Chủ Nhật, ngày 10 tháng 8 năm 2014

Dựng cho mình tấm căn cước văn hóa

Viết cho Tuổi Trẻ cuối tuần.

TTCT - Trở về từ Festival văn học và nghệ thuật “Cooler Lumpur” do Hội đồng Anh khu vực châu Á - Thái Bình Dương tổ chức tại Malaysia cuối tháng 6, Nguyễn Trương Quý nói anh vẫn còn ấn tượng về các tác giả trẻ cùng tham dự liên hoan.

TTCT giới thiệu bài viết của anh.



Từ trái sang: Marc de Faoite, Nguyễn Trương Quý, Dain Said và Katelijn Verstraete, giám đốc nghệ thuật và kinh tế sáng tạo Hội đồng Anh khu vực Đông Á, tại Festival “Cooler Lumpur” - Ảnh: Nhân vật cung cấp

Ngoài tôi đến từ Việt Nam, tám tác giả còn lại tham gia “Cooler Lumpur” đến từ các khu vực và Khối thịnh vượng chung. Họ đã viết, in sách, làm phim bằng tiếng Anh, thậm chí đã sống ở phương Tây nhiều năm, cả những tác giả từ Anh, Ireland sang nên chẳng xa lạ gì với các chủ đề thảo luận do chương trình festival đưa ra.

Đọc lướt qua tên các chủ đề đều thấy nổi lên mối bận tâm về “căn cước” của các nền văn hóa đọc và nghe nhìn.

Đi tìm căn cước của nền văn hóa

Jason Ng., tác giả Hong Kong cùng tầm tuổi tôi, luật sư ngân hàng, có một bài viết có tên HKID - viết tắt của Hong Kong identification, căn cước Hong Kong. Anh nói vẫn dùng từ “Hongkonger” để tự gọi mình.

Trong cuốn tản văn No city for slow men (Thành phố không dành cho người sống chậm) gồm 36 bài viết về Hong Kong, nơi anh là cộng tác viên cho tờSouth China Morning Post, anh có viết: “Hong Kong kẹt đâu đó giữa Trung Hoa đại lục và phần còn lại của thế giới, và điều này gây ra một chút khủng hoảng về việc nhận diện”.

Còn tác giả Marc de Faoite, người Ireland nhưng sống ở Langkawi, Malaysia, lại chia sẻ câu chuyện của một tác giả sống giữa hai nền văn hóa, nơi mà những rào cản của tôn giáo chính ở đây - Hồi giáo - không liên quan nhiều đến các sáng tác tiếng Anh của ông, nhưng lại làm cho văn chương của những người viết tha hương như ông hãy còn xa lạ với đời sống văn học bản địa, nơi mà theo ông, người đọc vẫn thích các tiểu thuyết diễm tình và văn hóa nghe nhìn phương Tây ảnh hưởng mạnh.

Mối quan tâm của cử tọa cũng chính là làm sao để tiếp nhận đôi nét vấn đề trong hơn một tá cuộc giao lưu, xoáy thẳng vào sự khác biệt của các diễn giả.

Một nhà văn Philippines thành công với tiểu thuyết viết về cuộc sống của một người đồng tính, khi cử tọa chất vấn đã thừa nhận sẽ không thể in được cuốn sách khi còn ở quê nhà, vì sự kiểm duyệt và vì sự nhạy cảm của vấn đề, nơi mà khi sống ở Canada hay New York, Mỹ, anh có cơ hội nhiều hơn. Trong khi trên bảng xếp hạng mức độ kiểm duyệt các nước trên thế giới mà tôi đọc được, Philippines lại có vẻ khá thoáng.

Đi trên đường phố Kuala Lumpur, nơi được mệnh danh là kinh đô mua sắm của khu vực, và ngay tại khu Publika, tổ hợp trung tâm thương mại và gallery nghệ thuật, gần như không thấy có hình ảnh hở hang hay gợi cảm nào trên các apphich quảng cáo mỹ phẩm hoặc quần áo.

Đạo diễn phim tài liệu người Malaysia Dain Said trả lời luôn câu hỏi của tôi liệu có khi nào có cảnh gần gũi thể xác trên phim ảnh hay tivi ở đây: “Không bao giờ!”. Ở một đất nước Hồi giáo thì như vậy cũng không có gì lạ, đến cả bia rượu cũng bị đánh thuế tội lỗi (sin tax), giá đắt gấp ba và hình như chỉ bán ở các khu phố du lịch.

Liệu những thang bậc đánh giá sự ngặt nghèo ở mỗi nền văn hóa có phải là căn cước nhận diện nơi ấy không?

Khoảng trống này ai lấp?

Điều hằn lại trong đầu tôi qua chuyến đi giao lưu là sự giàu có về kiến thức xã hội học của các tác giả tham dự festival. Ở họ, không có đề tài nào là có giới hạn. Tôi đặc biệt quan tâm đến cuốn tiểu thuyết Maggie and me của Damian Barr, một tác giả đang rất được chú ý ở Anh, người cũng có buổi giao lưu tại festival.

Cuốn sách viết về thời thủ tướng Margaret Thatcher nắm quyền, là hồi ức thời thơ ấu của tác giả về những biến động xã hội Anh khi đó, nó nhận diện một thời đại. Những ảnh hưởng của các chính sách công, các xáo trộn về kinh tế - xã hội dưới sự điều hành của “bà đầm thép”, tất cả để lại dấu ấn trong đời sống một đứa trẻ Anh hiện ra dí dỏm và trào lộng.

Tôi chợt nghĩ trời ơi, chừng nào mình có thể viết được một cuốn sách như thế, về những năm tháng bản lề của xã hội trước và sau đổi mới, thời chúng tôi hồn nhiên sống với tem phiếu mà đâu cảm thấy hết nỗi khổ sở trăm bề của bố mẹ.

Mỗi câu chuyện của các bạn văn ở đây là một sự trao đổi miên man về các vấn đề chính trị - xã hội khu vực, và quả thật họ rất nhạy cảm với các câu chuyện bất bình đẳng, như chuyện một bộ phim truyền hình Hong Kong đã phải ngừng phát sóng vì xây dựng nhân vật ôsin người Philippines một cách bôi bác.

Hơn lúc nào hết, câu chuyện về “căn cước” lại nổi lên trong các cuộc giao lưu này. Những người bạn văn này cũng thường xuyên chia sẻ các trang tin thời sự văn hóa toàn cầu, những mối quan tâm rất “người lớn” nếu so sánh với vô vàn tin tức showbiz đọc rồi quên luôn. Cảm giác của tôi là kiệt sức: họ biết quá nhiều. Làm sao tôi thu nạp được bằng họ và tôi sẽ viết tiếp sao đây?

NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ
(http://tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi-tuan/Van-hoa-nghe-thuat/622153/dung-cho-minh-tam-can-cuoc-van-hoa.html)

Chủ Nhật, ngày 03 tháng 8 năm 2014

Họ đã bắt đầu từ một Hồ Gươm (P.2)

Có nhiều hơn một Hồ Gươm

Ở phần đầu, chúng ta đã biết nơi chốn Phạm Duy thân thuộc từ nhỏ là Hồ Gươm, cũng là trung tâm của đô thị Hà Nội. Tuy nói rằng bài hát Gươm tráng sĩ của ông đích danh cho Hà Nội, nhưng nội dung lời hiện tại có được lại không mấy liên quan đến tích Lê Lợi trả gươm cho thần Kim Quy (Ta là gươm tráng sĩ thời xưa/ Bên mình chàng hiên ngang một thuở/ Xưa nhớ tới người trai chí lớn/ Xếp bút nghiên từ chốn thư phòng/ Bàn tay xinh ai nhuốm máu hồng/ Và nhuốm mầu non sông). Trong khi đó, hình ảnh gươm thần xuất hiện trực tiếp trong Thăng Long hành khúc ca của Văn Cao. Nếu có thể coi Bên hồ liễu của Văn Chung là đích xác viết về cảnh Hồ Gươm, thì ta sẽ có một bức tranh khác về mặt hồ này. Cùng thời gian ra đời của Tiến về Hà Nội, một Hà Nội năm 1949 dưới con mắt của một nhạc sĩ gốc miền Nam hiện ra với Hồ Gươm (Hồ Hoàn Kiếm) làm trung tâm điểm:

Bước men quanh hồ Hoàn Kiếm giữa thu chiều úa
Tôi nhớ tháng ngày sống nơi Thủ đô hồi qua
Hồ đẹp: gương nước liễu xưa la đà bóng hồ
Đời vui thái bình trước lúc chiến tranh!

Khắp chốn nay điêu tàn
Nhà xiêu đổ: một cảnh nát tan
Hồ xanh nay vẫn xanh
Nhưng liễu xưa ven hồ đâu tá?
Tôi đứng im lặng nhìn
Nhìn tháp cũ bóng soi Hồ Gươm
Tháp kia sao lạnh lùng
Như giấu muôn e thẹn căm hờn!
Nước nghiêm trên hồ
Bao phen gió run hồn nước

Hà Nội yêu quý! Là chốn lịch sử ngàn năm
Là trái tim của Việt Nam
Là chính hồn Việt anh dũng!

(Hà Nội 49 – Trần Văn Nhơn, 1949)

Ta cũng gặp lại hồ liễu, tháp cũ, lịch sử ngàn năm, hồn nước, những gì đã có mặt trong mấy ca khúc tân nhạc trước năm 1945 đã nhắc đến. Nó có cả hai khía cạnh lãng mạn và sử thi của hai dòng ca khúc tiền chiến, nhưng của một cuộc sống Hà Nội mà “đời vui thái bình” đã hết do chiến tranh. Bài hát của năm 1949 đã chú ý nhiều đến hiện thực, những chi tiết khung cảnh dệt nên tâm trạng. Nhưng thông điệp chủ đạo của Hà Nội 49 đã xác định nó thuộc dòng sử thi, tương đồng với khẩu khí của Thăng Long hành khúc ca. Hồ Gươm của những năm đầu kháng chiến thấp thoáng hiện lên từ thơ Nguyễn Đình Thi:

Tháp Rùa lim dim nhìn nắng
mấy cánh chim non trông vời nghìn nẻo
(Đất nước, bản năm 1948)

Ở bản Đất nước cuối cùng năm 1955, hai câu thơ trên đã không có mặt, song hình ảnh Tháp Rùa vẫn còn trong ca khúc Người Hà Nội của cùng tác giả:

Hà Nội đẹp sao
Ôi nước Hồ Gươm xanh thắm lòng
Bóng Tháp Rùa thân mật êm ấm lòng
(Người Hà Nội, 1947-48)

Tương phản với “tháp kia sao lạnh lùng” của người nhìn Hồ Gươm tạm chiếm là hồi ức “Tháp Rùa thân mật êm ấm lòng” của người ra đi. Chia sẻ cảm xúc này là một Hồ Gươm đầy tính biểu tượng trong bức tranh Hà Nội của Huy Du trong Sẽ về Thủ đô (1948):

Ai về Thủ đô tôi gửi vài lời
Tây Hồ mờ xa là nhà tôi đó
Đây chợ Đồng Xuân bên dòng Nhị Hà
Đi học về qua luôn hát vui ca
Đây Hồ Hoàn Gươm bên nhịp cầu hồng
Khi chiều dần buông tôi hay qua đó
Hoa phượng hè vui in đỏ đường dài
Tô đậm lòng tôi năm tháng khôn nguôi

Giống như cách quy nạp của Người Hà Nội (“Đây Hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây”), Hồ Gươm được xếp cạnh những biểu tượng khác của thành phố lịch sử. Điều này xác lập công thức ngay từ những bài hát đầu tiên lấy chủ đề trực tiếp về Hà Nội là nhắc đến các biểu tượng và địa danh như thế. Một tình khúc có đề tài thời sự là sự chia cắt hai miền – Gửi người em gái (1956-57 – Đoàn Chuẩn & Từ Linh) cũng gắn hình ảnh người tình xa cách với Tháp Rùa:

Em! Tháp Rùa yêu dấu! Còn đó trơ trơ
Lớp người đổi mới khác xưa
Thu đã qua những chiều, song ý thơ rất nhiều
Ca tình yêu!

Đối ứng bên kia vĩ tuyến, Giấc mơ hồi hương (1955 – Vũ Thành) cũng nhắc đến Hồ Gươm, ta nhận ra nhờ dấu chỉ “hồ liễu thưa”:

Ta nhớ thấy “em” một chiều chớm thu
Dáng yêu kiều của ngày đã qua
Thướt tha bên hồ liễu thưa

Rất dễ chỉ ra hàng chục bài hát về Hà Nội thời chiến tranh lấy Hồ Gươm làm điểm nhấn, chẳng hạn “Cô gái Hồ Gươm nay đã thành chiến sĩ” (Trên đường Hà Nội, 1966 – Huy Du), tương ứng với ca khúc ở Sài Gòn là những “Hồ Gươm xưa vẫn chưa phai nhòa” (Nỗi lòng người đi – Anh Bằng) hay “Ôi người em Hồ Gươm về nương chiều tà. Liễu thềm cũ nằm úa sầu mơ hiền hòa” (Mưa Sài Gòn, mưa Hà Nội – Phạm Đình Chương, thơ Hoàng Anh Tuấn). Những năm 90 là “Tôi muốn mang Hồ Gươm đi trú đông. Làm sao mang nổi được sông Hồng” (Tôi muốn mang Hồ Gươm đi – Phú Quang, thơ Trần Mạnh Hảo).

Những Hà Nội khác nhau

Phạm Duy chọn một Hà Nội khác để viết về, cũng như sau này, những ca khúc của ông có cách viết riêng biệt. Tiếng bước trên đường khuya của Phạm Duy không hẹn mà thành mở đầu cho việc diễn tả âm thanh đô thị, mà Người Hà Nội của Nguyễn Đình Thi (1947-48) hay Hướng về Hà Nội của Hoàng Dương (1953) có tiếp tục. Nguyễn Đình Thi có tham vọng diễn tả một đại cảnh Hà Nội, từ trang nghiêm lắng đọng “Hồng Hà tuôn ngàn nguồn sống” đến “tíu tít gánh gồng đây Ô Chợ Dừa, kia Ô Cầu Dền làn áo xanh nâu”. Hoàng Dương chấm phá những nét chính để đọng lại “nắng hè tô thắm lên môi, thanh bình tiếng guốc reo vui” trong âm thanh và “mái trường phượng vĩ dâng hoa, dáng chiều ủ bóng tiên nga” trong màu sắc. Tuy nhiên đấy vẫn là những Hà Nội thăng hoa diễm ảo trong ký ức của những đại tự sự, dù là khải hoàn hay hoài hương. Những thân phận, số kiếp cá thể không xuất hiện, mà thay vào đó là những biểu tượng, đại diện. Nó sẽ là một Hà Nội hào khí ngút trời của những người thợ, những người chiến đấu trong dòng ca khúc nhạc đỏ hoặc một Hà Nội dĩ vãng mờ nhòe đẫm nước mắt ly hương của những người di cư vào Nam trong dòng ca khúc viết về “cố đô” sau năm 54 ở Sài Gòn. Nó cho ra kết quả là có hai Hà Nội suốt một thời gian dài, một “đỏ” và một “vàng”. Một Hà Nội “xanh” – tức là đô thị đời sống đương đại – có xuất hiện trên danh nghĩa (Trời Hà Nội xanh, Văn Ký, 1983) nhưng phải đến mãi đầu thập niên 90 mới bắt đầu thấy.

Trong những khúc quanh lịch sử, nhiều lớp người Hà Nội đã ly tán và trở về. Ngay việc nói đến ngày về, mỗi người một kiểu. Ngày về, Lỡ cung đàn (1947) của Hoàng Giác mặc dù viết trực tiếp cho một mối tình trước khi chiến tranh diễn ra, nhưng thời điểm nhạy cảm làm người ta nghĩ đến những người hồi cư về Hà Nội:

Tung cánh chim tìm về tổ ấm
Nơi sống bao ngày giờ đằm thắm
(Ngày về)
Có những người đi không về
Xa xôi rồi quên ước thề
(Lỡ cung đàn)
Rồi ngày hoan mê anh quay về em
Quê xưa nghìn năm với nhau, cùng vui sống êm đềm
(Tiếng hát biên thùy – Hoàng Giác & Nguyễn Thiện Tơ)

Nhưng tâm lý trở về ấy là có thực. Một Ngày về khác cùng năm 1947 của Lương Ngọc Trác phổ thơ Chính Hữu, mang phong cách gân guốc, cụ thể hơn, nhưng cũng đầy ắp mỹ từ của nhạc tiền chiến:

Có đoàn người lên đóng trên rừng sâu
Đêm nay mơ thấy tiến về Hà Nội
Bao giờ sẽ về?
…Nhớ đêm ra đi, đất trời bốc lửa
Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng
Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng
Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm
Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm
Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa
Nghe tiếng kèn của những người Hà Nội
Trở về, trở về, chiếm lại quê hương
Nguy nga sao cái ngày ta lên đường
…Gạch ngói xưa mừng đón gót lưu ly

Quay lại với thời của Phạm Duy. Một số ca khúc trào phúng thời tạm chiếm 1947-1954 như Cô Tây đen (Vũ Cận, 1953, có lấy một đôi câu từ bài thơ cùng tên năm 1918 của Tản Đà) hay Vợ tôi là súng các-bin (Văn Khôi, 1955) lại nhìn nhận xã hội đã đời thường hóa những hiện tượng sinh ra từ chiến tranh, vợ lính Âu Phi da đen, lối nói quân sự xâm nhập vào khẩu ngữ thường ngày. Kể ra cũng khó mà nói đây là một “Hà Nội xanh” vì tính chất thời sự quá rõ rệt và yếu tố dị thường của hiện tượng, vốn không thấy xuất hiện sau này nữa.

Cách thức tiếp cận Hà Nội theo hướng biểu tượng hóa thành đại diện ý niệm “cái chúng ta gọi là Hà Nội” hay “Hà Nội của những người như anh và tôi” ngay từ những năm tháng Hà Nội trở thành nơi ký thác tâm sự hoài hương hoặc biểu tượng khải hoàn đã sinh ra cách chính trị hóa hai chữ “Hà Nội”. Trong ngôn ngữ thông tin ngoại giao thường thấy công bố trên truyền thông, người ta hay dùng tên thủ đô để trỏ chính phủ hay nhà nước của thủ đô đó, chẳng hạn “Tokyo đã ra tuyên bố đáp lại phản ứng của Bắc Kinh”, dĩ nhiên ai cũng hiểu đó là câu chuyện giữa hai chính phủ hay nhà cầm quyền Nhật Bản và Trung Quốc. Hà Nội cũng không là ngoại lệ khi là thủ đô của chính phủ miền Bắc và là quê nhà đã mất của những người di cư. Như đã dẫn, tác phẩm nổi bật của dòng ca khúc di cư là Giấc mơ hồi hương (Vũ Thành, 1955) thậm chí đặt đại từ nhân xưng “em” trong ngoặc kép để trỏ Hà Nội, các góc độ cảm xúc được diễn tả dành cho khung cảnh đô thành “một sớm khi heo may về”, “mờ trong mây khói”, “một chiều chớm thu” hay “tắm nắng hồng của một sớm mai”. Gửi người em gái bứt ra khỏi chùm ca khúc lãng mạn thuần túy của Đoàn Chuẩn & Từ Linh cũng chính là nhờ yếu tố “thời sự xã hội” của chủ đề và cách diễn tả gắn người yêu chia ly với một Hà Nội đã tha hương. Các ca khúc viết về Hà Nội giai đoạn đất nước chia cắt thực sự không có nhiều ca từ diễn tả đời sống về con người bé mọn, về cái tôi thường nhật. Ở phía nào mạch cảm xúc cũng phải gồng lên. Tất nhiên, dù ở phía nào, chúng cũng gây ngạc nhiên ở khả năng cung cấp một kho từ vựng mỹ lệ về Hà Nội. Chúng đều bồi đắp, từ hai phía, một Hà Nội tượng đài. Nó khuôn lại một mỹ cảm rất common sense về Hà Nội mà tôi từng chẳng biết dùng cách nói nào ngoài “Hà Nội là Hà Nội” như tên một tập tản văn in năm 2010 của tôi.

Vì nhắm mục đích cụ thể là ca ngợi hoặc hoài nhớ một Hà Nội theo cách có màu sắc tuyên truyền nên các ca khúc nổi bật thường có chữ “Hà Nội” ở ngay trong tên bài hát hoặc nhắc nhiều lần trong ca từ. Điều này dễ gây ảo tưởng là muốn có bài hát hay về Hà Nội thì phải như một bài viết PR sản phẩm, có yêu cầu phải khéo nhắc đến không dưới 5 lần tên sản phẩm trong bài. Nhưng như tôi đã phân tích, vẫn còn những câu chuyện Hà Nội để hát lên, như Tiếng bước trên đường khuya của Phạm Duy hoặc sau này qua những bài hát của Trần Tiến, Phú Quang, Hồng Đăng hay gần đây hơn là Đỗ Bảo, ví dụ vậy.
Tuy nhiên, càng ngày có vẻ càng ít bài hát viết về chủ đề Hà Nội. Phần vì công thức ca ngợi trực tiếp đã không còn hấp dẫn công chúng, phần vì Hà Nội chỉ còn được sử dụng như bối cảnh, và nhất là nhạc trẻ quan tâm thiên vị những ca từ kể lể tình ái cụ thể. Số lượng từ Hán Việt để định tính ít đi, khiến cho Hà Nội có vẻ khó đội một vài cái mũ hay gắn vài danh hiệu nhất định như trước. Cộng thêm vào đó, sự không rõ rệt của phạm vi đề tài Hà Nội so với trước đã dường như chấm dứt mạch ca khúc về Hà Nội theo lối truyền thống, ngoại trừ những bài hát theo đơn đặt hàng của Nhà nước cho các đợt kỷ niệm nghi thức hoặc đôi bài hát hoài hương của người xa xứ.

Từ những ngã tư đường phố

Tiếng bước trên đường khuya của Phạm Duy nhìn ra một Hà Nội có gì gần gũi với những gì được viết trong những truyện ngắn của Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Giao, những cảnh Hà Nội của trí thức lớp dưới và những người hạ lưu. Trong văn học, đây là một trào lưu mạnh, nhưng trong tân nhạc, sự thưa thớt của các ca khúc “xã hội ba đào ký” (cách Nguyễn Công Hoan gọi loạt truyện của mình thời những năm 30) khiến bài hát của Phạm Duy có vị trí hơi lẻ loi bên cạnh phong phú những bài hát lãng mạn du dương.

Có phải đó là bước chân ngậm ngùi của người lầm than
Âm thầm trong đêm vang lời ưu phiền
Tiếng chân cứ dần từ từ đi vào đêm mưa
Tiếng chân thẫn thờ đi vào hồn tôi.

Từ “tiếng chân thẫn thờ đi vào hồn tôi” năm 1946 đã có nhiều âm thanh đời sống Hà Nội được đánh dấu trong ca từ.

Tiếng động con người:
- Thanh bình tiếng guốc reo vui (Hướng về Hà Nội – Hoàng Dương, 1953)
- Hòa bình thành phố yên vui, đón anh bộ đội a là hô hoan hô (Quê tôi giải phóng – Văn Chung, 1954)
- Anh lắng nghe bao lời ân ái, những bài tình ca (Những ánh sao đêm – Phan Huỳnh Điểu, 1962)
Tiếng gió, tiếng sóng:
- Đường nghe gió về, Hà Nội bừng tiến quân ca (Tiến về Hà Nội – Văn Cao, 1949)
- Sóng vỗ bờ, âm thanh tan trong gió, bến trúc lao xao, nhớ thuở nào (Một thoáng Hồ Tây – Phó Đức Phương, 1984)
- Để nghe gió sông Hồng thổi, một chiều đông rét mướt (Mong về Hà Nội – Dương Thụ)
Tiếng súng, bom đạn:
- Hà Nội ầm ầm rung (Người Hà Nội – Nguyễn Đình Thi, 1947-48)
- Hà Nội đêm nay rền vang tiếng súng (Hà Nội những đêm không ngủ - Phạm Tuyên, 1972)
Tiếng loa, đài, kèn lệnh:
- Tiếng loa truyền về tin thắng trận; tiếng ca khắp non sông âm vang rộn rã (Bài ca Hà Nội – Vũ Thanh, 1966)
- Tự hào đi trong tiếng kèn tiến quân vang ngân (Từ một ngã tư đường phố – Phạm Tuyên, 1971)
- Âm vang từ Hà Nội, tiếng nói Thăng Long ấm áp hào hùng (Khúc hát người Hà Nội – Trần Hoàn, 1981).
Tiếng chuông:
- Chuông chùa buông tiếng ngân âm thầm, đường tơ lắng buông trong huy hoàng (Nhạc chiều – Doãn Mẫn, 1939)
- Chuông reo ngân, Ngọc Sơn sao uy nghi (Gửi người em gái – Đoàn Chuẩn & Từ Linh, 1956)
- Nhớ tiếng leng keng tàu sớm khuya (Nhớ về Hà Nội – Hoàng Hiệp, 1984)
- Tan lễ chiều sao còn vọng tiếng chuông ngân (Em ơi Hà Nội phố - Phú Quang, thơ Phan Vũ, 1988)
- Làm sao về được mùa đông, để nghe chuông chiều xa vắng (Nỗi nhớ mùa đông – Phú Quang, thơ Thảo Phương)
- Tiếng chuông chùa xa, vỡ trong chiều hoang vắng (Gió mùa về - Lê Minh Sơn, 2000)
Tiếng đàn:
- Đường tơ ai buông trong sương rền khúc (Tiếng đàn ai – Hoàng Trọng, 1944)
- Tiếng dương cầm trong căn nhà đổ (Em ơi Hà Nội phố – thơ Phan Vũ 1972, nhạc Phú Quang 1988)
Tiếng ve, tiếng chim:
- Nghe tiếng chim chiều về gọi gió, như tiếng tơ lòng người bạc phước (Ngày về – Hoàng Giác, 1947)
- Tiếng ve đu cành sấu (Kỷ niệm thành phố tuổi thơ – Hồng Đăng, 1972)
Tiếng rao:
- Tiếng rao bồi hồi nỗi nhớ (Đêm mùa đông Hà Nội – Hoàng Phúc Thắng, 1991)
- Kìa tiếng rao của ai, xé tan màn đêm rét mướt (Gió mùa về - Lê Minh Sơn, 2000)

Trên đây là một số ví dụ để nhận diện một khung cảnh âm thanh Hà Nội được điểm chấm phá trong các ca khúc. Khác với hệ thống âm thanh đô thị Hà Nội được khảo cứu khá kỹ lưỡng như nghiên cứu của F. Fénis (Hàng rong và tiếng rao trên đường phố Hà Nội, có ký âm, minh họa của các sinh viên trường Mỹ thuật Đông Dương, 1928) hay một số tác phẩm văn xuôi như Thư Hà Nội (J. Tardieu, 1929), Hà Nội băm sáu phố phường (Thạch Lam, 1938) cũng dành khá nhiều chi tiết để mô tả phần quan trọng của đô thị - âm thanh đời sống, và hơn thế nữa, các cảnh tượng sinh hoạt nhưng không kém phần nên thơ, thậm chí nhiều nét lãng mạn, ca từ tân nhạc dường như thuần túy ảnh hưởng cảm hứng lãng mạn kiểu Tự lực văn đoàn hay nhạc tình Pháp cùng thời hoặc nếu là dòng “thanh niên-lịch sử” thì mang cảm hứng sử thi.

Ở đây có thể thấy nguyên do phần nào từ xuất xứ tân nhạc. Ra đời có phần muộn hơn các trào lưu văn học hay mỹ thuật, trong khi trường Mỹ thuật Đông Dương ra đời năm 1925 khởi sự cho lối họa pháp Tây phương, phong trào Thơ Mới và Tự lực văn đoàn khoảng 1932-1934, thì tân nhạc mãi đến khoảng 1938 mới chính thức rầm rộ ra mắt như một dòng sáng tác nghệ thuật chuyên nghiệp. Lúc này chỉ còn 1-2 năm là cuộc chiến tranh Thế giới lần thứ Hai nổ ra kéo theo nhiều xáo trộn trong đời sống xã hội. Tự lực văn đoàn khi chấm dứt hoạt động khoảng 1940-1942, không có thành viên hay cộng tác viên nào là nhạc sĩ, trừ việc in các bài hát đầu tiên cho phong trào tân nhạc của Nguyễn Văn Tuyên, Nguyễn Xuân Khoát… Trong bối cảnh xã hội vẫn coi âm nhạc vẫn là thứ tiêu khiển hạng hai, “xướng ca vô loại”, việc chịu ảnh hưởng của văn thơ và ý niệm thẩm mỹ của tầng lớp trung lưu khiến cho tân nhạc nổi trội tính chất lãng mạn. Điều này vô hình chung áp đặt một quan niệm rằng đã là tân nhạc thì tuyền ca khúc tình tứ anh anh em em, thổn thức nỗi lòng “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”. Chất bay bướm, huê tình của đời sống trung lưu Hà Nội khi ấy cũng cần dòng ca khúc này để trang điểm cho giới mình.


Đặt trong bối cảnh đó, bài hát lẻ của Phạm Duy có một vị trí thú vị, xuất xứ từ những gì va đập vào tâm hồn của một người đã sống gần vỉa hè và mặt nước Hồ Gươm từ tuổi nhỏ để thấy những “cảnh ít nên thơ” chứ không thấy hồ liễu hay tiếng chuông ngân nga, tiếng guốc reo vui. Thoát ly những mỹ từ diêm dúa (mặc dù Phạm Duy sử dụng khá nhiều trong các ca khúc khác cùng thời gian như Bên cầu biên giới viết năm 1947 hay Tiếng đàn tôi viết năm 1948, vẫn dùng những câu như “tiếng tơ xót thương vời”, “như ru như thương linh hồn đắm đuối”), bài ca lấy cảm hứng từ tiếng hát khan của người ăn mày trung thực với một Hà Nội trong bóng tối, không có ảo ảnh của “dập dìu trong tiếng đàn tôi”.

Thứ Bảy, ngày 02 tháng 8 năm 2014

Họ đã bắt đầu từ một Hồ Gươm (P.1)

Một khảo sát về cách viết về Hà Nội trong ca từ hay là những cách nhận diện Hà Nội...

Trong hồi ký của mình, nhạc sĩ Phạm Duy đã dành nhiều trang viết ở phần đầu kể về thời thơ ấu ở Hà Nội. Tuy nhiên, dù sau này sẽ có nhiều thành công trong tình khúc, khác với các nhạc sĩ xuất thân từ Hà Nội, ông nói, “vì quanh năm sống với hồ Gươm nên tôi còn thấy nó trong những hoàn cảnh ít nên thơ hơn, như ra coi những xác người treo cổ trên cây đa bên bờ hay trầm mình xuống hồ nước, vì thất tình hay vì lý do buồn bã hơn là sự túng quẫn. Tôi được sống lâu với chiếc cầu và ngôi đền nên còn nhìn thấy cả đám ăn mày ngồi la liệt trên lối ra vào với lũ ruồi bu đầy trên những đôi mắt toét đỏ lòm. Và cảnh nhà nho cuối cùng mặc áo bông rách, ngồi viết những chữ Phúc Lộc Thọ hay những câu đối trên giấy đỏ… chỉ làm tôi bùi ngùi hơn là bồi hồi. Hồ Gươm với tôi là giọt lệ, không phải lệ ngọc ngà mà là lệ buồn thương”.

Lệ buồn thương. Có thể thấy, với những gì Phạm Duy thâu nhận, Hà Nội là một bức tranh đời sống có màu sắc hiện thực hơn là lãng mạn, một Hà Nội của những góc tối lầm than, những phận người tăm tối ngay trước “nhà tôi hăm bốn Hàng Dầu” lúc nhỏ. Còn khi vào đời, là những người kỹ nữ, những “kẻ ăn mày xán lạn ngày mai”, như trong Tình kỹ nữ (1945) hay Tiếng bước trên đường khuya (1946), “bài ca xã hội đầu tiên của thời đại… trong đó tôi mô tả những người sống về đêm và có một đoạn nhạc không lời nhái lại tiếng kêu đường của người hành khất. Mỗi lần nghe lại bài này, tôi nhớ Hà Nội ban đêm vô kể”.

Tiếng chân ngân dài từ từ đi ngoài đêm thâu
Tiếng chân dưới lầu, ôi tàn mộng bích câu
Ôi tiếng chân ai mang dài năm tháng
Ôi tiếng chân ai đã tàn tuổi thơ.

Phạm Duy nói, ông chỉ có đích danh bài hát Gươm tráng sĩ viết năm 1945 là viết cho Hà Nội. Mãi sau này khi về Việt Nam, ông công bố thêm ca khúc Mơ dạo xuân Hà Nội, phổ thơ Thảo Chi, mang nội dung hồi cố về một mùa xuân xưa cũ. Viết về Hà Nội, cố hương và thủ đô của một chính thể mà ông từng từ bỏ, chống đối và rồi quay về - là mối quan tâm của giới báo chí trong buổi tiếp xúc với Phạm Duy trước buổi biểu diễn Ngày trở về tại Nhà hát Lớn Hà Nội ngày 27/3/2009. Vậy tại sao Phạm Duy không nhắc đến Tiếng bước trên đường khuya? Đây cũng là một bài hát Hà Nội, nhưng rõ ràng không phải là một Hà Nội trong dòng rất nhiều ca khúc phổ biến viết về nơi này. Hoặc ở góc độ người nghe sống ở Hà Nội giai đoạn thập niên cuối thế kỷ 20 vốn là thời các bài hát chủ đề Hà Nội được yêu thích, thì Tiếng bước trên đường khuya văng ra khỏi quỹ đạo.

Khúc dạo đầu cho một biểu tượng

Quay trở lại giai đoạn thời kỳ đầu của tân nhạc - trước năm 1945 - Hà Nội chưa trở thành một chủ đề âm nhạc. Nếu được nhắc tới, nó thường là địa danh mang tính biểu tượng ái quốc trong dòng hành khúc khơi gợi lòng tự tôn dân tộc của một nước thuộc địa như Thăng Long hành khúc ca (Văn Cao, 1944) hoặc các địa danh lịch sử trong phạm vi “đế đô” như Hồ Lãng Bạc (Xuân Oanh? 1944), Gò Đống Đa (Văn Cao, 1944), Hội nghị Diên Hồng (Lưu Hữu Phước & Huỳnh Văn Tiểng, 1944). Những ca khúc này nằm trong trào lưu ca khúc “thanh niên-lịch sử” khoảng những năm 1940-1945, chủ yếu là sáng tác từ nhóm Đồng Vọng ở Hải Phòng do Hoàng Quý chủ xướng mà Văn Cao là thành viên và nhóm sinh viên Đại học Đông Dương Hoàng-Mai-Lưu do Lưu Hữu Phước giữ vai trò chủ chốt.

Tháp đây! Gươm thần đâu dưới nước biếc
Có chăng bao người lưu luyến tiếc
Này phường, này phố cũ
Này đường về ô xưa
Bóng dáng ngàn năm hồ phai khi tàn mơ

(Thăng Long hành khúc ca, Văn Cao)

“Thăng Long ngày nao cờ khoe sắc phấp phới” của Văn Cao dường như chỉ mơ hồ liên quan đến Hà Nội thủ phủ Liên bang Đông Dương năm 1944. Nó dùng nhiều từ Hán Việt, nhiều tên gọi cổ, nhiều tích cũ: dòng sông Nhị Hà, lũ quân chàng Tôn, gươm thần, bóng dáng ngàn năm hồ phai, loa vang xa chiêng thu không tiếng bát ngát trong trống thành… Nó không đủ cụ thể để chứng tỏ nhạc sĩ viết về cảm xúc dành cho thành phố hiện đại. Đặc biệt, trong dòng ca khúc “thanh niên - lịch sử”, gồm nhiều hành khúc với mục đích “viết về những sinh hoạt lành mạnh vui tươi” (lời nhạc sĩ Tô Vũ, em nhạc sĩ Hoàng Quý) của nhóm Đồng Vọng, thì đương nhiên Thăng Long hành khúc ca mang cảm hứng rõ rệt về khơi gợi lòng yêu nước. Nó kết lại bằng lời hứa hẹn “dân chí sống yên vui chờ gió mới bay về”. Hồ Lãng Bạc viết về hồ Tây nhưng không ở khía cạnh lãng mạn của cảnh đẹp mà tập trung câu chuyện về cuộc chiến đấu của Hai Bà Trưng chống quân Hán:

Thề quyết chiến, liều xông lên thét hùng oai nữ vương
Ào gió thét, ầm sóng vỗ - thế cùng không chút sờn
Hồ vẫn đấy, người xưa đâu? Sóng hùng ghi nữ anh
Buồm quyến gió, thuyền rẽ sóng dưới trời mây nước thanh

Hội nghị Diên Hồng viết về thời điểm nhà Trần chuẩn bị kháng chiến chống Nguyên Mông, “Toàn dân nghe chăng, sơn hà nguy biến” và Gò Đống Đa viết về chiến thắng của Quang Trung năm Kỷ Dậu, “ngày ngàn quân Thanh chết, dưới toán quân Việt Nam”. Nếu đi tìm hình ảnh Hà Nội đương thời dựa theo địa danh thì chúng ta sẽ không có lời giải.

Ca khúc lãng mạn hiếm hoi dường như lấy bối cảnh Hà Nội đương đại khi đó là Bên hồ liễu (1938, Văn Chung) cũng chỉ thuần túy mượn cảnh sắc Hồ Gươm để bày tỏ nỗi lòng man mác rất vu vơ:

Ngàn liễu dưới trăng lùa ca thu trong
Nước xanh thoáng in mây ngàn muôn trùng
Vầng trăng dưới nước long lanh tan loang muôn ánh ngà
Lá tơ lướt theo làn gió vờn bay thướt tha
Tiếng ca đắm say cùng với ngàn cây lá lay
Có chi còn thú hơn trên đời
Dưới yêu thương ấm trong tơi bời
Lướt trên ngọn gió trong đêm dài

Theo Phạm Duy, bài hát này vào năm 1946 là tiết mục sở trường của ca sĩ Mai Khanh ở phòng trà Quán Nghệ Sĩ ở đường Bờ Hồ. Rõ ràng, chúng ta không đọc được câu chuyện nào hay sự việc gì trong những ca từ lãng đãng kia, ngoài việc đoán có vẻ như đấy là Hồ Gươm, là Hồ Tây, hay những mặt hồ có liễu ở Hà Nội. Nếu có thể xét đến bối cảnh Hà Nội xuất hiện một cách gián tiếp qua ca từ, thì hẳn nên kể đến Biệt ly (1937, Doãn Mẫn). Ca khúc này viết về một chủ đề quá quen thuộc trong văn chương nghệ thuật trung đại, nhưng ở đây, bối cảnh mang tính hiện đại là nhà ga, bến cảng với “còi tàu như xé đôi lòng”, những dấu chỉ vật chất của văn minh Âu Tây thay thế những tiếng “trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt” (Chinh phụ ngâm, thế kỷ XVIII).

Vì thế, những âm thanh của đường phố Hà Nội đêm khuya mà Phạm Duy dùng lại trong bài hát Tiếng bước trên đường khuya của mình đáng chú ý ở khía cạnh ông nhìn ra một nét đặc trưng của đô thị hiện đại. Từ tiếng bước chân trong đêm, ông hình dung ra những số phận.

Có phải đó là bước chân miệt mài của người ăn chơi
Vừa lăn ra khỏi chốn yên hoa mang mùi hương úa
Hay đó là người nào đi khóc cuộc từ ly
Đêm tối chân tần ngần thương bóng ai tàn xuân.

Sự lựa chọn góc nhìn từ rất sớm của Phạm Duy giúp người nghe chóng nhận ra, ca từ Phạm Duy hoặc không đủ trau chuốt êm ả như màu chung của các tình ca tiền chiến, hoặc nhiều cách xử lý tu từ gồ ghề hơn hẳn. Hà Nội của Phạm Duy có thể ít được phản ánh trực diện trong số hơn một ngàn ca khúc của ông, nhưng như những gì ông sớm nhận diện khung cảnh sống thuở nhở quanh Hồ Gươm, nó là một đô thị thực sự đương đại. Âm nhạc của Phạm Duy sẽ đi hẳn một vệt âm nhạc đô thị trước khi ông có thành tựu với nhạc dân ca và sẽ còn ảnh hưởng rộng rãi đến nhiều thế hệ. Hà Nội của Phạm Duy kém ảo mộng hơn Đoàn Chuẩn (Dìu thế nhân dần vào chốn Thiên Thai – Thu quyến rũ, 1951). Cũng là lả lơi, cũng là dìu dắt nhạc điệu, nhưng của Phạm Duy có vẻ cụ thể hơn, nhiều nỗi bẽ bàng diễn đạt trực tiếp, không cần những “thuyền đã sang bờ, đường về không lối” của Gửi gió cho mây ngàn bay hay “thuyền cắm tay sào từ cuối thu” của Chuyển bến, những sáng tác gần gũi chủ đề của Đoàn Chuẩn sau này vào đầu thập niên 50:

Sánh vai nhịp bước giang hồ
Kề vai ước xây nhà bên suối
Kề môi ước gây vài đường tơ
Ta ôm người đẹp trong tay
Bên nhau mà hồn xa vắng
Ta nâng niu làn dư âm
Của khách năm xưa yêu nàng.
(Tình kỹ nữ, 1945)

Phạm Duy nói thẳng sự thật nhiều khi được đi lòng vòng ở các nhạc sĩ khác: “chốn yên hoa mang mùi hương úa”. Văn Cao cũng năm 1945, viết về phố cô đầu Khâm Thiên giữa thời nạn đói với màu sắc có phần ghê rợn hơn, quái dị hơn nhiều:

Xác trụy lạc rũ bên thềm lá phủ
Ai hát khúc thanh xuân hờ ơi phấn nữ
Thanh xuân hờ thanh xuân
Bước gần ta chút nữa thêm gần
Khoảng giữa tuổi thanh xuân nghe loạn trùng hút tủy
(Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc, 1945)

Tuy nhiên, trong ca khúc, Văn Cao không khi nào diễn đạt bằng ngôn ngữ đó. Bối cảnh trong ca khúc lãng mạn Văn Cao luôn là Thiên Thai, Suối mơ, trầm trầm không gian mới rung thành tơ, đầy sương khói, trong trẻo, thần tiên và nhiều khi siêu hình, một chốn Đào Nguyên dành cho tiên nữ, cho thiên tài, cho siêu nhân. Hà Nội 1949 mà Văn Cao mơ ngày về huy hoàng chói lọi đầy phẩm tính siêu việt:

Năm cửa ô đón mừng
Đoàn quân tiến về
Như đài hoa đón chào
Nở năm cánh đào
Chảy dòng sương sớm long lanh
(Tiến về Hà Nội, 1949)

Hà Nội như lời ca khúc của Văn Cao, sẽ là nơi “ươm lại hoa, sắc hương phai ngày xa, ôi phố phường Hà Nội xưa yêu dấu”. Hình ảnh này vô tình bộc lộ một ý niệm lãng mạn, nostalgia, khi “cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn cầm cự”, những bài hát trữ tình dần ít được sáng tác ở các chiến khu. Có thể đây là lý do khiến Văn Cao bị kiểm điểm, ông gần như không viết nữa cho đến nhiều năm sau và chủ đề Hà Nội không còn trở lại trong âm nhạc của ông nữa, ít nhất là một cách trực tiếp.

(còn tiếp)

Thứ Ba, ngày 22 tháng 7 năm 2014

Hai đứa con trai ra hồ Hale

Hihi, tất nhiên vẫn là "Ba ngôi của người", nhạc và lời Nguyễn Việt Hà nhé.

Chuyện dễ chịu nhất là nhìn trộm Hạnh tắm. Lúc ấy tôi đã hơn mười ba còn Hạnh thì gần mười tám. Sau lần tò mò sờ soạng, Hạnh không cho tôi vào ngủ cùng chăn nữa. Nàng ở dài nhà tôi để luyện thi vào trường Cao đẳng Nhạc Họa. Chị tôi bảo, nó nên thi vào trung cấp thì vừa lực hơn, tài chính hay ngân hàng là nhất, dễ xin việc. Nhưng Hạnh ham nghệ thuật. Nàng thích hát, biết vẽ, tự học may cắt quần áo rất khéo. Những năm tháng nghèo rớt mùng tơi của bọn dân đen, ăn chỉ cầu no, mặc chỉ đừng rách, Hạnh cặm cụi thức đêm sửa mấy cái quần “phăng” thải ra từ mẹ thằng Kun. Rồi chữa áo sơmi, liều lĩnh chữa cả blouson. Bất cứ bộ quần áo nào nàng đã tự sửa để mặc đều tinh tế dâm đãng rất thời trang. Tôi nhiều lần chứng kiến ở ngoài đường, hàng đàn bọn thiếu nữ phố cổ đạp xe “lơ” hay “mipha” đuổi theo Hạnh, hau háu hỏi là chị ơi chị may bộ này ở đâu đấy. Năm 1988, mẹ thằng Kun đi xuất khẩu lao động ở Nga, bỏ lại cho Hạnh cả một tủ quần áo. Nàng nhờ tôi giữ cho phẳng cái áo thụng valide cổ Đức, mềm mại lùa kéo khoét nó thành cổ tròn.

“Quang Anh quay mặt đi nào”.

Tôi ti hí nhìn nàng thử áo uốn éo trước gương. Đẹp vô cùng. Ở nhà, nàng không bao giờ mặc áo lót. Người tôi hầm hập như rang. Vải valide mỏng manh nhờ nhờ bầu vú tròn căng có đầu vú nổi sẫm đen. Tôi từng nhìn trộm nó không biết bao nhiêu lần. Kể cả về sau khi đã cực kỳ thập thành, tôi chưa bao giờ thấy đứa con gái nào có đầu vú đen đĩ thõa như thế. Tôi run run lại gần sờ sờ vào cổ áo, miệng lắp bắp là loại vải này lạ nhỉ. Hạnh quay lại, mũi lấm tấm mồ hôi, đôi mắt đen có đuôi dài ma mị. Chợt như bải hoải nàng vòng tay qua vai tôi, ép đầu tôi xuống, mê man mút lưỡi. Cái hôn đầu tiên trong đời hình như làm tôi xuất tinh. Đũng quần nàng cũng ướt đẫm. Và chúng tôi chỉ hôn nhau thôi.

          Sau nụ hôn đầu Hạnh trốn biệt, em tìm mọi cách lánh mặt tôi. Dì Tiết đã về lại dưới quê trông nom mấy sào vườn hoang. Mẹ tôi trượt chân đá hoa buồng tắm, tiền sử huyết áp làm bà tai biến nhẹ. Bố tôi đều đặn vào thư viện Quân Đội, loay hoay viết hồi ký, những lúc chán quá ông làm cả thơ. Năm rồi, tôi gom bản thảo lại in thành một tập mỏng để kỷ niệm, mua giấy phép của nhà xuất bản Hội Nhà Văn. Thơ ông, giống thơ của các đồng chí thế hệ ông, vừa ước lệ vừa sáo rỗng. Duy có bài khóc anh cả tôi thì giọng lạ, đầy ân hận xót xa. Nhà vắng hoe. Ngoài giờ đi làm loăng quăng, Hạnh trốn vào buồng khóa kỹ cửa. Tất nhiên đã đến nước ấy thì không có gì làm tôi có thể lùi. Tôi vừa thi xong học kỳ một lớp 12, bài vở cuối cấp chất cao như núi. Tôi đăng ký thi trường Ngoại Thương và luyện ở lò của thầy Toàn “ngố”, danh gia khét tiếng luyện thi đại học chỗ gần Ngã Tư Sở. Thầy Toàn khẳng định là dù chủ quan thì điểm thi của tôi cũng không thể dưới 24. Những năm ấy chỉ cần trên dưới hai mươi điểm là đỗ cao đại học. Đầu tôi lơ mơ trống rỗng, không một tối nào tôi không vật vờ trước cửa phòng Hạnh ở tầng hai, vốn là phòng cũ của chị tôi. Phòng bố mẹ tôi là ở tầng một, tôi cũng ở dưới kế đó. Chuông đồng hồ điểm mười một giờ, tôi cầm quyển sách, là Toán, là Lý, là New Concept, đếch biết, luẩn quẩn rừng rực đi lên đi xuống cầu thang rồi lò dò dọc theo hành lang. Qua cửa phòng Hạnh, tôi run run đứng, nghiến răng cầm chặt nắm đấm cửa nhè nhẹ xoay. Nó cứng ngắc, bị khoá bên trong. Tôi áp tai vào cánh cửa lim, có tiếng tim đập thùm thụp, không rõ là của tôi hay của Hạnh. Đã vài lần tôi gặp mẹ tôi ở đầu chân cầu thang, bà nhìn tôi lo lắng, bà sợ tôi học nhiều phát điên. Nhưng cứ hễ bà hỏi, con uống thêm sữa hay nước cam không là tôi bẳn. Trừ bố tôi, tôi sẵn sàng cáu với bất cứ ai. Mặt tôi hốc hác gầy rộc, chẳng đọc được chữ nào. Ở trường, cũng vô số thằng học cuối cấp mặt mũi trông giống hệt tôi, chẳng biết là do sức ép thi cử hay do yêu em họ.

          Hạnh xin phép bố mẹ tôi về quê với cớ là đi tìm việc, ở Hà Nội đi kiếm việc khó quá. Nàng đã tốt nghiệp được năm rưỡi, lăng nhăng chuyển chỗ làm qua hai ba cơ quan. Tôi biết em sẽ không lên nữa, tôi nấp sau rèm cửa sổ nhìn Hạnh kéo cái vali có bánh xe khuất dần. Tôi yêu em, tôi căm thù em, tôi sẽ giết em. Thế rồi, được một tuần, bố tôi gọi Hạnh lên. Ông xin cho Hạnh vào làm thử ở Bộ Thương Mại, một công việc sẽ rất hợp với cháu, kiểm tra mẫu mã hàng may mặc xuất khẩu của mấy tổng công ty Dệt. Tôi làm mặt lạnh không thèm nhìn em. Cơm chiều tôi lấy cớ mệt, bắt con Chiền “lùn” đem vào tận phòng. Mà tôi cũng chẳng thiết ăn gì, tôi nhai cơm như nhai rơm, hai hố mắt hõm xuống như hai hố lửa. Đêm tôi vẫn vật vờ cả tầng một lẫn tầng hai. Và cứ khoảng 5 giờ chiều tan tầm là tôi nóng ruột nôn nao. Tôi lấy xe Peugeot 104 phóng tới đầu ngã tư Ngô Quyền Hai Bà Trưng rình nàng tan làm. Có một lần Hạnh tan cùng một thằng cha cao gầy, nàng trông thấy tôi. Tôi quay vội xe, ngã sấp mặt xuống vỉa hè. Tôi chui vào phòng tôi, mơ hồ, như thấy ai nhè nhẹ gõ cửa. Tôi sẽ không mở bất kỳ cánh cửa nào nữa. Nước mắt tôi chứa chan ướt đẫm gối. May mà hồi ấy có thằng Kun, nó hay chập chững mò sang phòng tôi đòi ngủ cùng. Đêm muộn, tôi lấy hai tay siết Thái Dương, cố gắng học. Bã bời, tôi chập chờn ngủ liên miên mộng tinh. Với tình hình này để có điểm sàn 21 cũng là chuyện thiên nan vạn nan.

          Để quên hẳn Hạnh, tôi quyết định đến nhà thằng Hùng “dế” ở Hàng Bông học thêm. Thằng Hùng cao hơn tôi cả một cái đầu, lông ở chim nó rậm rạp dài. Mẹ nó buôn đồ điện tử và duy nhất có nó là con trai. Hai bà chị trên nó ế chồng, kén quá nên đang chổng mông gào, sợ nó hơn sợ cọp. Thằng Hùng thông minh kỳ lạ, nó học môn gì cũng dễ. Thế nhưng, với cái tính ham chơi chóng chán, nó chỉ xếp ở giừa giữa lớp. Hết tiểu học, tôi ngồi cùng bàn với nó từ lớp Sáu. Còn vào trung học phổ thông, nó học Việt Đức, tôi học Chu Văn An. Như thế kể cũng là thân. Thằng Hùng quen thói được chiều, nghĩ gì nói lấy nên bị các thầy cô ghét và nó cũng ghét các thầy các cô. Năm lớp Tám, thầy Chinh dạy Vật Lý giảng về lực ma sát. Thầy Chinh mồm hơi méo, còn thầy Hưng dạy Sinh Vật tay trái hơi bị khoèo. Thằng Hùng có làm bài tứ tuyệt vịnh hai thầy. Hưng “khoèo” Chinh “méo” đôi bạn thân. Nổi tiếng toàn trường dạy như thần. Chinh “méo” đi xe thì huýt sáo. Hưng “khoèo” ngồi sau rung tay chân. Bài thơ được nhiều đứa thuộc nhưng chỉ dám truyền mồm đọc thầm. Nó quyến rũ đến mức, khi cả bọn con trai rủ nhau lên Quảng Bá bơi. Tới giữa hồ, chợt như để xả ẩn ức, bỗng đồng thanh cùng đọc toáng lên. Hôm ấy thầy Chinh giải thích về tầm quan trọng của lực ma sát. Đại loại, nếu không có lực ma sát thì mọi vật cứ trôi tuồn tuột, kể cả đang mặc quần áo. Thằng Hùng mơ màng nghe, nó khát khao nhìn sang con Dung “đít to” ngồi bàn dưới, ngầm mong “em” Dung của nó thường xuyên rơi vào trường lực này. Rồi như mụ mị vô thức, nó giơ tay xin phát biểu. “Thưa thầy, thế các vật méo có trôi được không ạ”. Thầy Chinh suýt văng tục, nhưng cố kiềm chế quát. “Thằng Hùng ‘dế’, ngồi xuống, ba con không”. Mẹ thầy Chinh là bà Cả Đích đạo gốc, bán bún ốc nổi tiếng phố Nhà Chung. Bà cứ gặp ăn mày là cho một bát canh ốc cay xè khách để thừa, tú ụ trộn cơm nguội. Lúc thầy Chinh “méo” cáu nhất thường cho bọn học dốt liền tù tì ba con một. Thầy Chinh giống tính mẹ nên cũng thương học trò. Cuối học kỳ, thầy tự động ân xá xóa đi hai con. Tôi chẳng nhớ thằng Hùng có được giảm án hay không, chỉ biết tổng kết cuối năm, Lý của nó chừng sáu phẩy mấy.

          Mẹ thằng Hùng rất hãnh diện khi thấy nó chơi thân với tôi, vừa con quan lại vừa học giỏi. Mẹ nó làm con dâu phố cổ, đảm đang buôn bán, nấu ăn ngon tuyệt vời. Mẹ thằng Hùng tuy chưa học hết lớp Hai, nhưng biết trọng chữ, huy động tổng lực cả nhà yểm trợ cho nó thi đỗ vào Bách Khoa. Tôi với nó được dành riêng một phòng trên gác ba, có quạt Sony để hẹn giờ. Chúng tôi khóa chặt cửa buồng xem video “con heo”. Cả tôi và nó đều thích phim “xếch” Á. Tôi nghiến răng, cuồng loạn nghĩ tới Hạnh. Còn thằng Hùng, mắt nhắm tịt, vào đoạn cao trào nó trắng trợn tụt quần xóc lọ. Mồm nó chảy dãi rên ư ử. Và khi nó phọt ra thì bao giờ nó cũng phải tiện tay đập một cái gì đó. Hôm nó đập vỡ cái lọ lục bình thì hai chị nó đang trông hàng dưới tầng một hốt hoảng chạy lên, gõ cửa lo lắng đòi vào. Thằng Hùng tồng ngồng quấn chăn đơn, mồm sủi bọt miễn cuỡng phải mở cửa. Hôm sau, mẹ nó gọi chúng tôi xuống quầy. “Các con học nhiều quá, điên mất. Chẳng thi đỗ thì đừng chứ thế này mẹ sợ lắm”. Tất cả những bà mẹ hơi dư tiền ở phố cổ đều sợ con mình học nhiều bị thành dở hơi. Có lẽ đây là nguyên nhân chính làm cho đám Hà Nội gốc có rất ít giáo sư tiến sĩ. Thằng Hùng bảo, tao với mày phải đi kiếm một con “phò” rồi dẫn về nhà mày. Nhà mày vừa vắng vừa rộng đéo ai để ý. Chứ cứ thụt tay kiểu này tao tức bụng chết mất.

          Hóa ra hai thằng mới mười sáu tuổi đi kiếm phò ở cái thời chưa có internet là chuyện không hề đơn giản. Hôm đầu, bọn tôi lượn quanh hồ Hale. Thằng Hùng đèo tôi trên cái “cub” 50 mới cáu cạnh màu ốc bươu. Hồ Hale đầy khả nghi, nhan nhản bọn ma cô lưu manh, nhưng đám nghiện hút thì chưa đông như bây giờ. Sẽ rất nguy hiểm cho hai thằng nhóc công tử phẳng phiu, tôi và thằng Hùng “dế” đủ thông minh để biết mà “té” sớm. Cách đây vài tháng túng tiền, thằng Hùng rủ tôi ra chợ Giời bán quả Le vít mỏ đỏ, quà tặng sinh nhật từ chị nó. Bọn buôn quần bò vừa trả rẻ vừa trắng trợn trấn lột. Không những thế, thằng Hùng tiếc của giằng co còn suýt bị ăn cả cái cối Tầu vào mặt. Hôm sau, bọn tôi đạp chiếc “Thống Nhất” cọc cạnh, chầm chậm men dọc đường Nguyễn Du. Khác với lời đồn, suốt hai bên vỉa hè quanh hồ vắng sạch đĩ điếm. Mãi thì cũng thấy chỗ bóng sẫm cây to gần ra rạp xiếc Trung ương, nơi đèn đường bị cố tình ném vỡ, thấp thoáng một nàng. Thằng Hùng lượn sát vào, chợt nghe tiếng cằn nhằn. “Đã bảo rút ngay ra để người ta còn đi tiểu thì lại còn cố”. Rồi một “nàng” lộ nửa người từ sau bức tường xây dở bước hẳn ra. “Nàng” không thèm nhìn bọn tôi, sỗ sàng tụt quần tồ tồ đái bậy. Nản quá. Thằng Hùng vẫn không bỏ cuộc, nó quyết định đi bộ. Hai thằng phì phèo thuốc, mặt cố giữ vẻ nghênh ngang lạnh. Có một hàng nước chè rong sập sệ với cái đèn dầu lập loè nham hiểm. Chủ quán là một thiếu phụ răng vẩu mặt đanh quắt, ế khách ngồi một mình. Thằng Hùng gọi hai chè chén, đệm một câu rất tục để tăng độ côn đồ, rồi ngậm lệch điếu “ba số” sành sỏi hỏi.

“Có hàng mới không”.

Thiếu phụ trắng dã nhìn, ngấm ngầm định dạng hai thằng nhóc ở loại gì, liếc rất nhanh cái dây chuyền ba chỉ lủng lẳng ở cổ mà thằng Hùng quên cất ở nhà, rồi buông thõng, mồm thối không thể tả.

“Sắp mùng một tháng năm. Cớm quây nhiều, bọn nó dạt hết rồi”.

“Thế không còn hàng nào sót thật à”.

Câu hỏi với vát kiểu trẻ con làm thiếu phụ thay đổi thái độ, khẽ nhếch mép cười khẩy.

“Còn, vừa bán trinh tháng trước nhé, ngon hết sẩy”.

Thằng Hùng huýt sáo, lại văng tục. Thiếu phụ chìa gói “Héro” mời hai người hùng.

“Bao nhiêu”.

“Giá chát đấy. Đi dù thì hai sọi”.

Thằng Hùng làm vẻ cò kè, nó có biết giá nào vào giá nào đâu. Túi nó có một xấp tiền, hôm trước nó rút tủ trộm của mẹ nó tờ 50 đồng xanh cốm. Khi đi ngang Cửa Nam, nó cẩn thận mua một bao “555” để đổi tiền lẻ. Năm 1987, nhà thơ Tố Hữu lên phó thủ tướng, nghĩ ra “chiêu” bù giá vào lương, mặc dù sau một năm đổi tiền lạm phát phi mã nhưng tờ 50 đồng vẫn cao giá kinh khủng. Con mụ bán thuốc lá đầu đường, gần như vét hết “bỉm” mới đủ tiền trả lại. Thằng Hùng rít dài một hơi “Héro”, thuốc nặng, nó ứa nước mắt cố ghìm ho.

“Bọn tôi có vòm muốn đi qua đêm”.

“Thôi xin hai bố. Con sợ mấy bố sinh viên lắm. Đi mặc cả thì có hai. Lúc lôi con người ta về thì gầm giường nấp thêm một rổ”.

“Đi dù” là một thuật ngữ thắng lợi phẩm mang từ bọn ngụy miền Nam ra, còn miền Bắc gọi là “tàu nhanh”. Thằng Hùng ô kê. Không điện thoại di động, cũng không có giao liên, chẳng hiểu thiếu phụ xi nhan thế quái nào mà chừng năm phút sau, một con phò xuất hiện. Tôi rùng mình, “nàng” trông giống hệt như chị em song sinh với thiếu phụ, khi nhăn nhở cười thì có vẻ đanh hơn. Ở tuổi đấy mà tháng trước vừa bán trinh, thì đạo đức đàn bà ở ta quả đáng tôn trọng. Thằng Hùng ngần ngừ. Thiếu phụ lạnh lùng nhìn đe doạ xuống bao 'Héro”, không phải ngẫu nhiên có đồ khuyến mại. Ở phía bên kia đường chợt hầm hè mấy bóng đàn ông đi dạo mát. Thằng Hùng hành sự ngay sau cây sấu có lõng bõng những vũng nồng nặc mùi khai. Đêm hồ nhiều gió nhưng ruồi nhặng vẫn bay vù vù. Tôi rùng mình, vô thức liên tiếp uống cả hai chén trà mạn đặc sệt để rồi đến nửa tháng sau vẫn mất ngủ. Thằng Hùng lóp ngóp đi từ sau gốc cây ra, mặt thằng con giời nhập nhoạng dưới ánh điện muộn trông hoang mang như thơ siêu thực, thiếu phụ bán nước hất hàm.

“Đến lượt ông đấy”.

Tôi nghẹn ngào ngắc ngứ lắc đầu.

“Chê à, hay muốn đây”.

Phía sau gốc cây sấu nheo nhéo một giọng cầu tõm.

“Còn chú nào thì vào nốt đi không ruồi nó bu”.

Khốn nạn cho thằng Hùng, không đầy bốn ngày sau nó bị “nổ ống khói”. Tôi chở nó đi tìm chỗ tiêm lanh cô xin mà sống lưng nhớp nháp toát lạnh mồ hôi. Đúng là ngu thì chết chứ bệnh tật gì.

          Tất cả những cơn cuồng điên trẻ con ở thời gian ấy Hạnh đều biết. Em hơn tôi 5 tuổi cơ mà. Em hiểu những cái nhăn nhó ở tôi, bởi đơn giản em là một thiếu nữ khoẻ mạnh. Và có thể em thương tôi. Tất cả các thiếu nữ còn trinh đều dễ xúc động và đều trong trắng. Ẩn ức nhục dục ở họ, nếu bột phát thăng hoa, đều mù lòa không vụ lợi. Chỉ đến khi trưởng thành bị số phận tính toán đẩy đi làm điếm hay làm vợ thì bọn họ mới bị bẩn thỉu tha hóa. Cứt, làm đĩ là thứ điếm ngắn hạn, còn làm vợ là thứ điếm dài hạn. Tôi một lần đã suýt lấy vợ, một cô giáo dạy văn, nên tôi ghét hôn nhân. Kể cả sau này, những lúc phóng đãng nhất tôi cũng không thể ngửi được bọn đàn bà đã có chồng. Về bản chất, bọn họ luôn sẵn sàng ngoại tình nếu như có cơ hội.

          Thi xong học kỳ 2 thì tôi ốm vật, nửa như thèm khát đuối sức nửa như cồn cào tương tư. Tôi vật vã ngủ, hai tay ghì chặt chỗ giữa hai bẹn. Hạnh nhìn qua khe cửa mà mỗi khi thằng Kun vào phòng không bao giờ khép chặt, em thấy tất. Em có yêu tôi không, chẳng biết, nhưng chắc chắn em rất lo là tôi thi trượt. Có một nghĩa vụ nào đấy như là em phải trả ơn cho nhà tôi. Tôi không biết, cho đến giờ mọi chuyện về em đều là suy diễn. Rồi một buổi chiều muộn đi học thêm toán về tôi bị nước mưa. Hạnh tan làm sớm, ngong ngóng cầm ô đứng ngoài cổng có vẻ như chờ tôi. Tôi lầm lì chui vào phòng, giấu hết mọi người, sốt run bần bật. Hạnh cầm cốc nước cam vào cùng thằng Kun, em để bàn tay mát lạnh lên trán tôi nóng bỏng.

“Khổ thân ghê”.

Nàng sai thằng Kun lẫm chẫm về phòng nàng đi tìm cặp nhiệt độ. Nàng khép chặt cửa, quay nhanh lại, để một nụ hôn thật dài lên má tôi. Rồi một nụ hôn lên mắt tôi đang vờ vịt nhắm nghiền. Rồi liên miên khắp mặt tôi. Nước mắt của Hạnh không nóng, nó mằn mặn mát. Đêm hôm ấy gần 11 giờ, vẫn sốt 38 độ rưỡi tôi vào phòng Hạnh. Cửa không khóa trong. Chúng tôi quằn quại vào nhau cho đến sáng. Người Hạnh rừng rực lây nóng từ tôi. Thân nhiệt của nàng, lúc tôi ào ạt xuất, không dưới 40 độ.

          Cái tháng trước khi thi đại học năm ấy là một thời gian tuyệt vời hạnh phúc. Hạnh ở bên tôi suốt, chăm sóc từng miếng ăn cốc nước. Em chiều tôi từng tí một, dịu dàng vô ngần, chỉ bắt tôi hứa là phải đỗ thật cao. Không hiểu sao, môn nào tôi học cũng thuận. Thày Toàn “ngố” xem tôi giải đề toán của bọn chuyên, đề thi học sinh giỏi miền Bắc, ngạc nhiên mặt cứ đần thuỗn ra. Tiếng Anh, tôi bị vấp nhất đoạn dịch ngược, thì giờ đây bỗng rầm rập trôi chảy như thằng cung văn vào nhịp ba dồn phách. Chúng tôi sờ soạng nhau suốt ngày, đến cao trào thì Hạnh nồng nhiệt chủ động. Nhà mỗi người một phòng nên chẳng ai biết cả, hai đứa chỉ đột ngột giật mình là đôi lúc ngu ngơ xuất hiện của thằng Kun. Hạnh là tổ sư của những trò đánh lạc hướng. Em khúc khích bảo riêng với tôi, đấy là bản năng của bất cứ ai phải ăn miếng cơm nhà người. Nói xong, chợt nước mắt em ứa ra. Đôi vai trần nức nở trắng trong ánh sáng nhờ nhờ. Mẹ tôi thấy Hạnh chăm tôi thì bà vui lắm. Nếu bà biết sự thật, chắc bà chết mất.

          Người ta có được quyền ngủ với em họ hay anh họ của mình không. Mãi mãi sau này và ngay từ hồi ấy, Hạnh liên miên bị dằn vặt. Tôi chưa thấy bị bao giờ. Tất nhiên sẽ là vớt vát được đạo đức, nếu chúng tôi chỉ yêu nhau thôi, yêu nhau sạch sẽ không giường chiếu. Nếu ai đấy có biết thì người ta cũng chỉ cho là một thứ bệnh hoạn. Lễ giáo phương Tây đỡ tàn bạo hơn phương Đông. Thì như Eugénie Grandet với cậu em họ Charles chẳng hạn. Nhưng chúng tôi đã làm tình với nhau, bất kể mọi chỗ, bất kể mọi nơi. Có những lần điên dại trong toalét. Có những lần mụ mị ngay bên cạnh bàn thờ gia tộc. Tất tất sẽ đồng thanh kêu đấy là tội lỗi. Nietzsche từng bảo, Ki Tô giáo bại hoại là vì nó xác định “đấu tranh với tội lỗi”. Còn Phật giáo cao hơn, chính xác hơn khi tôn trọng đúng mức thực tại “phải đấu tranh chống lại đau khổ”. Hạnh hối hận lắm, thỉnh thoảng lại vật vã khóc thầm. Tôi in ít thôi. Mọi sự sẽ là đạo đức khi người ta đê tiện chỉ nghĩ. Và mọi sự sẽ là khốn nạn khi người ta trót thực sự sống. Một kiểu sống bất kể được hay bị. “Một đức hạnh tất phải là một phát minh riêng của chúng ta. Thiết yếu thể hiện nhân cách và đề kháng riêng của chúng ta”. Tôi đang ở mộtnơi , tứ bề bị vây hãm bằng thành kiến. Một nơi hẳn không tha thứ cho những người mang bệnh giang mai như Nietzsche.

          Mùa hè năm 1992, tôi đã học hết năm thứ ba. Tôi bắt đầu thấy chán mọi thứ, đặc biệt là cái trường Ngoại Thương tôi đang học. Dạo đó tôi và Hạnh rất dễ cãi nhau, nhất là sau một lần nàng nhỡ có bầu. Nàng giấu tôi, âm thầm đến viện phụ sản và vì vội vàng Hạnh bị sót rau. Tôi vô tình thấy cái đơn thuốc kê đầy kháng sinh nàng dúi ở dưới gối. Tôi gằn giọng.

“Tại sao không bảo”.

Hạnh khóc, chưa bao giờ và cũng chẳng bao giờ tôi thấy ai khóc như thế. Tôi cau có.

“Sợ đẻ ra đứa con có đuôi à”.

“Quang Anh làm ơn đi ra ngoài đi”. Hạnh nức lên.

Tôi sập rầm cửa. Cũng có thể tôi chẳng biết gì cả. Năm ấy tôi mới hai mươi tuổi.

          Hạnh kiên quyết tránh mặt tôi, và tôi cũng cóc cần. Tôi cũng đã có bạn gái, một con bé học nhạc viện mười tám tuổi. Bố nó thổi sáo, mẹ nó đánh đàn bầu ở dàn nhạc dân tộc, nên đi Tây biểu diễn suốt. Nhà nó ở khu tập thể, đủ vắng cho hai đứa chồm chồm lên nhau suốt giờ người lớn đi làm hành chính. Nó bấm tóc “hỉ nhi”, cuồng nhiệt thích nhảy đầm, thích mua hàng hiệu, thích ăn ngon, thích những đứa ca sĩ nổi tiếng. Rồi thích blowjob. Tức là đến năm nay, 2012, sau hơn hai mươi năm bọn con gái bây giờ cũng thích y như vậy. Một buổi chiều, Hạnh bảo tôi ra một quán cà phê, đấy là buổi chiều cuối cùng của chúng tôi. Tôi làm lành và nói chuyện tôi quyết định đi Mỹ học. Những năm đó Việt Nam đang cựa quậy đổi mới nhưng đi học đại học ở Mỹ thì vẫn là chuyện khủng khiếp. Rất ngạc nhiên đấy lại là ý tưởng của bố tôi, một ông già mang vẻ cộng sản đã 72 tuổi.

“Bao giờ thì Quang Anh đi”.

Hạnh xanh xao hút thuốc nhìn trời mưa. Cho dù đã suốt ba năm rưỡi có nhau, Hạnh xưng hô với tôi vẫn kiểu ngô nghê trẻ con như buổi đầu.

“Hay là bác biết chuyện gì về Quang Anh”.

“Không, ông ấy chẳng biết cái gì đâu”.

Rồi tôi nói dài, tôi bảo là tôi không hiểu tại sao thấy chán hết mọi sự. Tôi nói hoàn toàn thật lòng không một chút giả vờ. Hạnh vừa ho vừa châm điếu thuốc mới. Đây là lần đầu tiên tôi thấy Hạnh hút thuốc.

“Sang tháng sau thì Hạnh cũng đi xa, giấy tờ lo xong hết rồi”.

“Đi đâu”.

Hạnh cúi mặt khóc, đôi vai tròn nghèn nghẹn nức nở. Tôi định cầm tay Hạnh. Hạnh giật ra. Ở chỗ đông người chúng tôi chẳng bao giờ cầm tay nhau.

          Mười ba năm sau tôi có sang Đức đi tìm Hạnh. Tôi đã phải mất nhiều công sức để biết Hạnh ở đâu. Tôi thấy Hạnh thật già và thật buồn. Nàng không có con. Chồng nàng là một kiến trúc sư tỉnh lẻ, nửa Đức nửa Thụy Sỹ, mỗi khi ngậm tẩu rít thì trông đẹp và hiền. Chúng tôi ngồi uống ba lăng nhăng ở đầu hiên nhà, xung quanh hiu quạnh là cả một bìa rừng. Tôi hỏi chồng Hạnh là tên thị trấn này nghĩa là gì. Hạnh giới thiệu tôi là con bà bác ruột và khi chồng nàng quay vào lấy thêm bia thì Hạnh bảo tôi, Quang Anh nên đi đi.

          Tôi bắt taxi đi ra ga vào lúc tám rưỡi tối muộn. Từ đây tàu hoả chạy xuống Berlin sẽ mất cả đêm. Tôi ngồi trong quán ăn ở sân ga uống mấy ly whisky chờ tàu. Xa xa, những vệt núi đen sẫm, mỏm hình như trắng tuyết, lạnh lẽo chập chùng. Tôi vùi mặt vào balô, cố ngủ gật.

Thứ Sáu, ngày 18 tháng 7 năm 2014

Ba ngôi của người (trích)

Bắt đầu màn Who's Who. Dù câu chuyện đây đó ngoài đời có, nhưng đọc vẫn có cái thú vị. Trích "Ba ngôi của người", Nguyễn Việt Hà, NXB Trẻ, 2014. 




Tôi tuyệt không hề biết cái con bé tập tọng người mẫu trượt khỏi cuộc thi tuyển vai nữ dâm đãng trong cái phim chó chết ấy lại chính là người yêu của cháu tôi. Đây là bộ phim nhựa thứ hai mà công ty tôi đầu tư. Cái phim đầu “Trai sàn và thần chết” thành công tới mức chính tôi cũng choáng. Thằng bạn học từ hồi làm master bên Virginia gọi tôi chung vốn, lành nghề buôn phim Mỹ nhập, rủ rê. Rồi đây nó cũng rủ rê cướp mất người yêu của cháu tôi. Hôm chia lãi, nó đắc ý cười nhiều làm lưỡi bị chuột rút phải đi cấp cứu, rồi thành thằng nói ngọng. Trả lời phỏng vấn cho một tờ lá cải, tất nhiên không được đăng, nó bảo điện ảnh của nước ta như “nồn”. Phim lần trước tôi góp 50/50, còn lần này thì tôi cũng biết vài mánh rồi nên quyết định bỏ hai phần ba vốn. Kịch bản bám chặt thị trường, tạm có tên là “Hot girl nổi điên” do một thằng xuất thân tấu hài chấp bút. Thằng tấu hài cộng tác với một thiếu phụ sồn sồn, chuyên viết phóng sự hồi hộp gay cấn cờ bạc đĩ điếm vũ trường và một con bé gầy gò ế chồng sở trường phỏng vấn chọc ngoáy các ngôi sao showbiz. Cả hai con kền kền này đều khét tiếng là hung thần của giới kinh doanh giải trí vì tài năng thóc mách lôi chuyện kín của bọn ca sĩ diễn viên. Rồi đây một trong hai nàng bị đi tù, tội danh là “vu khống”, bởi chọc ngoáy đúng vào đời tư một nữ ca sĩ sắp thành con dâu của một ông tướng. Tôi ghê tởm khi phải đọc duyệt scenario nhưng biết sẽ là một thứ cực kỳ ăn khách. Nó có cái ồn ào vui tình huống của vỉa hè Sài Gòn, pha thêm rất nhiều những “xen” hung hăng đấm đá lẫn lộn quyến rũ cởi truồng. Đã thế, thằng tấu hài còn biết cách ăn cắp rất khéo vô vàn chi tiết đắt của các phim Hollywood. Về ăn cắp vặt thì người mình là tổ sư. Và quan trọng nhất nó xác định được rõ ràng đối tượng khán giả, đó là bọn “tin tin” nông nổi đầu đất của hôm nay. Bọn này hồi ỉa bô thì xem lăng nhăng hoạt hình, lớn hơn tí nữa thì cắm đầu vào truyện tranh. Tới khi hạ bộ lơ thơ lông thì há hốc mồm đần độn cười, say mê cặp danh hề Xuân Bắc Tự Long. Còn nghe Mr. Đàm nức nở, thì nước mắt nước mũi lã chã. Đại loại, ngu như một con milu.

          Tôi quyết định đổ vào phim đấy 12 tỷ, chiến dịch PR bắt đầu ngay từ vòng sơ loại rùm beng diễn viên. Hôm casting thế quái nào tôi lại đến. Cũng có thể mấy hôm trước tôi vô tình liếc qua cái đống CV có dán ảnh quá khổ 6x12 lộn xộn chất cao như núi, tôi nhang nhác thấy những nét chân chất nồng nàn nửa quê nửa tỉnh rất đặc trưng cho mối tình đầu của tôi. Hình như tôi vẫn chưa quên được Hạnh, tôi vẫn cồn cào thèm nhớ em. Mưa đầu mùa ở Hà Nội là thời gian bắt đầu chúng tôi yêu nhau, yêu nhau thật bằng xương bằng thịt. Em quyến rũ tôi hay tôi quyến rũ em, bởi lúc ấy tôi chỉ là thằng nhóc mười sáu tuổi. Hơn nữa, vào khoảng cữ này của hai mươi năm trước, Hạnh quyết định vĩnh viễn xa tôi.

          Căn phòng rộng chừng 70 mét vuông ở tầng ba, được thuê lại từ bọn cho thuê váy áo cưới được liều lĩnh gọi là studio, chật nghẹt đám nhóc mười tám đôi mươi. Tôi đến hơi trễ, lúc bất lực chen qua tầng một tôi đành phải gọi con bé Hiền giám đốc điều hành sản xuất trưởng ban tổ chức cuộc thi, nhân viên của tôi. Nó quá ngạc nhiên, lập tức cử hai thằng cao mét chín đồng phục loang lổ lính dù, một trước một sau mở đường cho tôi vào. Bọn trẻ bây giờ tồn tại bằng ồn ào truyền thông, nhất là đám hừng hực nhà quê đang tìm việc. Truyền hình quảng cáo chương trình thi tuyển diễn viên bằng clip 45 giây. Một Limousine Chrysler 300c chở đoàn sẽ là làm phim chạy ven bãi biển cỡ như Bali hay Phuket thẳng tiến tới bữa tiệc đầy hự tôm hùm. Con bé Hiền tinh quái còn tiếp thị trên báo giấy báo mạng mấy chiêu nhái kiểu bọn thi ca sĩ “ai đồ” và người mẫu “nếc tóp mo đồ”. Bọn trẻ phát điên kéo nhau xếp hàng đôi nộp lý lịch trích ngang. Một thế hệ rỗng tuếch vô đạo không lý tưởng, nhỏ dãi nhảy chồm chồm trước tiện nghi vật chất. Mà bình tĩnh sao được khi bọn nhà đài tưởng tượng hộ cho cái cảnh thiên đường. Hôm qua còn chân đất mắt toét nói ngọng, hôm sau đã nõn nà mặc đồ hiệu văng hê lô cưỡi du thuyền. Thằng đạo diễn tóc đuôi gà rất tự hào với nickname “khùng” hớn hở mời tôi ngồi vào chính giữa ban giám khảo. Tôi ừ, với điều kiện không được giới thiệu tôi là ai. Tôi nhấp một ngụm to nước lọc, tò mò muốn xem bọn thiếu nữ bây giờ “nổi điên” để thành “hot girl” như thế nào.

          Giám đốc điều hành phần phim phọt của công ty tôi đã hơn ba mươi tuổi xấu gái chưa chồng nên đương nhiên sẽ tốt nghiệp Harvard về. Nó thô bạo bảo tay diễn viên đẹp giai vào vai giám khảo là Sạcly Trần hay Nguyễn gì đó, ngồi dịch ra để lấy chỗ cho tôi. Tất cả những đứa học giỏi chưa chồng mà lại tên là Hiền thì đều đại ác. Thằng đẹp giai chắc tủi thân lắm nhưng đành miễn cưỡng nhấc mông, mặt cao đạo nhăn nhó như bọn đương quan chức bị báo chí phát hiện mua nhầm phải bằng giả. Con bé Hiền kệ mẹ nó, hỏi tôi có muốn làm một ly whisky không. Tôi giữ hòa khí, lắc đầu. Thằng Sạcly quay sang làu bàu, nhỏ to nửa như phân trần nửa như ca thán với nữ giám khảo bên cạnh. Nàng này thì tôi biết, đã có một thời là ngôi sao rực sáng của điện ảnh phía Bắc. Cũng như nền điện ảnh mậu dịch quốc doanh, đã bất tài lại còn cao đạo, nàng đang chìm dần chìm dần, cố bồng bềnh mặt bằng vài phim truyền hình xoen xoét những con dâu chửi nhau với mẹ chồng. Ngôi sao giờ đây không còn cánh, núc ních tròn xoe toàn mỡ đốt thuốc liên tục. Tôi cũng châm thuốc hút. Cả bốn đứa giám khảo đều xuất thân diễn viên, ngay cả thằng đạo diễn cũng xuất xứ là công nhân nói, vậy lấy đâu ra trí tuệ. Con bé Hiền liếc nhanh tôi, rồi ghé tai thì thầm.

  “Sếp phải thể tất chứ. Thì đây là casting diễn viên mà”.

  Tôi trả lương con bé Hiền một tháng tròm trèm ba nghìn đô Mỹ, nó thông minh đáng giá từng xu.

          Tôi chẳng buồn nhớ cũng như chẳng buồn kể về cái cuộc thi tuyển lố bịch xuẩn ngốc mà bọn trẻ bực tức đã giăng clip quay trộm lên đầy mạng, nếu như không có Mộc Miên. Em làm tôi khe khẽ choáng với vẻ ngoài cực kỳ trong trắng thiếu nữ nhưng lúc đi lúc đứng lại đẫm đầy nhục dục đàn bà. Áo sơ mi thụng bỏ lơi cúc phập phồng ngực, rất có gu với cái quần tất xanh đen bó chặt cặp đùi dài. Hồi Hạnh học năm cuối, vì chiều tôi hay cố tình khiêu khích tôi, cứ mặc đi mặc lại nhang nhác một kiểu này. Ngôi sao cụt cánh ra đề rất chi là ngu.

  “Em hãy tưởng tượng là em vừa mỏi mệt đi diễn về. Khi mở cửa buồng ngủ thì thấy chồng em đang nằm trên giường với một cô gái khác”.

Đúng là cái ám ảnh của đời thực đã khoét sâu vào bộ nhớ của minh tinh cánh cụt. Tôi đã đọc đâu đó một trang báo mạng mang tên là con sâu cái kiến hay là tằm là bướm gì đấy, có bài viết nửa kín nửa hở về đời tư của minh tinh. Thằng chồng hành nghề họa sĩ thiết kế cùng đoàn, bị bắt quả tang khi đang lõa lồ trong phòng ngủ với một nữ đồng nghiệp, bạn nối khố của nàng. Con khốn nạn kia cứ tưởng nối khố là phải chung khố. Khổ thân, thù dai như thế sao lúc ấy không cắt mẹ cái của nợ của thằng chó đi. Chỗ đấy có ưu điểm là rất thuận tiện cầm, và chưa kể, cái đấy bị cắt thì cũng không quá nguy hiểm. Báo chí tuần nào chẳng đăng tin. Các bác sĩ khả kính ở học viện quân y khẳng định, nối cái đấy dễ hơn nối khố. Đấy là chưa kể có đứa ngây thơ như thằng Đông quê “thái lọ” học cùng tôi. Năm thứ hai lúc vỡ tình, thằng Đông có nghẹn ngào lẩy “hai sắc hoa tigôn”. Nếu biết rằng mai em lấy chồng. Anh về cắt cặc thế là xong. Bọn cùng lớp thương thằng ngu ấy quá có họa thêm.Những tưởng ngày mai nó mọc lại. Ai ngờ chờ mãi cũng như không. Còn bây giờ, cuộc ly hôn đã gần sáu năm rồi mà minh tinh vẫn không quên. Freud tiên sinh dạy, ở những nghệ sĩ lớn, các đau đớn ám ảnh thường ẩn ức rồi bất chợt thăng hoa thành vấn nạn nghệ thuật. Hình như ẩn ức của nàng hôm nay đã xót xa thăng hoa.

          Mộc Miên diễn xuất rất tệ, có lẽ do xem quá nhiều phim Việt trên tivi. Em nghiến răng nhíu mày, vung chân vung tay đập phá. Trước em, đã có một con bé nói ngọng giọng Hải Dương vú quả mướp, hung hăng miêu tả nỗi đau bằng cách tự vả đôm đốp vào má mình. Em có vẻ còn nguy hiểm hơn. Tôi thật sự hoảng hốt khi Mộc Miên vớ ấm chè đang để trước mặt tôi. Thằng đạo diễn chánh chủ khảo rụng rời tóc đuôi gà hoa tay xì tốp, chắc nó đã tích lũy được nhiều thê thảm kinh nghiệm trên phim trường lúc bọn diễn viên được yêu cầu xuất thần hoá thân bỗng lên đồng tát cho vào mặt. Thiên hạ đồn rằng, đã là đạo diễn tài năng yêu nghề thì phải gẫy hết cả răng lẫn lợi. Không phải ngẫu nhiên mà tiền bảo hiểm thân thể cho đạo diễn ở ta giá suýt soát ngang bằng với võ sĩ đấm bốc. Tôi nhìn sâu vào mồm thằng đạo diễn nhân lúc nó mải giảng giải cho Mộc Miên về cách tiết chế cảm xúc, làm thế nào mà vừa bùng nổ như hỏa diệm sơn lại vẫn lạnh lẽo như núi băng Nam cực. Hai răng cửa thằng này đều sứt, chứng tỏ nó là một đạo diễn tâm huyết với nghề. Điện ảnh ở ta lụn bại chắc là do có quá nhiều những đạo diễn răng lợi đầy đủ.

          Đến lượt thằng Sạcly ra đề, đã đẹp giai lại còn mặc áo “bo đì” ngồn ngộn như thế, thể nào mà chẳng hỏi về đồng tính. Bỏ mẹ, nó hỏi thật.
“Em nồng nàn yêu một người con trai được gần ba năm. Bỗng một ngày em mỏi mệt đi làm về, thì thấy anh ấy đang ở trên giường với một người đàn ông khác. Hãy diễn tả tâm trạng lúc ấy của em”.

  Tất nhiên lại nghiến răng lại mím môi lại khóc lóc. Ra đề như vậy thì đến cỡ đại tổ sư Jodie Foster cũng phải câm lặng như cừu. Hai giám khảo còn lại không hẳn ngẫu nhiên đều chốc mép, cũng thăng hoa trên nỗi đau của riêng mình, tiếp tục hỏi tương tự như vậy. Thích thủ dâm đến thế nên bọn nghệ sĩ hay bị bệnh tay chân miệng. Tới lượt một nàng thành danh là biên kịch có biết làm thơ. Ngày xưa nàng là diễn viên Tuồng, còn ngày nay vừa hành nghề đầu nậu kịch bản truyền hình vừa kiêm cò đất, chuyên buôn đi bán lại mấy căn hộ chung cư cao cấp. Gần đây nàng cụt vốn vì liên tiếp bị ba trung tâm sàn giao dịch bất động sản lừa. Nàng the thé hỏi với ngữ điệu của người sắp chết đuối.

  “Em hãy tưởng tượng là mình luôn nhân văn tin người. Em đem hết vốn liếng đầu tư vào một căn nhà mặt tiền phố cổ. Thế nhưng người ta đã nói dối em, căn nhà hoàn toàn chưa có sổ đỏ đang bị tranh chấp dữ dội. Hãy diễn tả sự tuyệt vọng ở em”.

Mộc Miên đương nhiên bị trượt, tổng số điểm của em quá thấp. Nàng giám khảo “sổ đỏ” chân thành thở dài, cho em năm cộng trên thang mười. Cả bốn đứa giám khảo đều ngu ngốc bằng nhau, đều không nhận ra ở em có cái chất “điên” khao khát muốn được làm nghề. Cái phim sắp tới không cần lắm bọn có tài, chỉ cần sự nồng nhiệt. Đến giờ giải lao, tôi vẫy tay gọi giám đốc Hiền.

  “Anh chấm con bé thí sinh số 19”.

  “Sếp à, nó chỉ được hai mươi mốt điểm”. Giám đốc phim của tôi tủm tỉm. “Ngoài kia còn mấy con bé trong trắng xếch xi lắm”.

  “Anh về đây. Anh vẫn chấm nó. Cho nó số điện thoại cầm tay của anh”.

  Thằng tóc đuôi gà luẩn quẩn cạnh tôi hóng hớt nghe lỏm. Phim này là phim nhựa đầu tay của nó. Suốt từ hôm nó biết tôi chọn nó làm đạo diễn, nó thăng hoa bay bay như Tôn Ngộ Không đang cân đẩu vân. Tôi đã xem bộ phim truyền hình mười lăm tập nó làm. Trước đó, tôi xem một bộ phim ngắn giả nhựa nó tranh giải nhưng trượt. Nó rất “khùng” và có tài năng. Một thứ tài năng của thời này, không thích tuẫn tiết vì nghệ thuật và sẵn sàng bán mình, tất nhiên là giá phải cực cao. Cái kịch bản lần này như là được viết riêng cho nó. Tôi đã xem trộm những phần nó sửa trên kịch bản rồi tâm huyết thêm vào. Tuyệt vời là sáng tạo. Nó quần quật thức đêm ròng rã gần hai tháng. Cái đuôi gà của nó xác xơ hẳn đi, âm thầm lẫn vào đó là mấy sợi bạc. Chưa nói đến chót vót nghệ thuật, chỉ cần mới là giải trí trò chơi thì sáng tạo luôn là nguyên lý khởi thủy. Đã thế, phim ảnh cũng giống hệt như bóng đá, không có người xem là vô nghĩa. Đừng so với văn chương hay hội hoạ. Tính thể loại khác nhau thì feedback khác nhau. Mấy đạo diễn già nhạt hoét làm ra vẻ “gạo cội”, hồi xưa suýt đúp khi học ở Vờ Gích, bây giờ trịch thượng ra mặt khinh bỉ phim thương mại của những đạo diễn trẻ. Mấy tay ấy không thể hiểu một điều đơn giản rằng, ở sự phát triển lành mạnh, muốn chứng minh cái kia là dở thì cái của mình phải hay đã. Còn không, chỉ là sự đố kỵ bì tỵ đầy nhỏ mọn tiểu khí. Cái Hiền quay sang nói nhỏ với tóc đuôi gà và thằng đạo diễn cố tình nói to cho tôi đủ nghe.

  “Sếp của em tinh mắt thật. Thí sinh đó hoàn toàn hợp vai con Lan “cave”. Phụ thôi, nhưng so thời lượng với các vai phụ khác thì thế cũng là nhiều. Một vai diễn có thân phận”.

  Bố ông, ông láu lắm, điên đếch gì mày. Có điều thằng này nói đúng. Ở Việt Nam, các nữ diễn viên cả chuyên lẫn không chuyên khi vào vai cave đều “hạp”. Thằng Sạcly và minh tinh cụt cánh tự ái thực sự. Hai đứa làu bàu với nàng “sổ đỏ” những là trọc phú những là ngoại đạo lại thích tỏ vẻ chuyên môn. Tôi điếc, hy vọng thù lao phong bì sẽ giảm nhiệt mấy bầu máu nóng đang chính trực sôi sùng sục. Tôi đứng lên ra về, vẫn phải đi cùng hai thằng vệ sĩ mét chín. Đã gần ăn trưa mà đám nhóc càng ngày càng đông. Chỉ số hoang tưởng của bọn trẻ Việt chắc phải top 3 thế giới. Cái Hiền mồ hôi mồ kê đuổi theo phía sau, nó hổn hển.

  “Thí sinh số 19 muốn gặp anh bất cứ lúc nào. Sếp cho nó cái hẹn để nó phấn khởi”.

  “Được. Trưa mai, nhà hàng Nhật, Mai Hắc Đế”.

  Sáng ngày kia tôi phải bay Phú Quốc, thằng Thông con ông Thống bộ trưởng rủ tôi cùng làm thịt một cái ngân hàng nhỏ. Hai bố con nhà đó cùng ngành, nên có tốn kém cắn răng rửa tiền thì bắt buộc phải có người thứ ba. Còn sang tuần, tôi phải đi Mỹ bốn ngày, theo đoàn thương gia tháp tùng thủ tướng. Lịch của tôi tràn ngập bận.

        Mộc Miên đến đúng hẹn, đúng từng phút luôn. Phụ nữ khi đã ham muốn quyết liệt thì thường thăng hoa chính xác. Nàng mặc một cái đầm nhã, nhái hàng hiệu. Cổ khoét rộng lộ ngấn ngực vừa phải. Ở chỗ khe trũng mịn màng lộ một mặt dây chuyền vàng Tây đì zai chữ V&M rất tinh tế. Mãi mãi sau này tôi mới biết đấy là quà tặng của thằng Kun. Ôi, cháu tôi, cứt thật.

  “Em không biết ăn mấy món này đâu”.

  Một câu hơi quê nhưng giọng thì thật Hà Nội. Có lẽ nhà nàng ở ngoại thành, đại loại là quanh khu tập thể Thanh Xuân gần gần Hà Đông chẳng hạn.

  “Anh cũng ghét đồ uống Nhật nhưng chẳng biết chọn quán nào”.

  Bọn Nhật lùn bày biện thức ăn thì điệu đà chẳng kém gì người Huế. Sashimi xanh xanh đỏ đỏ xếp đầy một khay giả sơn mài hình dáng như cái thuyền. Tôi không uống sake, lấy một chai Ballantines 17, rót cho em ngang suất của tôi. Mộc Miên vô thức cầm chai whisky, vẻ buốt nhói chợt như nhớ về một cái gì đó. Đàn bà khi phải ân hận thì trông cũng rất dâm.

  “Em xem phim “Sắc, Giới” chưa”.

  “Em xem cả “Brokeback Mountain” rồi. Còn “Lust, Caution” thì em thích trường đoạn Thang Duy hát ở cái nhà hàng giống như thế này cho cái ông người tình”.

  “Thằng ấy là trùm cớm, còn anh là thằng trùm tội phạm”.
Nàng cười hồn nhiên, thông minh lắm. Tôi thích đàn bà dày trải nghiệm nhưng ghét bọn con gái thành thạo. Tôi cảm tình em, con gái thì phải thơ nhưng đừng ngây. Ngoài biết chuyện khoe ba vòng thì phải biết dịu dàng khoe kiến thức. Nàng rất giống Hạnh của tôi.

  “Em đã từng đóng phim chưa”.

“Em cũng thử vài lần. Có một lần em suýt được vai chính nhưng cuối cùng bọn em cãi nhau”.

  “Thằng già đó chắc là đạo diễn”.

  “Không, anh ấy là biên kịch, xuất thân nhà văn”.

  “Ừm. Anh ta có vợ già và hai đứa con lít nhít bé”.

  “Sao anh biết. Hai đứa con thì không bé lắm nhưng vợ thì bằng tuổi”.

  Nàng vừa trả lời vừa chân thành ngạc nhiên, không diễn. Đàn bà còn biết ngạc nhiên là còn trong trắng.

  “Rồi thằng già đó rủ em đi nhà nghỉ”.

  Nàng nhìn tôi. Có cái gì đấy bàng hoàng khi phải đối diện với trắng trợn.

  “Anh xin lỗi, anh không muốn tò mò vào chuyện riêng tư của em. Mà thôi, thực ra câu này cũng là câu cưa gái. Anh không cưa em. Anh gặp em vì thấy em hợp với cái phim của anh”.

  Tôi rút tập kịch bản đã được ép bìa giả da để lên mặt bàn, nàng háo hức nhìn. Tôi không hiểu tại sao bọn giám khảo hôm qua không cho đám dự thi diễn xuất thẳng từ những trích đoạn ở kịch bản này. Ngu thì cũng ngu vừa vừa thôi chứ.

  “Trước khi đến gặp anh, em có hỏi một vài người về anh”.

  “Bọn nó bảo sao”.

  “Tất cả đều nói là anh ghê gớm đến khủng khiếp”.

  “Có thể tất cả cái bọn em gặp đều đang nợ tiền anh. Em đừng có nghe đài địch”.

  Nàng cười, vẻ mặt đã bớt hồi hộp. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn không biết lúc ấy nàng đã biết thằng Trần Khôi Việt là cháu của tôi không. Thằng Kun khẳng định là không. Tôi và Mộc Miên song ẩm hết gần nửa già chai Ballantines 17. Chẳng có gì sau đấy cả, vì hôm ấy càng uống bỗng dưng tôi càng buồn. Lâu lắm rồi, tôi mới da diết dằn vặt nhiều như thế. Thằng Kun bảo nhiều lúc tôi cũng sến khủng khiếp. Nếu Mộc Miên không giống Hạnh, thì hôm ấy tôi đã rủ nàng về khách sạn của tôi. Sau Hạnh, không biết bao nhiêu lần tôi đã ngủ với bao nhiêu đàn bà. Hình như Mộc Miên cũng có ý quyến rũ tôi, ngấn ngực của nàng không vô tình lắm, lồ lộ. Mà tôi cũng đếch cần các nàng nghĩ ngợi gì, có điều, tôi chưa muốn thôi. Tôi tự hứa thầm với mình, sau chuyến đi Mỹ về tôi sẽ rủ bằng được Mộc Miên đi làm tình.

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ