Thứ Hai, ngày 20 tháng 10 năm 2014

Sự quyến rũ của thuyết âm mưu

Một cuốn sách có thể hay theo nhiều cách. Nhưng hay mà gây ngạc nhiên mới khó ở cái thời có lẽ chẳng còn gì là ngạc nhiên nổi. Ngạc nhiên từ cái tên trở đi, ngạc nhiên từ cách chắp nối các dữ kiện, cuốn sách của Jonas Jonasson - Cô gái mù chữ phá bom nguyên tử lấy quan hệ chính trị giữa các quốc gia trên thế giới để làm chất liệu.




Mặc dù truyền thông cứ mặc định rằng tiểu thuyết diễm tình, kỳ ảo hay trinh thám mới ăn khách, nhưng dòng sách có nội dung các sự kiện lịch sử - chính trị lại hay có bom tấn. Những cuốn hồi ký của vợ chồng Bill Clinton hay tổng thống đương nhiệm Mỹ Obama bán rất chạy. Ở đây, Cô gái mù chữ phá bom nguyên tử dựa trên những dữ kiện lịch sử có thật để hư cấu nên một không gian hấp dẫn, bởi nó đánh đúng vào... sự tò mò của công chúng. Họ muốn biết thâm cung bí sử, hậu trường của quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia, chuyện quan điểm của nhà nước Thụy Điển với Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, giữa các nước phương Tây với Nam Phi thời dưới chế độ Apartheid, hay giữa Israel và phần còn lại của thế giới... Chả thế mà vụ Wikileaks và Edward Snowden khiến truyền thông thế giới sôi sùng sục lên, dù có vẻ không mỹ nhân hay ngôi sao biểu diễn nào liên quan.

Tác giả Jonas Jonasson là người Thụy Điển, một xứ sở có lẽ cũng lạ lùng khi xếp loại hệ thống chính trị quốc gia này. Là nước dân chủ nhưng vẫn còn vương triều, là nước có lẽ chẳng có gì nổi bật ngoài tài nguyên là trí tuệ con người và giải Nobel. Đấy là ấn tượng hồ đồ thế, còn trong cuốn tiểu thuyết này cũng như cuốn sách đầu tiên của cùng tác giả, mang cái tên khá dài - Ông trăm tuổi trèo qua cửa sổ và biến mất, Thụy Điển là một đất nước của những người kỳ quặc, kỳ quặc có nguyên tắc và cũng rất đáng yêu. Ở đất nước nào nhà vua sẽ vui vẻ đi giết gà làm thịt và thủ tướng xắn quần nhổ khoai tây để làm bữa tối? Tác giả trả lời là Thụy Điển.

Độc giả đã đọc cuốn sách trước sẽ gần như duyệt lại lịch sử thế giới thế kỷ 20 qua cuộc đời của ông cụ Allan Karlsson, người mà vào lúc tròn trăm tuổi đã bỏ trốn khỏi nhà dưỡng lão, để cùng lúc nhắc nhở thiên hạ rằng những bóng ma quá khứ hãy còn sờ sờ ra đấy, rằng cụ ta - như một bằng chứng sống của lịch sử - còn dư sức làm loạn cái thế gian này. Cuốn sách mới này, đương đại hơn, với nhân vật chính bắt đầu cuộc phiêu lưu từ những năm 1960 ở Nam Phi. Nombeko, một cô gái da đen làm nghề nôm na là đổ thùng - dọn vệ sinh ở thành phố Johannesburg, đã bắt đầu hành trình can dự vào lịch sử một cách cũng đầy bất định: phục vụ cho một quan chức chủ trì dự án bom nguyên tử của nhà nước Nam Phi, có mối liên hệ với đặc vụ Israel, gặp Hồ Cẩm Đào khi ông ta hãy còn là một cán bộ cấp trung trưởng thành từ phong trào Đoàn thanh niên tỉnh Giang Tô đi công cán châu Phi... Rồi Nombeko gặp rắc rối khi phải xử lý quả bom nguyên tử bị gửi nhầm đến Thụy Điển. Đến đây câu chuyện mới thực sự là trận địa để tác giả tung hoành: hai anh em sinh đôi Holger thể hiện hai thế giới quan, hai cách phản ứng với trật tự xã hội Thụy Điển, một đeo đuổi những lý tưởng vĩ mô, một duy lý đến chi tiết. Nhân vật của chúng ta rồi sẽ phải đi với những mâu thuẫn của hai thế giới ấy, trong những xung đột tức cười đến phi lý không thể tưởng được. Những điều ta thấy phi lý lại là cách các nền chính trị ngoại giao thế giới vận hành, như cách quan niệm của tác giả ẩn ngầm bên dưới.

Cô gái mù chữ phá bom nguyên tử là một trò chơi của chủ nghĩa phi lý, những câu chuyện bịa giống như đầy rẫy những thuyết âm mưu trên các trang báo phân tích chính trị salon. Chắc gì có chuyện hãng Electrolux bán cho Chủ tịch Trung Quốc 68.742.000 cái ấm điện với giá rẻ để làm quà tặng cho toàn bộ các đảng viên trong khi ai cũng biết Trung Quốc sản xuất mặt hàng này đầy ra với giá rẻ không đâu cạnh tranh được. Hay chuyện chuyến bay chuyên cơ của ông Hồ Cẩm Đào sẽ mang theo quả bom nguyên tử bị thừa cùng chiếc xe Volvo tặng cho nguyên thủ Trung Quốc và con ngựa biếu phu nhân Lưu Vĩnh Thanh. Câu chuyện kết thúc xanh rờn với sự yên tâm rằng quả bom sẽ được dùng vào mục đích tốt đẹp.

Jonas Jonasson đã làm một việc mà như nhà phê bình văn học Roland Barthes đưa ra, đó là "đọc lại". Ông giúp chúng ta tiếp cận lịch sử, đọc lại những câu chuyện về thế giới thông qua cách viết cường điệu và giọng hài hước tràn ngập. Trên cơ sở những thông tin lịch sử đã có vẻ chắc chắn, Jonasson thạo những ngón nghề của truyền thông để như làm ảo thuật. Thấp thoáng một quan niệm hư vô chủ nghĩa trong cách tác giả nhìn thế giới. Cô gái da đen Nombeko tiếp bước ông già trăm tuổi Allan, gợi nhớ đến chàng khờ Forrest Gump, lưu lạc trong nhân gian này, để cho người đọc thấy những trò chơi chính trị có tuổi thọ mới ngắn ngủi làm sao. Xét cho cùng, thuyết âm mưu có bao giờ thôi quyến rũ người đọc?

Nguyễn Trương Quý
(http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/diem-sach/co-gai-mu-chu-pha-bom-nguyen-tu-su-quyen-ru-cua-thuyet-am-muu-3095918.html)

Thứ Ba, ngày 14 tháng 10 năm 2014

Tái ngộ Hồ Cẩm Đào (Cô gái mù chữ phá bom nguyên tử)

Nếu cuốn trước, Ông trăm tuổi trèo qua cửa sổ và biến mất, bóng gió xa xôi hoặc chủ yếu cho nhân vật "giao lưu" với các lãnh đạo quá khứ, thì cuốn này, Cô gái mù chữ phá bom nguyên tử chơi luôn Hu Jintao - tức President Hu, vâng, đúng Hồ Cẩm Đào. Có cả phu nhân Lưu Vĩnh Thanh... Nói chung mình vẫn hơi hoang mang trước trò chơi của Jonas Jonasson ở mảng miếng này, nhất là quả kết truyện. Nhân vật chính đã từng gặp Hồ Cẩm  Đào khi ông là một cán bộ cấp trung trưởng thành từ phong trào Đoàn thanh niên tỉnh Giang Tô, công cán sang Nam Phi lúc nước này còn bị cấm vận do theo chủ nghĩa Apartheid. Toàn bịa thôi - chắc rồi, nhưng các thông tin lịch sử khá logic.



Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã bắt đầu chuyến thăm chính thức ba ngày đến Thụy Điển bằng việc đón mừng bản sao của tàu Götheborg của người Đông Ấn, con tàu sau hành trình sang Trung Quốc ngay ngày hôm đó đã quay trở lại Gothenburg, thành phố mang tên nó.

Con tàu nguyên mẫu đã thực hiện đúng hành trình này 250 năm trước. Thời điểm đó, cuộc phiêu lưu của nó đã diễn ra tốt đẹp bất chấp bão, hải tặc, bệnh tật và đói. Nhưng khi chỉ còn nửa dặm tới bến cảng quê nhà, con tàu bị mắc cạn trong thời tiết tuyệt đẹp và cuối cùng bị chìm.

Thật khó chịu khi phải nhắc tới vế sau. Nhưng mối hận đã rửa được vào ngày thứ Bảy 9 tháng Sáu 2007. Con tàu mô phỏng đã làm được mọi thứ bản gốc của nó đã làm, cộng thêm nửa dặm cuối cùng. Götheborg đã được hàng ngàn người xem cổ vũ đón chào, trong đó có Chủ tịch Trung Quốc, nhân dịp đến thăm nhà máy Volvo ở Torslanda vì ông đang ở gần đó. Chính ông đã đề nghị điều này, và có lý do để làm thế.

Thực tế là, Volvo đã hờn dỗi chính phủ Thụy Điển và cơ chế của nó một thời gian, vì nhà nước cứ kiên trì mua BMW mỗi khi cần xe hộ tống. Lãnh đạo Volvo uất muốn chết khi hoàng gia Thụy Điển và các bộ trưởng trong chính phủ Thụy Điển cứ chui ra từ ô tô của Đức tại mỗi sự kiện chính thức. Họ thậm chí đã xây dựng một mẫu xe có vũ trang và trưng ra cho cảnh sát an ninh, nhưng nó không được sử dụng. Chính một trong các kỹ sư đã nảy ra sáng kiến tặng chiếc Volvo S89 màu kem mới cáu cạnh, được thiết kế đặc biệt, với ổ đĩa bốn bánh và động cơ V8, 315 mã lực cho Chủ tịch Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Xứng đáng cho bất kỳ ngày nào của ngài Chủ tịch.

Viên kỹ sư nghĩ.

Và giám đốc điều hành Volvo.

Và – hóa ra  chính ngài Chủ tịch cũng nghĩ thế.

Vấn đề đã được kín đáo thu xếp trước. Chiếc xe được tự hào giới thiệu với ngài Chủ tịch ở nhà máy ở Torslanda vào sáng thứ Bảy, và sẽ được chính thức bàn giao tại sân bay Arlanda vào ngày hôm sau, ngay trước khi Chủ tịch lên đường về nước.

Trong lúc đó, ông được mời đến một bữa tiệc gala tại cung điện hoàng gia.

***

 Nombeko đang ngồi trong phòng đọc sách tại thư viện Norrtälje, đọc hết báo này sang báo khác. Cô bắt đầu với Aftonbladet, tờ này dành bốn trang nói về mâu thuẫn giữa... không phải Israel và Palestine, mà là một thí sinh trong một cuộc thi hát trên truyền hình với một giám khảo nhỏ nhen nói rằng nghệ sĩ này không biết hát.

“Ông ấy biến đi chỗ khác mà thả diều,” nghệ sĩ vặn lại, thật quả anh ta không biết hát và cũng không hiểu tại sao thả diều lại bị chế nhạo.

Tờ báo thứ hai Nombeko đọc là Dagens Nyheter, tờ này khăng khăng chỉ viết về những điều quan trọng và do đó có doanh số bán báo tồi tệ hơn bao giờ hết. Đặc trưng củaDagens Nyheter là đầu trang nhất nói về một chuyến thăm nhà nước thay vì một cuộc cãi cọ trong studio truyền hình.

Theo đó, số mới đã có phóng sự về Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, về sự trở lại bến cảng của tàuGötheborg  và tin thực tế là ngài Chủ tịch sẽ đến Stockholm dự tiệc gala với nhà vua và Thủ tướng cùng với những người khác, tại cung điện.

Thông tin này có lẽ sẽ không giá trị nhiều lắm nếu nó không làm Nombeko phản ứng ngay lập tức khi nhìn thấy hình ảnh của Chủ tịch Trung Quốc.  

Cô nhìn đi nhìn lại. Rồi lẩm bẩm thành tiếng, “Chà, ông sếp Trung Quốc đấy đã trở thành Chủ tịch!”


Thế là cả Thủ tướng Thụy Điển và Chủ tịch Trung Quốc sẽ vào cung điện vào buổi tối hôm đó. Nếu Nombeko đứng trong đám những người xem tò mò và hét vào mặt Thủ tướng khi ông qua thì khả năng tốt nhất là cô bị khiêng ra, còn khả năng xấu nhất là cô sẽ bị bắt và sau đó bị trục xuất.

Tuy nhiên, nếu cô hét lên với Chủ tịch Trung Quốc bằng tiếng Ngô Trung Quốc thì kết quả sẽ khác. Nếu trí nhớ của Hồ Cẩm Đào không quá ngắn ngủi, ông sẽ nhận ra cô. Và thêm nữa, nếu có chút tò mò, ông sẽ lại gặp cô để xem làm thế quái nào mà cô phiên dịch Nam Phi hồi xưa lại đứng ở đây trong sân cung điện Thụy Điển.

Và như thế, Nombeko và Holger Hai chỉ còn cách có một người nhỏ bé nữa là tới Thủ tướng, hoặc nhà vua. Chủ tịch Hồ Cẩm Đào có tất cả những đặc điểm cần thiết để làm cầu nối giữa một bên là các chủ nhân không tự nguyện của quả bom nguyên tử, với bên kia là những người mà họ đã không với tới được suốt hai mươi năm.

Chẳng biết những điều này sẽ dẫn họ đi đến đâu, nhưng chắc rằng Thủ tướng sẽ không xua họ đi, với quả bom và mọi thứ. Thay vào đó, ông có thể sẽ gọi cảnh sát và nhốt họ lại. Hoặc một cái gì đó ở giữa; điều duy nhất chắc chắn là Nombeko và Holger Hai phải bắt tay vào hành động.

Nhưng không có nhiều thời gian. Bây giờ đã mười một giờ sáng. Nombeko phải đạp xe đạp trở lại Sjölida, gọi Holger Hai tham gia vào kế hoạch nhưng lạy Chúa, đừng để hai kẻ điên rồ, hoặc Gertrud, khởi động cái xe tải, và đi tới lâu đài trước sáu giờ, khi chủ tịch bước vào.

Mọi thứ đã hỏng ngay lập tức. Holger Hai và Nombeko đã lẻn vào kho và bắt đầu tháo biển số xe thật để thay bằng cái họ đã đánh cắp cách đây nhiều năm. Nhưng như thường lệ, Một đang ngồi trong vựa cỏ khô phía trên họ, và các hoạt động xung quanh chiếc xe tải làm anh sực tỉnh khỏi giấc ngủ tinh thần. Phản ứng của anh là âm thầm nhảy qua cái cửa sập ở gác xép để tìm Celestine. Trước khi Holger Hai và Nombeko gắn xong biển số xe, Một và bạn gái của mình đã xông vào nhà kho và đang ngồi trong buồng lái của chiếc xe tải chở khoai tây.

“Ồ, thế là anh chị định chuồn khỏi chúng tôi, với quả bom và mọi thứ à,” Celestine nói.

“Ồ, thế là cô chú lập kế hoạch đó!” Holger Một nói.

Nhưng ngay lập tức bị cậu em ngắt lời.

“Đủ rồi!” anh gầm lên. “Biến ngay khỏi cái xe, đồ ăn bám chết tiệt! Không đời nào tôi lại để cho anh làm hỏng cơ hội này. Không đời nào!”

Lúc đó Celestine lôi ra một cái còng tay và khóa luôn mình vào ngăn chứa đồ trên xe. Người biểu tình luôn luôn là một người biểu tình.

Holger Một lái xe. Celestine ngồi bên cạnh anh, ở một vị trí không tự nhiên do bị khóa vào cái xe tải. Nombeko ngồi bên cạnh cô, và Hai ở xa nhất bên phải, cách anh trai mình một khoảng cách thích hợp.

Khi chiếc xe tải chở khoai tây lăn bánh qua nhà, Gertrud bước ra cầu thang.

“Đi thì mua ít thức ăn nhé. Nhà không còn gì để ăn!”

Nombeko bảo với Một và Celestine rằng mục đích của chuyến đi này là để thoát khỏi quả bom, vì đang có cơ hội để tiếp xúc trực tiếp với Thủ tướng Reinfeldt.

Holger Hai nói thêm rằng anh sẽ để cái máy trồng khoai tám hàng chạy qua người cả ông anh lẫn cô bạn gái kinh khủng của anh ta nếu họ làm bất cứ điều gì khác chứ không ngồi nguyên chỗ đó trong chuyến đi.

“Chúng ta đã bán máy trồng khoai tám hàng rồi,” Holger Một phản bác.

“Thế thì tôi sẽ mua một chiếc mới,” cậu em đáp.

Bữa tiệc gala tại cung điện hoàng gia là bắt đầu lúc 6:00 giờ tối. Quan khách sẽ được chào đón tại sảnh nội cung, có lính gác, rồi sau đó ăn tiệc ở lầu Bạch Hải.

Nombeko không dễ dàng gì len vào được sân bên trong để chắc chắn khiến Chủ tịch Hồ Cẩm Đào chú ý. Đám dân chúng tò mò đến xem đã được nhẹ nhàng đẩy lùi sang hai bên lề của sân, cách chỗ khách sẽ vào ít nhất 50 mét. Liệu cô có nhận ra ông ta ở khoảng cách đó? Ít nhất thì chắc chắn ông sẽ nhận ra cô. Có bao nhiêu người da đen châu Phi nói tiếng Ngô Trung Quốc chứ?

Hóa ra, việc nhận ra nhau không phải là vấn đề về khoảng cách. Có tiếng ồn ào huyên náo rõ ràng nổi lên giữa đám cảnh sát an ninh khi Chủ tịch Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và phu nhân Lưu Vĩnh Thanh đi đến. Nombeko hít một hơi và hét lên bằng phương ngữ của chủ tịch:

“Xin chào, ông sếp Trung Quốc! Đã lâu kể từ hồi chúng ta đi săn ở châu Phi với nhau nhỉ!” Trong vòng bốn giây, Nombeko được bao quanh bởi hai cảnh sát an ninh mặc thường phục. Trong bốn giây sau, họ đã bình tĩnh lại một chút, bởi vì người phụ nữ da đen trông không có vẻ gì đe dọa; bàn tay của cô hoàn toàn có thể nhìn thấy và cô không lao mình vào vợ chồng ngài Chủ tịch. Tuy nhiên, cô phải bị lôi ra khỏi khu vực ngay lập tức.

Ngoại trừ...

Điều gì xảy ra thế này?

Ngài Chủ tịch dừng lại một chút trong khi đang bước vào lâu đài; rời khỏi thảm đỏ, để lại phu nhân ở phía sau, và bây giờ ngài đang trên đường đến chỗ người phụ nữ da đen. Và... và... ngài đang mỉm cười với cô ta!

Có những ngày khó khăn hơn ngày khác, khi làm cảnh sát an ninh. Bây giờ ngài Chủ tịch đang nói gì đó với người biểu tình... cô ta là một người biểu tình, phải không? Và người biểu tình đã trả lời.

Nombeko nhận thấy sự bối rối của viên sĩ quan an ninh. Vì vậy, cô nói bằng tiếng Thụy Điển, “Quý ông không cần phải lo sợ thế đâu. Ngài Chủ tịch và tôi là bạn cũ và chúng tôi chỉ trao đổi một vài lời thôi.”

Sau đó, cô quay sang Chủ tịch một lần nữa và nói: “Tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ phải để dành việc ôn lại chuyện xưa vào dịp khác, ông sếp Trung Quốc ạ. Hay là ông chủ tịch, đã lên chức nhanh chóng và ngoạn mục quá.”

“Phải, đúng thế.” Hồ Cẩm Đào mỉm cười. “Và có lẽ không phải không có sự hỗ trợ của cô, cô gái Nam Phi.”

“Ông thật tử tế quá, ông chủ tịch. Nhưng bây giờ, thực tế là  nếu tôi có thể đi thẳng vào vấn đề  tôi chắc ông còn nhớ viên kỹ sư điên khùng từ quê cũ của tôi, người đã mời ông đi săn và ăn tối? Đúng rồi. Sau đó, chuyện xảy ra không hẳn là tốt lắm với ông ta, nhưng cũng kha khá, vì ông ta đã thành công trong việc tạo ra vài quả bom nguyên tử, với sự trợ giúp của tôi và những người khác.”

“Phải, đúng rồi, sáu quả nếu tôi nhớ chính xác,” Hồ Cẩm Đào nói.

“Bảy quả”, Nombeko nói. “Ông ta dốt nhất là tính toán. Ông ta khóa quả thứ bảy trong một căn phòng bí mật, và thế là có thể nói nó đã bị mất. Hoặc... trên thực tế, nó nằm trong hành lý của tôi... khi tôi đến Thụy Điển.”

“Thụy Điển có vũ khí hạt nhân ư?” Hồ Cẩm Đào ngạc nhiên nói.

“Không, Thụy Điển không có. Nhưng tôi có. Và tôi đang ở Thụy Điển. Nói đúng ra là thế.”

Hồ Cẩm Đào im lặng một hai giây. Sau đó, ông nói, “Cô gái Nam Phi này, cô muốn tôi... nhân tiện, tên cô là gì nhỉ?”

“Nombeko,” Nombeko đáp.

“Cô Nombeko, cô muốn tôi làm gì với thông tin này?”

“Vâng, nếu ông vui lòng chuyển lời tới nhà vua sắp bắt tay ông, và nếu ông ấy vui lòng chuyển lời đến Thủ tướng, có lẽ ông ấy có thể đi ra và cho tôi biết chúng ta nên làm gì với quả bom nói trên. Sau cùng thì nó không phải là thứ có thể mang đến trung tâm tái chế.”

Chủ tịch Hồ Cẩm Đào không biết trung tâm tái chế là gì (mục tiêu khí hậu của Trung Quốc chưa đến mức đó), nhưng ông hiểu tình hình. Và ông nhận ra rằng hoàn cảnh buộc ông phải ngay lập tức chấm dứt cuộc nói chuyện với cô Nombeko.

“Tôi hứa với cô, cô gái ạ, là tôi sẽ truyền đạt vấn đề cho cả nhà vua và Thủ tướng, và tôi chắc tôi có thể đảm bảo rằng cô có thể nhận được phản hồi ngay lập tức.”

Nói rồi Chủ tịch Hồ Cẩm Đào trở về với bà vợ đang ngạc nhiên và đi tiếp trên thảm đỏ vào nội cung, nơi nhà vua đang chờ đợi.

Khách khứa đã đến hết; không còn gì nữa để xem. Khách du lịch và đám khán giả khác tản ra các hướng khác nhau với các mục tiêu khác nhau cho phần còn lại của buổi tối tháng sáu đẹp trời ở Stockholm năm 2007. Nombeko ở lại đó, một mình, chờ đợi một cái gì đó mà cô không biết là gì.

Hai mươi phút sau, một người phụ nữ đi đến. Cô ta bắt tay Nombeko, thấp giọng tự giới thiệu cô là trợ lý Thủ tướng và được yêu cầu đưa Nombeko tới một góc kín đáo hơn của lâu đài.

Nombeko nghĩ đây là một ý hay, nhưng cô nói thêm rằng cô muốn mang theo chiếc xe tải đậu bên ngoài sân. Trợ lý nói rằng thế cũng được; dù sao nó cũng tiện đường.

Holger Một vẫn ngồi sau tay lái, với Celestine bên cạnh anh ta (cô đã giấu cái còng tay vào trong ví mình). Trợ lý cũng vào buồng lái, nó trở nên hơi bị chật chội. Nombeko và Holger Hai leo lên thùng chứa hàng.

Đó là một chuyến đi ngắn. Đầu tiên lên Källargränd rồi xuống Slottsbacken. Sau đó, rẽ trái vào bãi đậu xe và lùi tít vào trong. Có lẽ tốt nhất là người lái xe lùi vào chỗ cuối cùng? Dừng lại! Tốt rồi.

Cô trợ lý nhảy ra, gõ lên một cánh cửa bí mật, lách vào và biến mất khi cửa mở ra. Sau đó, từng người một, Thủ tướng đi ra, theo sau là vua và Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, với phiên dịch của mình. Chủ tịch Trung Quốc dường như đã bảo đảm cho Nombeko và nhóm của cô, bởi vì tất cả các nhân viên an ninh vẫn ở ngưỡng cửa.

Nombeko nhận ra người phiên dịch Trung Quốc, mặc dù hai mươi năm đã trôi qua.

“Rốt cuộc thì anh đã không chết,” cô nói.

“Vâng, vẫn chưa quá muộn đâu,” người phiên dịch châm biếm. “Cứ xem cái thứ cô đang chở theo lòng vòng.”

Holger Hai và Nombeko mời Thủ tướng, nhà vua, và Chủ tịch lên thùng chứa hàng của cái xe chở khoai tây. Thủ tướng không chần chừ. Ông muốn xem liệu tuyên bố kinh khủng kia có phải là sự thật không. Và nhà vua theo chân ông. Tuy nhiên Chủ tịch Trung Quốc thấy toàn bộ chuyện này là một vấn đề chính trị nội bộ, và ông trở lại cung điện, không giống như phiên dịch viên tò mò của mình, đang rất muốn được liếc qua cái vũ khí hạt nhân một tí. Các vệ sĩ ở cửa bồn chồn. Nhà vua và Thủ tướng đang làm gì ở thùng sau của một chiếc xe tải chở khoai tây? Có vẻ không ổn chút nào.

Trớ trêu thay, lúc đó, một nhóm du khách Trung Quốc lạc đường và hướng dẫn viên đi đến, vì vậy cánh cửa thùng chở hàng vội vàng bị đóng lại. Tại thời điểm này, người phiên dịch Trung Quốc, đang lớ xớ ở đó bị kẹt ngay ngón tay vào cửa. Nombeko và những người khác có thể nghe tiếng ông ta bên ngoài “Cứu tôi với, tôi chết mất!” trong khi Holger Hai gõ cửa sổ buồng lái và bảo Một, phía sau tay lái, bật đèn chiếu sáng chỗ để hàng.

Holger Một ngoan ngoãn bật đèn, quay lại  và thấy nhà vua! Và Thủ tướng!

Nhưng trên hết, là nhà vua. Lạy Chúa!

“Chính là nhà vua, bố ơi,” Holger Một thì thầm với Ingmar Qvist ở trên trời.

Và ông bố Ingmar trả lời:

“Lái xe đi, con trai bố! Lái đi!”

Và Holger lái xe đi.

....

 “Thủ tướng. Rất vinh dự được gặp ngài, bây giờ tình thế có trật tự hơn.” Chủ tịch Hồ Cẩm Đào mỉm cười, chìa tay ra. “Và cô, cô Nombeko - Con đường của chúng ta cứ giao nhau hoài. Một cách dễ chịu nhất, tôi phải nói thế.”

Nombeko nói rằng cô cũng cảm thấy như vậy, nhưng họ sẽ phải chờ lâu hơn một chút để ôn lại kỷ niệm chuyến đi săn, bởi vì nếu không có lẽ Thủ tướng sẽ đâm mất kiên nhẫn.

“Ngoài ra, ông ấy đang định mở màn với vài điều về dân chủ và nhân quyền, mà ông ấy nghĩ rằng các ông không khá cho lắm. Và có lẽ ông ấy hoàn toàn đi sai hướng đó. Nhưng ông Chủ tịch đừng lo, tôi nghĩ rằng ông ấy sẽ uốn lưỡi khá cẩn thận. Chúng ta bắt đầu với nó nhé; ông đã sẵn sàng chưa?”
Hồ Cẩm Đào hơi nhăn mặt trước những gì đang đến, nhưng không mất bình tĩnh. Người phụ nữ Nam Phi quá duyên dáng để khiến ông nổi cáu. Bên cạnh đó, đây là lần đầu tiên ông làm việc với một phiên dịch viên dịch những gì được nói ngay cả trước khi người ta nói nó ra. Hoặc là lần thứ hai. Chuyện tương tự đã xảy ra một lần tại Nam Phi, nhiều năm trước đó.

Quả nhiên, Thủ tướng thận trọng đi tiếp. Ông mô tả quan điểm của Thụy Điển về nền dân chủ, nhấn mạnh giá trị của Thụy Điển liên quan đến tự do ngôn luận, đề nghị giúp đỡ bạn bè ở nước Cộng hòa Nhân dân trong việc phát huy truyền thống tương tự. Và sau đó, ông hạ giọng yêu cầu thả các tù nhân chính trị của đất nước này.

Nombeko dịch, nhưng trước khi Hồ Cẩm Đào có thời gian để trả lời, cô nói thêm, theo ý cô, điều Thủ tướng thực sự muốn nói là họ không thể nhốt các nhà văn và nhà báo chỉ vì họ đã viết những điều chống đối. Hoặc thay người, chỉ trích Internet...

“Cô đang nói gì đấy?” Thủ tướng hỏi. Ông đã nhận thấy bản dịch của cô dài gấp đôi so với dự kiến.

“Tôi chỉ truyền đạt những gì ông nói thôi thưa Thủ tướng, và sau đó tôi giải thích ông nói thế có nghĩa gì để giúp cuộc trò chuyện nhanh hơn một chút. Cả hai chúng ta đều quá mệt mỏi để ngồi đây cả ngày, phải không nào?”

“Giải thích tôi nói thế có nghĩa gì ư? Chẳng lẽ tôi đã không diễn đạt ý mình đủ rõ ràng hay sao? Đây là ngoại giao cấp cao nhất; phiên dịch viên không thể cứ ngồi đó bịa ra các thứ được!”

Tất nhiên rồi. Nombeko hứa sẽ cố gắng bịa ít càng tốt từ bây giờ, và cô quay sang Chủ tịch nói rằng Thủ tướng không hài lòng với những gì cô đã thêm vào cuộc trò chuyện.

“Cũng dễ hiểu thôi,” ông Hồ Cẩm Đào nói. “Nhưng hãy dịch điều này; nói rằng tôi đã tiếp thu lời của Thủ tướng và của cô Nombeko và rằng tôi có cảm quan chính trị tốt để phân biệt chúng.”  

Vào lúc này, Hồ Cẩm Đào bắt đầu trả lời dài dòng, nhắc đến Guantanamo ở Cuba, nơi các tù nhân bị giam năm năm chờ đợi để tìm ra tội. Thật không may là Chủ tịch cũng đã nhận thức đầy đủ về sự cố đáng tiếc năm 2002 khi Thụy Điển đã ngoan ngoãn nghe lời CIA, tống hai người Ai Cập vào tù và tra tấn, để rồi hóa ra ít nhất một trong hai người là vô tội.

Chủ tịch và Thủ tướng tiếp tục trao đổi qua lại vài lượt đến khi Fredrik Reinfeldt nghĩ rằng thế là đủ. Thế là ông đã chuyển sang vấn đề môi trường. Phần này của cuộc đàm thoại trơn tru hơn.

Một lát sau, họ được phục vụ trà và bánh – người phiên dịch cũng được. Trong không khí cà phê thân mật, chủ tịch nhân dịp này kín đáo nhận xét, bày tỏ hy vọng rằng tấn kịch ngày hôm qua giờ đã được giải quyết tốt hơn.

Vâng, cảm ơn, Thủ tướng đáp, đúng vậy, nhưng trông không thuyết phục lắm. Nombeko có thể thấy Hồ Cẩm Đào muốn biết nhiều hơn, và hoàn toàn vì lịch sự, cô nói thêm – sau lưng Reinfeldt – rằng quả bom đã được khóa trong hầm và lối vào có tường bịt kín cho an toàn. Sau đó, cô nghĩ rằng có lẽ mình không nên ra như thế, nhưng ít nhất nó không phải là bịa.

Khi còn trẻ, Hồ Cẩm Đào đã từng làm một chút công việc liên quan đến vấn đề vũ khí hạt nhân (bắt đầu với chuyến đi của ông tới Nam Phi), và ông rất tò mò về quả bom này, thay mặt cho đất nước mình. Chắc chắn, tuổi của nó đã một vài thập kỷ, và Trung Quốc không cần quả bom; quân đội Trung Quốc có khá nhiều megaton rồi. Nhưng nếu tất cả các báo cáo tình báo là chính xác thì quả bom ở dạng tháo rời có thể cung cấp cho Trung Quốc một cái nhìn độc đáo vào công nghệ vũ khí hạt nhân của Nam Phi – đúng ra là người Israel. Và nhờ thế, nó có thể trở thành một phần quan trọng của trò ghép hình phân tích các mối quan hệ và thế mạnh tương đối giữa Israel và Iran. Iran đã là bạn tốt với Trung Quốc. Hoặc tốt nửa vời. Dầu và khí gaz tự nhiên đổ sang phía đông từ Iran, trong khi đồng thời, Trung Quốc chưa bao giờ có các đồng minh nào phiền phức hơn những người ở Tehran (trừ Bình Nhưỡng). Bên cạnh những chuyện khác, họ cực kỳ khó đoán. Có phải họ đang trong quá trình xây dựng vũ khí hạt nhân cho riêng mình? Hay họ chỉ có những vũ khí thông thường và khoác lác ầm ĩ lên thôi.

Nombeko cắt ngang suy nghĩ của Hồ Cẩm Đào:

“Tôi nghĩ chắc ông đang ngẫm nghĩ về quả bom, ngài Chủ tịch. Hay để tôi hỏi Thủ tướng liệu ông ấy có sẵn sàng tặng nó cho ông không nhé? Như một món quà để củng cố hòa bình và tình hữu nghị giữa hai nước?”

Trong khi Chủ tịch Hồ Cẩm Đào nghĩ có thể có những món quà tốt hơn, hòa bình hơn là một quả bom nguyên tử ba megaton thì Nombeko tiếp tục nói, lý luận rằng Trung Quốc đã có rất nhiều bom loại đó, thêm hay bớt một quả cũng chẳng hại gì. Dù sao, cô chắc chắn rằng Reinfeldt sẽ rất hạnh phúc thấy quả bom biến mất sang phía bên kia Trái đất. Hoặc thậm chí xa hơn, nếu có thể được.
Hồ Cẩm Đào đáp rằng chắc chắn bản chất của bom nguyên tử là gây hại, dù không mong muốn cũng thế. Nhưng cho dù cô Nombeko đã đúng đoán rằng ông quan tâm đến quả bom Thụy Điển, ông khó có thể yêu cầu Thủ tướng một điều như vậy. Cho nên ông đề nghị Nombeko trở lại với việc phiên dịch của mình trước khi Thủ tướng có lý do để nổi cáu lần nữa.

Nhưng đã quá muộn:

“Cô đang nói gì thế hả, vì Chúa?” Thủ tướng giận dữ nói. “Việc của cô là dịch. Không được làm gì hơn nữa!”

“Vâng, tôi xin lỗi, ông Thủ tướng; Tôi chỉ cố gắng để giải quyết một vấn đề cho ông ta,” Nombeko nói. “Nhưng nó không xong rồi. Hai ông cứ tiếp tục nói chuyện. Môi trường và nhân quyền và các thứ như thế.”

Cảm giác lặp đi lặp lại của Thủ tướng về hai bốn giờ qua lại trỗi dậy. Điều không thể  xảy ra lần này là phiên dịch viên của chính ông đã đi từ chỗ bắt cóc người sang bắt cóc cuộc nói chuyện với một nguyên thủ quốc gia khác.

Trong giờ ăn trưa, Nombeko được nhận khoản thù lao mà cô chẳng hề yêu cầu mà cũng không được đề nghị trước. Cô vẫn giữ cuộc trò chuyện sôi nổi giữa Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, Thủ tướng, và các giám đốc của Volvo, Electrolux, và Ericsson - và hầu như không xen vào chuyện gì hết. Chỉ có một vài trường hợp cô lỡ lời một chút. Chẳng hạn như khi Chủ tịch bắt đầu cám ơn giám đốc điều hành Volvo lần thứ hai về món quà tuyệt vời ngày hôm nọ và nói thêm rằng người Trung Quốc không thể chế tạo ô tô đẹp như thế, thì thay vì nói những điều tương tự một lần nữa, Nombeko gợi ý rằng ông và nước ông có thể mua tất cả Volvo để khỏi phải ghen tị gì nữa.

Hay khi Giám đốc điều hành của Electrolux thảo luận về cách thức bán các sản phẩm khác nhau của công ty ở Trung Quốc, thì Nombeko hiến kế cho ông Hồ Cẩm Đào rằng, với tư cách là Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông có thể cân nhắc tặng một món quà Electrolux nho nhỏ để khích lệ tất cả các đảng viên trung thành.

Chủ tịch nghĩ đây là một ý tưởng hay nên hỏi giám đốc điều hành Electrolux ngay tại bàn rằng liệu ông sẽ được giảm giá thế nào nếu đặt mua 68.742.000 chiếc ấm điện.

“Bao nhiêu ạ?” Giám đốc điều hành Electrolux hỏi.

... Muốn biết kết cục thế nào thì phải đọc. Tác giả để cho Chủ tịch TQ kết thúc sự lộn xộn - có lẽ có dụng ý.

Thứ Hai, ngày 13 tháng 10 năm 2014

Khi du khách xếp hạng di sản

Khi giới thiệu về Hà Nội, theo cách bài bản, chúng ta sẽ bắt đầu bằng câu chuyện về di sản nghìn năm, rồi những đặc điểm nhận diện kiến trúc… Quả thực, việc Hà Nội có một di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận thì đô thị này có vẻ hứa hẹn hấp dẫn, ít nhất thì một danh hiệu cũng là cái cớ để thu hút khách du lịch.

Du lịch thời internet khác với thời chỉ có vài cuốn sách du lịch bỏ túi để tìm hiểu. Bây giờ du khách chẳng những không chịu ngồi yên đọc tin trên mạng mà còn tham gia đóng góp, chia sẻ nội dung về các điểm đến. Được nhiều khách du lịch toàn cầu tham gia nhất phải kể tới trang mạng TripAdvisor, trong đó du khách sẽ đánh giá điểm đến về nhiều mặt: cảnh quan, độ thân thiện, vệ sinh… Nhiều địa điểm ở Hà Nội đã rất hãnh diện khi được đánh giá cao trên trang này. Nguyên Hà Nội đã có 155 nghìn bài đánh giá, và nhiều hơn thế là các bình luận.

Lướt qua danh sách những nơi hấp dẫn nhất ở Hà Nội trên trang này thì thấy: 1. Câu lạc bộ leo núi VietClimb; 2. CLB Ca trù Hà Nội; 3. Khu phố cổ; 4. Bảo tàng Phụ nữ; 5. Bảo tàng Dân tộc học; 6. Con đường gốm sứ; 7. Văn Miếu; 8. Nhà hát Tuồng (rạp Hồng Hà); 9. CLB ca trù Thăng long; 10. Chương trình cải lương Chuông Vàng. Hồ Gươm xếp thứ 11, Hồ Tây thứ 17, Nhà hát Lớn thứ… 25 (nghĩa là phải bấm nút “Next” – Xem tiếp mới thấy!).

Vậy thì ở đây trong tốp đầu, liên quan đến diện mạo đô thị có lẽ chỉ có 3 nơi, còn lại đều là các hoạt động giải trí bên trong. Đây là điểm khác với nhiều thành phố khác, vốn nêu bật những kiến trúc hay cảnh quan ngoạn mục. Ở đây Hà Nội chứng tỏ nó hấp dẫn vì sự phong phú trong các hoạt động – điều mà chúng ta khá bất ngờ khi nghĩ thành phố của mình buồn tẻ.

Điều này khiến tôi nghĩ lại về cách đánh giá sức hấp dẫn của một thành phố. Các địa danh mà không vào xem được, cho dù có đẹp như Nhà hát Lớn (trong khi hình mẫu của nó, nhà hát Opera Garnier ở Paris thu phí tham quan 12 euro là xem thoải mái) thì cũng không mấy ý nghĩa. Các câu lạc bộ nghệ thuật hay chương trình biểu diễn lọt vào danh sách yêu thích là vì chúng đã có cách tiếp cận du khách mềm dẻo: có phụ đề tiếng Anh, có tờ rơi và kết hợp với nhiều công ty tổ chức du lịch. Những thắng cảnh của Hà Nội ế ẩm có lẽ vì quá thiếu những điểm nhấn để giữ chân khách. Đi bộ vòng quanh hồ Gươm, đi xe điện quanh hồ Tây, ừ cũng hay, nhưng rồi thì sao? Cảnh đẹp nào cũng là cái đẹp tĩnh. Đọc các bình luận của du khách thì thấy họ trông đợi một nội dung, một câu chuyện, một tích trò nào đó để họ tham gia được vào. Hai bảo tàng có trong danh sách đều là bảo tàng mới, không có cổ vật gì so với những đàn anh của chúng, nhưng bảo tàng Phụ nữ và Dân tộc học từ lâu đã được đánh giá cao bởi sự chăm chút tỉ mỉ nội dung trưng bày, cách xâu chuỗi hiện vật sinh động. Du khách tham quan đọc được số phận của một xã hội, một dân tộc, thấy một chân dung giới phụ nữ đặc sắc.

Nhưng đây mới là cú sốc: Di sản thế giới Hoàng thành Thăng Long ở tít mãi thứ 35! Bấm “Next” lần nữa mới thấy. Di sản được UNESCO công nhận này chỉ có sự đánh giá ở mức trung bình. Sự trống trải của kiến trúc trên mặt đất, sự tản mát và thiếu kịch bản xâu chuỗi của các gian trưng bày, khu vực khai quật không có chỉ dẫn nào lôi cuốn, tất cả khiến cho hành trình khám phá di tích này dễ bị chán. Tôi còn nhớ cảm giác đọc những bài  nghiên cứu viết về ý nghĩa và cách nhận diện các tầng văn hóa ở hố khảo cổ - quả thực khá sinh động, vậy mà cũng chất liệu đó, đi ra thực địa chỉ thấy một khu nhà mái che tẻ ngắt với những hố đất mấp mô, rồi những hiện vật bày đều đặn trong tủ kính, du khách đi lẻ tự xem tự chán. Những người trông coi hoặc uể oải hoặc có lẽ cũng chẳng biết nên giúp khách thế nào. Đấy là trong đầu tôi còn có sẵn một hệ thống thông tin liên tưởng sẵn của người bản địa, chứ nếu là du khách nước ngoài thì còn hoang mang đến đâu. Thông tin trên các bảng chỉ dẫn mãi chỉ là thứ khô khan, nếu cần du khách đã có thể tự tra cứu trên mạng rồi! Rủi mà không ai bấm “Next”, chỉ xem 20 điểm đến đầu tiên thì sao?

Tôi nhớ lần đi Seoul, sau khi đã thăm Hoàng cung, tôi cũng thuyết phục bạn tôi đi xem nốt Thế Miếu – một nơi được TripAdvisor xếp hạng cao, lúc này đã là ca cuối chỉ dành cho thuyết minh tiếng Hàn. Quy định là khách phải đi tham quan theo chỉ dẫn của hướng dẫn viên, không được đi tự do. Chỉ có hai khách Việt Nam chúng tôi và một vị khách người Hàn Quốc trông rất hớt hải, có vẻ ở tỉnh xa mới về thủ đô. Vậy mà cô hướng dẫn viên vẫn phục sức đầy đủ trang phục Hanbok trong cái nắng nóng nhễ nhại tháng Tám, say mê thuyết minh cho ba khách (thực chất là một người duy nhất) cho đến hết các hạng mục mới thôi và cúi đầu chào lịch sự tiễn ra cổng. Nếu hỏi tôi Thế Miếu ở Seoul có ấn tượng gì thì tôi cũng chỉ thấy khá bình thường vì đấy là khu nhà đã phục dựng lại – cho đến lúc ấy tôi cũng chưa biết gì ngoài vài dòng thông tin ngắn ngủn liếc vội.

Thế Miếu ở Seoul.Thế Miếu ở Seoul.

Hướng dẫn viên cùng 2 trong số 3 người khách (người thứ 3 đang cầm máy chụp).Hướng dẫn viên cùng 2 trong số 3 người khách (người thứ 3 đang cầm máy chụp).

Nhưng ra về rồi mà tôi vẫn ấn tượng mãi về sự chu đáo và hết mình vì công việc của những người đang giữ gìn nơi đó. Nó khiến tôi chịu tìm hiểu lại, để biết nơi này từng thờ 36 vị vua các triều đại Triều Tiên hay đây là tòa nhà có hành lang dài nhất các di tích Hàn Quốc, rồi cả một nền văn hóa cung đình hấp dẫn… Những thông tin như thế vẫn biết là đầy ra trên mạng hay trong các cẩm nang du lịch thậm chí phát không ở Seoul. Nhưng cô thuyết minh kia là một cẩm nang sống, chỉ nói tiếng Hàn và thi thoảng phá lệ nói tiếng Anh với chúng tôi, làm được điều mà Hoàng thành Thăng Long thiếu – buộc du khách muốn tìm hiểu. Biết đâu di sản nước mình mà làm được lại có thứ hạng khả dĩ hơn!

Nguyễn Trương Quý

Chủ Nhật, ngày 12 tháng 10 năm 2014

Ta trở về lửa ngụt trong lòng

Đợt sách này làm biên tập có 2 cuốn mình thích. Một là "Cậu ấm" của Trần Chiến. Văn anh Chiến luôn có cảm giác đủ đầy, kín kẽ và có cái dí dỏm rất khó bắt chước. Cuốn này cùng cuốn "Cõi người" viết về ông Trần Huy Liệu - thân phụ của TC - chắc chắn là 2 cuốn khá nhất của nghiệp văn Trần Chiến cho đến giờ.


Có một thời Hà Nội nôn nao náo nức, vẫn tỉnh táo, nhưng rồi không cưỡng được cơn xoay vần của thời cuộc. Những trang viết về phở Hà Nội tản cư, chuyện những người Hà Nội bị kiểm thảo rồi dinh tê, rồi những người HN "lưu dung" đã bô nhếch so với chính họ thời xưa - nhưng vẫn cần mẫn chăm chút cái gì đó hoa mỹ cho một thành phố bao cấp cũng cần một tí ti gì sang cả để làm dáng... Cuốn sách kể khá kĩ về những chuyện làm báo thời Pháp, thời nhá nhem tiền khởi nghĩa, thời tạm chiếm rồi thời sau giải phóng, nhiều thứ mà phải "người trong nhà" mới biết và mới viết cho hay.

"...Ta ra đi đô thành rừng rực
Ta trở về lửa ngụt trong lòng

Vận chả ưa gì Sơn Ngọc, vì kiểu vo ve “bám đít” Bính Trần ở khu tự do, nhưng lại nằm lòng hai câu này của ông ta, đăng báo Sao sớm. Những câu thơ nói lên sự ngổn ngang trong lòng kẻ hồi cư. Sơn Ngọc nhảy về Thành trước cả Vận, trong dòng văn nghệ sĩ “không chịu được gian khổ kháng chiến” như ngoài kia lên án, giờ cộng tác với vài tờ báo ở Hà Nội, cốt sinh nhai, viết câu thực lòng câu đánh đĩ cả tử tế lẫn nhảm nhí nhưng không quay lưng chửi Việt Minh. Đấy là chỗ thương được. 

Không ngổn ngang sao được, khi biết Việt Minh sẽ thắng. Pháp phải rút, theo cách gì không biết nhưng nhất định là thế. Đài Pháp Á càng loan tin liên quân thắng trận, dân tình càng tưởng ra điều ngược lại.

Thế mà hồi ngoài kia, Sơn Ngọc đã viết “Ăn xong bát phở, ra Bờ Hồ thấy yêu nước quá!”. Câu văn có lẽ được viết trong cơn nhớ Đất Thánh, nghiêm túc nhưng nhả nhớt, đã bị đem ra các cuộc khai hội phê bình tóe khói. Đem Tổ Quốc đặt bên phở phiếc, so sánh thậm hạ tiện."

Còn đây là một đoạn tả về khung cảnh phố cổ HN từ trên cao - nóc nhà hàng Mỹ Kinh - mà trong sách anh đã đổi tên:

“Bầu trời bên trên đùng đục hắt sắc hồng anh ánh xuống khiến khu phố cũ bên dưới nhuốm chút mầu huyền hoặc. Từ chợ Đồng Xuân xuống giáp khu nhượng địa, từ đê sông Cái chạy sang tòa thành cổ còn cột cờ, cả một đại dương mái nhà xô vào họ. Những con sóng cao thấp khác nhau, ngói âm dương, ngói mũi, ngói “tây” lộn xộn, vô trật tự, xám tai tái, từng đợt gối nhau, nếp nọ ngả vào nếp kia thành một nhịp điệu mạnh, bền dai không biết bao giờ mới ngừng, rất khó tả. Nhà cửa không cao nên nhìn thấy hai ngọn tháp Nhà thờ Lớn, tưởng ra con hồ thần thoại cạnh đấy cùng bao nhiêu xung đột văn hóa, tín ngưỡng đã tràn chảy qua. 

Dưới chút nữa, cuộc sinh hoạt vĩ đại và riêng tư của hàng phố đang chập náo nhiệt nhất mồn một trước mắt. Đường phố như một dòng sông, xích lô ba gác xe đạp ô tô, những người bước vội những kẻ thong dong trôi chi chít, thỉnh thoảng mắc vào nhau tấp lại rồi chảy tiếp.”

Mặc dù cuốn sách khá dày, 501 trang, nhưng mình cảm giác vẫn còn có thể viết thêm được. Đây là cuốn mình đọc đến bông 3 vẫn thấy cảm xúc. Có lẽ viết kỹ thuật là một chuyện, tư liệu là cái tạo độ dày, nhưng cảm xúc vẫn là thứ giữ sự tập trung của người đọc được suốt độ dày đó. Cho dù cuốn sách bán chạy hay không, mình vẫn rất hài lòng khi được làm cuốn sách như thế.

Chủ Nhật, ngày 10 tháng 8 năm 2014

Dựng cho mình tấm căn cước văn hóa

Viết cho Tuổi Trẻ cuối tuần.

TTCT - Trở về từ Festival văn học và nghệ thuật “Cooler Lumpur” do Hội đồng Anh khu vực châu Á - Thái Bình Dương tổ chức tại Malaysia cuối tháng 6, Nguyễn Trương Quý nói anh vẫn còn ấn tượng về các tác giả trẻ cùng tham dự liên hoan.

TTCT giới thiệu bài viết của anh.



Từ trái sang: Marc de Faoite, Nguyễn Trương Quý, Dain Said và Katelijn Verstraete, giám đốc nghệ thuật và kinh tế sáng tạo Hội đồng Anh khu vực Đông Á, tại Festival “Cooler Lumpur” - Ảnh: Nhân vật cung cấp

Ngoài tôi đến từ Việt Nam, tám tác giả còn lại tham gia “Cooler Lumpur” đến từ các khu vực và Khối thịnh vượng chung. Họ đã viết, in sách, làm phim bằng tiếng Anh, thậm chí đã sống ở phương Tây nhiều năm, cả những tác giả từ Anh, Ireland sang nên chẳng xa lạ gì với các chủ đề thảo luận do chương trình festival đưa ra.

Đọc lướt qua tên các chủ đề đều thấy nổi lên mối bận tâm về “căn cước” của các nền văn hóa đọc và nghe nhìn.

Đi tìm căn cước của nền văn hóa

Jason Ng., tác giả Hong Kong cùng tầm tuổi tôi, luật sư ngân hàng, có một bài viết có tên HKID - viết tắt của Hong Kong identification, căn cước Hong Kong. Anh nói vẫn dùng từ “Hongkonger” để tự gọi mình.

Trong cuốn tản văn No city for slow men (Thành phố không dành cho người sống chậm) gồm 36 bài viết về Hong Kong, nơi anh là cộng tác viên cho tờSouth China Morning Post, anh có viết: “Hong Kong kẹt đâu đó giữa Trung Hoa đại lục và phần còn lại của thế giới, và điều này gây ra một chút khủng hoảng về việc nhận diện”.

Còn tác giả Marc de Faoite, người Ireland nhưng sống ở Langkawi, Malaysia, lại chia sẻ câu chuyện của một tác giả sống giữa hai nền văn hóa, nơi mà những rào cản của tôn giáo chính ở đây - Hồi giáo - không liên quan nhiều đến các sáng tác tiếng Anh của ông, nhưng lại làm cho văn chương của những người viết tha hương như ông hãy còn xa lạ với đời sống văn học bản địa, nơi mà theo ông, người đọc vẫn thích các tiểu thuyết diễm tình và văn hóa nghe nhìn phương Tây ảnh hưởng mạnh.

Mối quan tâm của cử tọa cũng chính là làm sao để tiếp nhận đôi nét vấn đề trong hơn một tá cuộc giao lưu, xoáy thẳng vào sự khác biệt của các diễn giả.

Một nhà văn Philippines thành công với tiểu thuyết viết về cuộc sống của một người đồng tính, khi cử tọa chất vấn đã thừa nhận sẽ không thể in được cuốn sách khi còn ở quê nhà, vì sự kiểm duyệt và vì sự nhạy cảm của vấn đề, nơi mà khi sống ở Canada hay New York, Mỹ, anh có cơ hội nhiều hơn. Trong khi trên bảng xếp hạng mức độ kiểm duyệt các nước trên thế giới mà tôi đọc được, Philippines lại có vẻ khá thoáng.

Đi trên đường phố Kuala Lumpur, nơi được mệnh danh là kinh đô mua sắm của khu vực, và ngay tại khu Publika, tổ hợp trung tâm thương mại và gallery nghệ thuật, gần như không thấy có hình ảnh hở hang hay gợi cảm nào trên các apphich quảng cáo mỹ phẩm hoặc quần áo.

Đạo diễn phim tài liệu người Malaysia Dain Said trả lời luôn câu hỏi của tôi liệu có khi nào có cảnh gần gũi thể xác trên phim ảnh hay tivi ở đây: “Không bao giờ!”. Ở một đất nước Hồi giáo thì như vậy cũng không có gì lạ, đến cả bia rượu cũng bị đánh thuế tội lỗi (sin tax), giá đắt gấp ba và hình như chỉ bán ở các khu phố du lịch.

Liệu những thang bậc đánh giá sự ngặt nghèo ở mỗi nền văn hóa có phải là căn cước nhận diện nơi ấy không?

Khoảng trống này ai lấp?

Điều hằn lại trong đầu tôi qua chuyến đi giao lưu là sự giàu có về kiến thức xã hội học của các tác giả tham dự festival. Ở họ, không có đề tài nào là có giới hạn. Tôi đặc biệt quan tâm đến cuốn tiểu thuyết Maggie and me của Damian Barr, một tác giả đang rất được chú ý ở Anh, người cũng có buổi giao lưu tại festival.

Cuốn sách viết về thời thủ tướng Margaret Thatcher nắm quyền, là hồi ức thời thơ ấu của tác giả về những biến động xã hội Anh khi đó, nó nhận diện một thời đại. Những ảnh hưởng của các chính sách công, các xáo trộn về kinh tế - xã hội dưới sự điều hành của “bà đầm thép”, tất cả để lại dấu ấn trong đời sống một đứa trẻ Anh hiện ra dí dỏm và trào lộng.

Tôi chợt nghĩ trời ơi, chừng nào mình có thể viết được một cuốn sách như thế, về những năm tháng bản lề của xã hội trước và sau đổi mới, thời chúng tôi hồn nhiên sống với tem phiếu mà đâu cảm thấy hết nỗi khổ sở trăm bề của bố mẹ.

Mỗi câu chuyện của các bạn văn ở đây là một sự trao đổi miên man về các vấn đề chính trị - xã hội khu vực, và quả thật họ rất nhạy cảm với các câu chuyện bất bình đẳng, như chuyện một bộ phim truyền hình Hong Kong đã phải ngừng phát sóng vì xây dựng nhân vật ôsin người Philippines một cách bôi bác.

Hơn lúc nào hết, câu chuyện về “căn cước” lại nổi lên trong các cuộc giao lưu này. Những người bạn văn này cũng thường xuyên chia sẻ các trang tin thời sự văn hóa toàn cầu, những mối quan tâm rất “người lớn” nếu so sánh với vô vàn tin tức showbiz đọc rồi quên luôn. Cảm giác của tôi là kiệt sức: họ biết quá nhiều. Làm sao tôi thu nạp được bằng họ và tôi sẽ viết tiếp sao đây?

NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ
(http://tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi-tuan/Van-hoa-nghe-thuat/622153/dung-cho-minh-tam-can-cuoc-van-hoa.html)

Chủ Nhật, ngày 03 tháng 8 năm 2014

Họ đã bắt đầu từ một Hồ Gươm (P.2)

Có nhiều hơn một Hồ Gươm

Ở phần đầu, chúng ta đã biết nơi chốn Phạm Duy thân thuộc từ nhỏ là Hồ Gươm, cũng là trung tâm của đô thị Hà Nội. Tuy nói rằng bài hát Gươm tráng sĩ của ông đích danh cho Hà Nội, nhưng nội dung lời hiện tại có được lại không mấy liên quan đến tích Lê Lợi trả gươm cho thần Kim Quy (Ta là gươm tráng sĩ thời xưa/ Bên mình chàng hiên ngang một thuở/ Xưa nhớ tới người trai chí lớn/ Xếp bút nghiên từ chốn thư phòng/ Bàn tay xinh ai nhuốm máu hồng/ Và nhuốm mầu non sông). Trong khi đó, hình ảnh gươm thần xuất hiện trực tiếp trong Thăng Long hành khúc ca của Văn Cao. Nếu có thể coi Bên hồ liễu của Văn Chung là đích xác viết về cảnh Hồ Gươm, thì ta sẽ có một bức tranh khác về mặt hồ này. Cùng thời gian ra đời của Tiến về Hà Nội, một Hà Nội năm 1949 dưới con mắt của một nhạc sĩ gốc miền Nam hiện ra với Hồ Gươm (Hồ Hoàn Kiếm) làm trung tâm điểm:

Bước men quanh hồ Hoàn Kiếm giữa thu chiều úa
Tôi nhớ tháng ngày sống nơi Thủ đô hồi qua
Hồ đẹp: gương nước liễu xưa la đà bóng hồ
Đời vui thái bình trước lúc chiến tranh!

Khắp chốn nay điêu tàn
Nhà xiêu đổ: một cảnh nát tan
Hồ xanh nay vẫn xanh
Nhưng liễu xưa ven hồ đâu tá?
Tôi đứng im lặng nhìn
Nhìn tháp cũ bóng soi Hồ Gươm
Tháp kia sao lạnh lùng
Như giấu muôn e thẹn căm hờn!
Nước nghiêm trên hồ
Bao phen gió run hồn nước

Hà Nội yêu quý! Là chốn lịch sử ngàn năm
Là trái tim của Việt Nam
Là chính hồn Việt anh dũng!

(Hà Nội 49 – Trần Văn Nhơn, 1949)

Ta cũng gặp lại hồ liễu, tháp cũ, lịch sử ngàn năm, hồn nước, những gì đã có mặt trong mấy ca khúc tân nhạc trước năm 1945 đã nhắc đến. Nó có cả hai khía cạnh lãng mạn và sử thi của hai dòng ca khúc tiền chiến, nhưng của một cuộc sống Hà Nội mà “đời vui thái bình” đã hết do chiến tranh. Bài hát của năm 1949 đã chú ý nhiều đến hiện thực, những chi tiết khung cảnh dệt nên tâm trạng. Nhưng thông điệp chủ đạo của Hà Nội 49 đã xác định nó thuộc dòng sử thi, tương đồng với khẩu khí của Thăng Long hành khúc ca. Hồ Gươm của những năm đầu kháng chiến thấp thoáng hiện lên từ thơ Nguyễn Đình Thi:

Tháp Rùa lim dim nhìn nắng
mấy cánh chim non trông vời nghìn nẻo
(Đất nước, bản năm 1948)

Ở bản Đất nước cuối cùng năm 1955, hai câu thơ trên đã không có mặt, song hình ảnh Tháp Rùa vẫn còn trong ca khúc Người Hà Nội của cùng tác giả:

Hà Nội đẹp sao
Ôi nước Hồ Gươm xanh thắm lòng
Bóng Tháp Rùa thân mật êm ấm lòng
(Người Hà Nội, 1947-48)

Tương phản với “tháp kia sao lạnh lùng” của người nhìn Hồ Gươm tạm chiếm là hồi ức “Tháp Rùa thân mật êm ấm lòng” của người ra đi. Chia sẻ cảm xúc này là một Hồ Gươm đầy tính biểu tượng trong bức tranh Hà Nội của Huy Du trong Sẽ về Thủ đô (1948):

Ai về Thủ đô tôi gửi vài lời
Tây Hồ mờ xa là nhà tôi đó
Đây chợ Đồng Xuân bên dòng Nhị Hà
Đi học về qua luôn hát vui ca
Đây Hồ Hoàn Gươm bên nhịp cầu hồng
Khi chiều dần buông tôi hay qua đó
Hoa phượng hè vui in đỏ đường dài
Tô đậm lòng tôi năm tháng khôn nguôi

Giống như cách quy nạp của Người Hà Nội (“Đây Hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây”), Hồ Gươm được xếp cạnh những biểu tượng khác của thành phố lịch sử. Điều này xác lập công thức ngay từ những bài hát đầu tiên lấy chủ đề trực tiếp về Hà Nội là nhắc đến các biểu tượng và địa danh như thế. Một tình khúc có đề tài thời sự là sự chia cắt hai miền – Gửi người em gái (1956-57 – Đoàn Chuẩn & Từ Linh) cũng gắn hình ảnh người tình xa cách với Tháp Rùa:

Em! Tháp Rùa yêu dấu! Còn đó trơ trơ
Lớp người đổi mới khác xưa
Thu đã qua những chiều, song ý thơ rất nhiều
Ca tình yêu!

Đối ứng bên kia vĩ tuyến, Giấc mơ hồi hương (1955 – Vũ Thành) cũng nhắc đến Hồ Gươm, ta nhận ra nhờ dấu chỉ “hồ liễu thưa”:

Ta nhớ thấy “em” một chiều chớm thu
Dáng yêu kiều của ngày đã qua
Thướt tha bên hồ liễu thưa

Rất dễ chỉ ra hàng chục bài hát về Hà Nội thời chiến tranh lấy Hồ Gươm làm điểm nhấn, chẳng hạn “Cô gái Hồ Gươm nay đã thành chiến sĩ” (Trên đường Hà Nội, 1966 – Huy Du), tương ứng với ca khúc ở Sài Gòn là những “Hồ Gươm xưa vẫn chưa phai nhòa” (Nỗi lòng người đi – Anh Bằng) hay “Ôi người em Hồ Gươm về nương chiều tà. Liễu thềm cũ nằm úa sầu mơ hiền hòa” (Mưa Sài Gòn, mưa Hà Nội – Phạm Đình Chương, thơ Hoàng Anh Tuấn). Những năm 90 là “Tôi muốn mang Hồ Gươm đi trú đông. Làm sao mang nổi được sông Hồng” (Tôi muốn mang Hồ Gươm đi – Phú Quang, thơ Trần Mạnh Hảo).

Những Hà Nội khác nhau

Phạm Duy chọn một Hà Nội khác để viết về, cũng như sau này, những ca khúc của ông có cách viết riêng biệt. Tiếng bước trên đường khuya của Phạm Duy không hẹn mà thành mở đầu cho việc diễn tả âm thanh đô thị, mà Người Hà Nội của Nguyễn Đình Thi (1947-48) hay Hướng về Hà Nội của Hoàng Dương (1953) có tiếp tục. Nguyễn Đình Thi có tham vọng diễn tả một đại cảnh Hà Nội, từ trang nghiêm lắng đọng “Hồng Hà tuôn ngàn nguồn sống” đến “tíu tít gánh gồng đây Ô Chợ Dừa, kia Ô Cầu Dền làn áo xanh nâu”. Hoàng Dương chấm phá những nét chính để đọng lại “nắng hè tô thắm lên môi, thanh bình tiếng guốc reo vui” trong âm thanh và “mái trường phượng vĩ dâng hoa, dáng chiều ủ bóng tiên nga” trong màu sắc. Tuy nhiên đấy vẫn là những Hà Nội thăng hoa diễm ảo trong ký ức của những đại tự sự, dù là khải hoàn hay hoài hương. Những thân phận, số kiếp cá thể không xuất hiện, mà thay vào đó là những biểu tượng, đại diện. Nó sẽ là một Hà Nội hào khí ngút trời của những người thợ, những người chiến đấu trong dòng ca khúc nhạc đỏ hoặc một Hà Nội dĩ vãng mờ nhòe đẫm nước mắt ly hương của những người di cư vào Nam trong dòng ca khúc viết về “cố đô” sau năm 54 ở Sài Gòn. Nó cho ra kết quả là có hai Hà Nội suốt một thời gian dài, một “đỏ” và một “vàng”. Một Hà Nội “xanh” – tức là đô thị đời sống đương đại – có xuất hiện trên danh nghĩa (Trời Hà Nội xanh, Văn Ký, 1983) nhưng phải đến mãi đầu thập niên 90 mới bắt đầu thấy.

Trong những khúc quanh lịch sử, nhiều lớp người Hà Nội đã ly tán và trở về. Ngay việc nói đến ngày về, mỗi người một kiểu. Ngày về, Lỡ cung đàn (1947) của Hoàng Giác mặc dù viết trực tiếp cho một mối tình trước khi chiến tranh diễn ra, nhưng thời điểm nhạy cảm làm người ta nghĩ đến những người hồi cư về Hà Nội:

Tung cánh chim tìm về tổ ấm
Nơi sống bao ngày giờ đằm thắm
(Ngày về)
Có những người đi không về
Xa xôi rồi quên ước thề
(Lỡ cung đàn)
Rồi ngày hoan mê anh quay về em
Quê xưa nghìn năm với nhau, cùng vui sống êm đềm
(Tiếng hát biên thùy – Hoàng Giác & Nguyễn Thiện Tơ)

Nhưng tâm lý trở về ấy là có thực. Một Ngày về khác cùng năm 1947 của Lương Ngọc Trác phổ thơ Chính Hữu, mang phong cách gân guốc, cụ thể hơn, nhưng cũng đầy ắp mỹ từ của nhạc tiền chiến:

Có đoàn người lên đóng trên rừng sâu
Đêm nay mơ thấy tiến về Hà Nội
Bao giờ sẽ về?
…Nhớ đêm ra đi, đất trời bốc lửa
Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng
Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng
Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm
Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm
Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa
Nghe tiếng kèn của những người Hà Nội
Trở về, trở về, chiếm lại quê hương
Nguy nga sao cái ngày ta lên đường
…Gạch ngói xưa mừng đón gót lưu ly

Quay lại với thời của Phạm Duy. Một số ca khúc trào phúng thời tạm chiếm 1947-1954 như Cô Tây đen (Vũ Cận, 1953, có lấy một đôi câu từ bài thơ cùng tên năm 1918 của Tản Đà) hay Vợ tôi là súng các-bin (Văn Khôi, 1955) lại nhìn nhận xã hội đã đời thường hóa những hiện tượng sinh ra từ chiến tranh, vợ lính Âu Phi da đen, lối nói quân sự xâm nhập vào khẩu ngữ thường ngày. Kể ra cũng khó mà nói đây là một “Hà Nội xanh” vì tính chất thời sự quá rõ rệt và yếu tố dị thường của hiện tượng, vốn không thấy xuất hiện sau này nữa.

Cách thức tiếp cận Hà Nội theo hướng biểu tượng hóa thành đại diện ý niệm “cái chúng ta gọi là Hà Nội” hay “Hà Nội của những người như anh và tôi” ngay từ những năm tháng Hà Nội trở thành nơi ký thác tâm sự hoài hương hoặc biểu tượng khải hoàn đã sinh ra cách chính trị hóa hai chữ “Hà Nội”. Trong ngôn ngữ thông tin ngoại giao thường thấy công bố trên truyền thông, người ta hay dùng tên thủ đô để trỏ chính phủ hay nhà nước của thủ đô đó, chẳng hạn “Tokyo đã ra tuyên bố đáp lại phản ứng của Bắc Kinh”, dĩ nhiên ai cũng hiểu đó là câu chuyện giữa hai chính phủ hay nhà cầm quyền Nhật Bản và Trung Quốc. Hà Nội cũng không là ngoại lệ khi là thủ đô của chính phủ miền Bắc và là quê nhà đã mất của những người di cư. Như đã dẫn, tác phẩm nổi bật của dòng ca khúc di cư là Giấc mơ hồi hương (Vũ Thành, 1955) thậm chí đặt đại từ nhân xưng “em” trong ngoặc kép để trỏ Hà Nội, các góc độ cảm xúc được diễn tả dành cho khung cảnh đô thành “một sớm khi heo may về”, “mờ trong mây khói”, “một chiều chớm thu” hay “tắm nắng hồng của một sớm mai”. Gửi người em gái bứt ra khỏi chùm ca khúc lãng mạn thuần túy của Đoàn Chuẩn & Từ Linh cũng chính là nhờ yếu tố “thời sự xã hội” của chủ đề và cách diễn tả gắn người yêu chia ly với một Hà Nội đã tha hương. Các ca khúc viết về Hà Nội giai đoạn đất nước chia cắt thực sự không có nhiều ca từ diễn tả đời sống về con người bé mọn, về cái tôi thường nhật. Ở phía nào mạch cảm xúc cũng phải gồng lên. Tất nhiên, dù ở phía nào, chúng cũng gây ngạc nhiên ở khả năng cung cấp một kho từ vựng mỹ lệ về Hà Nội. Chúng đều bồi đắp, từ hai phía, một Hà Nội tượng đài. Nó khuôn lại một mỹ cảm rất common sense về Hà Nội mà tôi từng chẳng biết dùng cách nói nào ngoài “Hà Nội là Hà Nội” như tên một tập tản văn in năm 2010 của tôi.

Vì nhắm mục đích cụ thể là ca ngợi hoặc hoài nhớ một Hà Nội theo cách có màu sắc tuyên truyền nên các ca khúc nổi bật thường có chữ “Hà Nội” ở ngay trong tên bài hát hoặc nhắc nhiều lần trong ca từ. Điều này dễ gây ảo tưởng là muốn có bài hát hay về Hà Nội thì phải như một bài viết PR sản phẩm, có yêu cầu phải khéo nhắc đến không dưới 5 lần tên sản phẩm trong bài. Nhưng như tôi đã phân tích, vẫn còn những câu chuyện Hà Nội để hát lên, như Tiếng bước trên đường khuya của Phạm Duy hoặc sau này qua những bài hát của Trần Tiến, Phú Quang, Hồng Đăng hay gần đây hơn là Đỗ Bảo, ví dụ vậy.
Tuy nhiên, càng ngày có vẻ càng ít bài hát viết về chủ đề Hà Nội. Phần vì công thức ca ngợi trực tiếp đã không còn hấp dẫn công chúng, phần vì Hà Nội chỉ còn được sử dụng như bối cảnh, và nhất là nhạc trẻ quan tâm thiên vị những ca từ kể lể tình ái cụ thể. Số lượng từ Hán Việt để định tính ít đi, khiến cho Hà Nội có vẻ khó đội một vài cái mũ hay gắn vài danh hiệu nhất định như trước. Cộng thêm vào đó, sự không rõ rệt của phạm vi đề tài Hà Nội so với trước đã dường như chấm dứt mạch ca khúc về Hà Nội theo lối truyền thống, ngoại trừ những bài hát theo đơn đặt hàng của Nhà nước cho các đợt kỷ niệm nghi thức hoặc đôi bài hát hoài hương của người xa xứ.

Từ những ngã tư đường phố

Tiếng bước trên đường khuya của Phạm Duy nhìn ra một Hà Nội có gì gần gũi với những gì được viết trong những truyện ngắn của Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan, Ngọc Giao, những cảnh Hà Nội của trí thức lớp dưới và những người hạ lưu. Trong văn học, đây là một trào lưu mạnh, nhưng trong tân nhạc, sự thưa thớt của các ca khúc “xã hội ba đào ký” (cách Nguyễn Công Hoan gọi loạt truyện của mình thời những năm 30) khiến bài hát của Phạm Duy có vị trí hơi lẻ loi bên cạnh phong phú những bài hát lãng mạn du dương.

Có phải đó là bước chân ngậm ngùi của người lầm than
Âm thầm trong đêm vang lời ưu phiền
Tiếng chân cứ dần từ từ đi vào đêm mưa
Tiếng chân thẫn thờ đi vào hồn tôi.

Từ “tiếng chân thẫn thờ đi vào hồn tôi” năm 1946 đã có nhiều âm thanh đời sống Hà Nội được đánh dấu trong ca từ.

Tiếng động con người:
- Thanh bình tiếng guốc reo vui (Hướng về Hà Nội – Hoàng Dương, 1953)
- Hòa bình thành phố yên vui, đón anh bộ đội a là hô hoan hô (Quê tôi giải phóng – Văn Chung, 1954)
- Anh lắng nghe bao lời ân ái, những bài tình ca (Những ánh sao đêm – Phan Huỳnh Điểu, 1962)
Tiếng gió, tiếng sóng:
- Đường nghe gió về, Hà Nội bừng tiến quân ca (Tiến về Hà Nội – Văn Cao, 1949)
- Sóng vỗ bờ, âm thanh tan trong gió, bến trúc lao xao, nhớ thuở nào (Một thoáng Hồ Tây – Phó Đức Phương, 1984)
- Để nghe gió sông Hồng thổi, một chiều đông rét mướt (Mong về Hà Nội – Dương Thụ)
Tiếng súng, bom đạn:
- Hà Nội ầm ầm rung (Người Hà Nội – Nguyễn Đình Thi, 1947-48)
- Hà Nội đêm nay rền vang tiếng súng (Hà Nội những đêm không ngủ - Phạm Tuyên, 1972)
Tiếng loa, đài, kèn lệnh:
- Tiếng loa truyền về tin thắng trận; tiếng ca khắp non sông âm vang rộn rã (Bài ca Hà Nội – Vũ Thanh, 1966)
- Tự hào đi trong tiếng kèn tiến quân vang ngân (Từ một ngã tư đường phố – Phạm Tuyên, 1971)
- Âm vang từ Hà Nội, tiếng nói Thăng Long ấm áp hào hùng (Khúc hát người Hà Nội – Trần Hoàn, 1981).
Tiếng chuông:
- Chuông chùa buông tiếng ngân âm thầm, đường tơ lắng buông trong huy hoàng (Nhạc chiều – Doãn Mẫn, 1939)
- Chuông reo ngân, Ngọc Sơn sao uy nghi (Gửi người em gái – Đoàn Chuẩn & Từ Linh, 1956)
- Nhớ tiếng leng keng tàu sớm khuya (Nhớ về Hà Nội – Hoàng Hiệp, 1984)
- Tan lễ chiều sao còn vọng tiếng chuông ngân (Em ơi Hà Nội phố - Phú Quang, thơ Phan Vũ, 1988)
- Làm sao về được mùa đông, để nghe chuông chiều xa vắng (Nỗi nhớ mùa đông – Phú Quang, thơ Thảo Phương)
- Tiếng chuông chùa xa, vỡ trong chiều hoang vắng (Gió mùa về - Lê Minh Sơn, 2000)
Tiếng đàn:
- Đường tơ ai buông trong sương rền khúc (Tiếng đàn ai – Hoàng Trọng, 1944)
- Tiếng dương cầm trong căn nhà đổ (Em ơi Hà Nội phố – thơ Phan Vũ 1972, nhạc Phú Quang 1988)
Tiếng ve, tiếng chim:
- Nghe tiếng chim chiều về gọi gió, như tiếng tơ lòng người bạc phước (Ngày về – Hoàng Giác, 1947)
- Tiếng ve đu cành sấu (Kỷ niệm thành phố tuổi thơ – Hồng Đăng, 1972)
Tiếng rao:
- Tiếng rao bồi hồi nỗi nhớ (Đêm mùa đông Hà Nội – Hoàng Phúc Thắng, 1991)
- Kìa tiếng rao của ai, xé tan màn đêm rét mướt (Gió mùa về - Lê Minh Sơn, 2000)

Trên đây là một số ví dụ để nhận diện một khung cảnh âm thanh Hà Nội được điểm chấm phá trong các ca khúc. Khác với hệ thống âm thanh đô thị Hà Nội được khảo cứu khá kỹ lưỡng như nghiên cứu của F. Fénis (Hàng rong và tiếng rao trên đường phố Hà Nội, có ký âm, minh họa của các sinh viên trường Mỹ thuật Đông Dương, 1928) hay một số tác phẩm văn xuôi như Thư Hà Nội (J. Tardieu, 1929), Hà Nội băm sáu phố phường (Thạch Lam, 1938) cũng dành khá nhiều chi tiết để mô tả phần quan trọng của đô thị - âm thanh đời sống, và hơn thế nữa, các cảnh tượng sinh hoạt nhưng không kém phần nên thơ, thậm chí nhiều nét lãng mạn, ca từ tân nhạc dường như thuần túy ảnh hưởng cảm hứng lãng mạn kiểu Tự lực văn đoàn hay nhạc tình Pháp cùng thời hoặc nếu là dòng “thanh niên-lịch sử” thì mang cảm hứng sử thi.

Ở đây có thể thấy nguyên do phần nào từ xuất xứ tân nhạc. Ra đời có phần muộn hơn các trào lưu văn học hay mỹ thuật, trong khi trường Mỹ thuật Đông Dương ra đời năm 1925 khởi sự cho lối họa pháp Tây phương, phong trào Thơ Mới và Tự lực văn đoàn khoảng 1932-1934, thì tân nhạc mãi đến khoảng 1938 mới chính thức rầm rộ ra mắt như một dòng sáng tác nghệ thuật chuyên nghiệp. Lúc này chỉ còn 1-2 năm là cuộc chiến tranh Thế giới lần thứ Hai nổ ra kéo theo nhiều xáo trộn trong đời sống xã hội. Tự lực văn đoàn khi chấm dứt hoạt động khoảng 1940-1942, không có thành viên hay cộng tác viên nào là nhạc sĩ, trừ việc in các bài hát đầu tiên cho phong trào tân nhạc của Nguyễn Văn Tuyên, Nguyễn Xuân Khoát… Trong bối cảnh xã hội vẫn coi âm nhạc vẫn là thứ tiêu khiển hạng hai, “xướng ca vô loại”, việc chịu ảnh hưởng của văn thơ và ý niệm thẩm mỹ của tầng lớp trung lưu khiến cho tân nhạc nổi trội tính chất lãng mạn. Điều này vô hình chung áp đặt một quan niệm rằng đã là tân nhạc thì tuyền ca khúc tình tứ anh anh em em, thổn thức nỗi lòng “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”. Chất bay bướm, huê tình của đời sống trung lưu Hà Nội khi ấy cũng cần dòng ca khúc này để trang điểm cho giới mình.


Đặt trong bối cảnh đó, bài hát lẻ của Phạm Duy có một vị trí thú vị, xuất xứ từ những gì va đập vào tâm hồn của một người đã sống gần vỉa hè và mặt nước Hồ Gươm từ tuổi nhỏ để thấy những “cảnh ít nên thơ” chứ không thấy hồ liễu hay tiếng chuông ngân nga, tiếng guốc reo vui. Thoát ly những mỹ từ diêm dúa (mặc dù Phạm Duy sử dụng khá nhiều trong các ca khúc khác cùng thời gian như Bên cầu biên giới viết năm 1947 hay Tiếng đàn tôi viết năm 1948, vẫn dùng những câu như “tiếng tơ xót thương vời”, “như ru như thương linh hồn đắm đuối”), bài ca lấy cảm hứng từ tiếng hát khan của người ăn mày trung thực với một Hà Nội trong bóng tối, không có ảo ảnh của “dập dìu trong tiếng đàn tôi”.

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ