách choách, yêu di sản cha ông ghét sư tử Tàu. Chúng tôi là THỰC DÂN MỚI.

2. Bởi vậy tôi tìm thấy nhiều điều để đọc trong mấy cuốn sách của Trần Chiến. Mào đầu dài dòng vì văn anh Chiến cũng dài, nhưng đa phần không rườm. Có lẽ vì tôi đồng cảm với những số phận nổi trôi của những người có chút thiên lương trong mấy chục năm qua mà anh đã viết trong Cậu ấm (tiểu thuyết mới in năm ngoái), Đèn vàng, Cõi người, Bốn chín chưa qua, hay nhiều truyện giả cổ trong mấy tập như Gót Thị Màu, đầu Châu Long. Trần Chiến ắt không phải là gương mặt ăn khách, nhưng các cuốn sách của anh có khả năng dựng một phong cách đậm nét. Chúng thực sự là một cây cầu dẫn dắt bất cứ ai muốn tìm hiểu một phân nửa thế kỷ qua, khi cuộc đụng độ giữa hai nền văn hóa thành thị (nhiều nét ngoại lai) với nông thôn (chắc chắn bản địa) đã dẫn đến kết quả là những thế hệ chuối Việt như chúng tôi và khung cảnh kiến trúc quy hoạch nông thôn và thành thị nhất trí tín nhiệm cao nhà ống.



Cậu ấm, người ta gặp lại một thời Hà Nội vừa nôn nao náo nức mà vẫn tỉnh táo, nhưng rồi không cưỡng được cơn xoay vần của thời cuộc. Những trang viết về phở Hà Nội tản cư, chuyện những người Hà Nội bị kiểm thảo rồi dinh tê, rồi những người Hà Nội “lưu dung” đã bô nhếch so với chính họ thời xưa - nhưng vẫn cần mẫn chăm chút cái gì đó hoa mỹ cho một thành phố bao cấp cũng cần một tí ti gì sang cả để làm dáng... Cuốn sách kể khá kĩ về những chuyện làm báo thời Pháp, thời nhá nhem tiền khởi nghĩa, thời tạm chiếm rồi thời sau giải phóng, nhiều thứ mà phải “người trong nhà” mới biết và mới viết cho hay.

 “...Ta ra đi đô thành rừng rực
Ta trở về lửa ngụt trong lòng

 Vận chả ưa gì Sơn Ngọc, vì kiểu vo ve “bám đít” Bính Trần ở khu tự do, nhưng lại nằm lòng hai câu này của ông ta, đăng báo Sao sớm. Những câu thơ nói lên sự ngổn ngang trong lòng kẻ hồi cư. Sơn Ngọc nhảy về Thành trước cả Vận, trong dòng văn nghệ sĩ “không chịu được gian khổ kháng chiến” như ngoài kia lên án, giờ cộng tác với vài tờ báo ở Hà Nội, cốt sinh nhai, viết câu thực lòng câu đánh đĩ cả tử tế lẫn nhảm nhí nhưng không quay lưng chửi Việt Minh. Đấy là chỗ thương được. 

 Không ngổn ngang sao được, khi biết Việt Minh sẽ thắng. Pháp phải rút, theo cách gì không biết nhưng nhất định là thế. Đài Pháp Á càng loan tin liên quân thắng trận, dân tình càng tưởng ra điều ngược lại.

 Thế mà hồi ngoài kia, Sơn Ngọc đã viết “Ăn xong bát phở, ra Bờ Hồ thấy yêu nước quá!”. Câu văn có lẽ được viết trong cơn nhớ Đất Thánh, nghiêm túc nhưng nhả nhớt, đã bị đem ra các cuộc khai hội phê bình tóe khói. Đem Tổ Quốc đặt bên phở phiếc, so sánh thậm hạ tiện.”

 Còn đây là một đoạn tả về khung cảnh phố cổ Hà Nội từ trên cao - nóc nhà hàng Mỹ Kinh - mà trong sách anh đã đổi tên thành Mỹ Vị:

 “Bầu trời bên trên đùng đục hắt sắc hồng anh ánh xuống khiến khu phố cũ bên dưới nhuốm chút mầu huyền hoặc. Từ chợ Đồng Xuân xuống giáp khu nhượng địa, từ đê sông Cái chạy sang tòa thành cổ còn cột cờ, cả một đại dương mái nhà xô vào họ. Những con sóng cao thấp khác nhau, ngói âm dương, ngói mũi, ngói “tây” lộn xộn, vô trật tự, xám tai tái, từng đợt gối nhau, nếp nọ ngả vào nếp kia thành một nhịp điệu mạnh, bền dai không biết bao giờ mới ngừng, rất khó tả. Nhà cửa không cao nên nhìn thấy hai ngọn tháp Nhà thờ Lớn, tưởng ra con hồ thần thoại cạnh đấy cùng bao nhiêu xung đột văn hóa, tín ngưỡng đã tràn chảy qua. 
 Dưới chút nữa, cuộc sinh hoạt vĩ đại và riêng tư của hàng phố đang chập náo nhiệt nhất mồn một trước mắt. Đường phố như một dòng sông, xích lô ba gác xe đạp ô tô, những người bước vội những kẻ thong dong trôi chi chít, thỉnh thoảng mắc vào nhau tấp lại rồi chảy tiếp.”

 Mặc dù cuốn sách khá dày, 501 trang, nhưng cảm giác vẫn còn có thể viết thêm được. Đây là cuốn mà biên tập viên như tôi đọc đến bông 3 vẫn thấy cảm xúc. Có lẽ viết kỹ thuật là một chuyện, tư liệu là cái tạo độ dày, nhưng cảm xúc vẫn là thứ giữ sự tập trung của người đọc được suốt độ dày đó. 
Cậu ấm viết về sự lựa chọn công việc của Vạn, một người được sống sướng lúc bé, nhưng đã không theo nghiệp nhà in báo của ông bố tư sản tay trắng làm nên, mà thích nấu ăn. Tuy nhiên cũng phải đến khi chiến tranh nổ ra, lên chiến khu làm anh nuôi rồi bị kiểm thảo rồi ra vùng tự do nấu phở rồi dinh tê về thành nấu bún thang, tâm thế “đầu bếp” mới chắc chắn. Khi đọc đến chỗ gia sản nhà in phải hiến cho nhà nước, rồi cô vợ tư sản xinh đẹp phải đi làm công nhân cho chính cái nhà in đó, kiêm nhiệm vụ quét chuồng xí cho ngôi biệt thự của gia đình giờ cũng chia năm sẻ bảy cho nhiều người khác đến ở; chợt thấy ở đây có gì đó gần với môtip phim “Phải sống” của Trương Nghệ Mưu, rồi cũng có không khí của “Bác sĩ Zhivago” lúc anh này trở về ngôi nhà to lớn đã tanh bành với hàng chục cặp mắt lạ lẫm dò xét chật kín tiền sảnh. Nhưng nếu chỉ kể câu chuyện thời cuộc thì cuốn sách chẳng có nhiều điều khác biệt, và lại hơi hẫng hụt ở kết thúc.

Ở đây, Trần Chiến dùng kỹ thuật khác, kỹ thuật của người ăn cỗ. Ai đi ăn cỗ thì cũng biết cỗ truyền thống tới lui cũng chừng ấy món, cách thức nấu và thành phần không thay đổi. Người ta đánh giá ngon hay không là ở các độ vừa lửa hoặc chín tới của thức ăn. Ăn gì trước hay xen kẽ thế nào, cũng cần kinh nghiệm. Vào mâm mà đánh luôn cái móng giò ninh hay bát xôi có ngọn thì quay ra các món khác đã nguội vữa hoặc bụng no mất rồi. Trần Chiến nhấm nhót các món dọn mồi rồi dần dần vào món nặng. Anh không xét nét lắm việc cầm đũa cho thanh nhã hay “năm quân” cầm tay cho tiện. Anh nhìn thấy ở các món là những công đoạn nấu, những sắp đặt của người nấu, thấy cả tình cảm và ý tứ của người đứng bếp. Nhiều khi nói quá, nhưng cũng phải thừa nhận là người làm sao bếp làm vậy. Văn của Trần Chiến buộc người ta ăn theo lối truyền thống, nhưng các món đã thuộc về loại nấu tinh và có lúc có cả món fusion (hỗn hợp). Nhiều khi chỉ một vài món như thế cũng làm mâm cỗ đáng kể.

3. Trong một lần làm nhân vật phim tài liệu về ngõ chợ Hà Nội, tôi đã viết lời nhận xét: Cái bếp là cầu nối giữa chợ và nhà, giữa đồng quê và thành thị. Mấy cuốn sách của Trần Chiến đã viết sâu về cái cầu nối ấy. Trong Cậu ấm, những cậu ấm cô chiêu con nhà tư sản cũ hay đứa trẻ Hà Nội thời giải phóng khi cần vẫn sống được với nông thôn. Cái khung cảnh đồng quê như phông nền cho tiền cảnh là mấy phố cũ dọc ngang nhỏ bé Hà Nội. Dĩ nhiên căn bếp đã được đẩy lên thành sân khấu chính của các mối quan hệ, từ quán bún thang mở trước cửa biệt thự của Vạn đến hợp tác xã ăn uống Mỹ Vị ở phố cổ nơi Vạn đầu quân về làm xã viên, đều có căn bếp với đủ ái ố hỉ nộ.

Trong truyện vừa Bốn chín chưa qua, nhiều lần ống kính của Trần Chiến lia vào các căn bếp. Ở đây là những căn bếp nhà quê, từ vùng chiêm trũng sông Hồng đến khu kinh tế mới Tây Nguyên, nơi người đàn ông Toán đã cả một đời vùng vẫy chống cự lại số phận, hay đúng hơn là giữa một thời con người xô dạt vì cái ăn. Và cả vì tình, vì cái thói trăng hoa của anh đàn ông có tí máu văn nghệ. Trần Chiến đã từng dẫn tôi về thăm cái nhà ngày xưa ở ngõ Hà Hồi, là bối cảnh cho Cậu ấm. Anh bảo, ông thân sinh thỉnh thoảng mới đánh xe về thăm, còn lại ông ở với nhà bà cả.

Toán - nhân vật chính của Bốn chín chưa qua - có vợ rồi lại lưu lạc với tổ ấm mới, rồi ở nơi mới lại bập vào một người phụ nữ tạm bợ khác. Toán là người tốt, một người của đồng đất, tháo vát, chăm chỉ, nhân hậu, có lẽ như bản chất người Việt muôn đời, nhưng cuộc đời khắc nghiệt đã không để cho những người tốt ấy có được cuộc sống ổn định. Ngòi bút của Trần Chiến có vẻ lành, không chĩa mũi nhọn về phía ai, nhiều khi cũng làm người đọc sốt ruột vì chẳng có giải pháp gì, nhưng cuộc đời là chính vậy. Vì thế nỗi đau đớn thu lượm được ở sau những câu chuyện được kể bằng giọng từ tốn kia như nỗi đau của một kẻ đã tuyệt vọng với đồng đất đang bốc nhặt những di cốt để làm một việc dường như vô nghĩa là “sang cát”, chôn ở nơi khác.

Viết về thủ tục gắn với sự sống và cái chết của con người Việt buổi giao thời, Trần Chiến có những đối sánh gần xa, những dẫn dắt nhiều cảm xúc. Dường như ranh giới giữa khoái lạc (cái ăn) và sự mất mát (cái chết) rất mỏng, nó khó hiểu với bất cứ người bên ngoài nào muốn tường minh:

“Vận thẫn người, ngấm nghía từng câu chữ, đoạn quay lại: ‘Đám tang đưa về quê, tức là về nông thôn, tôi ngẫm là mình không có nhiều tính cách truyền thống. Đúng ra là mình thị dân quá rồi. Bao nhiêu phong tục chả hiểu được, me xừ học giả Bơnoa chứng kiến sẽ có một đề tài nghiên cứu, chắc thế’.

- Tôi cũng hiểu nông thôn Việt Nam chứ – Tay nhân viên Viễn Đông Bác Cổ tự hào – Tôi đã khảo sát, vẽ lại nhiều ngôi nhà cổ, cối giã, cối xay, bàn thờ, bể nước mưa, thậm chí cả chỗ để nồi nước giải tức là cái nồi hông đều có.

- Đấy là những cái nhìn thấy, người Tây phương nào cũng có thể làm theo phương pháp này. – Dục vào chuyện khiến Vận vui hẳn lên – Nhưng đám tang thì các anh chỉ có thể tả chứ hiểu không dễ. Phải tin là sau khi chết có một cõi khác, hồn không biến mất mà tồn tại quanh người thân thì mới có ý nghĩa. Đấy, chú em tôi tiễn mẹ mà thấy nhọc mệt hơn bà lão sáu mươi ở quê là vì không có cái niềm tin ấy. Huống hồ người phương Tây”. (trích Cậu ấm)

 Những căn bếp là dấu hiệu của sự sung túc hay đời sống gia đình. Như đã nói, nó là nơi mà trẻ con thành phố còn biết rằng có một cái nhà quê đang nuôi chúng, con gà khác con bò ra sao, hay rau thì không phải vài luống trong hộp xốp hoặc vài chuyến dã ngoại thực tế cho biết. Tôi vẫn thấy nghịch lý của những căn bếp trong những ngôi nhà "biệt thự" ở quê, mọi thứ khép kín, bếp thì nấu đứng, nhưng rồi các công đoạn truyền thống vẫn là chỗm hổm, là giãi thẻ trên sàn đá hoa, mà chặt thịt, mà nhồi tiết, mà giã giò. Những bộ tủ bếp trông thật vô duyên trong khung cảnh ấy. Tôi cũng không hiểu nhiều nhà còn làm cả quầy bar với dàn inox gài ly các kiểu để làm gì, khi mà rút cuộc rượu trắng vẫn thắng rượu Tây, tất cả vào chén sứ Tàu vốn để uống nước chè hết.



Trần Chiến từng định lấy tên “Biệt thự” đặt cho cuốn Cậu ấm. Có lẽ chữ “biệt thự” vẫn kiểu cách, vẫn mơ màng xa lạ với người Hà Nội nhiều chục năm đã bị triệt tiêu khái niệm “biệt thự”. Sau giải phóng miền Nam, “biệt thự” thường hay gắn với những tên phim hay truyện phản gián kiểu “Vụ án ở Biệt thự Hoa hồng”, đại để là cũng có dàn thiên lý đã xa, có tiếng dương cầm giọng hát trẻ thơ, có tháng năm xưa của tuổi dại khờ... Trong biệt thự thường quy hoạch khu vực quan trong cho bếp, vì phải tính đến chế biến thô, tinh và nấu, đường chuyển đồ ăn tươi vào, rồi khu bàn ăn ở đâu... Biệt thự mà để bà chủ hay người bếp xách con cá quả lõng thõng ướt chạy qua phòng khách mới xuống bếp thì hỏng. Bếp chính là một sản phẩm có tính khoa học của những căn nhà, tất nhiên biệt thự đã thế mà bếp nhà quê cũng vậy. Ở nhà quê, bếp truyền thống nằm ở nhà ngang, tách khỏi nhà chính. Nó hợp tác được với cung cách sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp. Thế hệ nhà văn như Trần Chiến rành rẽ cả hai loại bếp đó. Vì thế không gian Việt Nam trong các tiểu thuyết hiện lên uyển chuyển và tự nhiên. Với thế hệ các anh, ăn thịt chó chẳng phải là vấn đề lớn hay không, chém lợn hay không là chuyện một thao tác sinh hoạt diễn xướng dân gian. Với thế hệ khác, có lẽ cũng không biết căn bếp nhà quê vận hành thế nào thì chém lợn đương nhiên khủng khiếp, thịt chó hẳn là eo ôi kinh tởm.

4.  Tôi cũng từng lấy làm lạ về thời kỳ âm nhạc tiền chiến, những nhạc sĩ đa phần có cuộc sống khá sung túc so với mặt bằng lúc đó, sống ở thành thị, nhưng họ viết rất nhiều về nông thôn. Nhạc sĩ Văn Phụng, một người có phần giống một nhân vật trong Cậu ấm, không đi theo kháng chiến, là một dương cầm thủ và có những bài hát về Trăng sơn cước, về Bức họa đồng quê, trong thể thức những điệu nhạc nhảy phóng túng. Hoàng Giác, Hoàng Trọng, Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước... không ngần ngại tìm thấy ở “khói biếc cuộn về chứa chan, trông mãi đường về xa xôi” (Đường về - Hoàng Trọng và Quang Khải) một mối tình sầu ly hương thực sự, như thể họ không phải là người sống ở Hà Nội.

 “Nhạc ngày xanh reo vang nơi nơi
Miền đồng quê bao la xanh tươi
Trong ánh nắng mai tràn hương mới
Từ thành đô ra đi muôn phương
Hòa niềm vui say trong yêu thương
Gieo rắc khắp nơi nguồn vui sống” 
(Ta vui ca vang - Văn Phụng)

 Đó là câu chuyện chồng lớp của kỷ niệm, của một thế hệ bồi lắng những dòng chảy văn hóa. Sẽ rất ít người biết được tại sao là “Lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền lan”. Nghĩ đơn giản và trực tiếp thì coi đấy là sai chính tả, sẽ sửa là chiếc thuyền nan. Nhưng nó cũng hệt như cách nhìn nhà quê của thế hệ chúng tôi mà thôi. Trong khi phải có một nguồn kiến thức mới dẫn ra được, à đó là điển tích, quế trạo lan tương, thuyền có mái chèo trước bằng gỗ quế, sau bằng gỗ lan, rút từ bài phú Tiền Xích Bích của Tô Đông Pha, trỏ cảnh chơi thuyền tao nhã. Bản thân tôi phải giở mấy cuốn sách mới dò ra được, vậy thì cả mấy trăm từ khác trong bài Thiên Thai của Văn Cao hiểu kiểu gì đây cho đúng? Chúng tôi không ăn thịt chó, vẫn thích Thiên Thai và chẳng hiểu gì.

Quá trình chuyển dịch cơ cấu dân cư thành thị-nông thôn đang diễn ra thay đổi căn cốt hình thái xã hội còn mạnh hơn những cuộc thực dân hóa hay cải cách ruộng đất ngày trước, bởi nó trùng với sự biến đổi của tiến trình hậu thuộc địa của những nước như Việt Nam. Hình như có một sự hẫng hụt nào đó trong hành trình tìm lại bản sắc. Những người nước ngoài mê say các thành phố châu Á còn sót lại vẻ đẹp hoàng kim đầu thế kỷ trước. Hồng Kông xuống đường phản đối can thiệp của chính quyền đại lục, hòng níu kéo hình ảnh rồng chưa “đổi màu”. Hà Nội khắc khoải nhớ lại những chuyến xe điện ngẫu nhiên chấm dứt cùng lúc với sự sụp đổ của bức tường Berlin. Chẳng phải vô tình mà mở đầu Cậu ấm là cảnh chuyến xe điện náo nức chở người Hà Nội hớn hở ngày đầu giành được độc lập năm 1945. Đô thị và nông thôn cũ mất đi khi chính người sống ở đấy chủ động đánh mất. Những chuyến xe điện leng keng kia sở dĩ còn được nhớ là vì chúng biến mất trước khi rơi vào cuộc va chạm với lượng xe cộ cá nhân bùng phát thời mở cửa. Tôi hồ nghi sự yêu thương của đại chúng dành cho chúng, bởi hệ thống tàu điện đô thị kiểu mới đang xây dựng bị “ném đá” dữ dội trên mạng xã hội. Chúng đến sau và xâm phạm vào trật tự đang có: chặt bớt cây, lấn vào không gian đô thị đã chật chội… Người ta không thấy sự liên quan nào giữa hệ thống này với cái hệ thống đã đi vào thơ nhạc, dù bản chất như nhau.

Những cuốn sách của Trần Chiến, như Cậu ấm, Cõi người hay mấy truyện giả cổ, kể cả cuốn tạp văn mới A đây rồi Hà Nội 7 món có một phong khí đặc thù, của những người nghiên cứu lịch sử nhiều bao dung với quá khứ. Cõi người, cuốn sách viết về sử gia Trần Huy Liệu, đọc lên thấy thấm thía thân phận, viết về người thân mà vẫn có đủ độ tỉnh táo, thanh thản. Có thể giọng văn ấy không dành cho số đông, có thể nhiều cuộn lớp quá, nhưng nó chắc chắn là một giọng của một Hà Nội biết rõ mình được dựng nên từ đâu. Từ những mặt ruộng xâm xấp nước cày ải, từ những con sông dềnh dàng tháng Bảy, từ những ông Thánh bà Mẫu chuyên bắt nạt người hiền, gạch ngói, bê tông, đường nhựa, cột đèn mọc lên... Hà Nội có những con đường cứ loanh quanh, loanh quanh như chính những kiếp người lấy thú vui bếp núc, lấy sự tri túc làm căn bản. Họ đã góp vào những thần thoại mới "cùng bao nhiêu xung đột văn hóa, tín ngưỡng đã tràn chảy qua"... 

Nguyễn Trương Quý


Thứ Ba, 3 tháng 2, 2015

Nơi tuổi 17 hẹn

Hà Nội vẫn còn nhiều quán nước chè. Có thể nói hình ảnh quán nước chè, nhất là vào mùa đông, đã làm nên khung cảnh thành phố, thậm chí còn có mặt trong thi tứ. Tuy nhiên quán nước chè thường gây cảm giác cũ kỹ, không mấy hấp dẫn với giới trẻ trừ khi có những cậu choai choai mê số đề. Sáng tạo vô cùng là khả năng kinh doanh của thị dân, bởi một biến tướng của nước chè là trà chanh đã một dạo làm mưa làm gió, đến mức có hẳn cụm danh từ “trà chanh chém gió” thuần ưu tiên cho giới trẻ. Cả khu vực quảng trường Nhà thờ Lớn, dọc theo các phố cổ Hà Nội là các quán trà chanh với hàng nghìn cô cậu mới lớn ngồi trên những cái ghế nhựa, với thực đơn chủ yếu chỉ là trà chanh và hạt hướng dương. Nhưng nhất thiết là phải nhắm với Nhà thờ Lớn, với quảng trường, với ngã tư phố cổ. Nghĩa là phải có những điểm hẹn. Những nơi mà tuổi trẻ chiếm đa số, và người nào chỉ cần xấp xỉ bốn mươi chen vào ngồi là đã có thể làm bọn chanh cốm ấm ách như đang chơi vui thì bị phụ huynh phá đám.




Năm vừa rồi, bộ phim được nhiều người thích là Giải cứu ngài Banks, nội dung về việc tác giả P. L. Travers của tác phẩm Mary Poppins nổi tiếng dành cho trẻ em khắp thế giới đã đồng ý cho hãng Disney chuyển thể thành điện ảnh sau 20 năm từ chối. Bà Travers có sở thích uống trà như những người Anh điển hình khác, và ông Walt Disney đã chinh phục được nữ tác giả khó tính bằng một việc là bay từ Hollywood đến tận nhà bà ở London, và làm bà ngạc nhiên khi ông tự tay rót trà đúng nghi thức cho người phụ nữ này: “Rót trà từ ấm vào tách rồi mới rót sữa vào sau”. Bà ta tuyên bố ghê tởm việc uống trà từ cốc giấy kiểu Mỹ. Có vẻ như cũng khó tính ngang người Hà Nội uống nước chè phải được hãm đặc và trong chén sứ. Nhưng đấy chưa phải câu chuyện tôi muốn đề cập, mà là câu chuyện không đưa lên phim. Bà Travers không lập gia đình, đến năm 40 tuổi nhận một cậu bé người Ireland làm con nuôi. Cậu bé còn có một đứa anh trai song sinh nữa, nhưng bà chỉ nuôi một đứa theo lời khuyên của thầy bói. Thằng bé cho đến năm 17 tuổi mới biết là mình có anh trai song sinh, nhân một hôm đứa kia đến London gõ cửa nhà bà Travers đòi gặp em mình, trong tình trạng đang say rượu. Bà này dĩ nhiên từ chối, tống cổ nó ra đường và dọa gọi cảnh sát. Sau đấy thì thằng con nuôi cũng cãi nhau với bà mẹ và đi tìm thằng anh đang ngồi trong một quán rượu. Lời đứa cháu kể lại: “bà chết mà không yêu ai và cũng không ai yêu”.

Trong câu chuyện cuộc đời có vẻ bi kịch của người phụ nữ uống trà cầu kỳ kia, tình tiết cậu trai 17 tuổi đi tìm được người anh song sinh trong một quán rượu ở trong phố lại là một cuộc đoàn viên ấn tượng. King Cross (Ngã tư Vua) – nơi có quán rượu đó – là một khu vực có nhà ga, hẳn là một điểm hẹn phổ thông để giữa thành phố lớn vào năm 1940 không có điện thoại di động, người ta vẫn tìm nhau được. Sau này thế hệ trẻ cả thế giới đã biết Ngã tư Vua với sân ga 9 ¾ hư cấu trong truyện Harry Potter. Dĩ nhiên quán rượu của người Anh chắc cũng phổ thông như quán nước chè Hà Nội, nhưng ngoài ngôi nhà mình, không gian thứ hai nào tuổi trẻ thích ngồi hơn cả ngoài những điểm hẹn như thế?




Ngay từ khi người Pháp tiến hành xây dựng thành phố Hà Nội hiện đại, việc mở các quán cà phê là “nghiệp đoàn thương nhân đầu tiên có nhiều người tham dự” và sôi nổi nhất. Ngay sau khi chiếm đóng Hà Nội năm 1884, trong vòng 1 năm, ở phố Hàng Khảm (tức Hàng Khay và đoạn đầu Tràng Tiền ngày nay) đã có một loạt quán cà phê ra đời: Café du Commerce, “nơi tụ hội của các quý ông thương gia”, Café de Paris gần khu Nhượng địa, Café Albin, Café de la Place, Café Block và Café de Beira, “nơi hội tụ của quý ngài sĩ quan”, quán sớm nhất, gọi theo tên bà chủ. Báo chí thời đó đã ghi nhận “hiệu cà phê của bà Beira là một thiết chế của Hà Nội”, nó có sân thượng và mái hiên nhìn ra phố. Cà phê đã tham gia vào việc ấn định những điểm hẹn cho khung cảnh đô thị Hà Nội, rồi ngay cả thời bao cấp khi cà phê là của hiếm, có lúc còn bị cấm bán, vẫn có những “Quán cà phê ngoại ô” của Lưu Quang Vũ, điểm hẹn của tuổi trẻ mộng mơ mà cao ngạo:

Mười bảy tuổi chúng ta thường tới đó
Nói rất nhiều về những cửa biển xa
Cái tuổi trẻ ồn ào mà cay cực của ta 

Thời của Lưu Quang Vũ, điểm hẹn là những quán cà phê, quán rượu cóc bên cạnh những“Trong thành phố có một vườn cây mát. Nơi thu sang mây trắng vẫn bay về”. Thật ra uống rượu, cà phê hay nước chè không phải là cái quyết định cho đám thanh niên tới hay không, lịch sử cũng cho thấy thức uống là theo trào lưu và điều kiện nguồn pha chế dồi dào hay không. Cái chính là địa điểm có cảm giác khiến cho bọn họ thấy mình thuộc về. Nên mới hiểu vì sao có những quán có chỗ ngồi khá tiện nghi nhưng lại không đông bằng quán có mỗi đoạn vỉa hè. Khổ nỗi vỉa hè ấy lại nhìn ra nhà thờ, ra hồ Thiền Quang, hay ra ngã tư có cái cây bàng dáng đẹp nhiều lá đỏ. Ấm ớ thay, đơn giản mà nhiêu khê là tuổi trẻ.

Tác giả đoạt giải Nobel văn học mới nhất là Patrick Modiano có cuốn sách mang cái tên gây chú ý:  Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối. Lấy bối cảnh là quán cà phê và những phố xá Paris, cuốn sách nên chuyện trước hết là vẽ ra một không gian có những điểm hẹn của giới trẻ thành thị. Nếu thay “quán cà phê” bằng một loại địa điểm khác, có vẻ không gian không gợi được nhiều liên tưởng bằng. Cà phê là nơi người ta dễ ngồi để nói chuyện nhất, và mang tinh thần hiện đại của đô thị. Có những đô thị đã hấp dẫn vì nền văn hóa quán xá, chúng làm nên cái nội dung sinh động cho cái vỏ kiến trúc.

Một trong những điểm đến được khách du lịch nước ngoài ưa thích ở Hà Nội là ngã tư Tạ Hiện-Lương Ngọc Quyến. Ở đây cũng có nhà đặc trưng phố cổ, nhưng đáng kể là tập trung các quán bia hơi, cà phê và nước chè, theo đúng lối vỉa hè Hà Nội. Sự đông đúc nhộn nhịp du khách trẻ các màu da khiến cho nó được gắn mác hơi có chất tự trào “ngã tư quốc tế”. Cái gì làm nên hiện tượng này? Khách vào những quán này không kể Tây hay ta đều được đón tiếp đon đả, giá bia hay lạc đều rẻ ngang nhau. Vài con phố nhỏ loanh quanh, đi một hồi dễ gặp lại người mới quen. Tất cả khiến cho họ thấy đây là nơi họ thuộc về. Nếu bạn 17 tuổi và ở Hà Nội, bạn sẽ hẹn nhau ở chốn nào?

Nguyễn Trương Quý

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ