Thứ Tư, 25 tháng 3, 2015

Yêu là không phải nói hối tiếc

Hồi những năm 80-90 thế kỷ trước, thường có cuộc thi “Hành tinh xanh năm 2000”. Bọn trẻ con thường viết, vẽ theo tưởng tượng, mà phổ biến nhất là những ngôi nhà hiện đại chen lẫn rất nhiều cây xanh.

Lúc ấy chính chúng đang ngồi ở giữa công viên, cũng chẳng biết hành tinh xanh là thế nào, chỉ biết hồn nhiên vẽ thật nhiều cây vào kín trang giấy. Tình yêu cây xanh rất cụ thể: có bóng mát để ngồi chơi, có con ve lột xác, có con chim chuyền cành, có bông hoa rụng thơm ngát.

Năm 2000 đã qua được một thập kỷ rưỡi, và trẻ con năm xưa đã thành trung niên, có lẽ đã hiểu hành tinh xanh là gì, nhưng trí tưởng tượng có lẽ đã nghèo nàn đi, chỉ còn biết nhìn thấy những cái cây thực trước mắt, nhiều khi chỉ trầm trồ, ồ cây này to thế nhỉ, gỗ nhiều phải biết.

Cho đến khi người trung niên thấy những cây năm xưa đã già cỗi cùng với những cây khác đang bị hạ xuống.

Cảm xúc cằn cỗi của anh ta chỉ còn biết phản ứng: Sao lại thế? Cái cây vẫn tỏa bóng mát, vẫn xanh và hơn thế, đã là nguyên mẫu cho tác phẩm ấu thơ của mình sao lại bị bỏ đi?

Người trung niên nhớ lại, ồ ngày xưa mình đã yêu cây vì lý do gì nhỉ. Bài học cây xanh đã học được ôn lại, mỗi đứa trẻ năm nào sống lại trong mình. Anh ta thấy những bạn trẻ cầm những tấm biển Tree Hugs (Ôm cây) với logo bảo vệ cây xanh, dán những cái ruybăng vàng lên thân cây như lời một bài hát nọ về tình yêu, và thấy những đứa bé giống mình mấy mươi năm trước, ngồi vẽ những bức tranh về cây xanh.

Những đứa bé cứ hồn nhiên vẽ, không cần ai vận động sáng tác hay bị ảnh hưởng bởi các khẩu hiệu hoặc cuộc tranh cãi ồn ào. Với chúng, cây xanh là thứ dễ hiểu nhất, rõ ràng nhất cho lợi ích của thiên nhiên, của môi trường sống trong sạch. Ngay từ những bài học đầu đời, bài học nào cũng khuyên “vì lợi ích mười năm phải trồng cây” hay “cô dặn em đừng hái, bông hoa này là của chung”.

Người trung niên nhớ bộ phim nổi tiếng Avatar, có cảnh những người trái đất xâm thực vào thế giới của hành tinh Pandora để phá cây Linh hồn, nơi chứa đựng tài nguyên vật chất lẫn tinh thần của hành tinh, hòng chiếm đoạt không gian sống mới này. Bộ phim là cuộc phiêu du của người nghệ sĩ về một nơi chốn con người kết nối tuyệt hảo với thiên nhiên. Nó là nỗi khắc khoải của con người hiện đại về cõi nhân sinh, một sự tưởng tượng cho tương lai mà cũng là sự hồi tưởng thời ấu thơ, thời những đứa trẻ vẽ những mơ ước về hành tinh xanh. Thời mà những đứa trẻ vẽ tranh, ca hát “vui vui vui hè về, cây xanh xanh rợp bóng bên đường, hương sen thơm tỏa ngát muôn nhà...”.

Hãy như những đứa trẻ đang vẽ kia, chúng đã khởi nguồn tình yêu cây xanh từ những gì gần gụi, bản năng nhất. Như một câu chuyện tình yêu nổi tiếng đã thành khẩu hiệu của giới trẻ: “yêu là không phải nói lời hối tiếc”.

Nguyễn Trương Quý

Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2015

"Từng hàng cây góc phố ngây ngô nhìn nhau"

Không chỉ người Hà Nội mà cả nước cũng sốc khi những mảng xanh tuyệt vời bị bứng đi, để lộ ra cái cơ thể nham nhở của khung cảnh kiến trúc đô thị.

Cuộc chiến cây xanh đô thị leo thang đến đỉnh điểm khi mấy ngày qua, câu chuyện về việc chính quyền TP Hà Nội cho chặt hạ và thay thế 6.700 cây trên các tuyến phố bùng lên như một thảm họa truyền thông của nhà chức trách, dẫn đến UBND TP Hà Nội phải mở cuộc họp báo chiều 20-3 mà ông phó chủ tịch không trả lời trực tiếp câu hỏi nào trong số 21 câu hỏi của báo chí. Vấn đề có vẻ đơn giản là đại chúng tức giận bởi phát ngôn của các lãnh đạo TP xem thường ý dân (“chặt cây thì không cần phải hỏi dân”) cũng như bất nhất (“đề án thay thế cây là chủ trương đúng” và “không hề có chiến dịch chặt 6.700 cây”), cho đến giờ là “tạm dừng để chấn chỉnh, rà soát”.

Không chấp nhận tư duy tùy tiện, chắp vá

Không phải đến bây giờ, việc chặt và thay thế cây mới diễn ra. Từ năm ngoái, việc chặt cả loạt cây bóng mát trên phố Nguyễn Trãi kéo dài nhiều cây số để nhường chỗ cho đường sắt trên cao dù sao cũng đã được chấp nhận như một sự đã rồi, có lẽ vì đấy là con đường ở xa trung tâm. Nhưng động đến những đường phố điển hình cho vẻ đẹp một Hà Nội cũ thì chuyện đã thành lớn. Bởi vì đơn giản không chỉ là chuyện chặt 170 cây trên phố Lý Thường Kiệt, 112 cây trên phố Huế hay 72 trên phố Trần Hưng Đạo, những con phố từng được người Pháp quy hoạch như những trục cảnh quan chính của thủ đô mà dường như có một sự sang chấn tinh thần tích tụ lại trước một di sản Hà Nội cũ đã bị biến dạng quá nhiều. Chẳng phải đợi đến khi cây bị hạ thì người Hà Nội mới nhận ra giá trị cảnh quan kiến trúc của thành phố mình đã bị xuống cấp. Những ngôi biệt thự bị phá, những ngôi nhà ống xây xen kẹt trên những mảnh vườn của các biệt thự hơn nửa thế kỷ trước, tiếc rằng không có phong trào rầm rộ nào như phong trào phản đối chặt 6.700 cây lần này.


Cây xanh ở trung tâm Hà Nội bị đốn hạ không thương tiếc hôm 19-3 Ảnh: NGUYỄN HƯỞNG

Điều này có lý do.

Sau nhiều thập niên không bom đạn, Hà Nội đã không thể giữ lại được di sản cảnh quan đô thị trước sức ép của bùng nổ kinh tế nhưng cái lớn hơn nữa là một tư duy tùy tiện, chắp vá, không xác định được hệ thống tài nguyên di sản đô thị. Những ngôi biệt thự thời Pháp không còn dành cho một gia đình mà vài ba hộ với 70-80 người ở chen chúc, những ngôi nhà đặc trưng của phố cổ cũng không còn dành cho hộ buôn bán kiểu “phố Hàng” mà thành những khu tập thể quá tải về điều kiện vệ sinh. Những công trình kiến trúc đẹp không được nhìn nhận rằng chúng thuộc về một di sản không có khả năng tái tạo, tất cả chỉ tính đơn giá theo mét vuông. Và những cây xanh chỉ được đối xử như những thứ có giá trị lấy gỗ hoặc bóng mát đơn thuần. Tất cả những sai lầm trong ứng xử với di sản kiến trúc đô thị đã được hệ thống cây xanh tuyệt vời che phủ nhiều năm, để rồi người Hà Nội vẫn cứ ngỡ rằng thủ đô mình vĩnh viễn “cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ, nằm kề bên nhau”. Những mùa hoa đẹp cứ nối tiếp nhau làm chúng ta quên mất bộ mặt thủ đô đã biến dạng đến mức phải có một cuộc đại phẫu thuật thay vì cố gắng “cắt tỉa” hằng năm.

Chính sự đại phẫu bứng đi tấm áo xanh tuyệt vời kia để lộ ra cái cơ thể rệu rã nham nhở của bộ mặt kiến trúc đô thị đã làm người Hà Nội sốc. Không hẳn vì việc cây xanh bị đốn thuộc về “của chung”, được xem như không xâm hại quyền lợi của cá nhân nào mà họ đột nhiên quan tâm cuồng nhiệt đến số phận thành phố mình. Họ đã thấy mối liên quan mật thiết của các thành tố môi trường sống. Chính sự trưởng thành của ý niệm đô thị văn minh trong quần chúng đã làm nên điều lạ đó.

Phản ứng của đại chúng là hợp lý

Ở phía nhà quản lý, rõ ràng truyền thông của họ đã không đến tai người dân và nếu có thì cũng không làm sao khiến quần chúng tin rằng sự thay đổi là hợp lý. Bằng chứng là nhiều cây bị chặt hạ vẫn còn xanh tươi tỏa bóng mát ngoài đời và trong cả tâm trí người dân, trong khi còn rất nhiều những con đường vắng bóng cây chưa được ngó ngàng đến. Phải chăng là thay thế cây ở phố lớn, chặt hạ những cây to thì có nhiều thứ hấp dẫn hơn là trồng ở những phố tầm thường?

Ngay cả việc cây bị sâu bệnh hoặc dễ bị đổ do mưa bão, lý do thay thế cũng tù mù như khả năng chịu được thời tiết Hà Nội tốt hơn của các cây mới. Xét cho cùng, các cây thay thế cũng là cây bản địa đã được nghiên cứu về sinh học như những cây cũ. Vậy tại sao phải mất ngần ấy năm mới thấy những cây như vàng tâm là tốt hơn sấu, phượng, những cây rất quen thuộc cả thế kỷ qua ở Hà Nội? Cả một đoạn phố Trần Hưng Đạo, Trần Phú hay Phan Đình Phùng tuyền cây sấu vẫn nguyên vẹn qua thế kỷ, hay phố Hoàng Diệu với cả trăm cây xà cừ to lớn đứng vững chãi, cho dù chính loại cây này đổ nhiều ở các phố khác trong mỗi mùa mưa bão. Tất cả là do sự yếu kém của quy hoạch, cả về phần ngầm lẫn nổi, ở những tuyến phố chật chội, chiều cao nhà cửa lấn chiếm mất không gian của tán cây và móng nhà chiếm khoảng đất sống của rễ cây.

Cũng không phải lần đầu tiên các không gian công cộng bị can thiệp gặp sự phản ứng của đại chúng nhưng cây xanh dường như là một thành tố nhạy cảm của đô thị khi người ta ngày càng nhận ra cái giá đắt của đô thị hóa thiếu quy hoạch. Tình trạng mập mờ thông tin quy hoạch đã nuôi sự bất an của người dân, cho đến lúc thứ lộ ra rõ mồn một là những hàng cây ngã xuống, đã khiến họ không chấp nhận được việc mình chỉ là người thụ hưởng thứ cấp - mà trên thực tế cũng rất dễ là nạn nhân của lối quy hoạch từ trên xuống. Nếu trước đây, người Hà Nội chỉ biết so sánh thành phố mình với những đô thị vệ tinh hoặc cùng lắm là Sài Gòn thì giờ đây, họ có cả thế giới thông tin để tham khảo. Nhưng liệu từ “bài học cây xanh” này, có thể có những câu chuyện nào về 6.700 ngôi nhà cần bảo tồn hay 6.700 điểm úng ngập cần xóa bỏ? Đã đến lúc minh họa cho các đường phố không chỉ là những đường ngang dọc mà còn có số phận của cây xanh lâu đời, của công trình kiến trúc... Điều này cũng ứng với phương diện xã hội, mỗi cá thể được chăm sóc hợp nên một đô thị hài hòa.

Bản đồ cây xanh, tại sao không?

Nhiều người Hà Nội có lẽ đã từng thấy thành phố tan hoang vì bom đạn chiến tranh nhưng những gì tan hoang ở cảnh những gốc cây bị chặt hay trốc rễ trên vỉa hè lại đem tới cảm giác tổn thương. Bởi lẽ cây xanh lâu năm có giá trị còn vì ở đấy lưu giữ kỷ niệm, thói quen, những gì thuộc về tình cảm không đo đếm nổi. Cùng với những hồ nước, nó là phần lãng mạn để giúp người Hà Nội còn chút gì vượt thoát lên khung cảnh ngột ngạt chật chội của ngõ ngách thiếu quy hoạch, của bê-tông, của rừng mái tôn và bể inox trữ nước la liệt trên các nóc nhà. Một trong những cách thể hiện sự lãng mạn ấy là qua thơ ca, kho tàng những bài hát về Hà Nội - dễ thấy ca từ nhắc đến cây xanh như một dấu chỉ nổi bật của đô thị, từ không gian thực tế, những câu chữ ấy làm nên không gian của ký ức, làm thành giá trị văn hóa của cộng đồng: “Hà Nội ơi, những ngày thơ ấu trôi qua. Mái trường phượng vĩ dâng hoa, ráng chiều ủ bóng tiên nga” (Hướng về Hà Nội - Hoàng Dương), “Hàng cây xanh bao mùa lá đỏ, gió sông Hồng rì rào sóng vỗ” (Hà Nội một trái tim hồng - Nguyễn Đức Toàn), “Em ơi Hà Nội phố, ta còn em mùi hoàng lan, ta còn em mùi hoa sữa” (Em ơi Hà Nội phố - Phú Quang, thơ Phan Vũ)...

Trong lúc tôi đang viết bài này thì đã có những nhóm bạn trẻ kêu gọi cùng lập bản đồ 50.000 cây xanh đường phố Hà Nội trên mạng, thứ mà lẽ ra chính quyền thành phố đã phải đưa ra công chúng từ lâu. Bản đồ cây các đô thị không mới trên thế giới, trên internet dễ dàng truy cập các bản đồ này, từ Hamburg (Đức) đến Basel (Thụy Sĩ) đều hiển thị rõ ràng vị trí các cây, tên loại cây cho đến tình trạng của cây. Thậm chí, đơn giản là chúng ta xem bản đồ Google Earth cũng có thể thấy sự phân bố cây xanh ra sao ở Hà Nội. Việc nhà quản lý có thực sự muốn dùng nguồn tài nguyên quyết định này không chính là chìa khóa của một đô thị phát triển bền vững.

(*) Tít bài trích từ bài hát "Im lặng đêm Hà Nội" (nhạc: Phú Quang, thơ: Phạm Thị Ngọc Liên).

Nguyễn Trương Quý
(http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/tung-hang-cay-goc-pho-ngay-ngo-nhin-nhau--20150321222414739.htm)

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2015

Hãm hiếp hậu chiến: Lính Mỹ có tệ như lính Liên Xô?

Klaus Wiegrefe

Trong hình dung quen thuộc, lính Mỹ ở Đức thời hậu chiến được yêu quý và cư xử tử tế. Nhưng một cuốn sách mới khẳng định rằng lính Mỹ đã hãm hiếp tới 190 nghìn phụ nữ vào lúc kết thúc Thế chiến II. Có chút sự thật nào trong lời cáo buộc gây tranh cãi đó không?

Những gã lính tới vào lúc tối trời. Họ xộc vào nhà và cố gắng lôi hai người phụ nữ lên gác. Nhưng Katherine W. và cô con gái 18 tuổi Charlotte đã vùng chạy thoát được.

Nhưng những gã lính không dễ dàng bỏ cuộc. Họ bắt đầu lục soát mọi ngôi nhà trong vùng và cuối cùng tìm thấy hai người phụ nữ ở trong một cái buồng nhỏ của một nhà hàng xóm ngay trước lúc nửa đêm. Những gã đàn ông lôi họ ra và quăng họ lên hai cái giường. Tội ác mà sáu tên lính đã thực hiện vào tháng Ba 1945, ngay gần trước khi Thế chiến II kết thúc. Cô gái kêu cứu: “Mẹ ơi. Mẹ ơi.” Nhưng không có ai tới.

Hàng trăm ngàn, có thể là hàng triệu những người phụ nữ Đức đã trải qua số phận tương tự cùng lúc đó. Thường thì những cuộc hãm hiếp tập thể được buộc tội cho Hồng quân ở phía Đông nước Đức. Nhưng trường hợp này thì khác. Những tên hiếp dâm là lính của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và tội ác diễn ra ở Sprendlingen, một làng nhỏ gần sông Rhine ở miền Tây.

Vào lúc chiến tranh chấm dứt, khoảng 1,6 triệu lính Mỹ đã tiến vào sâu trong nước Đức, và cuối cùng đã gặp cánh quân Liên Xô ở sông Elbe. Ở Mỹ, những người đã giải phóng châu Âu khỏi ách phát xít được gọi là “Thế hệ Vĩ đại nhất”. Và người Đức cũng phát triển hình ảnh tích cực của những người tiếp quản/chiếm đóng: những người lính dễ thương phân phát kẹo cao su cho trẻ em và làm vui các quý cô người Đức bằng nhạc jazz và nylon.

Nhưng hình ảnh đó có đồng nhất với thực tế? Nhà sử học người Đức Miriam Gebhardt, nổi tiếng ở Đức với cuốn sách về nhà nữ quyền hàng đầu Alice Schwarzer và phong trào nữ quyền, vừa xuất bản một cuốn sách mới gây nên sự nghi ngờ về phiên bản được chấp nhận lâu nay của vai trò của nước Mỹ trong lịch sử hậu chiến Đức.

Lính Mỹ xem các cô gái Đức bơi, 7/1945. Ảnh trong phóng sự ảnh của tạp chí Life.

Lính Mỹ xem các cô gái Đức bơi, 7/1945. Ảnh trong phóng sự ảnh của tạp chí Life. 

Những bản báo cáo từ Kho lưu trữ Thiên chúa giáo

Tác phẩm vừa ra mắt hôm thứ Hai ở Đức, đã đưa ra một cái nhìn gần cận hơn về việc hãm hiếp phụ nữ Đức của cả bốn tứ cường chiến thắng khi Thế chiến II kết thúc. Đặc biệt, cái nhìn của tác giả về hành vi của lính Mỹ làm người đọc sửng sốt. Gebhardt tin rằng lính Mỹ đã hãm hiếp tới 190 nghìn phụ nữ Đức cho tới lúc Tây Đức giành được quyền tự quyết vào năm 1955, với hầu hết các vụ xâm hại diễn ra trong những tháng ngay sau khi người Mỹ xâm chiếm nước Đức Quốc xã.

Tác giả đưa ra các cáo buộc dựa trên số lượng lớn những bản báo cáo do các linh mục xứ Bavaria lập vào mùa hè năm 1945. Tổng giám mục Munich và Freising đã yêu cầu giới tu sĩ lưu giữ các báo cáo về việc đổ bộ của quân Đồng minh và tòa Tổng giám mục đã xuất bản các phần trích lục từ Kho lưu trữ vài năm trước.

Michael Merxmüller, một linh mục ở làng Ramsau gần Berchtesgaden, đã viết vào ngày 20/7/1945, ví dụ: “Tám cô gái và phụ nữ bị hãm hiếp, vài người bị trước mặt bố mẹ họ”.

Cha Andreas Weingand, ở Haag an der Amper, một ngôi làng nhỏ bé ngay phía bắc sân bay Munich ngày nay, đã viết vào ngày 25/7/1945: “Sự kiện đau lòng nhất trong cuộc đổ bộ là ba vụ hãm hiếp, một phụ nữ đã có chồng, một phụ nữ độc thân và một cô bé 16 tuổi rưỡi trong trắng. Họ đều bị hiếp bởi những người Mỹ say rượu bí tỉ”.

Cha Alois Schiml ở Moosburg viết ngày 1/8/1945: “Do quy định của chính quyền quân sự, một danh sách mọi nhân khẩu và tuổi của họ phải được dán ở cửa mỗi nhà. Kết quả của lệnh này không khó để hình dung ra. …Những cô gái mười bảy tuổi hay những người phụ nữ … được đưa đến bệnh viện, bị lạm dụng tình dục một hoặc nhiều lần”.

Nạn nhân trẻ nhất được đề cập trong bản ghi chép là một đứa bé bảy tuổi. Già nhất là một phụ nữ 69 tuổi.

Những dục vọng của con đực

Các bản ghi chép đã dẫn tác giả Gebhardt tới việc so sánh hành vi của lính Mỹ với những sự làm nhục đầy bạo lực gây ra do Hồng quân ở nửa phía Đông đất nước, nơi những vụ hãm hiếp tập thể tàn bạo và những phi vụ cướp bóc bao trùm lên sự tiếp nhận của đại chúng đối với sự chiếm đóng của Liên Xô. Tuy nhiên Gebhardt nói rằng những vụ hãm hiếp xảy ra ở vùng Thượng Bavaria cho thấy chẳng có gì khác mấy ở phía Nam và Tây Đức hậu chiến cả.

Nhà sử học cũng tin rằng các động cơ cũng tương tự. Cũng như các đồng minh Hồng quân của mình, lính Mỹ, bà tin rằng, kinh hãi về tội ác của người Đức, cay đắng vì những nỗ lực vô nghĩa và nguy hiểm đến tính mạng của họ để bảo vệ đất nước tới phút cuối, và giận dữ về mức độ thịnh vượng khá cao của nước này. Hơn nữa, sự tuyên truyền ở thời điểm đó chuyên chở ý tưởng rằng phụ nữ Đức hấp dẫn lính Mỹ, vì thế thôi thúc những dục vọng đàn ông.

Những ý kiến của Gebhardt có gốc rễ vững chắc trong hệ thống chủ lưu của giới nghiên cứu hiện nay. Khi vụ scandal tra tấn tù nhân ở Abu Ghraib và các tội ác chiến tranh khác do lính Mỹ gây ra ở Irag và Afghanistan bùng lên, nhiều nhà sử học đưa ra cái nhìn phê phán hơn về hành vi của quân đội Mỹ trong những ngày ngay trước và sau khi Thế chiến II kết thúc ở Đức. Những nghiên cứu trong những năm gần đây đã rọi ánh sáng vào những vụ liên quan đến việc lính Mỹ cướp phá nhà thờ, giết thường dân Ý, giết tù binh Đức và hãm hiếp phụ nữ, thậm chí khi họ tiến quân qua Pháp.

Mặc dù có những phát giác như vậy, người Mỹ vẫn được xem như có kỷ luật tương đối khá so với Hồng quân và lính Pháp – sự khôn ngoan thường tình mà Gebhardt hi vọng có thể nghi vấn. Dẫu vậy, mọi bản ghi chép được thu thập trong Nhà thờ Công giáo Bavaria chỉ thêm vào được vài trăm trường hợp. Hơn nữa, các tu sĩ thường khen hành vi “rất đúng đắn và đáng kính” của lính Mỹ. Các ghi chép của họ dường như cho thấy việc lạm dụng tình dục của lính Mỹ có tính ngoại lệ hơn là bản chất.

Vậy thì làm thế nào mà nhà sử học đi tới chỗ có con số gây sốc là 190 nghìn vụ hãm hiếp đó?

Bằng chứng đầy đủ?

Con số tổng không phải là kết quả của một nghiên cứu sâu trong lưu trữ khắp đất nước. Nó là một phép ngoại suy thì đúng hơn. Gebhardt đưa ra sự ước định rằng 5 phần trăm số “trẻ em chiến tranh” được sinh ra có mẹ là những phụ nữ không có hôn thú ở Tây Đức và Tây Berlin vào giữa thập niên 1950 là sản phẩm của hãm hiếp. Nó đưa đến kết quả tổng cộng 1900 trẻ em có bố là người Mỹ. Gebhardt còn suy luận xa hơn rằng tính trung bình, cứ 100 vụ hãm hiếp thì có một ca sinh. Kết quả bà đưa ra là con số 190 nghìn nạn nhân.

Một kết quả như thế, thực vậy, dường như khó mà thừa nhận được. Khi con số thực sự cao như thế, nó hầu như chắc chắn phải có nhiều báo cáo về hãm hiếp trong hồ sợ của các bệnh viên hay các nhà chức trách y tế, hoặc phải có nhiều hơn những báo cáo của các nhân chứng. Gebhardt không thể đưa ra bằng chứng nào có số lượng đầy đủ như vậy.

Một sự ước lượng khác, xuất phát từ giáo sư ngành tội ác học Mỹ Robert Lilly, người đã nghiên cứu các vụ hãm hiếp bị xử ở các tòa án binh Mỹ, có con số là 11 nghìn vụ xâm hại tình dục nghiêm trọng diễn ra vào tháng 11 năm 1945 – một con số ngay bản thân nó cũng đủ kinh khủng.

Nhưng Gebhardt chắc chắn đúng ở một điểm: Đã quá lâu, nghiên cứu lịch sử bị áp đảo bởi ý kiến rằng các vụ hãm hiếp do lính Mỹ gây ra là không thể nào có vì phụ nữ Đức chỉ muốn nhảy ngay lên giường với họ.

Tuy vậy, người ta sẽ diễn dịch lời phàn nàn được ghi lại của một người chủ khách sạn ở Munich ngày 31/5/1945 như thế nào đây? Bà ta ghi lại rằng lính Mỹ trưng dụng vài phòng và có bốn phụ nữ “chạy vòng quanh, hoàn toàn trần truồng” và “đổi phòng vài lần”. Có thực sự là tình nguyện không?

Ngay cả nếu không phải người Mỹ đã gây ra tới 190 nghìn vụ tội ác tình dục, vẫn là điều đúng đối với các nạn nhân hãm hiếp hậu chiến – là không thể chối cãi rằng có một hiện tượng phổ biến lúc Thế chiến II kết thúc, không có “văn hóa của trí nhớ, không có sự ghi nhận công khai, không có lấy một lời xin lỗi” từ những kẻ chiếm đóng, Gebhardt viết. Và ngày nay, 70 năm sau khi chiến tranh chấm dứt, điều không may là không có vẻ như tình hình sẽ sớm thay đổi.

NTQ dịch

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ