Thứ Năm, 13 tháng 12, 2012

Giang Trang “trong suốt hóa” nhạc Trịnh

TT - Sau thành công của chương trình Lênh đênh nhớ phố cuối tháng 2-2012, Giang Trang tiếp tục ra mắt đĩa nhạc Trịnh thứ hai mang tên Hạ huyền và vừa có buổi biểu diễn tại Trung tâm Văn hóa Pháp (L’Espace) ở Hà Nội vào ngày 12-12. Cũng như lần trước, buổi diễn đã bán hết vé trước ngày diễn một tuần.

Giang Trang biểu diễn bài Vết lăn trầm của Trịnh Công Sơn trong đêm nhạc Hạ huyền - Ảnh: Quang Thế

Giang Trang không có những lợi thế của một ca sĩ. Cô quyết định rẽ hẳn sang ca hát vào lúc không còn quá trẻ, giọng hát hơi mảnh, không được đào tạo chuyên nghiệp và nhất là bập ngay vào một dòng nhạc, một tác giả là Trịnh Công Sơn. Hầu như ca sĩ VN nào cũng từng hát nhạc của ông, nhưng cũng chỉ đôi ba người thành công. Bấy nhiêu khó khăn đó đủ để làm nản chí bất cứ ai.

Nhưng Giang Trang có lợi thế là cô đã có tiếng trong giới sinh viên Hà Nội, từ những quán ca nhạc nho nhỏ, những câu lạc bộ nhạc Trịnh, những nơi chỉ cần cô hát bằng trải nghiệm của cô, một thứ nhạc Trịnh khác với tông màu ảo não nặng trĩu tâm sự quen thuộc. Trải nghiệm đó là gì? Là khía cạnh thiền, cái màu sắc bảng lảng hư không man mác, đôi khi bâng quơ như những lời tâm sự hằng ngày. Phải nói rằng nó hợp thời. Vì thế mà dễ hiểu là cả hai dịp cô xuất hiện ở L’Espace trong đêm nhạc của mình, lần trước là hai đêm Lênh đênh nhớ phố và lần này, Hạ huyền đều “cháy” vé.

Hai dịp biểu diễn này đều kết hợp với việc ra mắt đĩa nhạc của Giang Trang, những sản phẩm mang tham vọng tái hiện tình ca của Trịnh Công Sơn dưới hình thức âm nhạc đương đại. Ở đấy, giọng hát của Trang có chủ ý lẩn khuất, song hành với cello, flute, guitar hay bộ gõ, không còn là những tự sự nổi lên mà là những cảm giác, đúng như những câu trạng thái trong nhạc Trịnh mà Trang cất lên: “Ta thấy em trong tiền kiếp...”, “Ừ thôi em về...”, “Chợt thấy em qua nơi này...”.

Sẽ có những người lấy làm lạ rằng nhạc Trịnh lại hơn cả trễ nải như thế, nhưng Giang Trang đã tìm thấy “ngách” của loại nhạc tưởng như đơn giản nhất này mà trình làng. Không phải lúc nào cô cũng thành công, vì như Trang cũng đã ý thức, thể hiện bằng sự “trong suốt hóa” nhạc Trịnh như vậy là bỏ qua phần đắm đuối, ma mị, mê luyến vốn đã hằn sâu trong tâm trí người nghe suốt nửa thế kỷ qua. Nhưng sự tìm tòi, khổ công của Giang Trang xứng đáng để người ta tìm hiểu, như một lối tiếp cận ở đề tài tưởng chừng quen thuộc.

Người ta sẽ mãi thích những giọng ca nồng nàn, đầy ăm ắp tâm sự của ngày xưa, nhưng cũng sẽ đón nhận những cách hát mới của một cõi hiện tại. Bởi lẽ, chính Trịnh Công Sơn đã tư duy như thế trong âm nhạc của mình: Trong xuân thì thấy bóng trăm năm.

NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ
(http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/524645/Giang-Trang-%E2%80%9Ctrong-suot-hoa%E2%80%9D-nhac-Trinh.html)

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2012

Đồng nát sành điệu


“Hà Nội giờ chẳng như ngày xưa,” câu nói dễ trở thành cửa miệng của 100% số người quay về thăm lại Thủ đô và cả dân đang sống sờ sờ tại Thủ đô nữa. Tưởng như nhiều năm tháng sóng sau đè sóng trước đã khiến cho tính cách trôi nổi, xô bồ ngự trị trong nhiều thế hệ, dẫn tới chẳng có gì vĩnh cửu ở đây.

Vậy mà có một số thứ mãi mãi bất biến ở mảnh đất này, cho dù thời cuộc biến thiên. Không phải hoa nhài Tràng An. Cũng không chắc phở tái gầu. Nét thanh lịch thơm thể hoa nhài kia thay đổi theo quan niệm xã hội. Phở Hà Nội biến tướng nhiều kiểu, chỗ đậm mì chính chỗ chế thêm rau sống, nguyên liệu khác xa phở vài thập niên trước. Thứ bất biến ấy, là tinh thần hoài cổ.

Nhưng điều đáng nói là người ta hoài cổ về cái thời họ từng sống chưa xa xôi gì, thời họ là nhân chứng lịch sử. Đó là thời bao cấp, và thời này đang trở thành một cái mỏ sành điệu của những người hoặc đã no nê, hoặc không tìm thấy đồng cảm trong khuynh hướng thời trang bày ra hàng tuần ở cửa kính trưng bày của Louis Vuitton ở khách sạn Metropole hoặc vụ cả nghìn người tranh cãi xếp hàng đổi máy tính bảng Samsung cũ lấy mới từ đêm hôm trước. Vụ này hỗn loạn đến mức chương trình tiếp thị này bị hủy bỏ. Một khi đã lên tới hàng nghìn người theo đuổi thì sự sành điệu lại không còn ý nghĩa nữa. Với dân Hà Nội, sành điệu nghĩa là phải in ít kẻ theo thôi, và vừa đủ để tụ thành một nhóm “chúng mình với nhau”.

Thời bao cấp! Nói đến thời này thì có cả một kho đồ vật đã thành biểu tượng. Biểu tượng cho sự khó khăn và vượt qua thử thách của người Hà Nội. Biểu tượng cho những phẩm chất tồn tại khó tin của người Hà Nội, mà đến giờ họ lục lại, lau bụi, đánh gỉ, và trưng bày ra để ký thác nỗi niềm về một phần đời “nghèo mà đáng nhớ” của mình. Những triển lãm về thời bao cấp cách đây sáu, bảy năm có lẽ không chỉ mở đầu cho cuộc “phục hưng” ký ức của dân Hà Nội, mà còn của cả trào lưu trưng bày lưu giữ đồ cũ của cộng đồng. Tự nhiên người ta thấy, ồ, những thứ đồ cổ lỗ sĩ, mốc meo của cái thời tem phiếu lại có sức lay động hơn bao giờ hết. Và những món đồ ấy vào tay một số người có tài vặt lại biến thành thứ vẫn hoạt động được. Rồi người ta thấy các quán cà phê lại treo ảnh cũ, dựng mấy cái xe đạp gióng ngang tróc sơn, dăm cái xe máy bình bịch hình thủ cổ quái. Khi mà tất cả các album ảnh cưới đều cho chú rể đội mũ bê rê, mặc quần gấu lơ vê có dây đeo vai, và cô dâu nối tóc dài buộc trễ gái Hà Nội xưa thì đã hóa ra màu bình dân, các nhà tạo mốt lại đẻ ra xu hướng chú rể đèo cô dâu tết tóc đuôi sam, mặc áo cánh, quần lụa đen, cầm hoa lay ơn trắng trên xe đạp đi qua khu tập thể. Xu hướng này hãy còn ít, vì có vẻ cực đoan quá, mặc dù Trần Nữ Yên Khê đã mặc như thế lên phim Mùa hè chiều thẳng đứng từ cuối thế kỷ trước rồi.

Tức là cái đẹp của đồ cũ những năm bao cấp, khoảng thời gian có thể mở rộng ngược lên tận thời Pháp thuộc, đã chẳng trôi qua vô ích trong mắt những nhà nghệ sĩ khi chúng bắt đầu hết vai trò sử dụng. Những thứ đồ vật không năm tháng ấy đã cho thấy một Hà Nội ít có sự thay đổi vật chất, áo hết đời anh dùng thì “đêm cuối cùng anh để lại cho em”, xe đạp Phượng Hoàng mẹ không đi nữa thì làm của hồi môn cho con gái lấy chồng, như thể những món đồ gia bảo quý tộc Anh vậy. Chỉ hai thập niên đổi mới, người ta đã ngơ ngác với sự trống vắng những món đồ này giữa sự biến đổi vật chất ngoạn mục của đời sống thị dân. Công cuộc tìm kiếm và lưu giữ đồ thời bao cấp giúp cho những kẻ có “chất chơi” cảm thấy mình có một cái căn cốt vững vàng trước những cuộc thăng trầm tiền tài kia. Và chúng trở thành “phẩm chất Hà Nội”.

Vài tháng trước, một quán ăn ở số 37 Nam Tràng, gần hồ Trúc Bạch, phục dựng lại khung cảnh cửa hàng ăn uống mậu dịch được báo chí rầm rộ nhắc tới. Khách vào đấy cũng mua bằng tem phiếu, cũng ăn bằng những cái bát sắt quân dụng và ngắm những hiện vật đã từng bị họ bán đồng nát ba mươi năm trước. Còn giới “chất nghệ” thì đã biết quán cà phê Cộng hay quán Barbetta với những ông bà chủ thông minh sắp đặt đồ cũ với tinh thần tiện nghi hóa. Cũ kỹ hơn nữa là quán cà phê Báo trong trụ sở Hội nhà báo Hà Nội ở phố Trần Quốc Toản, với đủ thứ phủ bụi, ngồi ở đây người ta có thể hiểu thế nào là một sự sành điệu kín đáo, cũng kiêu kỳ chẳng kém lối sành điệu khi ngồi ở cà phê Luala hay Metropole – những nơi có giá một cốc cà phê gấp bốn năm lần và không có một món đồ thời bao cấp nào giăng trước mắt. Ở những nơi này, chỉ có bàn ghế tiện nghi và những mốt quần áo sang trọng mới nhất. Quần áo của người phục vụ ở Luala nghe đâu cũng cỡ hiệu Escada hay Van Laack! Nhưng để tôi so sánh cho mà nghe, thì năm mươi năm trước, áo bông Sĩ Lâm hay bút máy Kim Tinh cũng là đỉnh cao thời trang, chỉ cán bộ cao cấp mới dễ bề có được.

Viết đến đây, tôi cứ lởn vởn trong đầu nhận xét của một chị bạn nhà văn nổi tiếng rằng tôi đừng viết “ngoái lại mà nên nhìn ngang”. Tôi không biết làm sao để thoát ra sự hoài cổ khi mà chính chị đã từng khuyên tôi thử mua một chiếc xe máy Vespa PX cũ. Thực ra nó không đến nỗi cũ mà chỉ như thời bao cấp tôi đã từng trải qua hồi bé, nhưng đến giờ đã thành thời của đồ cổ. Cái xe khá bất tiện cho việc đi lại, mặc dù dáng xe rất đẹp và gây ấn tượng cho bạn bè tôi đến nỗi đến giờ, sau khi tôi đã bán đi được hai năm rồi, mọi người đều hỏi: “Vespa cổ đâu rồi?”

Nhưng như thế vẫn không là gì so với một anh bạn khác, Vũ Lâm. Anh này là phóng viên chuyên mảng mỹ thuật. Có lẽ vì nghiên cứu mỹ thuật nên anh cũng có sự lựa chọn khác người. Anh định mua một cái U-oát đầu vuông, loại xe có từ giữa thế kỷ trước cũng nên. Lâm rủ tôi đi cùng để thẩm định. Cái xe được để ở sân Cột Cờ, lúc ấy chưa trả về di tích Hoàng thành Thăng Long (cũng một thứ đồ cổ!), và chủ cũ là một bác bộ đội đã lâu không dùng nó. Giữa khung cảnh cổ kính và nhiều tàn tích chiến tranh của bảo tàng Quân đội ngay phía sau, cái xe có dáng vẻ nam tính mà vẫn độc đáo. Sau vài cốc bia hơi ở bãi cuối sân bóng, chúng tôi leo lên chiếc xe mà trong mắt tôi kín mít như cái xe chở tiền. Con xe nhảy chồm chồm trên cái sân bóng đá cũ, bỗng tăng tốc rầm rầm lao về phía quán bia và rồi khựng lại giữa chừng trước cả mấy trăm người đàn ông đang trợn mắt lên không biết nên ngồi uống bia tiếp hay bỏ chạy. Tôi toát mồ hôi, thầm nghĩ ông bạn mà dùng cái xe này đi công tác Tây Bắc chắc “đi bằng niềm tin”. Rồi với một nỗ lực to lớn, bạn tôi cũng đưa được nó về chỗ cũ thật êm ái. Không có tràng vỗ tay hoan hô nào, và ai nấy thở phào ngồi nhậu tiếp. Nhưng rõ ràng cái xe nổi bật thật, thậm chí vài ba ông còn ra ngắm nghía.

“Ba triệu thôi.” Lâm suy tính. Tôi lắc đầu, nghĩ nhỡ đâu có cảnh hàng nghìn người bỏ chạy ngoài đường để tránh bị đâm phải. Người chủ xe cũng lắc đầu và bảo, “Thôi chú đừng mua, cái này anh bán đồng nát vậy.”

Nguyễn Trương Quý
(Tạp chí Đẹp 11-2012)

Thứ Hai, 29 tháng 10, 2012

BCHN 124-129 - Về đôi mắt như hồ thu

Mời mọi người gặp thu HN trên... mạng :-)

...Sau những bỡ ngỡ ban đầu, những người yêu nhạc VN đã tự viết lấy những bài tân nhạc của mình với lời ca và giai điệu hấp dẫn. Sự trưởng thành về ca từ âm nhạc dường như phản ánh sự lớn mạnh của ý thức dân tộc cũng như lối sống Âu hóa rộng khắp.

BCHN 4 (124) - KHÚC BIỆT LY MỞ ĐẦU



Ca khúc Biệt ly là một bằng chứng cho một sự giao thoa văn hóa Âu-Á. Chuyện chia ly vốn tràn ngập văn chương cổ VN, nhưng ở đây, biệt ly nơi bến cảng, nhà ga, những địa điểm mới lạ kiểu Tây, và nỗi buồn man mác của cái tôi là nét mới tân thời.

Thừa hưởng một nền thi ca trung đại vẫn xem “mùa thu là bạn muôn đời của thi nhân”, giờ đây, dưới ảnh hưởng của thơ lãng mạn Pháp, cũng như phong trào thơ mới, hầu hết các nhạc sỹ VN ở buổi đầu tân nhạc đều soạn ra các bài hát về mùa thu. Và Hà Nội thật sự là mảnh đất màu mỡ cho các nhạc sĩ trẻ này với mùa thu đất Bắc có khung trời mờ hơi sương và cái se lạnh gợi niềm tâm sự.


BCHN 5 (125) - VỀ ĐÔI MẮT NHƯ HỒ THU



Nếu có thể gói gọn tân nhạc trong một bài thì chắc chắn đấy sẽ là một bài hát về mùa thu và mùa thu của tân nhạc ắt ở Hà Nội!

Ngoài việc chịu ảnh hưởng chung của văn thơ lãng mạn Pháp và thơ Đường, thì mùa thu quả thực đã trở thành đặc trưng như một hương vị đặc sản của Hà Nội. Mùa thu Hà Nội dù không có dấu ấn rõ rệt như lá phong đỏ hay sương giá như xứ lạnh, nhưng cái sự nhè nhẹ tinh tế trong đổi thay của đất trời nơi đây, nơi những mặt hồ xao động chút trước lá rung rinh trong hơi sương cũng đủ để các nhạc sĩ trải lòng mình.


BCHN 6 (126) - THU QUYẾN RŨ



Mùa thu quyến rũ anh rồi – dường như đó là tuyên ngôn về cảm hứng nghệ thuật của Đoàn Chuẩn, với những những tà áo xanh về với giấc mơ trong một bức tranh thu Hà Nội có mưa rơi làm rung lá vàng và mây trắng lơ đãng bay về cuối trời biếc.

Nhưng mùa thu của ĐC không chỉ có những đàn bướm đùa vui trên muôn hoa, đấy còn là những mùa ly biệt, đưa người yêu sang sông, là đoạn kết cho những mối tình nghệ sĩ bất thành. Năm 1954, ca khúc Lá đổ muôn chiều ra đời để ghi dấu một cuộc chia tay trên con đường Trần Hưng Đạo ngập lá sấu vàng và hương hoa sữa. Thăm thẳm trong ca từ là sự luyến tiếc mối tình đã đứt đoạn, nhưng cả sự chia tay cũng đầy diễm ảo.


BCHN 127 - GIÓ LÃNG TỬ BỐN PHƯƠNG



Năm 1941, họa sĩ Hoàng Lập Ngôn tự làm một chiếc xe ngựa đặt tên cho chiếc xe tự chế của mình là Nhà Lăn Mê Ly, hoạ sĩ dùng chiếc xe ngựa kéo này làm phương tiện giao thông để đi vẽ người và phong cảnh khắp đó đây. Mặc dù thực tế không phải là một sự tích to lớn, nhưng chiếc xe xuyên Việt đó đã trở thành cảm hứng cho một loạt những bài hát về sau này, là niềm mơ ước hào sảng của cả một thế hệ thanh niên.

Hình ảnh một đoàn nghệ sĩ ra đi trong phong sương có sức hấp dẫn đặc biệt với các tâm hồn trai trẻ lúc bấy giờ. Nhà Lăn Mê Ly có lẽ chỉ là yếu tố hiện thực hóa của đằng đẵng những khát vọng thế hệ, nhưng nhờ sự có mặt của nó mà tạo nên một huyền thoại xê dịch.



BCHN 128 - HƯỚNG VỀ THÀNH PHỐ XA XƯA



Những người nghệ sĩ tha phương, để tìm nơi bình yên giữa khói lửa. Họ mang theo Hà Nội trong cách sống, trong nỗi nhớ, trong những chi tiết nhỏ nhặt tưởng chừng lãng quên đi: một màu áo tím, một sắc hoa lay động ánh chiều tà. Chiến khu không còn là chốn rừng thiêng nước độc như thuở nào trong truyện đường rừng của Thế Lữ, mà là nơi trú ngụ bình yên.

...giai đoạn này, HN bắt đầu được mô tả 1 cách cụ thể và chi tiết trong ca khúc. HN hiện lên với đường nét của đời sống sinh hoạt, ta đã gặp ở Người Hà Nội của Nguyễn Đình Thi. HN hiện lên với dáng vẻ ảo mộng mà trong trẻo, có lẽ là khởi nguồn từ Hướng về Hà Nội của Hoàng Dương.



BCHN 129 - ĐÊM MƠ HÀ NỘI DÁNG KIỀU THƠM



"...Miếng ngon Hà Nội, vì thế, nhiều khi làm cho ta yêu Hà Nội thấm thía, nhớ Hà Nội ê chề, và làm cho ta cảm giác ta là người Hà Nội hơn... Có ai đã xa Hà Nội lâu ngày, một chiều hiu hắt vọng về Hà Nội nhớ từng cái ngõ, từng cái nhà, nhớ từng vườn Bách Thảo, hồ Hoàn Kiếm nhớ đi, nhớ từ những hoa sấu rụng ở trên đường đầu thu nhớ xuống, mà tự nhiên ở đâu có người tìm đến mang “một chút quà Hà Nội” đến cho mình, người ấy mới có thể biết “quà Hà Nội” giá trị như thế nào!

...Bây giờ, nghĩ lại cái đẹp não nùng của cốm Vòng xanh màu lưu ly để ở bên cạnh những trái hồng trứng thắm mọng như son tàu, tôi thích nhớ lại một buổi chiều thu đã xa lắm lắm rồi, có một nhà nọ đưa hồng và cốm sang sêu một người em gái tôi."

Vũ Bằng đã hồi tưởng lại những món ăn thức quà Hà Nội, phở, cốm... những hương vị và cảnh tượng mộc mạc nhưng đã định hình cả trời thương nhớ của những người ly biệt.

Thứ Sáu, 26 tháng 10, 2012

Phía Tây Hà Nội




Đã một tuần nay, cả nhà náo loạn vì một cái hẹn đi ăn tiệc. Háo hức nhất là trẻ con. Ý tưởng sẽ được đến ăn nhà hàng Hàn Quốc ở Keangnam rồi “thể nào cũng được chơi” ở tầng trò chơi cảm giác lạ làm bọn nó sôi sục.

Bố mẹ chúng thì không như vậy. Hưởng biết Linh bất đắc dĩ phải đi thôi, khi Nga, bạn cũ thời phổ thông, mời đi ăn sau mười mấy năm bặt tin. Giá kể lôi nhau ra quán lẩu hay bia hơi Hải Xồm thì anh cũng thoải mái. Linh nói: “Nhà cái Nga giầu, hai vợ chồng mỗi người một xe.” Xe dĩ nhiên là xe hơi. Linh gặp Nga tình cờ hôm cô đi lấy hàng ở chợ. Nga đi chơi, thăm lại chợ Hàng Da mới xây thành trung tâm mua sắm xem có gì hay hay. Vậy là Nga chở Linh về tận nhà, đúng lúc thằng Việt đang dắt xe đạp ra cửa. “Ra dáng thanh niên quá” - Nga mỉm cười khen khi Việt chào để đi học - “Thế nó học tận đâu?” “Tít mãi trường Ams ấy.” “Giỏi thế, nhưng đạp xe mười mấy cây số thì vất quá nhỉ.” Linh mời Nga ở lại ăn trưa, nhưng cô khoát tay bảo có việc rồi, hẹn luôn cả nhà Linh hôm tới đi ăn. Nga nhìn Linh: “Hôm nào tôi dắt bà mua mấy bộ. Trông người vẫn ổn đấy.”

Nói là làm. Hai hôm sau, Nga đỗ xịch ở trước quán hàng của Linh: “Bà đóng cửa hàng, đi với tôi.” Cái xe đỗ kềnh càng ở mé cửa quán tạp hóa. Linh không có cách nào khác ngoài việc phải vội thu dọn hàng và khóa cửa. Kết quả sau hai tiếng mua sắm, Nga đã lựa cho Linh hai bộ váy với giày guốc. “Phải cẩm lê thế mới được, ngố ạ.” Cẩm lê là gì, Linh ngớ ra, tiếng Tây à. “Tao cũng chịu, nghĩa là đủ lệ bộ, như mày đi dự tiệc phải xách ví đầm đi theo. Đàn bà ra đường không mang ví cũng như cởi truồng ấy. Cái này thì bọn Tây nó nói.”

Cái váy hoa hai dây và đôi guốc cao gót làm Linh bất ngờ vì hóa ra trông mình không đến nỗi nào, nhưng điều cô bất ngờ hơn là Hưởng không phản đối. Hưởng là bộ đội, vốn chỉ quen vợ mình diện nhất là mặc áo dài cũng như nghe nhạc chỉ nghe Trọng Tấn Anh Thơ là hết.

Hưởng không vui ở chỗ phải đi dự tiệc ở một nơi anh chưa biết thế nào. Anh bị đại tràng, không ăn được món lạ. “Hay em với hai đứa đi thôi, anh không đi đâu.”

“Ơ hay, thế hôm nọ anh đồng ý rồi.”

“Anh có ăn được đồ Hàn đồ hiếc gì đâu.”

“Anh thật là, ở đấy có nhiều món khác nhau. Mà Hàn Quốc cũng có thịt chó nhé.”

“Quần quần áo áo ngồi ngay đơ ở bàn, biết nói gì.”

“Chồng nó cũng có nói được tiếng Việt đâu.”

Người không chỉ không vui, mà còn khó chịu với bộ váy của Linh là thằng Việt con cô. “Trông cứ hở hang thế nào ấy mẹ ạ.” Linh cũng thấy quả tình là hơi cách mạng quá so với lối ăn mặc lâu nay của cô, nhưng cô tặc lưỡi, khoác thêm cái áo ren mỏng là đủ. Cô đã thấy Nga mặc rồi.

“Mẹ, mẹ. Con cô Nga xinh không?” Cái Mai hỏi lúc lật đi lật lại cái váy kia của Linh.

“Mẹ đã gặp đâu.”

“Chắc xinh nhỉ. Con lai mà.”

Trước hôm đi ăn tiệc, bà chị gái của Linh xộc vào nhà. “Mai mày đi ăn cỗ hả?”

“Cỗ bàn nào? Con bạn cũ nó muốn gặp.” 

“Nó làm ăn gì mà lại gặp mày?”

“Chị hỏi buồn cười. Gặp là gặp thôi chứ làm ăn gì.”

“Mày cẩn thận đấy. Bọn nó hay dùng cái trò bạn cũ rủ rê này, rồi dắt mày vào tệ nạn.”

“Chị đọc lắm báo pháp luật rồi đấy.”

Mai chen vào. “Cô Nga cô ấy còn mua váy cho mẹ cháu nhá.”

Trước khi Linh kịp làm gì, Mai đã lôi hai cái váy ra.

“Ối giời ơi! Váy vó gì như đồ ca ve thế này!”

Linh lẳng lặng giật lấy hai cái váy, mang cất vào buồng. Rồi cô vào toa lét, mặc cho bà chị ngồi nói oang oang bên ngoài. “Mẹ mày giờ đổi mới tư duy ác thật.” Linh ngồi phịch xuống bệ xí, mặc cho nước mắt chảy ra.

**
Từ nhà Linh đến tòa nhà Keangnam ở khu Mỹ Đình phải đi xuyên qua thành phố. Mỹ Đình là khu mới ở phía Tây của Hà Nội, Linh chưa đến đấy bao giờ. Chỉ trong mấy ngày, thằng Việt và cái Mai đã phổ biến thông tin. “Keangnam là tòa nhà cao nhất Việt Nam.” “Tầng trên cùng có triển lãm tranh thế giới ảo, chiếu phim 5D mẹ ạ.” “Bọn bạn con đứa nào cũng lên đấy chụp ảnh, thích ơi là thích.”

Nga nhắn tin. “Bà nhớ đến đấy nhé, tôi đặt hết cả rồi.” Rồi lại nhắn. “Ăn uống bình thường ấy mà. Đừng có mà ngại. Xưa bọn mình khổ bỏ xừ, tôi lạ gì. Không nhắn lại nữa. Chấm hết.”

Lúc lên taxi, câu chuyện Keangnam lại tiếp tục. Lần này cái Mai thỏ thẻ, “Nhưng vé lên tầng 70 đắt lắm.” Việt chen vào, “Nhỡ cô Nga mời thì sao?” Hưởng đang ngồi ghế trên, quay xuống. “Tao cấm hai đứa mở mồm ra gợi ý người ta nghe chưa. Bố mẹ chưa để đói bữa nào cả, nhé.” Hưởng nhấn mạnh chữ “nhé” rồi quay lên ngồi yên nhìn ra phía trước.

Trong khi cả nhà mải mê nhìn những đường phố mới Hà Nội, Linh nhắm nghiền mắt. Cô không quen đi xe nên hơi váng vất. Cuối cùng xe cũng đỗ ở sát vỉa hè lối vào khu tòa tháp. Linh bơ phờ bước ra, gió lộng táp vào mặt. Hưởng chăm chú nhìn số tiền trên đồng hồ đếm, rút trong tập tiền buộc sợi dây chun mấy tờ để trả tài xế. Hôm nay Hưởng mặc cái áo sơ mi mới cắm thùng, nhìn cũng bảnh bao hơn. Linh yên tâm khi thấy cả nhà trông có vẻ tươm tất tương xứng với khung cảnh hào nhoáng ở đây.

“Từ từ! Đợi bố mẹ!” Hai đứa trẻ đã chạy ùa đến cái sảnh.

Gió từ khoảng giữa các tòa tháp thổi bạt làm Linh một tay giữ váy, một tay bíu lấy chồng. Hai người liêu xiêu bước đến cửa ra vào.

Việc đầu tiên là phải xác định xem nhà hàng ở tầng nào. Vì Linh không nhớ chính xác tên của nhà hàng, một cái tên Hàn Quốc rất dễ lẫn.

“Con đảm bảo là ở tầng trên khu Parkson. Họ đề Food Court mà.” Thằng Việt quả quyết sau khi xem sơ đồ. “Ở đây nhiều nhà hàng lắm.”

“Để mẹ gọi cô Nga cho chắc. Nhỡ leo lên không phải lại mất thời gian họ đợi.”

“Mày cứ lanh chanh.” Hưởng lừ mắt với con trai.

Nga reo lên trong điện thoại. “Đến chưa, đến chưa. Tầng trên của Parkson nhé.”

Thằng Việt đắc thắng khi đã đúng, giơ ngón tay bấm nút lên thang máy rất thiện nghệ. Hưởng hầm hừ làm Linh bật cười. “Thôi, bọn này nó dắt đi đâu thì bọn mình đi đấy anh ạ.”

Nga ân cần chạy đến đón cả nhà Linh rồi đưa vào bàn trong gian phòng rộng, đèn chùm chiếu ánh vàng hơi nhòa nhòa. Nhà Nga chỉ có ba người. Ông chồng Hàn Quốc mập mạp, đeo kính cận. Đứa con gái mắt một mí giống bố, nhưng cái miệng rộng giống mẹ.

“Phương, chào cô Linh chú Hưởng đi con.”

Đứa con gái chào rành rọt bằng tiếng Việt làm cả nhà Linh ngạc nhiên. Nga hân hoan giải thích. “Tớ vẫn nói chuyện với cháu bằng tiếng Việt. Tên Việt Nam đặt cho con là ý của anh Suno đấy.” Nga quay sang mỉm cười với chồng. Ông ta giơ tay nắm lấy tay vợ, gật gật cái đầu theo cách Linh vẫn thấy trên phim truyền hình.

“Thôi, vào bàn đi. Cho gọi món em ơi!” Nga vẫy vẫy tay. Hai cô phục vụ mau chóng bước ra.

Linh ý tứ quan sát chồng và hai con. Hưởng lúng túng khi được cô phục vụ giúp trải khăn ăn lên đùi và gắp khăn nóng đưa tận tay.

“Hai con thích ăn gì? Đồ Hàn Quốc cay có ăn được không? Hay món Tây?” Nga hỏi Việt và Mai. Linh định mở miệng nói thay nhưng Nga đã mỉm cười. “Cho các con thoải mái cậu ạ.”

“Cháu ăn mì Ý.”

“Mày dốt lắm. Đi nhà hàng Hàn Quốc lại ăn mì Ý. Phải ăn kim chi.” Việt giễu em.

“Ở đây đồ Tây cũng ngon lắm. Em Phương cũng hay thích đồ ăn nhanh. Các con cứ gọi vô tư.”

Cuối cùng việc gọi món cũng xong, ai nấy đều đã tìm được thứ mình cần, Linh khẽ thở phào. Hưởng bảo, “Em ăn gì anh ăn nấy.” Ông chồng Hàn Quốc của Nga cũng tỏ ra thân thiện. Việc căng thẳng nhất đã có vẻ trôi qua. Hai đứa con của Linh đã xúm lại quanh Phương, châu đầu vào xem chung cái iPad, mặc cho bốn người lớn nói chuyện. Mà thực ra là chỉ có Nga và Linh.

Lúc này Linh mới rõ thêm về cuộc sống gia đình của Nga. “Thật ra sống bên Hàn cũng khổ lắm. Giá đắt kinh người.” Suno cũng lặp lại “Đắt”, đưa tay lên cứa cứa cổ. Linh và Hưởng nhìn nhau cười ngượng nghịu. “Chỉ có Việt Nam là sướng. Cái gì cũng có mà lại rẻ.” Nga nói như reo lên. Cô nói sắp tới Suno sẽ phải về nước để tập huấn thêm.

“Thế là cả nhà lại về Hàn Quốc à?” Linh thắc mắc.

 “Chỉ anh Suno thôi. Nhưng anh ấy muốn mẹ con tớ về cùng để còn lo việc nhà.” Nga ngần ngừ định nói gì thêm vẻ khó nói nhưng rồi tươi nét mặt khi thấy phục vụ bưng đồ ăn ra. “Thôi ăn đi nhỉ. Đồ Hàn phải ăn ngay mới ngon. Các con, không chơi nữa, ra ăn.”

Bữa tiệc đã đi tới hồi ai cũng ngây ngấy no. Việt đã có một cuộc nói chuyện bằng tiếng Anh trôi chảy với Suno, rồi làm phiên dịch những câu Suno bắt chuyện với Hưởng. “Mừng cho các con quá, bà ạ.” Nga ghé miệng nói vào tai Linh, lúc này đang hân hoan trong bụng. Mặt Hưởng lẫn Suno ửng hồng vì men bia. Ba đứa trẻ đã ra nửa nằm nửa ngồi trên cái sofa ở góc phòng, Việt cầm chịch cuộc chơi trên iPad, hai đứa con gái chỉ chỏ bên cạnh. Nga nhìn theo rồi quay lại cười. “Đúng là trẻ con ở đâu cũng thế. Hội nhập nhanh nhất.” Hưởng giờ mới lên tiếng. “Ừ, vợ chồng nhà này lắm cái có biết gì đâu. Bọn nó sờ đến cái gì, năm phút sau là biết hết cả. Chỉ đạo bố mẹ luôn.” Suno nhíu mày, “Chỉ đạo?” Nga bật cười, nói gì đó với chồng bằng tiếng Hàn rồi quay ra giải thích. “Tớ vừa nói cho anh Suno chỉ đạo nghĩa là gì. Anh ấy bảo tiếng Hàn âm cũng gần gần thế, nhưng dùng cho công ty, như giám đốc chỉ đạo nhân viên chứ không dùng ở gia đình.”

Linh và Nga rôm rả nhắc lại chuyện ngày xưa. Hồi phổ thông, hai người đều không học khá. Linh chật vật lắm mới tốt nghiệp được, về nhà phụ mẹ bán hàng rồi lấy chồng khi chưa đến hai mươi tuổi. Còn Nga… Nga kể thì Linh mới biết bạn mình đi làm tạp vụ ở một công ty Hàn Quốc rồi gặp ông chồng bây giờ. Mọi chuyện như thế khác gì một giấc mơ.

“Thế này anh Hưởng và Linh ạ. Em biết là đường đột nhưng không có dịp nào hơn.” Nga hối hả nói như thể sợ bị cắt ngang. “Em và anh Suno muốn xin cháu Việt làm con nuôi.”

Tim Linh đánh thụp một cái rồi như muốn rụng xuống. Cô liếc nhìn chồng. Hưởng xoay xoay cái chén trà trong tay, khớp ngón tay trắng bệch.

Như đoán trước phản ứng, Nga không mỉm cười mà ngồi yên, giọng ủ ê. “Em vô sinh rồi. Còn anh Suno cũng lớn tuổi nên khả năng có con rất khó. Em thật sự…” Nga khóc nức lên.

Linh thở dài, vội kéo ghế ngồi sát Nga rồi đưa tay nắm lấy tay cô. Nga ngả rụp người vào một bên vai Linh, rung rung người trong tiếng khóc. Hưởng bối rối nhìn hai người rồi nhìn ba đứa trẻ con đằng xa, lúc này vẫn đang chăm chú chơi. Suno rít thuốc trầm tư, quan sát cuộc hội thoại như hiểu hết.

Nga ngồi ngay người lên, tiếp tục nói. “Vả lại, anh Suno có một khoản thừa kế nhưng với điều kiện phải có con trai. Em vẫn nhớ đến bạn Linh của ngày xưa… Mười mấy năm rồi, vẫn không thay đổi gì. Tốt mà rất hiền… Em thật sự muốn làm một việc có ích cho cả hai nhà… Cháu Việt về nhà em thì sẽ có điều kiện đi học, khoản thừa kế ấy rồi cũng sẽ chia cho cháu, rồi sau này báo hiếu được cho cả… bố mẹ đẻ lẫn bố mẹ nuôi… Em không có ý gì khác…”

Linh ngồi ngây ra, đầu rối bung lên. Ra là vậy.

Giải pháp mà Nga đưa ra rất dễ chịu. Việt sẽ tiếp tục học hết phổ thông ở Việt Nam, và hàng tuần tới ghé thăm nhà của vợ chồng Nga, lúc này là cha mẹ nuôi của nó. Nga sẽ có trách nhiệm hỗ trợ cho con nuôi vào đại học ở Hàn Quốc. Vợ chồng Nga sẽ chu cấp ngay từ bây giờ. Một tháng nữa, Nga sẽ quay lại Hà Nội và nếu nhất trí, hai bên làm thủ tục.

Linh và Hưởng muốn về suy nghĩ và bàn bạc đã. “Mong cậu và anh Hưởng giúp mình. Mình sẽ đợi.”

**

Dĩ nhiên là Hưởng không đồng ý. “Dưng đâu người ta lại tốt với mình thế? Mình làm thế bằng bán con.”

Đột nhiên, Linh duyệt lại tất cả đầu dây mối nhợ quan hệ với cô bạn cũ. Nghĩ nhiều thì sinh nghi. Nhưng tương lai quá hấp dẫn cho thằng con trai khiến cô không thể từ chối phắt. Hai vợ chồng thống nhất là chưa vội nói với bọn trẻ con.

“Cô Nga ngày xưa học giỏi không, mẹ?” Câu hỏi của Việt bung ra trong bữa cơm làm Linh lúng túng. Hưởng khẽ liếc vợ, nhưng không tỏ thái độ gì.

“Cũng bình thường, nhưng chăm. Cái chính là chịu khó con ạ. Rồi cơ hội sẽ đến.”

Lúc Linh rửa bát, Hưởng xuống bếp, giả vờ tìm cái búa. “Cô nói gì với nó rồi?”

“Em đã nói gì đâu.”

“Thế sao nó lại hỏi? Tôi biết thừa bụng cô rồi.”

“Anh nghĩ em là cái giống gì? Thế anh nghĩ em hám lợi cho mình lắm chắc?”

“Lại bắt đầu nước mắt đàn bà đấy.” Hưởng càu nhàu, quẳng trả cái búa vào khay nhôm đồ sửa xe đạp, bỏ ra sân hút thuốc.

Liền mấy ngày sau, hai vợ chồng gần như không nói chuyện với nhau. Lũ trẻ biết phận, không dám hó hé gì trước màn chiến tranh lạnh.

Buổi tối, dường như cả nhà chăm chú hơn khi xem những bộ phim Hàn Quốc trên ti vi. Đúng hơn là Linh thấy căng thẳng, và cô cảm thấy sự căng thẳng của mình đang tỏa ra xung quanh như phóng xạ.

“Đi học toàn thấy yêu đương, sướng nhỉ.” Việt xuýt xoa khi phim có cảnh đôi nhân vật chính ngồi trong giảng đường.

“Mà các chị ấy cũng xinh ơi là xinh.” Mai đế vào.

Hưởng hầm hừ, cầm điều khiển chuyển kênh.

“Ơ, bố. Phim đang hay mà.”

“Phim nhố nhăng. Mẹ con mày mê Hàn Quốc lắm rồi đấy.”

Linh cảm thấy máu dồn lên mặt. “Anh đừng có chụp mũ thế nhé.”

“Cô ấy! Tôi biết mà. Cô mà không mờ mắt tiền nong thì cái Nga đã chẳng có cửa xin thằng Việt làm con nuôi!”

Hai đứa trẻ trố mắt nhìn. Linh hít hơi dài, nhắm mắt lại, huơ tay ra hiệu. “Đấy, anh nói đi.”

Sau khi Hưởng thông báo tin cho con trai, cả hai chờ đợi phản ứng của nó. Thằng bé như đoán được mấu chốt vấn đề, hỏi bâng quơ. “Thế ý bố sao ạ?” Hưởng ngồi thừ, nói chủng chẳng. “Sao với giăng gì. Cứ học xong rồi vào đại học đã.”

“Con nghĩ thế nào?” Linh thận trọng hỏi.

Việt nhún vai. “Con cũng chẳng biết. Con chịu.”

Hưởng gầm lên. “Chẳng biết là thế nào? Mày muốn thì mày bảo luôn!”

Linh can. “Thôi, anh sao lại nói thế.”

Mai bíu lấy tay mẹ. “Nhưng quá mười tám tuổi thì làm sao được nhận làm con nuôi ạ?”

Hưởng điên tiết, cầm cái chén uống nước ném choang một cái vào tường.

Hai tuần tiếp theo, cả nhà như có đám. Những bộ phim Hàn Quốc dường như bị trục xuất khỏi ti vi. Cái hẹn với Nga sắp đến làm bầu không khí ngột ngạt. Đôi lần Linh gặp ánh mắt chờ đợi của con trai khi gặp mẹ lúc đi học về rồi lại thất vọng. Hưởng lầm lì, đi ngủ hay trở mình. Linh chỉ dám nằm yên.

Hôm trước ngày hẹn, hai vợ chồng đi ngủ sau khi hết bộ phim buổi tối. Bỗng Hưởng quay sang vợ. “Nhớ bảo cô Nga cho nó về thăm mình mỗi năm mấy lần nhé. Nghỉ hè là phải về nhà.”

“…”

“Anh không phải là hẹp hòi gì. Nhưng sợ con mình ham phú quý, dễ hỏng.”

“…”

“Nhưng giờ có cơ hội thế này, không cho nó đi mình lại ân hận. Hai vợ chồng mình vẫn còn cái Mai…”
Linh khóc không thành tiếng, Hưởng vỗ vỗ vai vợ. “Thôi nín đi, không bọn nó lại nghe thấy bây giờ. Anh tắt đèn đây.”

N.T.Q

(Tuổi Trẻ cuối tuần 26.10.2012) 

Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2012

Tiếu ngạo về... còi


"Chồng lái lụa, vợ góa bụa"...
TT - Họa sĩ Thành Phong - tác giả của cuốn sách gây đình đám Sát thủ đầu mưng mủ - tiếp tục gây xôn xao bằng những nét bút trào lộng, nhưng lần này là một chiến dịch hết sức ý nghĩa: tấn công vào những hình ảnh xấu xí trong giao thông.
Như trong hình bên thật khó nhịn cười, nhưng cũng thật sâu cay với “chồng lái lụa” thì ắt là... ”vợ góa bụa”!
Châm biếm tệ nạn đua xe trái phép
Thoạt xem và thoạt đọc thì thấy những hình và lời chú thích những bức tranh của họa sĩ Thành Phong cho chiến dịch “K0 còi” (đọc là Không còi) có vẻ hơi nhiều... sát thủ. Có lẽ âm hưởng của cuốn sách đình đám Sát thủ đầu mưng mủ năm ngoái vẫn còn mang tính thời sự nên những bức tranh của Thành Phong đã khiến độc giả tò mò muốn xem chàng họa sĩ này có gì mới lần này?
Nhưng cũng phải nói rằng chính thực tiễn cuộc sống đã sinh ra tranh Thành Phong thông qua những thành ngữ hiện đại do các bạn trẻ sáng tạo gửi đến cho anh. Những thành ngữ phần lớn có vần và quan trọng nhất có dụng công hài hước (Phố thành sông, lưu thông thêm thoáng; Xe mẹ mua, đua mẹ đánh...). Chính những yếu tố chơi chữ hoặc lắt léo cách gợi hình ảnh như vậy đã là đất cho Thành Phong phóng bút bằng nét vẽ khá thú vị của mình. Chẳng hạn như Đi ngược chiều, trẻ trâu chơi liều gắn với bức tranh vẽ hình một cậu trai cưỡi con trâu xông vào đám đông giao thông ngược chiều, cầm roi hét “Yêêê!” là một cặp lời - hình thông minh. Ở đây đã sử dụng được từ lóng “trẻ trâu” đang rất thịnh hành hiện nay để diễn tả mức độ điên rồ trong cách đi xe của một bộ phận giới trẻ “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ”!

Đi ngược chiều, trẻ trâu chơi liều

Cũng một cách lợi dụng yếu tố đồng âm, Còi to máy rú là thú đi xe lại tỏ ra có tầm hơn hẳn nhiều câu thành ngữ sành điệu thời Sát thủ đầu mưng mủ cũng của Thành Phong. Nếu như ở cuốn sách trước vẫn còn nhiều câu có vần nhưng khá vô nghĩa thì ở đây, họa sĩ mau chóng lợi dụng được chữ “thú” để vẽ một con khỉ lông lá mặt đỏ gay cho cả hai chân lên yên cưỡi xe Honda Cub trong tư thế “bốc đầu”. Nhiều bạn trẻ hẳn sẽ cảm thấy đồng cảm hoặc đỏ mặt (hi vọng thế!) với thông điệp đả kích qua hình ảnh bêu xấu một hiện tượng tiếc thay không còn hiếm hoi ngoài đường.

Còi to máy rú ...
Tranh của Thành Phong đã ra đời như một kết quả tương tác giữa ngôn ngữ giới trẻ với bộ môn biếm họa. Điểm mạnh của sự tương tác này là kết nối được với tâm lý cộng đồng đông đảo các bạn trẻ, nhưng cũng là sự bó buộc cho họa sĩ. Mặc dù xu hướng tranh nhiều chi tiết và rậm chữ như của Phong vẫn được nhiều bạn trẻ thích vì mô tả trực tiếp và sát thực tế, nhưng để bức tranh đứng độc lập như một tác phẩm biếm họa thì cần đơn giản và mang tính biểu tượng hơn nữa. Tính sâu cay và đa nghĩa cũng cần bật lên từ việc vẽ ít mà hàm lượng thông tin dồn nén hơn.

Bấm còi đòi vượt đèn đỏ

Tất nhiên, với tư cách là những thông điệp bằng hình, nhiều bức tỏ ra là những minh họa có giá trị trong việc phản ánh thời cuộc - thời mỗi con người Việt Nam là một cá thể đi lại đầy ích kỷ và mù lòa. Một người đi xe máy sửng sốt dừng lại trước chắn tàu xe lửa có bảng đề “Còi to cho vượt”, hay quang cảnh một ngã tư khi đèn đỏ còn 3 giây, một gã thanh niên không đội mũ bảo hiểm bấm còi inh ỏi và hét lên giục người đằng trước đi, trong khi một chiếc xe thương binh chở hàng đã ngạo nghễ phóng lên... Những hình ảnh đời sống giao thông lộn xộn, nhầu nhĩ dường như đã tìm được những nét vẽ nhiều gãy khúc, xô lệch có chủ ý để mỗi người xem, nhất là giới trẻ, đến với “K0 còi” giật mình và bật cười khi thấy mình cũng ở trong đó, là nạn nhân mà có khi cũng là thủ phạm...
NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ
Châm biếm giá xăng

Xăng giá cao, làm sao dám đổ đầy bình?

Bức tranh đòi hỏi người xem phải ngắm kỹ một chút, từ dòng tiêu đề hơi khó đọc đến cái mồm móm của người đi ôtô và lời bình phẩm nhỏ như lời thì thào của một người đi xe máy đang tròn mắt phía sau: “Đại gia vãi!”. Đổ đầy bình xăng trong thời buổi xăng lên giá liên tục hiện nay là một thước đo sự giàu có đầy tính thời sự. Và bức tranh còn ám chỉ một từ lóng thịnh hành của giới trẻ nữa - “móm” - chỉ việc kiệt quệ hoặc bất lực cùng đường. Nhưng đại gia và hàm răng... hình như liên quan đến câu tuyên bố “không có tiền thì cạp đất ra mà ăn” hãy còn gây ầm ĩ của một người đẹp mới đây? Điều này tác giả không nói thẳng ra, nhưng đặt cạnh bức tranh một người nghèo giơ tay xin hàng trước một cây xăng nhân cách hóa, bịt mặt kiểu kẻ cướp đòi tiền quả là có tác dụng mạnh. Chúng đưa lại một cảm giác trào lộng cay đắng về sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội mà giá xăng và phương tiện xe cộ là dấu hiệu nổi bật nhất.
Sau “Đêm tĩnh lặng” là “Lắng nghe thành phố”
Chiến dịch “Không còi” nằm trong khuôn khổ chương trình hướng dẫn lái xe an toàn và thân thiện với môi trường, Ford Việt Nam phối hợp cùng nhóm các bạn sinh viên và tình nguyện viên. Ngay từ khi bắt đầu chiến dịch, hàng loạt đoạn phim ngắn mang tính giáo dục cao trên các phương tiện thông tin đại chúng về thực trạng sử dụng còi xe không đúng cách và những tác hại của nó đến sức khỏe con người đã được thực hiện. Dự án này dự kiến kéo dài khoảng hai tháng, hiện đã đi được hơn nửa chặng đường. Mỗi tuần, họa sĩ Thành Phong sẽ thực hiện một bức tranh cổ động mới post trên trang cá nhân và trang chủ của chương trình. Anh vui vẻ cho biết: “Mình đã có kinh nghiệm nhiều sau bộ truyện đầu tiên nên cũng được các bạn ủng hộ nhiều hơn. Mỗi bức tranh mới được post lên mạng trung bình nhận được 400-500 like (lượt thích). Bộ tranh giao thông này sẽ gồm 40 bức và hiện nay đã hoàn thành được một nửa”.
Bộ tranh được giới thiệu lần đầu đến công chúng trong chương trình “Đêm tĩnh lặng” ngày 14-10 tại Viện Trao đổi văn hóa với Pháp ở TP.HCM. Ngày 21-10 (từ 14g30-17g30), bộ tranh này đến với công chúng Hà Nội trong chương trình “Lắng nghe thành phố” tại rạp Công Nhân (42 Tràng Tiền). Họa sĩ trẻ Thành Phong cùng nhiều khách mời như diễn viên hài Chí Trung (người thường vào vai Táo giao thông), nhà văn Nguyễn Trương Quý (tác giả tản văn Xe máy tiếu ngạo) sẽ chia sẻ những góc nhìn khác nhau về vấn đề giao thông hiện nay với khán giả trẻ.

Còi to cho vượt, văn hóa đi xe của người Việt

MINH TRANG

Chủ Nhật, 14 tháng 10, 2012

Nhân chuyện canh gà Thọ Xương

Đây là một bài của Nguyễn Công Hoan năm 1973 về việc dạy văn học cổ ở phổ thông.

Nên đi từ dễ đến khó
Văn Nghệ Số 515, 14-9-1973


Ở nước ta, dưới các triều đại phong kiến xưa, nhân dân ta phải học chữ Hán. Ai giỏi chữ Hán mới được nhà nước trọng dụng và được xã hội kính phục. Chữ Hán được coi là “chữ ta”, cho nên bất cứ điều gì ghi trên đây, đều phải bằng chữ Hán. Nếu có những người viết thư từ, thơ văn bằng chữ nôm, thì vì đã chịu ảnh hưởng nặng về Hán học, có nếp nghĩ bằng điển tích, bằng thành ngữ, hoặc bằng cả một câu ở trong các sách vở cổ, nên người ấy nói và viết từ cái ý chính đến cái ý phụ của mình muốn gọn ghẽ và bóng bảy thì thế nào cũng dùng điển tích và chữ sẵn.

Ðến thời Pháp thuộc, chữ Hán bị bỏ, ta học chữ Tây. Ta dùng chữ quốc ngữ để viết thư từ, làm văn thơ, thì văn học của ta còn ảnh hưởng của Hán học và mang thêm cả ảnh hưởng của Pháp học.

Từ ngày nước được độc lập, văn học của ta mới thay đổi dần để thành nền văn học đặc biệt thuần túy là Việt Nam.

Vì vậy, ngày nay, các con em ta đọc truyện mới xuất bản thì hiểu, đọc truyện xuất bản trước cách mạng đã gặp nhiều chữ phải bỡ ngỡ, đọc đến thơ văn cổ điển thì thấy khó hiểu quá.

Là bởi vì văn bây giờ viết bằng tiếng của con em ta nói hàng ngày. Dần dần, con em ta mà lớn lên. Lúc bấy giờ tự nhiên chúng không bỡ ngỡ đối với văn thơ cận đại nữa.

Nguyên tắc của sư phạm là đi từ dễ đến khó, từ biết đến chưa biết, từ giản dị đến phức tạp. Cho nên tôi nghĩ rằng văn học dạy ở nhà trường, muốn có kết quả, thì làm theo trình tự thời gian từ cổ điển đến cận kim rồi đến hiện đại mà phải theo hoàn cảnh đặc biệt của nước mình, mà đi ngược lại, tức là từ hiện đại, đến cận đại rồi mới đến cổ điển.

Trong cuốn Trích giảng văn học lớp bảy, trẻ em mới mười bốn tuổi, đã ngay từ đầu năm, học Văn thơ cổ điển, từ Trần Quốc Tuấn đến Trần Tế Xương. Những bài thơ ít điển tích của Trần Tế Xương, của Nguyễn Khuyến, các em có thể hiểu được. Mấy đoạn của Nguyễn Du, của Nguyễn Ðình Chiểu, nếu thầy giảng kỹ, các em cũng có thể hiểu được. Nhưng ngay hai bài in ở đầu sách, là bài Hịch tướng sĩ, bài Cáo bình Ngô, rồi tiếp sau là bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, thì thật là gay. Muốn việc giảng dạy và tiếp thu có kết quả, thì sự tận tâm của thầy giáo phải đi đôi với trình độ của thầy. Nhưng sự chú ý của trò càng không thể thiếu.

Trong thời kỳ chiến tranh phá hoại lần trước, tôi đi sơ tán, ở nhờ một gia đình có cháu học lớp bảy. Sau tuần lễ đầu năm học, tôi cứ thấy cháu lai nhai câu: ...sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tế phụ...

Tôi hỏi bài này là bài gì, ai làm ra, vì sao làm ra và để làm gì, cháu đều trả lời đúng.

Tôi hỏi:

- Sứ giặc là gì?

Cháu lúng túng, nghĩ một lát, rồi đáp:

- Là đại sứ của Mông Cổ.

Tôi hỏi nghĩa mấy chữ uốn lưỡi cú diều, bắt nạt tể phụ, cháu không nói được và viện lý do:

- Tại cô không giảng.

Tôi hỏi:

- Thế cháu có hiểu bài này không?

Cháu cười, không đáp. Tôi hỏi:

- Cô không giảng à?

- Có. Cô gợi căm thù đế quốc Mỹ xâm lược.

Rồi cháu nhắc lại tất cả những lời của cô giáo nói ở trong lớp. Tôi nghĩ:

“Cô giáo biến buổi giảng văn thành buổi giảng chính trị”.


*          * 

Một hôm, có một cháu học lớp chín phải chuẩn bị trước bài Văn tế Phan Chu Trinh của Phan Bội Châu. Vì cháu không hiểu, nên đến hỏi tôi. Trước khi giảng, tôi nói qua tiểu sử của hai cụ Phan cho cháu nghe. Rồi tôi đọc câu đầu:

Tuồng thiên diễn mưa Âu gió Mỹ, cuộc nọ kém thua hơn được, ngó non sông nên nhớ bậc tiên tri.
Tôi giảng nghĩa đen của câu chữ thiên diễn, rồi đến nghĩa dùng ở trong bài. Rồi đến chữ tuồng. Tại sao gọi là tuồng thiên diễn. Ðến bốn chữ mưa Âu gió Mỹ thì tôi thấy cháu tỏ ra khó hiểu.

Tại sao lại mưa với gió? Tại sao lại Âu với Mỹ? Có thể nói mưa Phi gió Úc được không? Ðúng là nói lối này quen thuộc với người có ảnh hưởng Hán học, nhưng rất lạ tai đối với các cháu mười sáu tuổi của chúng ta ngày nay.

Sau khi giảng rất kỹ từng chữ của câu đầu này, tôi bắt đầu nhắc lại. Chắc rằng bộ óc non nớt của cháu bị tôi nhồi nhét nhiều quá, cháu không thể nhắc lại được, nên tôi hỏi:

- Bây giờ đặt ra văn xuôi thì câu này phải như thế nào?

Tôi hiểu ngay rằng nếu đặt ra văn xuôi, nghĩa là nếu tôi dùng tiếng nói của các cháu, thì cháu hiểu ngay. Tôi cố dùng những văn có trong câu này để đặt thành một câu văn xuôi dài hơn. Lúc cháu hiểu, thì cháu cười rất thích thú:

- Ngày trước nói khác bây giờ nhỉ.

Ðây là mới một câu trong bài văn tế mà tôi đã mất nhiều thì giờ thế mà tôi đoán là cháu chưa hiểu kỹ lắm đâu - thì tôi không rõ ở trong lớp, thầy cô làm thế nào cho học trò thưởng thức được giá trị của những bài thơ in trong sách, để khỏi phụ công phu của tác giả đã tìm từng chữ, gọt từng câu để đạt ý mình trong tác phẩm?

Nguyễn Công Hoan

Thứ Hai, 1 tháng 10, 2012

Chị Xít

“Ông Bỗ chết rồi!” Mẹ tôi loan cái tin ông anh chồng chết với vẻ mặt tỏ ra nhà có đám. Bố tôi bần thần, rồi hỏi: “Thằng Bộ có gọi con Xít về không?”

Bộ là con trai trưởng của ông Bỗ. Tên đẻ ra là Bọ, nên cô em có tên Xít. Tôi cũng không hiểu tại sao ông bác tôi lại có thể đặt tên con quái gở thế. Có phải thời xa xôi gì đâu mà phải đặt hèm. Sau này anh Bộ ra Hà Nội, thêm cái dấu mũ, thế là thoát ly được hoàn toàn cái gốc quê mùa. Anh lại lên tới chức vụ trưởng, có khi cấp dưới nịnh hay là cợt bằng cách thêm vào thành Bộ Trưởng. Rồi thành biệt hiệu luôn. Chị Xít thì không có cái may mắn ấy. Chị đã bỏ nhà đi lâu lắm rồi, sau một lần ông Bỗ đánh chị thừa sống thiếu chết.

“Biết tìm nó ở đâu? Hồi trước nó ở cái trại gì trên Ba Vì ấy, giờ chả biết còn sống hay chết rồi”. Mẹ tôi rên lên, giọng điệu như đã ủ sẵn câu chuyện, nhắc đến là như tua băng. “Năm nay nó mà còn sống cũng phải năm mươi rồi”.

Năm mươi rồi sao, tôi nhớ ngày bé từng gặp chị Xít đôi lần. Chị hồi ấy mới chớm bị chứng tâm thần, đầu buộc một cái khăn lụa hoa như kiểu công nhân nông trường. Chị từ quê xuống sau khi ông bố đánh. Ông bảo chị ăn cắp, nhưng bố tôi cũng kể hồi bé cũng từng bị ông Bỗ vu ăn cắp và đánh đòn. Nhưng lần cuối cùng xuống nhà tôi, chị Xít chỉ ở đúng một buổi chiều.

“Hồi cái Xít xuống đây, bảo nó ở nhà mình mà không chịu, rồi nó lên cái trại ấy”.

Cái cách kể chuyện của người già là vậy, toàn dùng những từ như “ấy, gì, đó”, những đại từ gợi nên một quá khứ đã kể đi kể lại nhiều lần. Nhưng rõ ràng trong câu chuyện mà bố mẹ tôi kể, chị Xít không thấy gây hành động gì khủng khiếp hoặc mất kiểm soát mà người tâm thần vẫn mắc phải như mất trí, xé quần áo, ăn mặc bẩn thỉu, cười nói ngây ngô ngoài đường. Mà thực ra đấy cũng chỉ là hình ảnh tôi thấy đôi lần ở những người tâm thần. Chứ người tâm thần hiếm hoi tôi biết là một ông chú hàng xóm ở khu nhà cũ của tôi. Chú Tuân, như tôi còn nhớ hồi bé, gọi là anh thôi, vui chuyện lắm. Anh đi đôi dép nhựa bộ đội có quai hậu màu nâu, dáng anh lại cao lớn, mặt mũi sáng sủa. Vừa đan phên, anh vừa vui vẻ trả lời những câu hỏi đủ loại của tôi, đánh nhau ra sao, bắn súng thế nào. Nhưng hình như anh trả lời hơi nhiều, chẳng hiểu anh có rõ tôi hỏi gì không nữa.

“Nó bị tâm thần đấy”.

Tâm thần lúc ấy là một từ rất nặng để trẻ con đem ra miệt thị nhau.

“Nó bị bom, điếc lòi. Cứ há há hớ hớ”.

“Tịt cả ngòi luôn ấy chứ! Thế nên có đứa nào lấy đâu”.

Một người khác là chị Thơ. Nghe đồn chị học đại học, học nhiều quá nên phát điên, rồi mất suất đi Nga, có người lại bảo chị điên vì thất tình. Chả hiểu thế nào. Chỉ biết mỗi lần sinh hoạt hè, chị lại đứng chống nạnh ở chỗ đám trẻ con chúng tôi, hát những bài hát Nga rồi kể đủ thứ chuyện bằng cái giọng sang sảng bất thường.

Rồi như mọi người tâm thần khác, họ gần như biến mất khỏi tầm nhìn của ta khi ta lớn lên. Tôi cũng không thấy ai nhắc đến chị Xít và tôi cũng quên hẳn chị.

Cho đến ngày bác tôi mất. Đám ma thân sinh ông vụ trưởng dĩ nhiên là phải to. Mọi chuyện cứ rầm rập huyên náo cả mấy ngày, từ việc cắt đặt ai sẽ lo việc gì, nhưng chủ yếu là quân của anh Bộ. Chị Hoa, vợ anh quyết không cho họ hàng nhúng vào. “Cháu cảm ơn các cụ đã có nhời. Nhưng ma chay của tứ thân phụ mẫu cán bộ có tiêu chuẩn cả rồi. Ma chê cưới trách, thôi thì các cụ cũng vì sự nghiệp của nhà cháu”. Mẹ tôi tức giận vì bị gạt ra khỏi “ban tổ chức”, gì thì gì về thứ bậc, mẹ tôi cũng là dâu thứ của họ. “Bố mày với chú mày còn đó, cái con vợ nó dám tôm lộn cứt lên đầu à”. Mấy ngày trời, cả phái đoàn họ hàng từ quê lên, chỉ có bàn chuyện làm thế nào để dạy cho vợ anh Bộ một bài học.

Đám ma to có khâu đăng cáo phó lên báo và truyền hình. Việc này do cấp dưới của anh Bộ lo. Một chuyện không ai để ý cho đến lúc chú tôi cầm tờ báo lên đọc, là ở chỗ “Thay mặt gia đình” bên dưới dòng “Trưởng nam: Trần Minh Bộ” là “Thứ nữ: Trần Thị Xinh”.

“Ơ, nhà ông Bỗ có đứa nào tên là Xinh đâu, chỉ có con Xít chứ”.

“Ông ngẫn thế, nó đổi tên cho đẹp. Bọ hóa Bộ thì Xít thành Xinh khó gì”.

Nhưng rắc rối là biết tìm chị Xít ở đâu? Còn có ba ngày nữa là làm lễ viếng.

Nếu phái đoàn ở nhà tôi râm ran chuyện chị Xít một thì nhà anh Bộ ầm ĩ mười. Đấy là nhà tôi nghe mấy người họ hàng qua nhà anh kể lại. Chị Hoa nổi cơn tam bành khi thấy tên chị Xít ở bản cáo phó trên báo đài. Cấp dưới anh Bộ đã mắc cái lỗi quá nhanh nhẹn khi lấy thông tin từ lý lịch cán bộ của anh mà điền vào. Hay gì đâu việc có con em tâm thần đứng tên cùng mình. Bây giờ thiên hạ đi dự đám ma, sẽ tọc mạch xem cô em gái ông vụ trưởng mặt mũi ra sao. Rồi chẳng may có đứa xấu bụng nó tố lên thì tiêu.

Anh Bộ thì không thấy lên tiếng, hoặc đúng hơn là nhà tôi chưa nghe thấy anh nói gì về chuyện này.

Bố tôi quyết định gọi điện cho anh Bộ. Khó khăn lắm phái đoàn mới liên lạc được với anh vào gần nửa đêm.

“Anh phải báo cho cái Xít chứ nhỉ”.

“Ông thông cảm, nhà cháu đang rối bời cả lên, thôi thì ma chay xong, cháu sẽ đi tìm nó. Rồi bốn chín ngày ông già cũng vẫn kịp”.

Khỏi phải nói bố tôi, người vốn hiền lành yếu đuối, cũng phải nổi cơn lôi đình thế nào. Nhưng mọi người đều cho rằng anh Bộ không xấu, mà do chị vợ giật dây hết. Chị ấy vun vén làm ăn như thế thì anh Bộ sợ là phải.

Cuối cùng tôi với tư cách thanh niên có phương tiện và cũng đã từng gặp chị Xít (từ hồi còn bé tí) được giao nhiệm vụ đi tìm chị.

**

Nếu chỉ là tìm chị Xít và đưa chị về thì có lẽ mọi sự đã đơn giản. Sau một ngày quần thảo các trại người cơ nhỡ, trại tạm lánh, trại tâm thần, các khu phục hồi nhân phẩm, rồi vào tận hai nông trường khắp huyện Ba Vì, và lục lọi quan hệ của bạn bè, tôi cũng tìm thấy chị Xít. Tôi cũng không hiểu làm thế nào mình lại nhìn thấy chị, vào đúng khu nhà của chị ở chân núi Chẹ bên bờ sông Đà.

Chính xác là chị thấy tôi.

Tôi đang hỏi đường vào nông trường X ở sườn bên này dãy Ba Vì, thì thấy mấy người phụ nữ dáng như vừa đi làm ruộng về, mặc bộ đồ bảo hộ màu xanh, đầu bịt khăn.

“Bảo!”

Nghe tên mình giữa chỗ lạ, tôi ngẩn ra một lúc. Một người phụ nữ bịt mặt vẫy vẫy tôi. Đấy là chị Xít. Mà vì sao chị nhận ra tôi thì cũng lạ, tôi của năm ba mươi lăm tuổi khác với năm lên năm, cũng như thế giới kịp qua hai cuộc đại chiến.

“Cậu giống ông lắm”.

À ra vậy. Nghĩa là cũng có nét giống ông Bỗ và anh Bộ luôn. Chị Xít đã thành một bà già, các nét khắc khổ heo héo. Mặt chị có cái vẻ bơ bơ của người sống tách biệt với xung quanh. Trái với hình dung của tôi, chị chỉ lặng người đi một lát khi nghe tin tôi báo. Rồi chị bình thản nói. “Tôi không về đâu. Tôi còn phải dọn nốt cái đồi chè nữa”.

Tôi nói đang có xe, chị tiện thể về luôn, mà về sớm thì còn gặp gỡ họ hàng luôn. Mọi người mong chị.

“Không. Tôi đã nói rồi. Cậu về đi. Cậu mang các thứ về, trên này tôi đủ rồi”.

Chị hối hả dúi cái phong bì và túi hoa quả tôi mang lên vào tay tôi. Búi tóc chị xổ ra, mắt chị long lên sáng quắc. “Cậu đi đi. Tôi không quen biết gì cậu”. Sự quyết liệt lạ lùng của chị làm tôi sợ. Tôi gần như bị tống ra khỏi khu nhà.

**

Chị Hoa căn vặn tôi mãi xem chị Xít có đúng là không còn ở Ba Vì nữa không. Tôi định nói chị vào Nam hay sang Trung Quốc rồi nhưng nghe vậy có vẻ tàn nhẫn quá. Tôi chỉ dám nói là chị đã chuyển đi, người ở nông trường không còn liên lạc gì nữa.

Hai ngày sau đấy, tôi lo lắng liệu người nhà tôi có ai cũng lại mò lên Ba Vì nữa không. Cách có bốn năm chục cây số, không quá khó tìm, nhất là tôi đã lộ ra tên nông trường kia. Nhưng công việc của đám ma và các thủ tục mọi người bày vẽ ra đã cuốn tất cả vào guồng. Kịch bản có thể đưa ra là cô em gái vụ trưởng đang ở nước ngoài không về kịp. Chuyện đó bây giờ quá phổ biến. Đấy là kịch bản của phái đoàn ở nhà tôi đưa ra, chứ không có đến tai hai vợ chồng anh Bộ. “Mà nhà nó cỡ ấy rồi, lắm thủ đoạn, chả nghĩ khôn hơn đám ngu dân nhà quê bọn mình. Còn phải dạy đĩ vén váy”.

Anh Bộ đã đích thân vào nhà tôi “xin lỗi các cụ” và mời phái đoàn đi đưa tang. “Chả cần anh mời chúng tôi cũng đến, nhé. Anh đừng tưởng anh làm to mà chúng tôi phải xin phép đưa ma anh mình”. Nói vậy nghĩa là đã xuống nước, bỏ qua cho rồi.

Đám tang diễn ra ở nhà tang lễ thành phố. Cả đường phố trước mặt trông ra vườn hoa kẹt mất một tiếng đồng hồ. Xe hơi nhích từng mét một. Vòng hoa ùn ùn mang vào trong.

Lẽ ra bố tôi, chú và bà cô tôi cũng đứng vào hàng cùng gia đình anh Bộ nhưng phần vì chị Hoa muốn đám ma kiểu Tây để tiếp đón các vị lãnh đạo, phần vì phái đoàn nhà tôi vẫn giận nhà anh chị, nên chỉ thắt khăn ngồi ở bàn uống nước gian bên cạnh. Mọi người sẽ chỉ xuất hiện lúc đọc điếu văn và di quan. Chú tôi buông một câu. “Ngồi đây tao được rít thuốc lào thoải mái”.

Đám ma dường như vô tận với liên tục các đoàn vào viếng. “Đám ma thành phố có khác. Sao họ đi đám mà ăn mặc cầu kỳ thế hở Bảo. Không có bát âm, đưa đò gì. Mất gốc hết cả. Cái họ này rồi biết đi về đâu”.

“Ngay từ đầu là tôi đã phản đối việc hỏa táng rồi. Ai lại để ông cha mình chết cháy bao giờ, thành ra chết hai lần à?”

“Thế sao bà không vào nhà nó mà cản?”

“Ơ hay, ông là chú nó, ông phải vào chứ. Tôi nói, nó lại bảo mụ già nữ nhân ngoại tộc lắm điều”.

“Mà con Xít ba hồn chín vía đâu không về. Trời hỡi ôi, có phải thời chiến tranh đâu mà cha con ly tán… Hờ ơi…”

Cô tôi nức lên, khóc ầm ĩ. Những người phụ nữ có vẻ dân công sở đang xếp hàng vào viếng nhìn cô vẻ khó chịu. Chú tôi gắt. “Khóc lóc cái giề! Im!” Cô tôi thôi kêu la, chỉ còn nức nở.

Rồi cũng đến lúc làm lễ truy điệu. Phái đoàn nhà tôi lục tục thả chân xuống đất tìm dép. Cấp phó của anh Bộ đứng đọc điếu văn, điểm lại cuộc đời người quá cố. “Ông Bỗ hóa ra cũng hoạt động cách mạng oách phết nhỉ. Hơ hơ”. Chú tôi cười khục khục. “Điếu văn viết hay quá, thằng Bảo mày nhớ xin lại cho tao mang về quê nhé”.

“Trưởng nam Trần Minh Bộ, vợ Lê Kim Hoa cùng thứ nữ Trần Thị Xinh có lời cảm ơn các ban ngành đoàn thể cùng bà con cô bác gần xa đã đến đưa tiễn cụ Trần Văn Bỗ về nơi yên nghỉ cuối cùng”. Vợ chồng anh Bộ cùng một người phụ nữ trùm khăn xô bước ra.

“Ơ? Con Xít đấy à?”

“Có phải con Xít đấy không, Bảo?”

Tôi căng mắt ra nhìn, nhưng chỉ thấy cái lưng của người phụ nữ quay lại. Chị Xít đổi ý rồi sao? Nhưng dáng người phụ nữ này trông rất thành thị, không có giống người phụ nữ ở nông trường hôm kia. Hay đây mới là chị Xít thật? Có khi tôi nhầm cũng nên.

Tôi len người lên phía trên để nhìn cho rõ. Chắc chắn là một người tôi chưa gặp. Mấy người phái đoàn nhà tôi cũng cố kiễng chân lên nhìn từ phía sau.

“Xít! Xít ơi!” Cô tôi kêu lên, nhưng người phụ nữ chít khăn xô chỉ rung rung cái đầu. Mấy người đứng bên cạnh cô tôi giơ ngón tay ra hiệu im lặng. Anh Bộ cất tiếng, nói anh em chúng tôi xin cảm ơn các ban ngành đoàn thể…

Có một tiếng gào thét nào đó vẳng lại từ ngoài sân nhưng mau chóng bị bạt đi khi tiếng nhạc kèn trỗi lên. Quan tài được khiêng ra. Khi đám đi ngang qua sân, bỗng một người phụ nữ lao vọt tới, kêu thất thanh. “Bố ơi!”

Một cảnh tượng huyên náo diễn ra. Chị Xít – người tôi đã gặp – xông vào quan tài, lăn lộn kêu khóc. Mọi người xôn xao. Tôi không kịp nhìn phản ứng của anh Bộ chị Hoa nhưng đã thấy mấy người bảo vệ nhanh chóng áp tải chị Xít đi. Tiếng chị vẳng lại đầy oán hờn. Cả nhà tôi chạy theo, hút bóng chị ở góc phố bên cạnh. Rồi một cái xe ô tô đưa chị đi mất. Cô tôi ngồi phịch giữa đường, gào khóc ầm ĩ. Ai nấy bối rối trước cảnh một bà già nhà quê khóc hờ.

“Bảo, mày lấy xe máy đuổi theo đi”. Chú tôi giục.

Một bà bán vòng hoa đứng trên vỉa hè cất giọng lanh lảnh. “Cái con đấy chuyên ăn cắp ở đám ma mà. Ở đây bọn tôi lạ gì.”

Mấy người nhà tôi nhìn nhau.

"Về đi cô ạ”. Bố tôi vỗ vai bà cô.

Tôi vẫy taxi. Mọi người thất thểu bước lên. Cách đó vài trăm mét, đoàn xe đi xuống đài hóa thân đã chuyển bánh. Dòng xe máy bị tắc lúc nãy giờ rùng rùng chuyển động phía sau.

Thứ Bảy, 29 tháng 9, 2012

Gió thu

Duy báo sẽ ra Hà Nội vào tuần sau, đúng dịp mùa thu. “Sẽ mặc áo xanh nhé. Màu áo xanh là màu anh trót yêu mà.” Thảo hơi buồn cười, sến đâu sến thế.

Đầu đuôi câu chuyện là từ một comment của Duy trong bài tản mạn của Thảo về nhạc tiền chiến. Bài của Thảo sụt sùi lãng mạn nhưng đầy cái sai về thời gian của các bài hát. Duy là người đã chỉ ra những chỗ đó với một giọng điệu dí dỏm, không làm Thảo bực, và không chỉ mình cô, dễ đến chục người bấm bút “like” comment này.

Sau vài comment khác qua lại như có ý đợi nhau, hai người nhảy ra chat riêng. Thảo chăm vào facebook có lẽ chỉ vì Duy. Duy dường như thuộc tất cả các bài hát tiền chiến, nhạc sĩ nào viết bao nhiêu bài, ca sĩ nào hát hay nhất bản nào, anh đều nắm được như rành một pho sử. Còn trên trang của Duy, Thảo cũng chỉ thấy rất ít thông tin về anh, ngoài những tấm ảnh phong cảnh vắng người và những bài viết thưa thớt. Chủ yếu anh comment là nhiều, đến mức đăng gì lên, Thảo cũng ngóng xem có Duy vào bình luận chưa.

Hà Nội thì Duy đã đi nhiều lần. “Nhưng đi chơi với Thảo thì khác.” Và nhất là Duy muốn đến thăm Hà Sĩ Quân. Không hiểu anh mò mẫm ở đâu ra được địa chỉ của ông này, chắc còn sống cũng phải già lắm rồi. Những bài hát của ông, Thảo cũng chẳng thuộc hết. Hà Sĩ Quân không phải là một tên tuổi nổi bật, nhưng có mấy bài cũng đẹp. Vả lại theo ý Duy, đến thăm một nghệ sĩ xưa cũng là một cách yêu Hà Nội. Tất nhiên là một Hà Nội mông lung huyền ảo nào đấy mà Thảo thấy chủ yếu qua những dòng đắm đuối cảm nhận của Duy.

Rồi cái ngày hẹn gặp ngoài đời cũng đến.

Duy tầm bốn mươi tuổi, có cái lịch sự ngọt ngào của người Sài Gòn và sự khéo léo bạt thiệp của người đàn ông từng trải. Anh mang cho Thảo một xấp đĩa nhạc tiền chiến. “Thế hệ anh mê Thái Thanh, Khánh Ly lắm. Nghe mà mê Hà Nội, mê miền Bắc.” Duy ra Hà Nội lần đầu tiên cách đây mười mấy năm. Nhìn cái gì cũng ra màu cổ tích. Những mái nhà nâu trầm. Những bờ tường vàng màu ngày cũ. Những gốc cây sần sùi thời gian. Nhìn đâu cũng thấy cảnh trong thơ Mới Xuân Diệu Huy Cận. Thấy Mai Thảo, Nguyễn Đình Toàn. Đi như kiểm chứng độ chính xác của Vũ Bằng. Tháng Giêng mơ trăng non rét ngọt. Tháng Tám trời đất xuống màu. Hai mùa cách xa nhau mà vẫn cảm thấy được cả hai. Nhưng hồi đó thời gian ngắn ngủi quá, rồi sau đấy đi du học. Lâu dần cũng quên những say mê cũ. Cho đến khi vào facebook và gặp Thảo. Mỗi ngày là vài status trích dẫn những câu hát xưa, những bài hát cũ, tất cả đều tag cô. Thảo lây cái cảm xúc được chưng men của Duy, cô yêu những bài hát xưa hơn vì anh.

Có điều Thảo hơi thắc mắc. Thường tình thôi. Nhưng không biết hỏi thế nào. Thảo đoán Duy có gia đình rồi. Vì sao Duy không bao giờ nhắc đến thì cô cũng không rõ. Với lại đây cũng chỉ là những hẹn hò vui vui, chẳng ai nặng nợ với ai. Dăm bữa nữa Duy về, chắc gì đã có chuyện xảy ra.

Hai đứa ngồi trên vỉa hè trước một cái quán ở phố Triệu Việt Vương, ngoài phố trời tối dần. Những cây bằng lăng sẫm lại, mắt hai người ngập bóng tối. Duy bảo thích ngồi trong những quán ở những ngôi nhà cũ, bàn ghế nhỏ nhỏ, phố cũng bé, cảm giác Hà Nội lắm. “Hồi bé ba anh mở những cái băng nhạc xưa, nghe miết rồi thành ra mình nhập tâm luôn. Hà Sĩ Quân có mấy bài thôi nhưng bài nào cũng đẹp.” Duy ngân nga hát. Chờ khi nao gió reo tin mừng, chờ khi nao kháng chiến nở hoa. Ném chén hoàng hoa, ta đón em trên đường về, trao tờ thư ngả mầu nâu, ghi ngày chinh chiến dài lâu… Thảo nhận thấy mọi người xung quanh đưa mắt nhìn, cô cũng hơi ngượng ngượng nhưng rồi ngồi yên nghe Duy tuôn mạch cảm xúc. Cái nồng nhiệt của Duy bỗng đem lại cho khung cảnh vẻ trữ tình dị thường. Duy hát đến cao trào, tay bỗng đặt lên tay cô. Trong ánh đèn đường hắt vào, mắt Duy lấp lánh sau cặp kính nhìn vào khán giả trực diện là Thảo, cô không rõ cái lấp lánh ấy nghĩa là gì, là hiệu ứng từ trạng thái trữ tình kia hay là vì cô.

**

Trước khi đến nhà nhạc sĩ Hà Sĩ Quân, Duy muốn mua một bó hoa. Thảo thấy hơi kỳ cục khi cũng chưa biết nếp tẻ thế nào. “Mà có lẽ vô siêu thị mua thêm ký trái cây em à. Đi thăm người già mình cũng nên có chút chút thì hay hơn.” Vậy là hai người chia nhau đồ, Duy xách túi xoài, Thảo ngượng nghịu cầm bó hoa. Cô bán hàng phun hơi nhiều nước nên sau một lúc cầm hoa, quần bò của Thảo bị những vết sẫm rất khó coi.

Theo địa chỉ Duy hỏi được thì Hà Sĩ Quân ở phố Bùi Thị Xuân, một phố ngày xưa toàn nhà riêng của công chức người Việt. Số nhà hai người cần tìm nằm bên cạnh một quán bún riêu. Hai người phụ nữ giúp việc đang ngồi xổm bên hai chậu nước rửa những cái bát bẩn. Một người đột ngột đổ ào chậu nước xuống rãnh, làm dềnh làn nước đục ngầu lên, khiến Thảo vội vàng co chân nhảy lên vỉa hè. Vài vết bắn đùng đục lấm tấm trên gấu quần Thảo. Thảo chép miệng, cố gắng không bực dọc. Cô phát hiện ra Duy đã giẫm phải vũng nước, giầy và gấu quần anh bị những mẩu hành và cặn nước dùng vẩn lên. “Không sao, không sao.” Duy trấn an Thảo, dựng xe ở phía trong, Thảo nhắc anh khóa cổ khóa càng. Mặt Duy đầy vẻ hồi hộp, anh khẽ khàng bước vào mảnh sân bề bộn của tòa biệt thự cũ đã biến thành khu tập thể.

“Hỏi ai?”

Một người phụ nữ mặc bộ quần áo vải hoa, cau có nhìn hai người.

“Dà… cho cháu hỏi nhà nhạc sĩ Hà Sĩ Quân ở đây không ạ?”

“Không biết.”

Chị ta quay ngoắt người đi. Thảo liếc nhìn Duy, cô sượng tê người.

“Để em vào trong kia hỏi, có khi bà đó không phải người ở đây từ trước.”

“Ừ, không sao.”

Thảo đi qua con ngách vòng ra một cái sân trong. Mùi hôi của đồ đạc cũ, của nhà vệ sinh chung váng vất trong không khí tù hãm. Một bà già đang cầm cái chổi tre quét sân. “Bà ơi, cho cháu hỏi, đây có phải nhà nhạc sĩ Hà Sĩ Quân không ạ?”

“Không.”

Thảo thở dài. “Dạ, cháu cảm ơn bà.”

Cô định quay đi thì bà già gọi giật lại. Bà nhìn bó hoa trên Thảo. “Này. Cô hỏi có việc gì?”

“Dạ… cháu có người bạn ở miền Nam ra, rất thích nghe bài hát của nhạc sĩ, muốn tới gặp ạ…”

Bà già ngó đầu nhìn ra ngõ rồi quay vào. “Lên gác, rẽ trái nhé.”

Hai người cẩn thận bước trên những bậc thang gỗ nhưng vẫn làm phát ra tiếng ồn nghe rất khó chịu. Một người phụ nữ đang dắt một đứa bé con chắc vừa tắm xong, người quấn cái khăn bông ra khỏi một cái ô quây lại bằng mấy tấm cót ép như cái hộp. “Vào bảo chị lau khô rồi lấy quần mặc vào nhé.” Chị ta nhìn hai người vẻ bâng quơ. Thảo có thể cảm thấy tay Duy đang bóp chặt tay mình.

Sau hai lần Duy gõ cửa không thấy ai mở, Thảo tặc lưỡi, đưa tay đẩy cánh cửa gỗ cũ kỹ. Cửa không khóa trong, bên trong tiếng tivi phát ra ồn ào. Cô hơi chúi đầu vào, cất giọng hỏi. “Có ai ở nhà không ạ?”

Thảo và Duy nhíu mày lắng nghe một âm thanh gì đó không rõ.

“Các cô chú ấy đến hỏi ông về bài hát ngày xưa này.” Từ đằng sau, bà già khi nãy đã xuất hiện. Lần này bà đã mặc một cái áo cánh thêu, tóc búi tinh tươm, mặt tươi cười. “Hai cô chú vào đây.” Bà ghé vào tai Thảo, nói nhỏ. “Tôi xin lỗi nhé. Vừa nãy tôi phải hỏi cô vì trước có đoàn ở nước ngoài đến, dân ở đây làm khó dễ, khổ lắm.” Bỗng dưng Thảo hồi hộp không đâu.

Căn phòng bề bộn đồ đạc, vương một mùi lưu cữu của người già. Định thần một lúc, hai người mới thấy một người đang nằm trên một cái giường ở phía trong. Hà Sĩ Quân mặc cái áo may ô trắng đã ngả màu cháo lòng, đang hươ hươ cái tay tìm cách ngồi dậy. Duy vội lao đến đỡ.

“Ấy, chú cứ để mặc ông ấy.” Bà già thủng thẳng mở cửa sổ. Thảo khẽ khàng đặt bó hoa lên mặt bàn.

“Cô chú đến thăm mua nhiều quà thế. Ngồi uống nước nhé. Để tôi lấy cái áo mặc cho ông.”

Bà vợ nhanh nhẹn đến móc áo, lấy cái áo sơ mi cộc tay luồn vào người chồng. Lúc này Thảo mới để ý thấy nét đẹp thời con gái vương vất lại trên khuôn mặt già nua của bà. Đôi mắt đen láy linh hoạt như hột nhãn đồng thời hoạt động cùng cái giọng Hà Nội cũ cũ, hơi có chút biến dạng ở chữ e và a, hơi nhanh so với giọng của một người già.

Duy dường như biến thành một người bị nhập hồn, ngồi bên giường cạnh Hà Sĩ Quân, đăm đắm nhìn ông.

Hà Sĩ Quân mở đôi mắt đùng đục, rung rung môi dưới, dãi ứ ra. “Liệt rồi. Liệt rồi.” Cái giọng khào khào như không phải phát ra từ miệng, như một người nói tiếng bụng. Thảo vội quay đi. Bà vợ lấy cái khăn lau cho ông.

“Ông bị tai biến mấy năm rồi. Không đi ra khỏi nhà nên xung quanh người ta có khi cũng không biết.”

Thảo xin phép được chụp ảnh, trong khi Duy nói chuyện.

“À, hồi đó ông gặp bà ở trường Albert Sarraut đấy. Hà Sĩ Quân nghĩa là gì ông nhỉ?”

Ông già khó nhọc gằn ra từng chữ. “…trai… học… học… Hà… thành…”

Bà vợ mỉm cười. “À, tôi nhớ rồi, chàng học sinh Hà thành.”

Mắt ông già chớp một cái. Thảo đang nhìn những tấm ảnh đen trắng trên tường, bỗng reo lên. “Anh Duy nhìn này!” Cô chỉ vào một tấm chân dung khổ lớn chụp bà vợ nhạc sĩ hồi trẻ.

“Bác đẹp quá. Gặp bác rồi con mới thấy đúng là phải đẹp cỡ đó thì mấy bài hát của bác trai mới hay vậy.”

Bà già cầm cái khăn lau một vết ướt trên bàn. “Mấy bài của ông viết cho một cô khác cơ. Hồi ấy ông bà thân sinh ra ông không đồng ý, vì cô ấy hiện đại quá. Phụ nữ ngày xưa đi nhảy đầm là hiện đại lắm. Chứ tôi con nhà cũng cổ hủ, không tân tiến, các cụ sắp đặt là xong thôi.” Bà mỉm cười mơ hồ với Thảo, không hiểu sao cô cảm thấy có vị hơi châm chọc. Hà Sĩ Quân rung rung, tay Duy nắm chặt tay ông.

“Đấy, cái bài mà chú hỏi đó cũng là viết cho cô ấy, gặp lại nhau hồi kháng chiến. Nên mới có câu ‘cung đàn xưa đứt mối tơ loan’ là thế. Mấy năm trước bà ấy có đến thăm đấy. Bây giờ vẫn đi nhảy, vẫn mặc váy ngắn đến đây này. (bà giơ tay chặn chặn lên khoảng dưới đầu gối một chút) Hiện đại lắm.”

Bà vợ vuốt vuốt chỗ tóc đã xẹp trên đầu Hà Sĩ Quân. Ông vẫn chỉ đưa mắt nhìn quanh, mặt vẫn rung rung.

“Cô chú có mấy cháu rồi?”

“Dà… bọn con là bạn yêu nhạc xưa với nhau thôi bác à. Con mới có một bé trai.”

Thảo đang quay lưng lại chụp một tấm ảnh cũ ở đầu kia căn phòng, cô có thể cảm thấy sự ngập ngừng trong giọng Duy. Không khí bẵng đi mấy giây.

“À, cháu có cái CD thu những bài hát của bác trai. Toàn ca sĩ Sài Gòn xưa.”

“Quý hóa quá. Ngày xưa muốn nghe là phải giấu đấy. Để tôi mở nhé.”

Tiếng nhạc dạo vẳng ra, rồi giọng hát trầm buồn lạo xạo cất lên. “Nhớ mùa trăng soi bóng, thuyền ai lướt mờ xuôi dòng. Lệ sầu vương trên sóng, khuất xa rồi, ánh trăng năm xưa còn đâu…”

Thảo đứng bên cửa sổ, cầm máy ảnh ngắm những mái nhà cũ kỹ bên hàng xóm. Những ngôi nhà cũ đã bị cơi nới nhiều, những ngôi nhà mới xây nhiều tầng nhô lên như những cái ống khói khổng lồ màu xi măng giữa đám mái ngói nâu cũ. Duy đứng dậy, đi ra chỗ Thảo. Bà vợ nhạc sĩ nhẹ nhàng đi vào buồng trong. Thảo mím cười, nhướn mày nhìn Duy. Anh hơi có vẻ lúng túng vì cô không nói gì.

Nhạc chuyển sang một điệu paso doble giòn giã. Vừa được hai câu nhạc, một tiếng đổ “ình” một cái khiến Thảo và Duy giật thót người. Ở đằng kia, Hà Sĩ Quân đã ngã sấp xuống thành giường. Cái đầu đĩa đã bị đổ lăn xuống đất. Bà vợ nhạc sĩ vội chạy ra. Nhạc sĩ vẫn hươ hươ tay kích động. Thảo và Duy lao đến chỗ ông. Ông há miệng định nói gì đó, đám bọt đã sùi lên mép.

“Khổ quá. Chắc ông ấy bị tăng huyết áp rồi.”

Cả ba người vội vã đặt ông già nằm xuống giường. Ông vẫn đập đập tay như muốn nói gì đó.

“Ông định bảo gì? Thôi, nghỉ ngơi đi. Uống tí nước nào.”

Bà già lấy cái thìa cạy miệng ông ra, rồi khẽ khàng dốc cốc nước vào. Trái với sự hoảng hốt của Thảo và Duy, bà có vẻ rất bình tĩnh như việc đã xảy ra nhiều lần.

Hai người khách nhìn nhau tính rút lui mà chưa biết nói sao cho tế nhị. Hà Sĩ Quân đã có vẻ yên trở lại.

...“Ai để xe ở cổng chắn hết lối đi rồi ấy nhở. Ra dắt cho người ta lấy chỗ bán hàng! Người đâu mà vô ý thức đéo chịu được!”

Một cái giọng xoe xóe vọng vào từ hành lang. Bà vợ Hà Sĩ Quân bật dậy.

“Thôi chết, xe của bọn cháu. Thôi cũng muộn rồi. Bọn cháu xin phép về luôn ạ.”

“Ừ, thế hai cô chú về nhé. Hoa đẹp quá, lại mua nhiều xoài thế này. Khi nào lại đến chơi với ông nhé.”

“Con chào hai bác, mong hai bác giữ sức khỏe, khi nào có dịp ra Hà Nội con lại ghé.”

Thảo vội gật đầu chào vào phía giường. Duy nắm tay ông già. Ông rung rung tay. “Liệt rồi. Liệt rồi.” Tiếng khào khào phát ra từ trong góc tối căn nhà cũ như làm Thảo ngây ra một lúc. “Mình đi thôi em.”

Duy và Thảo vội vã dắt xe ra phố, những người phụ nữ bán hàng trước cửa hằm hằm nhìn theo. Thảo cảm thấy tim mình đập thình thịch, cô chỉ muốn về nhà ngay lập tức.

“Em mệt à?”

“Không, không sao. Em bình thường mà.”

“Được gặp Hà Sĩ Quân là anh vui rồi.”

“Ừ.”

Xe chạy qua phố Quang Trung, mùi hoa sữa lãng đãng như làm Thảo tĩnh tâm lại.

“Cháu nhà anh mấy tuổi rồi ạ?”

“Vợ anh mới sanh hai tuần.”

Thảo suýt nữa kêu lên một tiếng.

“Hay quá. Con trai là đạt tiêu chuẩn rồi.”

“Em đừng giận anh nghen.”

“Ối, sao lại giận ạ. Em với anh là bạn bè mà.”

“Cảm ơn em. Anh tính tối nay mình hẹn với hội yêu nhạc facebook đi ăn rồi hát karaoke ha.”

Thảo im lặng, mông lung nhìn những cửa hàng đang lên đèn.

“Chắc em phải về, mai em có bài trình bày, mà em chưa làm xong.”

“Đi một xíu thôi.”

“Vậy anh cứ đến đó trước, em chạy về thay đồ, có gì em ra sau.”

**

Thảo đã phóng xe đến chỗ hẹn, nhưng rồi cô đổi ý. Dừng xe ở gần quán Duy hẹn mọi người đến, cô nhắn tin cho anh. “Em xin lỗi vì không tới được.” Cô định nhắn một câu chào bằng tiếng Việt nhưng không nghĩ ra câu nào trung tính. Câu nào cũng có vẻ quyến luyến, níu kéo, trực tiếp. Cô bấm rồi lại xóa. Cuối cùng cô đành bấm “Anh giữ sức khỏe và hạnh phúc nhé.” Tất nhiên là bằng tiếng Anh, như thế sẽ formal hơn.

Khi cô đi được một quãng, có điện thoại gọi tới. Số của Duy. Cô ngập ngừng rồi ấn nút “tắt tiếng”. Như thế sẽ lịch sự hơn là bấm từ chối. Buổi tối Hà Nội đã nhiều gió. Thảo thấy hơi lạnh, có lẽ ngày mai trời trở rét.

(c) N.T.Q

*Lời ca khúc trong truyện lấy từ bài Thu quyến rũ của Đoàn Chuẩn-Từ Linh, Đường thu của Tô Vũ và Trăng xưa của Văn Ký.

Thứ Hai, 27 tháng 8, 2012

Duyên à bống ơi

Nhân lấy cái ảnh chụp cổng Thượng Tứ trong mưa làm ảnh banner, mới thấy có những nơi chỉ đẹp trong một thời tiết nào đấy, một chân lý có lẽ đã cũ mòn ra rồi. Mới hai tuần trước, mình cũng dẫn cả nhà đi vào Đại Nội, cũng nhìn về góc ảnh đó, nhưng tiệt không thấy đẹp gì cả. Vì nắng và nóng quá. Huế lúc ấy nhèo nhẽo bên tai lời chào mời "đi xích lô, thăm Đại Nội, đi chợ đêm, ăn chè cung đình..." trăm lần như một, miệt mài như một hằng đẳng thức đáng nhớ.

Hà Nội cũng thế, những ngày này nóng nực oi ả, mưa nhoằng cái đã lại tạnh mà cũng chỉ tăng cường được cái sự ẩm. Nóng làm cho mùi hôi khẳn của những thùng rác ở ven đường sực lên. Ở đây chỉ nói thời tiết chứ không bàn đến thói hư tật xấu sự tệ hại của dân HN nhé. HN có những buổi sáng đẹp lắm, khí trời mát mẻ, quang quẻ, và sắp tới sẽ có những ngày thu nịnh da người. Nhưng HN đẹp nhất là lúc mưa xuân.

Còn Sài Gòn, Sài Gòn có dạo mình vào đúng đợt mát dịu, đi chơi thích thôi rồi. Khánh Ly hát "Sài Gòn em đẹp nhất về đêm" - cũng chả biết SG của năm nào, từ đời mồ ma bố chị Kỳ Dziên, nhưng đêm SG cũng hơi bị kinh ở những đường nườm nượp xe. Thích cái không khí thênh thang dưới bầu trời đêm hơi xanh thấy rõ mây trắng.

À, nói đến Kỳ Dziên, ý mình tên chị là Duyên. Một cái tên ôi vô cùng Bắc Kỳ. Ơ mà mấy chữ thôi mình đã lôi cả tên của chị ấy lẫn bố chị và cả xứ Bắc nhà chị nữa! Mới đọc cuốn Quê Hương Tôi của Tràng Thiên, tức Võ Phiến, có bài "Theo chân một món ăn", có câu "đưa cô bạn gái Bắc đi ăn món Huế": - "Coi chừng món Huế cay lắm, liệu cô Duyên có ăn nổi không chứ ăn về khóc ba ngày đó."

Kỳ Duyên là một phụ nữ đẹp, chả phải bàn cãi gì nữa, cho dù báo lá cải nào đấy dám post ảnh chị đi chơi với chúng bạn mặt mộc mà dám nói đấy là "sốc", là awful truth. Cứ cho là 10 năm nữa đi, lúc chị Duyên ngồi gốc cây hồng hái hoa rồi, thì cũng hơi khó hứa hẹn một MC gái nào nhộn nhộn như thế.

Ở đây muốn nói đến cái tên Duyên. Không biết Võ Phiến có trêu Nguyễn Tất Nhiên không, vì nhiều người biết và hâm mộ chùm thơ viết về "duyên tình con gái Bắc", được Phạm Duy và nhiều người phổ nhạc. Chuyện là cái bác nhà thơ kia, năm 17-18 tuổi sống ở Biên Hòa, ở gần nhà 1 cô gái Bắc di cư tên là Duyên. Chàng mê nàng, làm thơ, điên loạn hết cả lên, những việc như trồng cây si rồi nhắn nhe này nọ. Nhưng gái Bắc toàn tòng làm sao bố mẹ cho gặp cái anh thiếu niên hâm dở muốn tạo dựng hình ảnh nghệ sĩ giữa mùa hè mặc áo măng tô đi thuê ở chợ Dân Sinh cho ngầu được. Ngoài "Cô Bắc kỳ nho nhỏ", thì bài "Thà như giọt mưa" có lẽ là hay nhất.

Người từ trăm năm về ngang trường Luật
Ta hỏng tú tài, ta hụt tình yêu
Thi hỏng mất rồi, ta đợi ngày đi
Đau lòng ta muốn khóc
Đau lòng ta muốn khóc.

Thà là giọt mưa vỡ trên mặt em
Thà là giọt mưa khô trên mặt Duyên
Để ta nghe thoáng tiếng mưa vội đến
Những giọt run run ướt ngọn lông măng
Những giọt run run ướt ngọn lông măng
Khiến người ăn năn đau khổ ăn năn
Khiến người tên Duyên đau khổ muôn niên.


Mình đã từng viết một cái note về tên nhân vật của văn học nghệ thuật VN. Hai cái tên nữ mình ấn tượng nhất là Phượng và Duyên. Duyên thì nhiều người còn nhớ đến nhân vật mà Lê Vân đóng trong "Bao giờ cho đến tháng Mười". Cái tên tình cờ mà hợp với nội dung, không dám tâng bốc nhưng nếu thay vào là Hoa là Nhung là Tuyết (những cái tên hơi quê hơi xưa) thì không được ép phê bằng. Tuyết chẳng hạn, có vẻ như chết với nhân vật cô con gái dâm đãng trong Số Đỏ mất rồi (xin lỗi các chị em có trùng tên ^^). Một tập đại thành tên nhân vật của thời 30-45 áp chế kho tên gọi cho đến giờ. Loan sẽ là của Đoạn Tuyệt của Nhất Linh. Nở sẽ là độc quyền của Nam Cao. Sau này nhờ truyền thông và giải trí mà có Loan Mắt Nhung (một giang hồ SG - đàn ông!) giải cấu cho, hay ca sĩ Thu Nở của truyền hình TPHCM những năm 80. Hồi xưa còn có dàn nhạc Francois Nở cơ mà (Orchestre Francoise Nở - có đánh dấu tiếng Việt rõ ràng)! Nhưng Nở vẫn còn đó như một tượng đài mà không khối bộc phá nào làm sập.

Thế nhưng cũng như Huế, SG, HN đẹp tùy thời tiết, tùy cảnh và tùy tâm trạng, những cái tên hay là do bối cảnh tác phẩm tạo ra. Mình đi Huế với người mình hợp sẽ thấy đẹp khôn xiết so với cả bầu đoàn rên la chê bôi. Cũng như một cái tên Hồng Nhung tưởng như rất độc quyền nhờ tài năng của ca sĩ mang tên đó, nhưng chị đã có từ Bống để đối trọng mà cũng rất khéo léo khó ai cạnh tranh được. Mặc dù chị Bống bây giờ không có bài hit nào nữa, cũng như các bài hát không gây được cảm xúc nơi mình, nhưng hiếm ca sĩ nào xuất hiện mà làm mình phải chú ý: từ cách ăn mặc, cách nói, cách nhoẻn cười, cách nghiêng ngó ngọ nguậy ngúng nguẩy, rất là... Bống! Hôm rồi liếc thấy trên The Voice VN có chị, thấy sắc vóc và cách nói rất là thú vị. Cách dạy thí sinh thấy cũng hay, dù chỉ vài câu. Phải nói là ngoại hình lẫn cách nói rất tương xứng và có xì tai, và nói luôn là đẹp. Chứ mấy diva còn lại, xuất hiện là thấy nặng nề sao ấy, cả hình thức lẫn việc trình diễn (gần đây ko có điều kiện thấy Hà Trần trên TV nên không so sánh được).

Bây giờ, ít ai gọi là chị Nhung, mà phải là Hồng Nhung, hoặc đích danh Bống. Mình nghĩ là chị Bống có cửa để thay thế chị Duyên trong lĩnh vực MC, tất nhiên là chị ấy phải kiếm được kép dẫn cùng có tầm cỡ anh Ngạn tóc nhuộm. Không có anh Ngạn, chị Duyên hình như cũng kém duyên hơn, dù chương trình Thúy Nga bây giờ càng ngày càng giống một màn xảo ngôn, ít cái chân thật - vốn là thứ từng là cái mời gọi người xem đến. Mà mình cũng vớ vẩn, show nào mà chả diễn, không diễn có cạp đất mà ăn.

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ