Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

Đồng chí Stalin nổi giận (trích Ông trăm tuổi...)

Trích chương 16 - Ông trăm tuổi trèo qua cửa sổ và biến mất, Jonas Jonasson, Phạm Hải Anh dịch, Nxb Trẻ, 2013.

Chương trình vũ khí nguyên tử của Liên Xô bắt đầu với một lá thư của nhà vật lý hạt nhân Georgij Nikolajevitch Flyorov gửi đồng chí Stalin, trong đó ông ta đã chỉ ra vào tháng Tư năm 1942 rằng trong các phương tiện truyền thông của liên minh phương Tây chưa từng nghe nhắc đến một tiếng hay có văn bản nào liên quan đến sự phân hạch hạt nhân kể từ khi nó được phát hiện vào năm 1939.

Đồng chí Stalin không phải là trẻ con. Và cũng giống như nhà vật lý hạt nhân Flyorov, Stalin nghĩ rằng sự im lặng chung trong ba năm quanh phát hiện về phân hạch chỉ có thể hiểu là có nhiều điều để nói, chẳng hạn như ai đó trong quá trình chế tạo quả bom sẽ ngay lập tức đặt Liên bang Xô Viết - nói theo kiểu Nga là - vào thế chiếu tướng.

Như vậy là không thể chần chừ, nếu không phải vì tình tiết nhỏ là Hitler và Đức Quốc xã đã hầu như chiếm hết các phần mà Liên Xô thâu tóm - có nghĩa là toàn bộ phía tây sông Volga, gồm cả Moskva, và tệ hơn là ngay cả Stalingrad!

Trận Stalingrad, nhìn một cách nhẹ nhàng, là một vấn đề cá nhân với Stalin. Tất nhiên, khoảng một triệu rưởi người đã chết, nhưng Hồng quân chiến thắng và bắt đầu đẩy Hitler lùi lại, cuối cùng là đến tận đường hầm ở Berlin.

Tận đến khi người Đức phải rút lui thì Stalin mới cảm thấy an toàn về bản thân và đất nước mình có tương lai, nhưng rồi sau đó mọi thứ lại thay đổi khi động đến nghiên cứu phân hạch, như một biến thể hiện đại hơn của bảo hiểm nhân thọ đã hết hạn từ lâu dưới cái tên Hiệp ước Ribbentrop-Molotov.

Nhưng tất nhiên, bom nguyên tử không phải là thứ có thể làm xong trong một buổi sáng, đặc biệt là khi thậm chí nó còn chưa được phát minh ra. Công việc nghiên cứu bom nguyên tử của Liên Xô đã được tiến hành một vài năm mà không có tiến triển nào cho đến ngày có một vụ nổ ở New Mexico.

Người Mỹ đã thắng cuộc đua, nhưng điều đó không có gì đáng ngạc nhiên vì họ đã bắt đầu chạy đua từ sớm hơn nhiều. Và sau thử nghiệm ở sa mạc New Mexico, đã có hai vụ nổ thật: một ở Hiroshima, cái kia ở Nagasaki. Bằng vào đó, Truman đã véo mũi Stalin, cho thế giới thấy ai nắm quyền quyết định, và kể cả những người không biết Stalin cũng có thể hiểu rằng ông sẽ không chịu bó tay trước tình hình như vậy.

- Giải quyết vấn đề đi, đồng chí Stalin nói với Nguyên soái Beria. Tôi nói rõ là: Giải quyết vấn đề!

Nguyên soái Beria nhận ra rằng các nhà vật lý, nhà hóa học và toán học của mình đã sa lầy, và tống một nửa số họ đến trại tù Gulag cũng chẳng giúp được gì. Bên cạnh đó, nguyên soái không nhận được dấu hiệu nào cho thấy các nhân viên trong lĩnh vực này phá khóa tại cơ sở Los Alamos và đoạt lấy báu vật. Vào thời điểm này thì không thể ăn cắp bản thiết kế của người Mỹ.

Giải pháp là họ sẽ phải nhập khẩu tri thức, điều quyết định trong việc bổ sung vào những gì họ đã biết ở trung tâm nghiên cứu tại thành phố bí mật Sarov cách Moskva vài giờ xe chạy về phía đông nam. Vì Nguyên soái Beria chỉ chấp nhận cái gì tốt nhất, ông đã nói với người lãnh đạo bộ tình báo quốc tế:

- Lấy Albert Einstein về xem sao.

- Nhưng... Albert Einstein... Vị sếp tình báo quốc tế lắp bắp.

- Albert Einstein là bộ não sắc bén nhất trên thế giới. Ông định làm như tôi nói, hay đang muốn chết? Nguyên soái Beria nói.

Viên sếp tình báo quốc tế vừa quen một phụ nữ mới trong đời và không có gì trên trái đất này thơm như cô ấy, vì vậy ông không muốn chết tí nào. Nhưng trước khi viên sếp tình báo quốc tế kịp nói ra điều này với Nguyên soái Beria, thống chế đã ra lệnh:

- Giải quyết vấn đề. Tôi nói rõ ràng hơn: Giải quyết vấn đề!

Tất nhiên, nó chẳng dễ dàng gì để bắt Albert Einstein rồi đóng gói gửi đi Moskva.

Trước hết, họ phải tìm ra ông ta. Ông sinh ở Đức, nhưng đã chuyển tới Ý, sau đó đến Thụy Sĩ và Mỹ, và từ đó, ông đi qua lại giữa tất cả các nơi này vì đủ thứ lý do.

Hiện thời ông có nhà riêng ở New Jersey, nhưng theo các điệp viên tại chỗ, ngôi nhà dường như bỏ không. Thêm nữa, nếu có thể, Nguyên soái Beria muốn vụ bắt cóc xảy ra ở châu Âu. Đưa lậu người nổi tiếng ra khỏi Hoa Kỳ và xuyên qua Đại Tây Dương không phải dễ.

Nhưng ông ta ở đâu? Ông hiếm khi hoặc không bao giờ nói với mọi người mình đi đâu trước một chuyến đi, và khét tiếng là đã đến muộn vài ngày cho những cuộc họp quan trọng đã định trước.

Viên sếp tình báo quốc tế đã viết một danh sách các địa điểm liên quan gần gũi với Einstein, rồi cử đến mỗi nơi một điệp viên để theo dõi. Tất nhiên, cả nhà của ông ta ở New Jersey, và nhà của bạn thân nhất của ông ở Genève. Ngoài ra là cả phát ngôn viên của Einstein ở Washington và hai người bạn khác, một ở Basel, một ở Cleveland, Ohio. Mất vài ngày kiên trì chờ đợi, nhưng rồi cũng có kết quả - dưới hình ảnh một người đàn ông mặc áo mưa màu xám, cổ dựng lên và đội mũ. Người đàn ông đi bộ đến nhà Michele Besso, bạn thân nhất còn sống của Albert Einstein. Ông ta bấm chuông cửa và được chính Besso chân thành và nhiệt tình chào đón, ngoài ra còn có một cặp vợ chồng già, họ cần được điều tra thêm. Điệp viên theo dõi đã triệu tập đồng nghiệp đang thi hành phận sự ở cách Basel 250km, và sau hàng tiếng đồng hồ nhòm qua cửa sổ, so sánh với những bộ ảnh mà họ mang theo, hai điệp viên đi đến kết luận rằng đây chính là Albert Einstein, đến thăm người bạn thân nhất của mình. Cặp vợ chồng già có lẽ là anh rể của Michele Besso và vợ ông ta, Maja, em gái của Albert Einstein. Một cuộc gặp mặt gia đình!

Albert ở đó với bạn mình và vợ chồng em gái suốt hai ngày theo dõi, trước khi lại mặc áo khoác, đi găng đội mũ và rời đi, cũng kín đáo như khi đến.

Nhưng ông không đi xa hơn được khúc quanh thì đã bị tóm lấy từ phía sau rồi nhanh như chớp bị đẩy vào ghế sau một chiếc xe hơi và gây mê bằng chất chloroform.

Sau đó ông được đưa qua Áo tới Hungary nơi có quan hệ hữu hảo với liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết, vì thế không chất vấn lôi thôi khi phía Liên Xô tỏ ý muốn hạ cánh xuống sân bay quân sự ở Pécs lấy nhiên liệu cho máy bay, nhân tiện đón hai công dân Xô Viết và một người đàn ông rất buồn ngủ, rồi ngay lập tức cất cánh đi về đâu không rõ.

Ngày hôm sau, họ bắt đầu thẩm vấn Albert Einstein trong các cơ sở của công an mật ở Moskva, do Nguyên soái Beria phụ trách. Câu hỏi là liệu Einstein có chọn hợp tác, vì lợi ích sức khỏe bản thân, hay phản đối mà chẳng giúp được ai.

Tiếc thay, nó hóa ra lại là cái sau. Albert Einstein không chịu thừa nhận rằng mình từng nghĩ đến kỹ thuật phân hạch hạt nhân (mặc dù ai cũng biết ngay từ năm 1939, ông đã liên lạc với Tổng thống Roosevelt về vấn đề này, từ đó đã dẫn đến dự án Manhattan). Thực ra, thậm chí Albert Einstein còn không nhận mình là Albert Einstein. Ông khăng khăng với sự bướng bỉnh ngu ngốc rằng thực ra mình là em trai của Albert Einstein, Herbert Einstein. Tuy nhiên, Albert Einstein không có em trai mà chỉ có một em gái thôi. Do đó, đương nhiên trò lừa đảo này không qua mắt được Beria và các điều tra viên của ông, và họ sắp xuống tay bạo lực thì một chuyện đáng chú ý đã xảy ra ở Đại lộ số Bảy ở New York, phía bên kia của thế giới.

Ở đó, tại phòng Carnegie, chính Albert Einstein đang thuyết trình bài giảng nổi tiếng về thuyết tương đối, với khán giả là 2.800 khách mời đặc biệt, trong đó có hai gián điệp của Liên Xô.

Hai Albert Einstein thành ra thừa mất một cho Nguyên soái Beria, cho dù một người ở ở phía bên kia Đại Tây Dương. Chẳng bao lâu có thể xác định rằng người ở phòng Carnegie là thật, thế thì gã chết tiệt kia là ai?

Bị đe dọa phải chịu những điều mà không ai muốn chịu, Albert Einstein rởm hứa sẽ làm rõ mọi chuyện cho Nguyên soái Beria.

- Ông sẽ được biết rõ ràng về mọi thứ, thưa nguyên soái, miễn là ông đừng ngắt lời tôi, Albert Einstein rởm đã hứa.

Nguyên soái Beria hứa sẽ không ngắt lời ông ta bằng bất cứ cái gì khác ngoài một viên đạn trong đầu Einstein rởm, và rằng ông sẽ đợi để làm điều đó ngay nếu biết rõ rằng mình đang nghe toàn những lời dối trá.

- Đấy, ông cứ tiếp tục đi. Đừng để tôi phải ngăn lại, Nguyên soái Beria nói và lên cò súng.

Người đàn ông trước đó đã tuyên bố rằng mình là Herbert, em trai không ai biết của Albert Einstein, hít một hơi thật sâu và bắt đầu bằng cách... nói y như thế một lần nữa (suýt nữa thì bị bắn ngay lúc đó).

Câu chuyện tiếp theo, nếu đúng là sự thật, buồn đến nỗi nguyên soái Beria không thể giết ngay người kể.

Herbert Einstein nói rằng Hermann và Pauline Einstein đã thực sự có hai con: con trai đầu lòng Albert, sau đó là con gái Maja. Về chuyện đó, nguyên soái đã đúng. Nhưng sự tình là bố của Einstein đã không giữ nổi đôi tay và các bộ phận khác của cơ thể mình rời khỏi cô thư ký xinh đẹp (nhưng trí thông minh rất hạn chế) tại nhà máy điện hóa học mà ông điều hành ở Munich. Điều này làm nên bí mật của Herbert, Albert và Maja và người em không hợp pháp.

Đúng như các điệp viên của nguyên soái đã xác định, Herbert gần như một bản sao chính xác của Albert, mặc dù trẻ hơn 13 tuổi. Tất nhiên, từ vẻ bên ngoài, người ta không thấy được là Herbert đã không may thừa hưởng tất cả trí thông minh của mẹ mình. Hoặc cũng thiếu như mẹ.

Năm 1895, khi Herbert được hai tuổi, gia đình đã di chuyển từ Munich đến Milan. Herbert đi theo, nhưng mẹ ông thì không. Tất nhiên bố Einstein đã đề nghị với bà một giải pháp thích hợp, nhưng mẹ Herbert không quan tâm. Bà không khoái thay xúc xích Đức bằng mì spaghetti, và tiếng Đức thay bằng... ngôn ngữ gì đó mà họ nói ở Ý. Thêm nữa, đứa bé quấy quá, nó gào thét suốt ngày đòi ăn và bĩnh nhoe nhoét trong tã của mình! Nếu ai đó muốn đưa Herbert đi chỗ khác, cũng tốt thôi, nhưng bà không đi đâu cả.

Mẹ của Herbert nhận một số tiền khá lớn từ bố Einstein để sinh sống. Nghe đồn rằng sau đó, bà đã gặp một bá tước, người đã thuyết phục bà đầu tư tất cả tiền vào cái máy gần hoàn thành của mình để sản xuất của một thứ thần dược chữa khỏi mọi bệnh tật trên đời. Nhưng rồi bá tước đã biến mất, và chắc đã mang thần dược đi theo vì bà mẹ nghèo khổ của Herbert qua đời vài năm sau đó, bị bệnh lao.

Thế là Herbert lớn lên cùng với anh Albert và chị Maja. Nhưng để tránh scandal, bố Einstein đã quyết định rằng Herbert nên được gọi là cháu họ chứ không phải con trai ông. Herbert chưa bao giờ thật gần gũi với anh trai mình, nhưng ông yêu thương chị gái chân thành, dù bị buộc phải gọi là chị họ.

- Tóm lại, Herbert Einstein nói, tôi đã bị mẹ bỏ rơi và cha phủ nhận - và tôi thông minh như là một bao khoai tây. Suốt đời tôi chưa làm được việc gì hữu ích mà chỉ sống nhờ thừa kế từ cha tôi, và tôi chẳng có một ý tưởng tài năng nào.

Theo câu chuyện, nguyên soái Beria đã hạ súng lục xuống và gạt lại chốt an toàn. Câu chuyện có vẻ đáng tin, và nguyên soái thậm chí cảm thấy hơi nể sự tự ý thức mà gã Herbert Einstein ngu ngốc đã thể hiện rõ ràng.

Nên làm gì bây giờ? Nguyên soái đứng lên khỏi chiếc ghế trong phòng thẩm vấn. Vì mục đích an ninh, ông đã đặt sang một bên tất cả suy nghĩ đúng và sai, nhân danh cách mạng. Ông đã có đủ rắc rối rồi, không cần thêm một gánh nặng khác. Nguyên soái quay sang hai bảo vệ ở cửa:

- Khử hắn đi.

Rồi ông rời khỏi phòng.



Sẽ chẳng hay ho gì khi phải báo cáo đồng chí Stalin về vụ lộn xộn Einstein Herbert, nhưng Nguyên soái Beria đã gặp may, vì trước khi ông kịp gặp rắc rối, đã có một bước đột phá tại cơ sở Los Alamos tại New Mexico.

Trong những năm qua, hơn 130.000 người đã làm việc trong cái gọi là Dự án Manhattan, và đương nhiên nhiều hơn một người trong số họ trung thành với cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nhưng chưa một ai có thể tiến sâu vào những hành lang bí mật nhất nơi mà Liên Xô có thể thu được những bí mật sâu thẳm nhất về bom nguyên tử.

Nhưng bây giờ họ biết điều gì đó quan trọng gần như thế. Họ biết rằng có một người Thụy Điển đã giải được câu đố, và họ biết tên ông ta!

Sau khi đã huy động toàn bộ mạng lưới tình báo Thụy Điển, nó chỉ mất chừng mười hai tiếng để tìm hiểu Allan Karlsson đang ở tại khách sạn Grand, Stockholm, và theo tin tình báo Liên Xô, cả ngày ông chỉ đi thơ thẩn sau khi sếp của chương trình vũ khí nguyên tử Thụy Điển tuyên bố không cần tuyển dụng Karlsson.

- Vấn đề là ai lập kỷ lục thế giới về ngu dốt, Nguyên soái Beria tự nhủ. Sếp của chương trình vũ khí nguyên tử Thụy Điển hay mẹ của Herbert Einstein...

Lúc này, Nguyên soái Beria đã chọn một chiến thuật khác. Thay vì dùng vũ lực bắt người, Allan Karlsson sẽ được thuyết phục để đổi kiến thức của mình lấy một khoản đôla Mỹ đáng kể. Và người đầu tiên được trao nhiệm vụ thuyết phục phải là một nhà khoa học như Allan Karlsson chứ không phải là một điệp viên lúng túng và vụng về. Còn điệp viên ở đây (để cho an toàn) ngồi sau tay lái làm tài xế riêng cho Yury Borisovich Popov, nhà vật lý có lẽ là xuất sắc nhất trong nhóm vũ khí nguyên tử của Nguyên soái Beria.

Và báo cáo hiện nay là mọi thứ đã đi theo kế hoạch, Yury Borisovich đang trên đường trở về Moskva, mang theo Allan Karlsson - và Karlsson đã tỏ ra tích cực giúp đỡ họ.

**

Nguyên soái Beria có văn phòng tại Moskva ở bên trong điện Kremlin, đồng chí Stalin muốn như vậy. Đích thân nguyên soái ra gặp Allan Karlsson và Yury Borisovich khi họ bước vào tiền sảnh.

- Chân thành chào đón ông, ông Karlsson, Nguyên soái Beria nói và bắt tay ông.

- Cảm ơn nguyên soái, Allan đáp.

Nguyên soái Beria không phải là kiểu người ngồi tán gẫu những chuyện vô bổ. Ông nghĩ cuộc sống quá ngắn để làm điều đó (dù sao ông cũng không giao tiếp tốt lắm). Vì vậy, ông nói với Allan:

- Nếu tôi hiểu các báo cáo một cách chính xác thì ông, ông Karlsson, sẵn sàng hỗ trợ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Liên Xô về vấn đề hạt nhân để đổi lấy thù lao 100.000 đôla.

Allan đáp ông không nghĩ nhiều lắm đến tiền, nhưng sẽ vui lòng giúp Yury Borisovich một tay nếu cần và có vẻ nó đang cần. Nhưng sẽ tiện hơn nếu nguyên soái cùng với quả bom nguyên tử có thể  đợi đến hôm sau, vì chuyến đi mới đây quá là dài.

Nguyên soái Beria đáp ông hiểu rằng cuộc hành trình khiến ông Karlsson khá mệt mỏi, và họ sẽ sớm ăn tối với đồng chí Stalin, sau đó, ông Karlsson có thể nghỉ ngơi trong phòng hạng nhất của điện Kremlin.

Đồng chí Stalin không hà tiện thức ăn. Có trứng cá hồi và cá trích, dưa chuột muối, salad thịt và rau nướng, súp rau chua, thịt viên nhồi pelmeni, bánh rán blini, sườn cừu, bánh pirogues với kem. Kèm theo là rượu vang nhiều loại khác nhau và tất nhiên cả vodka. Và nhiều vodka hơn nữa.

Ngồi quanh bàn là đích thân đồng chí Stalin, Allan Karlsson từ Yxhult, nhà vật lý hạt nhân Yury Borisovich Popov, sếp an ninh của Liên Xô - Nguyên soái Lavrenty Pavlovich Beria và một người đàn ông trẻ, gần như vô hình, không ăn cũng không uống. Anh ta là thông dịch viên, và họ giả vờ như anh không có ở đó.

Stalin có tinh thần phấn chấn ngay từ đầu. Lavrenty Pavlovich luôn luôn được việc! OK, ông đã nhầm lẫn với Einstein, chuyện đến tai Stalin, nhưng nó xong rồi. Thêm nữa, Einstein (thực) chỉ có bộ não, còn Karlsson có kiến thức chính xác và chi tiết!

Và hơn thế, Karlsson có vẻ là một người tử tế. Ông đã kể với Stalin về xuất thân của mình, mặc dù rất ngắn gọn. Cha ông đã chiến đấu cho chủ nghĩa xã hội ở Thụy Điển và sau đó sang Nga với cùng mục đích. Đáng ngưỡng mộ thực sự! Về phần mình, người con trai đã chiến đấu trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha và Stalin không nhạy cảm đến mức phải hỏi là cho phe nào. Sau đó, ông đã đi du lịch đến Mỹ (chắc phải bỏ chạy, Stalin giả định) và tình cờ phục vụ quân Đồng minh... và điều đó có thể được tha thứ, chính bản thân Stalin, nói cho cùng, cũng làm tương tự ở cuối cuộc chiến tranh.

Sau khi ăn món chính vài phút, Stalin đã biết cách hát chúc rượu kiểu Thụy Điển ‘Helan går, sjunghoppfaderallanlallanlej’ mỗi lúc họ cụng ly. Để đáp lại, Allan đã ca ngợi giọng hát của Stalin, khiến ông kể ra hồi trẻ, mình không chỉ hát trong dàn đồng ca mà thậm chí còn là một nghệ sĩ độc tấu tại các đám cưới, và rồi ông đứng dậy, chứng minh bằng cách nhảy quanh sàn nhà, vung vẩy tay chân tứ tung để hát một bài mà Allan nghĩ gần như... kiểu Ấn Độ... nhưng khá hay!

Allan không biết hát, đơn giản là ông không thể làm gì mang tí giá trị văn hóa, ông ý thức điều đó, nhưng đang hứng nên vẫn cố tìm cái cái gì đó hơn là chỉ ‘Helan går...’, và cái duy nhất ông có thể nhớ ngay ra là bài thơ của Verner von Heidenstam mà giáo viên trung học ở làng của Allan đã bắt bọn trẻ phải ghi nhớ.

Vì vậy, khi Stalin trở lại chỗ ngồi thì Allan đứng lên và tuyên bố bằng tiếng quê hương Thụy Điển:

Thụy Điển, Thụy Điển, quê hương ta
Nơi chốn ta khao khát,
Mái nhà ta trên trái đất này
Giờ là lúc vùng lên, những đoàn quân thắp lửa, làm nên truyền thuyết. Tay trong tay,
người thề lời thề xưa vĩnh viễn trung thành.

Lúc mới tám tuổi, Allan không hiểu những gì mình đọc, và giờ đây đọc lại một lần nữa bài thơ, với màn trình diễn đầy ấn tượng, ông nhận ra rằng 37 năm sau, mình vẫn chẳng hiểu nó nói về cái gì. Nhưng dù sao nó bằng tiếng Thụy Điển nên phiên dịch Nga-Anh (như cái bóng) ngồi im thin thít trên ghế và càng có vẻ vô hình hơn.

Tuy nhiên Allan, (sau khi những tràng pháo tay đã tắt), công bố  rằng mình vừa đọc thơ Verner von Heidenstam. Lẽ ra Allan nên nhịn mồm đừng cung cấp thông tin đó, mà chỉnh sửa một tí sự thật, nếu ông biết được đồng chí Stalin sẽ phản ứng thế nào.

Thực tế là đồng chí Stalin vốn là một nhà thơ, thậm chí là một tài năng nữa. Tuy tinh thần của thời đại đã khiến ông trở thành một chiến sĩ cách mạng thay vì nhà thơ nhưng nền tảng thơ ca vẫn còn đó, và dù sao Stalin vẫn quan tâm đến thơ ca và am hiểu về các nhà thơ đương đại hàng đầu.

Khổ thay cho Allan, Stalin biết rất rõ Verner von Heidenstam là ai. Và khác với Allan, ông biết tất cả về tình yêu của Verner von Heidenstam với nước Đức. Và tình yêu đó có qua có lại. Cánh tay phải của Hitler, Rudolf Hess, đã đến thăm nhà của Heidenstam trong những năm 1930, và ngay sau đó Heidenstam đã được trao tặng bằng tiến sĩ danh dự của trường đại học ở Heidelberg.

Tất cả điều này khiến tâm trạng của Stalin thay đổi đột ngột.

- Có phải ông Karlsson ngồi ở đây và xúc phạm chủ nhà đã hào phóng đón tiếp ông với vòng tay rộng mở? Stalin nói.

Allan cam đoan rằng không phải thế. Nếu Heidenstam đã làm ông Stalin khó chịu thì Allan hết sức xin lỗi. Có lẽ điều an ủi là Heidenstam đã chết vài năm rồi?

-Thế ‘sjunghoppfaderallanlallanlej’ thực sự có nghĩa là gì? Nó có phải là một cách tôn kính kẻ thù cách mạng, mà ông dám bắt chính Stalin phải nhắc lại? Stalin luôn nói về mình ở ngôi thứ ba khi ông nổi giận.

Allan đáp ông cần một thời gian suy nghĩ để có thể dịch ‘sjunghoppfaderallanlallanlej’ sang tiếng Anh, nhưng ông Stalin có thể yên tâm rằng nó là không khác hơn một câu cảm thán vui vẻ.

- Một câu cảm thán vui vẻ à? đồng chí Stalin cao giọng. Ông Karlsson nghĩ rằng Stalin trông giống như một người ham vui sao?

Allan bắt đầu mệt mỏi với sự nhạy cảm quá mức của Stalin. Ông già mặt đỏ bừng, rất tức giận, chẳng vì lí do gì. Stalin tiếp tục:

- Thế thực sự ông đã làm gì trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha? Tốt nhất là phải hỏi người hâm mộ Heidenstam - ông chiến đấu cho phe nào?

Ông có một giác quan thứ sáu hay sao, đồ quỷ? Allan nghĩ. Ôi chà, ông ta đã tức giận hết mức có thể, cho nên có lẽ cứ nói thật ra cho xong.

- Tôi đã không thực sự chiến đấu, thưa ông Stalin, nhưng đầu tiên tôi đã giúp những người cộng hòa, và cuối cùng, tình cờ tôi đổi bên và trở thành bạn tốt với Tướng Franco.

- Tướng Franco? Stalin gầm lên, và đứng bật dậy làm chiếc ghế sau lưng ông đổ kềnh ra.
Hóa ra còn có thể giận dữ hơn nữa. Trong cuộc sống đầy biến cố của Allan, đôi khi có người quát vào mặt ông, nhưng ông không bao giờ bao giờ quát lại, và cũng chẳng định làm thế trước mặt Stalin. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là ông chẳng phản ứng gì. Ngược lại, ông đã nhanh chóng biết cách chọc tức người đang lớn tiếng ở phía bàn bên kia, theo cách của mình.

- Và không chỉ vậy, ông Stalin ạ. Tôi đã ở Trung Quốc để gây chiến chống lại Mao Trạch Đông, trước khi đến Iran ngăn chặn một nỗ lực ám sát Churchill.

- Churchill ư? Con lợn béo đó! Stalin hét lên.

Stalin định thần một lúc trước khi nốc cạn  ly vodka đầy. Allan nhìn một cách ghen tị, ông cũng muốn một ly, nhưng bụng bảo dạ đây không phải là lúc để đưa ra yêu cầu loại đó.

Nguyên soái Beria và Yury Borisovich chẳng nói gì. Nhưng biểu hiện trên mặt họ khác nhau. Trong khi Beria nhìn chằm chằm vào Allan một cách giận dữ thì Yury chỉ có vẻ đau khổ.

Stalin dốc hết chỗ vodka vừa rót rồi hạ giọng xuống mức bình thường. Ông vẫn còn tức giận.

- Stalin hiểu như vậy có chính xác không? Stalin nói. Ông đã về phe Franco, đã chiến đấu chống lại đồng chí Mao, ông đã... cứu mạng con lợn đó ở London và đã đặt vũ khí nguy hiểm nhất thế giới vào tay bọn tư bản đầu sỏ ở Mỹ.

- Ta đáng lẽ phải biết rõ chuyện này chứ, Stalin lầm bầm và trong cơn tức giận quên mất phải nói ở ngôi thứ ba. Và bây giờ ông đang ở đây để bán mình cho chủ nghĩa xã hội Liên Xô? Một trăm ngàn đôla, là mức giá cho linh hồn ông? Hay giá đã tăng lên trong buổi tối nay rồi?

Allan không còn muốn giúp nữa. Tất nhiên, Yury vẫn là một người đàn ông tốt và thực sự cần giúp đỡ. Nhưng thực tế vẫn là kết quả công việc của Yury sẽ rơi vào tay đồng chí Stalin, và ông ta không phải là đồng chí như Allan nghĩ. Ngược lại, ông ta có vẻ thất thường, và có lẽ lành nhất là đừng cho ông ta quả bom để nghịch.

- Không hẳn thế, Allan đáp, ngay từ đầu nó chưa bao giờ là chuyện tiền bạc...

Ông chưa nói hết thì Stalin đã lại nổi lôi đình.

- Ông tưởng ông là ai, đồ chuột cống khốn kiếp? Stalin gầm lên. Ông có nghĩ là mình, một đại diện của chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa tư bản Mỹ kinh tởm, hiện thân cho mọi thứ mà Stalin khinh miệt nhất trên trái đất, ông, ông dám đến điện Kremlin, điện Kremlin, và mặc cả với Stalin, mặc cả với Stalin?

- Tại sao ông nói cái gì cũng hai lần? Allan thắc mắc, trong khi Stalin tiếp tục:

- Liên Xô đang chuẩn bị cho chiến tranh lần nữa, tôi báo ông biết! Sẽ có chiến tranh, chắc chắn sẽ có chiến tranh đến khi nào đế quốc Mỹ bị xóa sổ.

- Ồ, thế à? Allan đáp.

- Để chiến đấu và giành chiến thắng, chúng ta không cần bom nguyên tử chết tiệt của ông! Những gì chúng ta cần là trái tim và linh hồn xã hội chủ nghĩa! Người cảm thấy không bao giờ có thể bị đánh bại thì sẽ không bao giờ bị đánh bại!

- Tất nhiên trừ phi có ai đó thả một quả bom nguyên tử vào anh ta, Allan đáp.

- Ta sẽ tiêu diệt chủ nghĩa tư bản! Ngươi nghe chưa! Ta sẽ tiêu diệt từng tên tư bản một!
Và ta sẽ bắt đầu với ngươi, đồ chó, nếu ngươi không giúp ta chế tạo bom!

Allan để ý thấy trong khoảng một phút mình đã hóa thành cả chuột và chó. Và Stalin rõ ràng không lành mạnh lắm, vì cuối cùng vẫn định dùng dịch vụ của Allan.

Nhưng Allan thì sẽ không ngồi nghe sỉ nhục mình nữa. Ông đến Moskva để giúp họ một tay chứ không phải để bị quát vào mặt. Bây giờ thì kệ Stalin tự lo.

- Tôi đang nghĩ một điều, Allan nói.

- Cái gì? Stalin giận dữ hỏi.

- Tại sao ông không cạo bộ ria mép đó đi?

Thế là bữa tối chấm dứt bởi vì phiên dịch ngất xỉu.

**
Kế hoạch lập tức đảo lộn hết. Allan không bao giờ được đặt chân vào phòng khách sang nhất ở điện Kremlin mà phải vào phòng giam không có cửa sổ trong hầm rượu của công an mật nhà nước. Đồng chí Stalin cuối cùng đã quyết định rằng Liên Xô sẽ có một quả bom nguyên tử, do các chuyên gia của mình tìm ra cách chế tạo, hoặc qua hoạt động gián điệp đàng hoàng kiểu cũ. Họ sẽ không bắt cóc bất kỳ người phương Tây nào nữa và chắc chắn sẽ không mặc cả với bọn tư bản phát xít hoặc cả hai.

Yury hết sức khổ sở. Không chỉ vì ông đã thuyết phục Allan tốt bụng đến Liên Xô, nơi cái chết chắc chắn đang chờ đợi, mà còn vì đồng chí Stalin bộc lộ những nhược điểm tính cách như thế! Lãnh tụ Vĩ đại thông minh, có giáo dục, nhảy rất giỏi và có giọng hát tốt. Và hơn hết, ông ta hoàn toàn điên rồ! Allan tình cờ trích dẫn một nhà thơ sai và trong một vài giây, bữa ăn tối thú vị đã biến thành một thảm họa...

Yury đã liều mạng cố gắng hết sức thận trọng nói chuyện với Beria về vụ xử tử Allan sắp xảy ra và hỏi liệu có giải pháp thay thế nào không.

Về vấn đề này, Yury đã đánh giá sai nguyên soái. Tất nhiên, ông ta đã dùng bạo lực với phụ nữ và trẻ em, đã tra tấn và giết cả tội phạm lẫn người vô tội, và còn nhiều điều hơn thế nữa... nhưng cho dù nhiều lần hành xử đáng phẫn nộ, Nguyên soái Beria đã làm một việc có ý nghĩa duy nhất vì lợi ích tối cao của Liên Xô.

- Đừng lo lắng, Yury Borisovich thân mến của tôi, ông Karlssosn sẽ không chết đâu. Ít nhất là chưa.

Nguyên soái Beria giải thích rằng ông dự định giữ Allan Karlsson ở một nơi nào đó biệt lập để phòng khi Yury Borisovich và các nhà khoa học của mình tiếp tục thất bại không chế tạo được bom trong thời hạn cho phép. Lời giải thích ngầm ẩn chứa sự đe dọa, và Nguyên soái Beria rất hài lòng với điều đó.


**

Trong khi chờ đợi xét xử, Allan ngồi ở một trong rất nhiều phòng giam tại trụ sở của công an mật. Điều duy nhất xảy ra là mỗi ngày Allan được phục vụ một ổ bánh mì, ba mươi gam đường và ba bữa ăn nóng (súp rau, súp rau và súp rau).

Đồ ăn trong điện Kremlin chắc chắn ngon hơn là ở phòng giam. Nhưng Allan nghĩ rằng mặc dù món súp có vị như thế song ít nhất ông còn có thể bình yên thưởng thức nó mà không bị ai đứng đó quát tháo vì những lý do không thể hiểu nổi.

Chế độ ăn uống mới này kéo dài sáu ngày đến khi tòa án an ninh đặc biệt triệu tập một phiên tòa. Phòng xử án, cũng như phòng giam của Allan, đặt tại trụ sở hoành tránh của công an mật cạnh quảng trường Lubyanka, nhưng cao hơn một vài tầng. Allan ngồi trên ghế trước mặt một thẩm phán ở sau cái bục. Bên trái của vị thẩm phán là công tố viên, một người đàn ông với khuôn mặt ảm đạm, và luật sư bảo vệ của Allan, người này mặt cũng ảm đạm nốt.

Để bắt đầu, công tố viên nói gì đó bằng tiếng Nga mà Allan không hiểu. Sau đó, luật sư bào chữa nói gì đó khác bằng tiếng Nga mà Allan mù tịt. Rồi thẩm phán gật đầu như thể đang suy nghĩ, trước khi mở ra đọc lén một tờ giấy nhỏ (để chắc chắn rằng mình hiểu đúng) và sau đó công bố phán quyết của tòa án:

- Tòa án đặc biệt buộc tội Allan Emmanuel Karlsson, công dân vương quốc Thụy Điển, là một yếu tố gây nguy hiểm cho xã hội xã hội chủ nghĩa Xôviết, nhận án ba mươi năm trong trại cải tạo tại Vladivostok.

Thẩm phán thông báo cho người bị kết án là có thể xin chống án, và nó sẽ được Xôviết tối cao xử trong thời hạn ba tháng kể từ ngày hôm nay. Tuy nhiên, luật sư bào chữa của Allan Karlsson đã thay mặt cho Allan Karlsson thông báo với tòa rằng họ sẽ không kháng án. Trái lại, Allan Karlsson rất biết ơn vì án nhẹ. Tất nhiên Allan không bao giờ được hỏi là có biết ơn hay không, nhưng bản án chắc chắn cũng có những mặt tốt của nó. Thứ nhất, bị cáo được sống, mà khi đã bị xếp là một yếu tố nguy hiểm thì rất hiếm. Và thứ hai, thực tế rằng ông sẽ được đưa đến trại Gulag tại Vladivostok nơi có khí hậu “dễ chịu” nhất ở Siberia. Thời tiết cũng không khắc nghiệt hơn ở quê nhà Södermanland nhiều lắm, trong khi xa hơn về phía bắc trong nội địa Nga có thể lạnh tới âm 50, âm 60 và thậm chí còn âm 70 độ C.

Thế là Allan đã may lắm rồi, và bây giờ ông bị tống vào một toa tàu chở hàng trống trải với khoảng 30 nhà bất đồng chính kiến may mắn khác. Số hàng đặc biệt này cũng đã được cấp mỗi tù nhân ba cái chăn sau khi nhà vật lý Yury Borisovich Popov đã hối lộ các lính gác và sếp trực tiếp của họ với một nắm rúp. Sếp của nhóm gác lấy làm lạ rằng một công dân ưu tú như vậy lại quan tâm đến chuyến vận chuyển đơn giản đến trại Gulag, và thậm chí anh ta còn định báo cáo cấp trên của mình, nhưng rồi nhớ ra là mình đã nhận tiền bạc nên có lẽ tốt nhất là đừng gây phiền phức.

Allan không dễ dàng gì tìm được ai đó trong toa xe chở hàng để nói chuyện, hầu như tất cả mọi người chỉ nói được tiếng Nga. Nhưng một người đàn ông khoảng 55 tuổi có thể nói được tiếng Ý và vì Allan tất nhiên nói thạo tiếng Tây Ban Nha, nên họ có thể hiểu nhau khá tốt. Cũng đủ cho Allan hiểu rằng người đàn ông đã vô cùng đau khổ và suýt tự sát, nếu ông ta, tự nhận xét, không phải là một kẻ hèn nhát bên cạnh mọi thứ khác. Allan cố hết sức an ủi ông ta, nói rằng có lẽ mọi thứ sẽ đâu vào đó khi đoàn tàu đến Siberia, bởi vì ở đấy Allan nghĩ rằng ba cái chăn sẽ là không đủ nếu thời tiết ở trạng thái như thế.
Người Ý sụt sịt và co người lại. Rồi ông ta cảm ơn Allan đã động viên mình và bắt tay. Hóa ra ông ta vốn không phải là người Ý mà là người Đức. Herbert là tên ông ta. Họ của ông không liên quan gì, Herbert nói thêm.


**

Herbert Einstein chưa bao giờ gặp may mắn trong cuộc sống. Chỉ vì một rủi ro hành chính, ông đã bị kết án - giống như Allan - đến ba mươi năm trong trại cải tạo  thay vì cái chết mà ông chân thành mong mỏi.

Và ông sẽ không chết cóng trên vùng băng giá Siberia nhờ mấy cái chăn được cho thêm. Ngoài ra, tháng Giêng năm 1948 là đỡ lạnh nhất trong năm. Nhưng Allan cam đoan rằng sẽ có nhiều khả năng mới cho Herbert. Sau cùng thì họ đang trên đường đến một trại lao động, cho nên, nếu không có gì thay đổi, ông có thể làm việc cho đến chết. Ông nghĩ sao?
Herbert thở dài đáp có lẽ mình quá lười biếng để làm điều đó, nhưng ông không dám chắc bởi vì cả đời ông chưa bao giờ lao động. Và ở đó, Allan có thể thấy sự khởi đầu. Bởi vì không thể cứ đi lại vẩn vơ trong một trại tù, nếu thế lính gác sẽ bắn cả đống đạn vào người ngay.

Herbert thích ý tưởng này, nhưng đồng thời nó cũng làm cho ông khiếp đảm. Một đống đạn, chẳng phải đau đớn kinh khủng lắm sao?


**

Allan Karlsson đã không đòi hỏi nhiều lắm trong cuộc sống. Ông chỉ muốn có một chiếc giường, rất nhiều đồ ăn, một cái gì đó để làm và thỉnh thoảng một ly vodka. Nếu có những thứ ấy, ông có thể chịu đựng hầu hết mọi thứ. Trại cải tạo ở Vladivostok cung cấp cho Allan mọi thứ ông muốn trừ vodka.

Thời đó, bến cảng ở Vladivostok gồm một phần mở và một phần đóng kín. Phần khép kín được bao quanh bởi một hàng rào cao hai mét, rào kín trại cải tạo Gulag với 40 doanh trại màu nâu xếp hàng bốn cái một. Hàng rào chạy suốt xuống bến cảng. Các tàu chở tù nhân Gulag bỏ neo bên trong hàng rào, những người khác ở ngoài. Trong thực tế, mọi thứ gần như được thực hiện bởi các tù nhân, chỉ trừ những thuyền đánh cá nhỏ và các thuyền viên phải tự xoay sở, hoặc thỉnh thoảng là tàu chở dầu loại lớn hơn.

Trừ vài ngoại lệ, mọi ngày ở trại cải tạo Vladivostok đều giống nhau. Kẻng đánh thức các doanh trại vào sáu giờ sáng, ăn sáng 15 phút sau. Ngày làm việc kéo dài 12 tiếng, từ 6 giờ rưỡi, với nửa tiếng nghỉ ăn trưa ở giữa. Ngay sau khi kết thúc ngày làm việc, có bữa ăn tối, rồi đến giờ bị nhốt lại cho đến sáng hôm sau.

Chế độ ăn uống khá đủ chất: chủ yếu là cá, nhưng hiếm khi dưới dạng súp. Lính canh trại không thân thiện lắm, nhưng ít nhất họ không bắn vào người ta mà không có nguyên nhân. Ngay cả Herbert Einstein cũng vẫn sống, dù trái với nguyện ước riêng của ông. Tất nhiên ông làm việc chậm chạp hơn bất kỳ tù nhân nào khác, nhưng vì ông luôn đứng rất gần Allan chăm chỉ nên không ai để ý.

Allan không phản đối phải làm việc cho hai người. Tuy nhiên ông đề ra một nguyên tắc là Herbert không được đứng phàn nàn suốt ngày về cuộc sống của mình khổ sở như thế nào, bởi vì Allan đã hiểu và có trí nhớ tốt. Nói mãi một điều chẳng để làm gì.

Herbert vâng lời, và thế là OK, như hầu hết mọi thứ đều OK.

Nếu nó không bị thiếu vodka. Allan có thể chịu đựng chính xác là năm năm và ba tuần. Rồi ông nói:

- Giờ thì tôi muốn uống rất nhiều. Và chẳng có gì để uống ở đây. Vì vậy, đã đến lúc ra đi.

Thứ Tư, 25 tháng 9, 2013

Ông trăm tuổi trèo qua cửa sổ và biến mất

Vào ngày sinh nhật lần thứ 100 của mình, cụ ông Allan Karlsson đột nhiên trèo qua của sổ ngôi nhà dưỡng lão – Nhà Già – và biến mất. Ở cái tuổi 100 hiếm ai đạt tới thì cụ có thể đi đâu được? Một cuộc truy tìm trên khắp nước Thụy Điển diễn ra từ phía những người có trách nhiệm chăm nom cụ cũng như chính quyền sở tại, những người nghĩ mình có quyền tôn vinh cái tuổi thọ của cụ. Song song với cuộc truy tìm nhân đạo ấy, một cuộc truy tìm đuổi bắt khác gay cấn hơn, xảy đến từ một tên tội phạm, kẻ đã ngớ ngẩn hoặc đúng hơn, bất cẩn trao vali 50 triệu crown vào tay cụ già này.


Nhưng một người đã sống qua một thế kỷ thì không dễ gì tóm cụ ta được. Cuốn tiểu thuyết hồi tưởng lại cuộc đời phiêu lưu của Allan Karlsson, người đã đi khắp thế giới từ những năm trước Đại chiến thế giới thứ nhất đến cuộc Thế chiến thứ hai, từ nước Nga Xô Viết tới nước Mỹ siêu cường và nước Trung Quốc con rồng đang lên ở Viễn Đông. Allan đã gặp từ TT Mỹ, tham gia chế tạo bom nguyên tử, dự vào cuộc họp của Stalin và Beria để rồi bị đi đầy ở Vladivostok cùng người em cùng cha khác mẹ của Einstein, lừa cha con Kim Nhật Thành và trở thành ân nhân của Giang Thanh...

Cuốn tiểu thuyết với giọng điệu hóm hỉnh trào lộng, dẫn dắt người đọc chu du cùng Allan qua những tình huống giả tưởng làm bật lên cái nhìn tưng tửng về thế giới này. Những xung đột văn hóa, ý thức hệ và những nét khác thường của các vùng đất xa xôi, càng chứng tỏ sự đa dạng của nhân loại trong thế giới có vẻ phẳng này.

Cuốn tiểu thuyết "Ông trăm tuổi trèo qua cửa sổ và biến mất" đã trở thành hiện tượng quốc gia ở Thụy Điển, đem lại cho người đọc một cái nhìn hài hước kín đáo của văn hóa Bắc Âu, nơi có truyền thống tôn quý văn học lâu đời.

* Ông trăm tuổi trèo qua cửa sổ và biến mất, Jonas Jonasson, Phạm Hải Anh dịch, Nxb Trẻ 9-2013.

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ