Thứ Ba, 6 tháng 11, 2012

Đồng nát sành điệu


“Hà Nội giờ chẳng như ngày xưa,” câu nói dễ trở thành cửa miệng của 100% số người quay về thăm lại Thủ đô và cả dân đang sống sờ sờ tại Thủ đô nữa. Tưởng như nhiều năm tháng sóng sau đè sóng trước đã khiến cho tính cách trôi nổi, xô bồ ngự trị trong nhiều thế hệ, dẫn tới chẳng có gì vĩnh cửu ở đây.

Vậy mà có một số thứ mãi mãi bất biến ở mảnh đất này, cho dù thời cuộc biến thiên. Không phải hoa nhài Tràng An. Cũng không chắc phở tái gầu. Nét thanh lịch thơm thể hoa nhài kia thay đổi theo quan niệm xã hội. Phở Hà Nội biến tướng nhiều kiểu, chỗ đậm mì chính chỗ chế thêm rau sống, nguyên liệu khác xa phở vài thập niên trước. Thứ bất biến ấy, là tinh thần hoài cổ.

Nhưng điều đáng nói là người ta hoài cổ về cái thời họ từng sống chưa xa xôi gì, thời họ là nhân chứng lịch sử. Đó là thời bao cấp, và thời này đang trở thành một cái mỏ sành điệu của những người hoặc đã no nê, hoặc không tìm thấy đồng cảm trong khuynh hướng thời trang bày ra hàng tuần ở cửa kính trưng bày của Louis Vuitton ở khách sạn Metropole hoặc vụ cả nghìn người tranh cãi xếp hàng đổi máy tính bảng Samsung cũ lấy mới từ đêm hôm trước. Vụ này hỗn loạn đến mức chương trình tiếp thị này bị hủy bỏ. Một khi đã lên tới hàng nghìn người theo đuổi thì sự sành điệu lại không còn ý nghĩa nữa. Với dân Hà Nội, sành điệu nghĩa là phải in ít kẻ theo thôi, và vừa đủ để tụ thành một nhóm “chúng mình với nhau”.

Thời bao cấp! Nói đến thời này thì có cả một kho đồ vật đã thành biểu tượng. Biểu tượng cho sự khó khăn và vượt qua thử thách của người Hà Nội. Biểu tượng cho những phẩm chất tồn tại khó tin của người Hà Nội, mà đến giờ họ lục lại, lau bụi, đánh gỉ, và trưng bày ra để ký thác nỗi niềm về một phần đời “nghèo mà đáng nhớ” của mình. Những triển lãm về thời bao cấp cách đây sáu, bảy năm có lẽ không chỉ mở đầu cho cuộc “phục hưng” ký ức của dân Hà Nội, mà còn của cả trào lưu trưng bày lưu giữ đồ cũ của cộng đồng. Tự nhiên người ta thấy, ồ, những thứ đồ cổ lỗ sĩ, mốc meo của cái thời tem phiếu lại có sức lay động hơn bao giờ hết. Và những món đồ ấy vào tay một số người có tài vặt lại biến thành thứ vẫn hoạt động được. Rồi người ta thấy các quán cà phê lại treo ảnh cũ, dựng mấy cái xe đạp gióng ngang tróc sơn, dăm cái xe máy bình bịch hình thủ cổ quái. Khi mà tất cả các album ảnh cưới đều cho chú rể đội mũ bê rê, mặc quần gấu lơ vê có dây đeo vai, và cô dâu nối tóc dài buộc trễ gái Hà Nội xưa thì đã hóa ra màu bình dân, các nhà tạo mốt lại đẻ ra xu hướng chú rể đèo cô dâu tết tóc đuôi sam, mặc áo cánh, quần lụa đen, cầm hoa lay ơn trắng trên xe đạp đi qua khu tập thể. Xu hướng này hãy còn ít, vì có vẻ cực đoan quá, mặc dù Trần Nữ Yên Khê đã mặc như thế lên phim Mùa hè chiều thẳng đứng từ cuối thế kỷ trước rồi.

Tức là cái đẹp của đồ cũ những năm bao cấp, khoảng thời gian có thể mở rộng ngược lên tận thời Pháp thuộc, đã chẳng trôi qua vô ích trong mắt những nhà nghệ sĩ khi chúng bắt đầu hết vai trò sử dụng. Những thứ đồ vật không năm tháng ấy đã cho thấy một Hà Nội ít có sự thay đổi vật chất, áo hết đời anh dùng thì “đêm cuối cùng anh để lại cho em”, xe đạp Phượng Hoàng mẹ không đi nữa thì làm của hồi môn cho con gái lấy chồng, như thể những món đồ gia bảo quý tộc Anh vậy. Chỉ hai thập niên đổi mới, người ta đã ngơ ngác với sự trống vắng những món đồ này giữa sự biến đổi vật chất ngoạn mục của đời sống thị dân. Công cuộc tìm kiếm và lưu giữ đồ thời bao cấp giúp cho những kẻ có “chất chơi” cảm thấy mình có một cái căn cốt vững vàng trước những cuộc thăng trầm tiền tài kia. Và chúng trở thành “phẩm chất Hà Nội”.

Vài tháng trước, một quán ăn ở số 37 Nam Tràng, gần hồ Trúc Bạch, phục dựng lại khung cảnh cửa hàng ăn uống mậu dịch được báo chí rầm rộ nhắc tới. Khách vào đấy cũng mua bằng tem phiếu, cũng ăn bằng những cái bát sắt quân dụng và ngắm những hiện vật đã từng bị họ bán đồng nát ba mươi năm trước. Còn giới “chất nghệ” thì đã biết quán cà phê Cộng hay quán Barbetta với những ông bà chủ thông minh sắp đặt đồ cũ với tinh thần tiện nghi hóa. Cũ kỹ hơn nữa là quán cà phê Báo trong trụ sở Hội nhà báo Hà Nội ở phố Trần Quốc Toản, với đủ thứ phủ bụi, ngồi ở đây người ta có thể hiểu thế nào là một sự sành điệu kín đáo, cũng kiêu kỳ chẳng kém lối sành điệu khi ngồi ở cà phê Luala hay Metropole – những nơi có giá một cốc cà phê gấp bốn năm lần và không có một món đồ thời bao cấp nào giăng trước mắt. Ở những nơi này, chỉ có bàn ghế tiện nghi và những mốt quần áo sang trọng mới nhất. Quần áo của người phục vụ ở Luala nghe đâu cũng cỡ hiệu Escada hay Van Laack! Nhưng để tôi so sánh cho mà nghe, thì năm mươi năm trước, áo bông Sĩ Lâm hay bút máy Kim Tinh cũng là đỉnh cao thời trang, chỉ cán bộ cao cấp mới dễ bề có được.

Viết đến đây, tôi cứ lởn vởn trong đầu nhận xét của một chị bạn nhà văn nổi tiếng rằng tôi đừng viết “ngoái lại mà nên nhìn ngang”. Tôi không biết làm sao để thoát ra sự hoài cổ khi mà chính chị đã từng khuyên tôi thử mua một chiếc xe máy Vespa PX cũ. Thực ra nó không đến nỗi cũ mà chỉ như thời bao cấp tôi đã từng trải qua hồi bé, nhưng đến giờ đã thành thời của đồ cổ. Cái xe khá bất tiện cho việc đi lại, mặc dù dáng xe rất đẹp và gây ấn tượng cho bạn bè tôi đến nỗi đến giờ, sau khi tôi đã bán đi được hai năm rồi, mọi người đều hỏi: “Vespa cổ đâu rồi?”

Nhưng như thế vẫn không là gì so với một anh bạn khác, Vũ Lâm. Anh này là phóng viên chuyên mảng mỹ thuật. Có lẽ vì nghiên cứu mỹ thuật nên anh cũng có sự lựa chọn khác người. Anh định mua một cái U-oát đầu vuông, loại xe có từ giữa thế kỷ trước cũng nên. Lâm rủ tôi đi cùng để thẩm định. Cái xe được để ở sân Cột Cờ, lúc ấy chưa trả về di tích Hoàng thành Thăng Long (cũng một thứ đồ cổ!), và chủ cũ là một bác bộ đội đã lâu không dùng nó. Giữa khung cảnh cổ kính và nhiều tàn tích chiến tranh của bảo tàng Quân đội ngay phía sau, cái xe có dáng vẻ nam tính mà vẫn độc đáo. Sau vài cốc bia hơi ở bãi cuối sân bóng, chúng tôi leo lên chiếc xe mà trong mắt tôi kín mít như cái xe chở tiền. Con xe nhảy chồm chồm trên cái sân bóng đá cũ, bỗng tăng tốc rầm rầm lao về phía quán bia và rồi khựng lại giữa chừng trước cả mấy trăm người đàn ông đang trợn mắt lên không biết nên ngồi uống bia tiếp hay bỏ chạy. Tôi toát mồ hôi, thầm nghĩ ông bạn mà dùng cái xe này đi công tác Tây Bắc chắc “đi bằng niềm tin”. Rồi với một nỗ lực to lớn, bạn tôi cũng đưa được nó về chỗ cũ thật êm ái. Không có tràng vỗ tay hoan hô nào, và ai nấy thở phào ngồi nhậu tiếp. Nhưng rõ ràng cái xe nổi bật thật, thậm chí vài ba ông còn ra ngắm nghía.

“Ba triệu thôi.” Lâm suy tính. Tôi lắc đầu, nghĩ nhỡ đâu có cảnh hàng nghìn người bỏ chạy ngoài đường để tránh bị đâm phải. Người chủ xe cũng lắc đầu và bảo, “Thôi chú đừng mua, cái này anh bán đồng nát vậy.”

Nguyễn Trương Quý
(Tạp chí Đẹp 11-2012)
Đăng nhận xét

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ