Thứ Tư, ngày 18 tháng 5 năm 2016

Thoát ly hay chửi đời: Phim ảnh làm gì khi kinh tế khó khăn

Thế giới chạy nhanh hơn khả năng hình dung của ta. Nước Mỹ đã có tổng thống da đen, có thể có tổng thống nữ, và hôm qua (17/5) đã có bộ trưởng lục quân (tương đương Thứ trưởng BQP) là người đồng tính open. Với những người bảo thủ, có lẽ thời nay là thời khủng hoảng đạo đức. Trong số những thành phần nhiều nỗi lòng, có lẽ dễ thấy nhất là những công việc bị thất sủng như báo chí. Các nhà báo, đặc biệt ở các vị trí cao, sau khi rời nhiệm sở, thường khó khăn khi phải đối diện với một thực tế khi thông tin mạng áp đảo báo chí cổ điển, thời họ có thể là quyền lực thứ tư. Vì thế, họ thường cố gắng tái lập vị thế ở một giao diện mới.

Tình cờ đọc lại bài viết trên Guardian từ năm 2011 của Paul Harris, tuy không còn mới về các chi tiết nhưng các nhận xét và phân tích vẫn thuyết phục, nhất là trong lúc này ở VN. Lược dịch để theo dõi.

***

Một số chương trình truyền hình và phim ảnh tái hiện lại thập niên 1960, còn một số tác phẩm khác phản ánh sự lo âu, khi nghệ sĩ lựa chọn giữa cách thoát ly và đối diện thực tại ảm đạm. 

Chẳng hạn bộ phim Take Shelter [Tìm nơi trú ẩn] của Jeff Nichols, nhân vật trung tâm là một người tầng lớp lao động Trung Tây cố gắng cáng đáng gia đình, công việc và lương tri ở miền quê Ohio, đang ngày càng bị những cơn mơ về tận thế quấy rầy và dường như chúng đang xâm nhập vào thế giới thực. Khán giả theo dõi cuộc đời của anh ta và thế giới bị tan rã trong bộ phim, cũng đắm chìm giữa khung cảnh siêu nhiên và các vấn đề hàng ngày của nước Mỹ như mất việc và không có khả năng chi trả dịch vụ y tế cho gia đình. Bộ phim gây xúc động vì sự không chắc chắn và dự cảm cho sự cáo chung của lối sống Mỹ. Các nhà phê bình khen ngợi nó như một siêu phẩm về sự đại suy thoái và khủng hoảng kinh tế. 

Không chỉ riêng bộ phim này gợi nên sự tác động của suy thoái trong hầu hết các khía cạnh văn hóa của cuộc sống hiện đại trong một thời đại bất an mới của nước Mỹ. Với mức thất nghiệp 9% - và con số thực tế còn cao hơn nhiều – và gần 50 triệu người sống nghèo khổ, không nghi ngờ rằng có một sự giận dữ về văn hóa. Một cảm thức về thời tận thế cũng xuất hiện trong Sự trỗi dậy của hành tinh khỉ Contagion [Bệnh truyền nhiễm], trong đó những loài khỉ siêu thông minh và các vi khuẩn giết người lây lan quét sạch loài người. 

Tuy nhiên sự ảm đạm không chỉ là hồi đáp của văn hóa đối với suy thoái. Bằng chứng cho thấy có một nhu cầu làm mới những sản phẩm của thập niên 1950 và 1960 khi – ít nhất trong tâm lý cộng đồng – các công ăn việc làm chắc chắn dồi dào, các nhà máy của Mỹ sản xuất hàng xuất khẩu khắp thế giới và giấc mơ ngoại ô là một trong những hàng rào cọc gỗ sơn trắng, chứ không phải cọc biển tịch biên. Từ thời trang phố lớn đến khuynh hướng hoài cổ trong cocktail hay sự phổ biến của các kiểu râu ria đàn ông cho thấy một sự khao khát văn hóa quay trở lại quá khứ và lờ đi những khó khăn hiện tại. Ví dụ như Mad Men, phim truyền hình lấy bối cảnh đầu 1960s ở một hãng quảng cáo New York, hành trình của nó hướng về một thời đại hoàng kim, giản đơn hơn và chắc chắn hơn, không phải là một ngoại lệ. Có thể kể thêm show Pan Am, hay các phim Mr Ed, The Man From U.N.C.L.EBewitched, cũng quay về thời giản đơn hơn. 




Chủ yếu “thời hoàng kim” được ưa chuộng vì tính li kỳ. Thập niên 50-60 có lẽ là thời của tiến bộ kinh tế nhưng cũng là thời của phân biệt giới tính sâu sắc, kỳ thị đồng tính luyến ái và phân biệt chủng tộc tất cả đều thể hiện trong Don Draper của show Mad Men. “Tôi không chắc Mad Men hay nhân vật Draper thể hiện một thời đại ‘tốt đẹp hơn’,” GS Dann Pierce, một chuyên gia truyền thông ở ĐH Portland, Oregon nói. “Thập niên 60 thực sự hỗn loạn ở nhiều điều, từ một cuộc chiến tranh lạnh, khủng hoảng tên lửa hạt nhân Cuba, các vụ ám sát chính trị, biểu tình ở các đô thị và cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Nó không nhất thiết là một thời đại chúng ta nên nấn ná lâu để thăm viếng lại”. 

Giống như những người cộng sản và điệp viên Xôviết đã từng là những kẻ xấu trong thời chiến tranh lạnh và những tên khủng bố đã là kẻ thù trong thập niên 1990-2000, giờ đây những tên trùm tài phiệt đang chiếm lĩnh các siêu phẩm ăn khách.

Nhưng không phải mọi phản ứng văn hóa đối với thời buổi khó khăn là sự thoát ly. Một cách khác là ra tay giải quyết vấn đề. Các đại gia ngân hàng và các doanh nghiệp lớn là những nhân vật phản diện trên phim và TV show. Giống như những người cộng sản và điệp viên Xôviết đã từng là những kẻ xấu trong thời chiến tranh lạnh và những tên khủng bố đã là kẻ thù trong thập niên 1990-2000, giờ đây những tên trùm tài phiệt đang chiếm lĩnh các siêu phẩm ăn khách. Ví dụ Wall Streer: Money Never Sleeps, Margin Call, The International, The Other Guys hay Despicable Me, thậm chí còn chọc ngoáy bọn ngân hàng trong các phim trẻ con. 

Thời Đại Suy thoái vốn tồi tệ hơn bây giờ, cũng có một tác động sâu sắc đến đời sống văn hóa. Ví dụ ca khúc Brother, can you spare me a dime? [Này anh giai, có thể chia tôi một đồng mười xu?] của Bing Crosby phản ánh tác động khắc nghiệt của khủng hoảng lên đời sống thường nhật, vốn bùng nổ trong nhạc blues. 

Trong văn học, Chùm nho phẫn nộ của Steinbeck thể hiện thời khó khăn của người nghèo và bị mất việc. Cùng lúc có sự thoát ly trong văn hóa nhạc jazz và sự nổi lên của hình tượng Siêu Nhân vào năm 1938, nhân vật đã hình tượng hóa sự khao khát về một sự giản đơn của hạnh phúc và mong mỏi về một đấng hào kiệt hoàn toàn Mỹ để giải cứu đất nước. Cũng có sự hoài nhớ thời giản đơn hơn trong sự phổ biến tăng lên của các phim và chương trình phát thanh chủ đề miền Tây, như The Lone Ranger, trong đó các người hùng được nhận diện dễ dàng, các vấn đề được giải quyết với một trận đánh mau lẹ và bọn phản diện thì dễ bị phát giác và rút cục bị đè bẹp.

Thứ Bảy, ngày 14 tháng 5 năm 2016

Xem Kiếp hoa - Phim Việt Nam có tiếng nói đầu tiên

Trong hồi ký của Ái Vân có nhắc đến năm sinh của chị là 1954, như thế là sau khi bố mẹ là ông Hà Quang Định và bà Ái Liên vừa sản xuất xong bộ phim Nghệ thuật và hạnh phúc năm trước, có vẻ là bộ phim ca nhạc đầu tiên của VN. Trong phim này có bài Túi đàn của Canh Thân. Ông là cậu ruột của Ái Liên, tức là ông trẻ của Ái Vân.

Ái Liên lúc này đã 35 tuổi, với chồng là ông bầu, làm 2 phim ở Sài Gòn (phim kia là Phạm Công-Cúc Hoa), rồi quay ra Bắc. Như thế là vào thời đó, Ái Liênsinh các cô con gái như Ái Vân, Ái Xuân và Ái Thanh lúc tuổi cũng đã khá lớn. Ái Liên như nhiều người đã biết, từng là "hoa khôi HN", là một trong những người hát các bài ta theo điệu tây đầu tiên thời trước 1938, hát tân nhạc xen vào trong các buổi diễn cải lương (có cả bài tây lồng vào cảnh lẫn bài ở giờ giải lao). Tuy nhiên, nhan sắc của Ái Vân vẫn xuất chúng hơn hẳn bà mẹ, trong khi về lâu dài, có lẽ giọng ca của chị mới ở mức pop star vừa vừa chứ chưa phải là tượng đài như mẹ (mặc dù nghe các bài cổ xưa của Ái Liên không mấy điêu luyện).

Giai đoạn Hà Nội tạm chiếm cũng là lúc có một số phim của người Việt ra đời, như Kiếp hoa năm 1954 với Kim Chung, Kim Xuân (mẹ của Như Quỳnh) đóng. Trong các phim này, một số bài hát được thể hiện, góp phần làm cho chúng trở nên phổ biến thành những top hit đương thời: Dư âm, Làng tôi, Nhạc đường xa, Cây đàn bỏ quên. Chắc phim Nghệ thuật và hạnh phúc cũng có nhiều bài hát, tuy nhiên tôi chưa tìm thấy dữ liệu.



Trên tờ nhạc Túi đàn do NXB Tinh Hoa ấn hành năm 1953 có ghi rõ tên các nghệ sĩ trình bày trong phim. Có thể nghe một version Túi đàn do Ngọc Bảo hát ở đây:
https://www.youtube.com/watch?v=MFWfR7RtlVA

***

Kiếp hoa - được coi là phim VN đầu tiên có tiếng nói, ra mắt năm 1954. Sau dự án làm phim bất thành của Hội kịch Bắc Kỳ của Nguyễn Vinh Lan và Lê Vũ Thái những năm 1934-1935, mãi đến 1953 VN mới có các phim thực sự. 




Dựa trên phần nào cốt truyện Truyện Kiều (Kim Chung-Kim Xuân đóng vai hai chị em Lan và Thủy), lấy bối cảnh Hà Nội và nông thôn miền Bắc thời tản cư, bộ phim rất giá trị bởi có gần đủ các hình thức sinh hoạt xã hội khi ấy: phố phường, nhà cửa nội thất (tủ com-mốt hiện đại, "giường Hồng Kông đôi vợ chồng mới cưới" - ngày xưa đọc bài thơ Nhớ ngày thủ đô kháng chiến của Hoài Anh ấn tượng với chi tiết này, trong phim cái giường rất là hoành tráng), các cảnh buôn bán, làm ruộng, nhà biệt thự với nhà trung nông, đi xem cải lương, đám cưới nhà giàu, ăn cao lâu, gánh mỳ, sực tắc...
Các diễn viên ngày xưa mặt không phải là đẹp lộng lẫy, thậm chí Kim Chung cũng khá bình thường, nhưng hai nữ diễn viên chính mặc áo dài quá đẹp, nhất là Kim Chung có phom người cao rất hấp dẫn. Giọng nói ngày xưa hơi chua chua, có cái vị hơi kiểu cách. Diễn xuất thì hồn nhiên, chắc ảnh hưởng lối diễn sân khấu.

Bộ phim có mấy bài hát được lồng ghép khá tự nhiên như Dư âm, Cây đàn bỏ quên, Làng tôi... Hình như người làm nhạc là Thẩm Oánh (lúc này ông là thầy nhạc ở trường Trưng Vương) còn sử dụng nhạc bài Giọt mưa thu.




Trong ê kip làm phim có vẻ nhiều người Hoa, cũng như biển hiệu nhiều hàng người Hoa trong phố cổ.

Khung cảnh HN gần như khác lạ với các biệt thự mạn quanh hồ Thiền Quang hay Phạm Đình Hổ còn nguyên vườn và hàng rào. Các hồ Gươm, Trúc Bạch, ô Quan Chưởng và Bách Thảo cũng là bối cảnh nổi bật. Có chi tiết hai chị em Lan-Thủy lỡ vận đi bán thuốc lá trong Bách Thảo, Thủy hỏi thuốc ba con năm là thế nào, cô chị giải thích là thuốc rất đắt tiền... Thế mà hồi bé mình cứ nghĩ là thuốc ấy phải tân kỳ lắm, hóa ra các cụ đã xài từ đời tám hoánh.

Link xem phim Kiếp hoa: https://www.youtube.com/watch?v=jNFbv6ovXlg




Thứ Ba, ngày 10 tháng 5 năm 2016

Lời tựa tập nhạc 1930-1950


Lời tựa cho tập nhạc NHỮNG CA KHÚC MỘT THỜI VANG BÓNG

32 ca khúc chọn lọc, 23 nhạc sĩ tiêu biểu 1930-1950









Trong thời đại nhạc thương mãi đang hoành hành trên nửa phần đất nước nầy, thính giả hầu như đã lãng quên những nét vàng son vang bóng thời qua, những nét nhạc hiện thiếu người nuôi dưỡng, phải lép vế dưới thế lực của những nhà thương mãi và những người có uy thế phổ biến loại nhạc thời trang hiện nay.

Những ca khúc thời qua sáng tác hoàn toàn bằng cảm hứng, không gượng gạo hay uốn nắn theo một đường hướng khác với ý tác giả, viết bằng những tình cảm trung thực nên dễ làm xúc cảm người nghe, gợi hoặc để lại cho thính giả những cái gì cao đẹp mà thời gian khó xóa bỏ được. Họ viết là muốn ghi lại những cái gì muốn nói và hy vọng truyền cảm qua người khác để dìu dắt nhau và cùng đi trên con đường xây dựng Thiện-Mỹ.

Tác phẩm thời ấy như một đứa con xuất thân một gia đình thanh cảnh có truyền thống tốt, lại được nuôi dưỡng tử tế, làm sao không trở nên một đứa con hữu ích cho xã hội. Người nuôi dưỡng nó là ai? Nhiều khi không phải là người sinh ra nó, mà lại là những người hâm mộ giá trị của nó, tự thấy phải có trách nhiệm giới thiệu cái hay, cái đẹp cho người khác. Chính nhờ tinh thần vị tha và giá trị của tác phẩm, nhiều ca, nhạc sĩ và cơ quan phổ biến được nổi danh và nhận được nhiều thiện cảm của thính giả.

Ngược lại thời nay, những tác phẩm giá trị lại không được trình bày nhiều vì thiếu người nuôi dưỡng vô vị lợi; những ca khúc kém phần nghệ thuật lại được nghe hoài qua các làn sóng điện. Những bài hát này cũng như những đứa con hư xuất thân những gia đình truyền thống kém, nếu không nói là hạ cấp, có những nét phù phiếm bên ngoài mà nội dung rỗng tuếch. Nhưng chúng lại gặp may, được sinh sản trong một cái thế giới đảo điên, tâm hồn con người đang thác loạn chạy theo cái hào hoa bên ngoài, được săn sóc bằng những bàn tay trục lợi của những kẻ có thế lực. Có lẽ vì hiện trạng chiến tranh, vì thế lực kim tiền của ngoại nhân, những người kém trí thức, thiếu tự trọng đã gặp nhiều cơ hội tốt trở nên giàu có trong nháy mắt và những kẻ đứng đắn lại phải chịu phận nghèo vì tự ái. Có lẽ vì hạng người thứ nhất khá nhiều, nên loại nhạc thời trang hiện nay đã phục vụ đắc lực cho họ, và loại nhạc đứng đắn có nghệ thuật không đứng vững được vì hạng người thứ hai quá ít. Đây là điều mà chúng tôi và những người tha thiết muốn xây dựng cho nền nhạc Việt rất buồn phiền, nhưng không biết làm sao vật đổ được những tệ đoan ấy vì khả năng phổ biến nhạc hiện nay đang ở trong tay những kẻ thủ lợi có thế lực.

Thấy thực tại mà càng thương mến dĩ vãng. Cho nên ngay phút đầu tiên tiếp xúc với nhóm “Đất lành” chủ trương tuyển tập nhạc “Vang bóng một thời”, tôi đã có cảm tình ngay.

Đây là một việc làm đáng ca ngợi và khuyến khích, một việc làm vô vị lợi.

Chúng tôi rất thiết tha mong quý vị đón tiếp tập tuyển nhạc nầy với một thiện cảm nồng nhiệt, và miễn thứ cho nhóm chủ trương những thiếu sót vì hoàn cảnh khó khăn trong việc thực hiện.

Hè 1971
Văn Giảng

* Năm 1971 là lúc Văn Giảng 47 tuổi. Có lẽ đây cũng là tâm trạng của người đứng ngoài cuộc, mặc dù thực tế nhạc tiền chiến những năm này vẫn được hát và ghi âm khá nhiều. Nhìn rộng ra, có lẽ phản ánh tâm lý người Việt, thường hay hoài niệm và đề cao truyền thống, dù truyền thống nhiều khi mới được chế tạo mà thôi.

Chủ Nhật, ngày 24 tháng 4 năm 2016

Sự chuyển hóa của ẩn dụ: Hội Truyền bá quốc ngữ

Có nhiều cách để quản trị một tổ chức và áp dụng thuyết quản lý nào là vấn đề then chốt. Nhưng do quan điểm của chúng ta luôn có giới hạn bị tác động bởi các yếu tố hấp thụ từ môi trường, thuyết hiệu quả nhất tùy thuộc mỗi tổ chức cụ thể. Mỗi một tổ chức đến lượt nó lại chứa đựng những ẩn dụ mà chúng ta tiếp cận thông qua thao tác “nhìn và đọc” để phân tích. Trong bài viết, tôi sẽ thể hiện sự phân tích một tổ chức truyền thông Việt Nam có đóng góp to lớn cho việc phổ biến chữ Quốc ngữ, một hệ thống ký tự Latinh hóa hiện đại cho ngôn ngữ Việt. Đó là Hội Truyền bá Quốc ngữ (tên gọi đầy đủ chính thức là Hội Truyền bá học Quốc ngữ], ra đời cuối những năm 1930. Trong cơ sở của những nghiên cứu có tính căn bản của Gareth Morgan về ẩn dụ của tổ chức như tác phẩm Images of Organisation, tôi sẽ dùng chúng để phác ra một hình ảnh khả dĩ gần nhất của tổ chức mang tính lịch sử này.

TIẾP CẬN MỘT TỔ CHỨC

Thuyết quản lý: đi tìm góc độ nhân văn

[Phần này nói lướt qua định nghĩa về các học thuyết quản lý, như trường phái khoa học (Taylor), trường phái quản trị (Fayol) và trường phái cơ chế (Weber), và ưu thế của các trường phái mới khi nhấn mạnh đến góc độ nhân văn khi quan tâm đến yếu tố cá nhân trong tổ chức.]

Dưới đây, trên cơ sở những gợi ý từ phương pháp nghiên cứu của Morgan, đọc chẩn đoán và phân tích định giá, tôi sẽ tìm hiểu cách thức một số học giả Việt Nam có xu hướng dân tộc chủ nghĩa đã sử dụng trong việc xây dựng một hình ảnh lý tưởng cho nước Việt Nam hiện đại. 

Sơ lược về sự ra đời của tổ chức Hội Truyền bá Quốc ngữ

Cho đến trước thời bắt đầu thế kỷ 20, các văn bản chính quyền và học thuật Việt Nam đều được viết bằng chữ Hán, một loại văn tự ngữ tố, với cách đọc không như tiếng nói hàng ngày. Trong khi đó, phần lớn dân số Việt Nam mù chữ. Bảng chữ cái Việt, loại chữ viết có gốc Latinh, được một số nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và Pháp tạo ra vào cuối thế kỷ 17 dường như là một giải pháp tốt cho việc xóa nạn này. Khi thực dân Pháp chiếm Việt Nam, chữ quốc ngữ bắt đầu được dạy vào cuối thế kỷ 19 bên cạnh tiếng Pháp, với một văn bản chính thức yêu cầu sử dụng mẫu tự Latinh từ nhà cầm quyền áp dụng từ ngày 1-1-1882 tại Nam Kỳ. Tuy nhiên, phương pháp dạy vẫn chưa đủ khoa học và giới hạn trong một thiểu số dân chúng có điều kiện đi học ở nhà trường chính quy. Với mục đích lan tỏa việc sử dụng loại chữ này để mọi người có thể đọc và viết, để họ dễ dàng đạt được tiêu chuẩn sống thông thường của đời sống hiện đại, tiếp sau một số hội trước đó [ví dụ Đông Kinh nghĩa thục năm 1907], Hội Truyền bá Quốc ngữ được một số học giả có xu hướng dân tộc chủ nghĩa thành lập ở Hà Nội, khi đó là thủ phủ của Liên bang Đông Dương và của xứ Bắc Kỳ.

Hội được chính thức thành lập ngày 29-7-1938 theo Quyết định số 3622-A của Thống sứ Bắc Kỳ sau khi phê duyệt đơn xin lập Hội ngày 8-4-1938 của học giả Nguyễn Văn Tố. Trụ sở của Hội đóng tại 59 Hàng Quạt, Hà Nội, đây cũng là địa chỉ của một hội giáo dục danh tiếng lâu đời khác, Hội Trí Tri (Société d’Enseignement Mutuel du Tonkin) (Đỗ Hoàng Anh, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, 2011). Quy chế hội viên dành cho tất cả mọi người thuộc mọi quốc tich, không phân biệt giới tính, và không giới hạn số lượng. Ban quản lý của Hội năm 1938 gồm: Nguyễn Văn Tố (Hội trưởng) – ông cũng là Hội trưởng hội Trí Tri; hai Hội phó; một ban thư ký; một ban vận động tài chính và một ban cố vấn. Tất cả đều là những trí thức lớn đương thời, thậm chí có người từng biên soạn sách giáo khoa trong hệ thống giáo dục trước đó.

Chương trình hoạt động của Hội tập trung vào một số việc, như thiết lập các lớp học buổi tối để tạo cơ hội cho người tham dự do phần lớn họ là người nghèo và đi làm thuê vào ban ngày. Các học viên được cấp văn phòng phẩm như sách học, vở viết và bút. Việc dạy các định nghĩa và ngữ pháp có nhiều tiến bộ hơn phương pháp truyền thống, dựa trên sách do Hội xuất bản. Đây cũng là thứ đóng vai trò quan trọng trong chương trình bởi vì đây là mục đích chính của Hội cũng như là bước chuẩn bị cho giáo dục tiểu học. 

Một lớp học ban đêm.
Công việc nặng nề nhất là tiến hành các lớp học. Các giáo viên đều dạy tình nguyện. Hội mở các lớp đầu tiên vào ngày 9-7-1938 tại trụ sở và một ngôi trường ở Hà Nội. Sau khóa học bốn tháng đầu tiên, khóa thứ hai đã mở rộng ra ở địa điểm bốn trường học, một số ngôi chợ và chùa. Khóa thứ sáu vào năm 1941 đã tổ chức ở 14 trường và khóa sau đó đã tăng lên đột biến ở 33 trường với 68 lớp và 3000 học viên ở khắp Bắc và Trung Kỳ. Năm 1942, số thành viên đã tăng lên 7500, trong đó 4000 trả lệ phí. Tuy nhiên số lệ phí này không đủ để trang trải các hoạt động của Hội. Hội đã kêu gọi sự ủng hộ của các nhà hảo tâm và tiền từ các buổi chiếu phim cũng như mở xổ số. Để đảm bảo việc hoạt động thuận lợi, một nhóm vận động tài chính với sự ủng hộ của một số đông các phụ nữ nhiệt tình nỗ lực gây quỹ từ các nhà giàu và các buổi đấu giá. 

Năm 1945, khi chính quyền độc lập mới ra đời dưới sự lãnh đạo của Việt Minh, một bộ phận ủy nhiệm của Đảng Cộng sản, hiệp hội này đã chuyển giao chức năng của nó cho một cơ quan của chính phủ mới, Nha Bình dân học vụ.

SỰ CHUYỂN HÓA CỦA ĐỊNH GIÁ

“Vô chính trị” 

Khi Việt Nam bị chiếm làm thuộc địa, nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra chống lại sự thống trị của Pháp. Các nhà cai trị mau chóng nhận diện Đảng Cộng sản là đối thủ nguy hiểm nhất của họ. Trong bối cảnh đó, mặc dù là một hiệp hội được thành lập hợp pháp, mọi hoạt động của Hội Truyền bá Quốc ngữ đều bị Sở mật thám theo dõi sát sao. Nhà chức trách thực dân nghi ngờ Hội là một nhóm theo chủ nghĩa Stalin chống đối chính sách của Pháp. 

Hệ quả là hầu hết các thành viên của Hội đều nằm trong danh sách bị theo dõi, đặc biệt những người cộng sản như Võ Nguyên Giáp, vị tướng nổi tiếng của Quân đội nhân dân Việt Nam sau này, người đã chỉ huy trận Điện Biên Phủ thắng lợi trước quân Pháp năm 1954 hay trí thức Marxit như Đặng Thai Mai, sau gia nhập Đảng Cộng sản và tham chính. [Đặng Xuân Khu, tức Trường Chinh, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản sau này, cũng là hội viên (theo văn bản của Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)]. Hội trưởng Nguyễn Văn Tố sau này là Chủ tịch Quốc hội đầu tiên của Việt Nam, dù không phải là đảng viên Cộng sản. Một Phó Hội trưởng, Vũ Đình Hòe, sau là Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục đầu tiên và Bộ trưởng Tư pháp của VNDCCH. Trong khi đó, một học giả khác, Trần Trọng Kim, là Thủ tướng của Việt Nam Đế Quốc, một chính thể bù nhìn do người Nhật dựng lên, tồn tại ngắn ngủi vài tháng vào năm 1945 trước khi bị thay thế bằng chính quyền của Hồ Chí Minh trong cuộc cách mạng tháng Tám cùng năm. Hoàng Xuân Hãn, người tham gia phần chính trong việc soạn ra sách học cho chương trình, cũng giữ vị trí Bộ trưởng Giáo dục Mỹ thuật trong chính phủ Trần Trọng Kim. 

Cho dù bối cảnh chính trị phức tạp, Hội vẫn tiến hành được nhiều hoạt động có tiếng vang lớn trong việc tuyên truyền việc học chữ quốc ngữ. Các nhà lãnh đạo Hội cũng cho rằng việc giáo dục đạo đức phải được dạy gián tiếp trong đời sống hàng ngày cả ở nhà lẫn tại trường, có kỷ luật được thể hiện qua giáo dục thể chất lẫn chương trình học. (Đỗ Hoàng Anh, TTLTQG I, 2011)

Buổi ra mắt của Hội truyền bá quốc ngữ tối 25-5-1938 ở sân quần vợt "Hội quán thể thao An-nam" (CSA), Hà Nội. Nhà thơ Hằng Phương đang đọc diễn văn. Trên hàng ghế gần diễn giả từ trái sang phải là các ông: Phan Thanh, Nguyễn Văn Tố, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Văn Huyên... Ảnh tư liệu của Nguyễn Huy Thắng.

Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, người đã từng học tại Paris khi còn trẻ và sau này sống ở Pháp từ năm 1951, đã xác nhận lại trong bài báo kỷ niệm 40 năm thành lập Hội rằng ông và nhiều học giả khác đã tham gia Hội bởi vì kính trọng uy tín của người lãnh đạo, cụ Nguyễn Văn Tố, “một nhân vật có một không hai” ở trường Viễn Đông Bác Cổ [EFEO] tại Hà Nội. “Tuy là một tay tây học nổi tiếng, nhưng cụ vẫn áo dài quần trắng, khăn xếp giày đen như một thầy khóa thời xưa. Bởi là người bản xứ, cụ chỉ giữ một chức nhỏ, nhưng hầu hết các viên chức Pháp ở đây cần tới cụ trong khi làm việc trường hay khảo cứu. Vì vậy ai cũng kính nể cụ. Vả đối với hàng trí thức ta, cụ lại là trưởng Hội Trí Tri, có hội quán, có thư viện, và đại đa số nhân viên là công chức tai mắt xứ Bắc Kì. Bởi những lẽ ấy, không những cụ được mọi người trọng, mà ảnh hưởng xã hội của cụ đang thời cũng không ít.” (Hoàng Xuân Hãn, báo Đoàn Kết, 1988)

Một thành viên khác cũng làm việc tại EFEO, Trần Văn Giáp, giải thích với Hoàng Xuân Hãn về đặc điểm của hiệp hội dự kiến thành lập, “Đây là bởi một nhóm chú ý vào hành vi xã hội, đề xướng ra. Họ muốn lập những lớp bình dân dạy chữ quốc ngữ cho các em bé thất học và những người đứng tuổi mù chữ nhà nghèo. Họ muốn những người có danh nhưng 'vô chính trị'', như cụ Tố và chúng ta, đứng ra xin phép, thì may chi tòa thống sứ và sở mật thám mới cho phép. Sau khi được thành lập, hội lại phải quyên tiền để mua bút giấy cho học trò. Tụi mật thám rất sợ điều này, vì chúng nghi mình dùng tiền làm chính trị.” (Hoàng Xuân Hãn 1988)

Hoàng Xuân Hãn cũng đi tới biết rằng nhiều học giả hàng đầu ở Hà Nội cũng được mời tham gia Hội. Nhờ vào không khí chính trị đã dễ thở hơn do bên Pháp, Mặt trận Bình dân thắng cử trong chính phủ, việc thành lập một hiệp hội Việt Nam “vô chính trị” không đến nỗi bất khả thi.

Từ những gì câu chuyện cho thấy, chúng ta có thể nhận thức rằng khởi thủy Hội có những dấu hiệu của một tổ chức mang dạng thức ẩn dụ “bộ não” và “văn hóa”, hai thuật ngữ được định nghĩa trong phương pháp của Morgan. Hội được thành lập với ý tưởng chia sẻ kiến thức và những nhà sáng lập muốn tạo ra một giá trị của những người được văn minh hóa dưới sự ảnh hưởng của những tiến bộ khoa học Tây phương. Ngôn ngữ và chữ viết thuộc về số những thực hành văn hóa được chia sẻ quan trọng nhất, có thể là yếu tố chính để thu hút sự chú ý của các học giả dù ở những thế đứng khác nhau. Thêm vào đó, một giá trị ngầm ẩn ở đây là khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa vốn tạo nên một căn cước của Việt Nam trong thời thuộc địa. 

Tiếp cận có tính khoa học để tối đa hóa tác động 

Là một giáo sư toán, Hoàng Xuân Hãn chứng tỏ sự áp dụng phương thức tiếp cận theo trường phái khoa học của mình vào phương pháp dạy chữ Quốc ngữ. Về sản phẩm nổi tiếng nhất này, sách dạy học vần, ông thể hiện rằng “Mục đích ta là muốn học cho dễ, cho biết đánh vần chóng, biết viết chóng. Mục đích là làm sao cho trẻ con hoặc người đứng tuổi học không sợ khó, không hay quên, lại lấy học làm vui thích. Ta cũng nên vừa dạy đánh vần vừa khiến cho học trò, nhất là những người lớn tuổi, hiểu sự cơ động các vần.” (Hoàng Xuân Hãn 1988). Ông gọi phương pháp của mình là phương pháp “i tờ”, vốn bắt đầu từ hai chữ cái dễ nhận mặt nhất, dễ đọc và dễ viết. Ông cũng viết một số câu thơ theo lối ca dao để giúp học viên học thuộc lòng dễ dàng hơn. Sách của ông hiển nhiên đã có sức phổ biến rất ấn tượng. Trong nhiều thập niên sau đó, cho dù nhiều chính thể thay đổi, kể cả một cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm, phương pháp này vẫn dường như là một cách học chung nhất. 

Tác giả của sách học vần cũng cố gắng tránh bất kỳ sự nghi ngờ nào của mật thám Pháp về động cơ chính trị trong sản phẩm của mình. Tuy nhiên, nhà chức trách vẫn “xét kĩ càng, nhưng không thấy dấu gì là tuyên truyền chính trị. Tuy vậy, họ vẫn nghi ngờ và theo dõi nhân viên hội.”

Hoàng Xuân Hãn cũng nhớ lại rằng sau khi chính quyền thực dân Pháp bị quân Nhật triệt hạ vào cuối Thế chiến II, nhân dân đã nắm quyền trách nhiệm xóa nạn mù chữ trên toàn quốc. Bằng cách đó, phong trào các lớp học bình dân dạy theo phương pháp “I tờ” bùng nổ. Nhiều phiên bản áp dụng phương pháp này đã được tạo ra để tối đa hóa tác động, rồi lan tỏa trong việc học của đông đảo quần chúng. “I tờ” cũng trở thành một biệt danh cho những người ít học. Một số bài thơ vui cũng ra đời để cổ động cho phong trào. Một bài hát cũng được sáng tác dựa trên những lời này là bài Cô Tú viết năm 1945 của Nguyễn Long Châu, [Ai về chợ huyện Thanh Vân/ Hỏi thăm cô Tú đánh vần được chưa?] với nội dung khuyên một cô gái đi học để khỏi “phí hoài ngày xanh.” (Nghe bài hát do tài tử Ngọc Bảo trình bày ở dưới đây). Một số bài hát như Bình dân đi học của Phạm Duy hay ca Huế với lời của Ưng Bình Thúc Giạ Thị cũng tuyên truyền việc học chữ quốc ngữ.

Bìa bản nhạc của Phạm Duy, nxb An Phú ấn hành khoảng 1950. Trên cái cặp sách của người phụ nữ có chữ "i t".

Link bài hát Cô Tú do Ngọc Bảo trình bày: https://youtu.be/hgCh7EX86-c

Câu chuyện này cung cấp cho chúng ta một dấu hiệu của ẩn dụ kiểu sinh vật, khi mọi người có nhiều lựa chọn được tạo ra hơn, họ trở nên sáng tạo hơn, và họ tập trung vào các mối quan hệ có tính liên tổ chức. Hơn nữa, chương trình truyền bá quốc ngữ cũng dành không gian cho các thành viên và học viên. Việc dạy là tình nguyện và việc học thì tùy sức. Các nhà sáng lập hiển nhiên rất hiểu cơ chế một cộng đồng hấp thụ một định nghĩa có tính khoa học thông qua những dạng thức đơn giản. 

Ẩn dụ có tính chính trị và sự chuyển giao

Trong lưu trữ của Trung tâm Lưu trữ quốc gia gần đây, nghiên cứu đã xác nhận rằng trong 7 năm hoạt động (1938-1945), Hội Truyền bá Quốc ngữ tuy mang danh nghĩa một tổ chức văn hóa và giáo dục nhưng trên thực tế là một tổ chức chính trị khi hàng tá các nhà tổ chức là những nhà hoạt động cách mạng. Hơn nữa, bản báo cáo nhà nước cũng ghi nhận Hội đã đóng góp lớn cho Đảng Cộng sản và Cách mạng thông qua tuyên truyền giáo dục kêu gọi lòng yêu nước và ý chí đấu tranh trong quần chúng nhân dân lao động. (Đỗ Hoàng Anh, TTLTQG I, 2011). Trần Trọng Kim, một thành viên phi Cộng sản của Hội cũng nhận xét rằng hiện tượng xâm nhập của những người cộng sản vào tổ chức này là để “tuyên truyền, hoặc để hoạt động theo chủ nghĩa của họ” (Trần Trọng Kim, Hồi ký Một cơn gió bụi, 1969: 24)

Ngược lại với những gì Hoàng Xuân Hãn ghi nhận về bối cảnh “vô chính trị”, dưới cái nhìn của Đảng Cộng sản, phép ẩn dụ của tổ chức lại dường như khác hẳn. Trường Chinh, người có mối liên hệ mật thiết với các trí thức Marxit trong Hội Truyền bá Quốc ngữ, là người đã đề nghị Xứ ủy Bắc Kỳ chủ trương “thành lập Hội Truyền bá quốc ngữ để mở rộng phong trào học chữ quốc ngữ một cách công khai hợp pháp.” (Viện Lịch sử Đảng 2013: 583). Một trí thức Marxit khác, Trần Huy Liệu, cũng đã viết trong hồi ký về thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương: “Theo quyết nghị của Đảng, để tiến tới một tổ chức chống nạn thất học, chúng tôi, một số đồng chí đã họp với một số nhân sĩ để bàn về việc này. Buổi họp ở nhà anh Phan Thanh, trong đó có các anh Phan Thanh, Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp và tôi cùng mấy nhân sĩ là Bùi Kỷ, Nguyễn Văn Tố... Hội nghị đi tới việc xin phép thành lập một hội”. Hội nghị bí mật của Xứ ủy Bắc Kỳ tháng 8-1938 cũng khẳng định “đây thật là một công cuộc phát triển văn hóa quan trọng nếu thực hành được như điều lệ dự định của Hội, Đảng ta phải gắng sức lãnh đạo quần chúng và đòi hỏi Chính phủ phải giúp sức để thực hiện.” (sđd: 584) Mặc dù còn tồn nghi liệu Trường Chinh hay Trần Huy Liệu có tham gia Hội Truyền bá quốc ngữ hay không, dễ thấy rằng các nhà Marxit đã bí mật mượn đường những cách thức phổ biến của Hội để lan truyền các tư tưởng cách mạng.

Một yếu tố khác cũng nên tính đến là giai đoạn 1936-1939 ở Pháp, khi các đảng phái cánh tả dành một số quyền lợi tuy hạn chế cho người dân thuộc địa, đặc biệt trong việc thành lập các tổ chức xã hội và tranh cử vào nghị viện các xứ. Theo mô hình Mặt trận Bình dân ở Pháp, Đảng Cộng sản Đông Dương cũng xúc tiến thành lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương để tập hợp lực lượng đồng minh cho mình, trong đó có tổ chức kênh ngôn luận chính thức là tờ báo Tin tức, với sự chủ chốt của Trường Chinh và Trần Huy Liệu, tờ này cùng nhiều tờ khác tồn tại song song với Hội Truyền bá quốc ngữ, tạo nên một vùng chồng lấn về truyền thông. Do phần nhiều thành viên ban trị sự là những người có cộng tác với lực lượng cách mạng, hiển nhiên là hiệp hội này chuyển giao êm thấm cho tổ chức nhà nước khác khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời ngày 2-9-1945.

Sau ngày độc lập ít ngày, chính quyền mới đã ra hai sắc lệnh về phong trào xóa nạn mù chữ, “diệt giặc dốt”. Tên gọi của phong trào là Bình dân học vụ. Một số lãnh đạo của Hội Truyền bá quốc ngữ giờ đây là thành viên chính phủ mới đề xuất với Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc thành lập một cơ quan nhà nước mang tên Nha Bình dân học vụ. Vũ Đình Hòe, nguyên Phó Hội trưởng Hội Truyền bá quốc ngữ, giờ là Bộ trưởng Bộ Quốc gia giáo dục, đã mong muốn thành lập được cơ quan mới này trong vòng một năm và “chuyển mọi cơ sở vật chất, tài liệu, các cấp quản lý và giáo viên của Hội Truyền bá quốc ngữ sang ngành học mới này”. (Tuổi Trẻ, 9-9-2010; Thuở lập thân, hồi ký Vũ Đình Hòe, 2012). Tổ chức mới này, với vị thế hợp pháp, đã chứng tỏ sức mạnh của nó khi sau một năm, đã mở được tổng cộng gần 75 nghìn lớp học. Ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, số người biết đọc biết viết đạt con số lịch sử 2,5 triệu. (David Marr 1984)


Cổ động Bình dân học vụ: "Bánh xe BDHV" chở hai chữ "i t".

Giấy chứng nhận "đã biết đọc biết viết chữ Quốc ngữ" của Ban Phụ trách Bình dân học vụ tỉnh Hà Tĩnh.

Cho dù yếu tố chính trị quá rõ ràng trong sự phát triển của Hội, như việc nhiều thành viên là các chính khách và Đảng Cộng sản đã bí mật khai thác những lợi điểm của Hội để tập hợp quần chúng, Hội cũng mang ẩn dụ của một tổ chức có tính chuyển hóa. Vấn đề ở đây là cách thức một số thành viên đối diện với sự tự ý thức của mình về quyền lực của hội đoàn, hay là cách họ “đọc” và “định giá” tổ chức của họ như lý thuyết của Morgan đã nêu. Vẫn còn đó những tranh cãi về vai trò của Đảng Cộng sản trong việc thành lập Hội, có lẽ do cách các thành viên định giá tổ chức của mình. Để đưa một sự giải thích về trường hợp nghiên cứu của Hội Truyền bá quốc ngữ, chúng ta có thể lưu ý đến ví dụ của Morgan về công ty Multicom về ẩn dụ của tổ chức: Mặc dù các nhà sáng lập ban đầu chia sẻ với nhau cùng một ý tưởng về công ty của họ, nhưng khi có những cách đọc chẩn đoán khác nhau và đặt nó vào những khung ẩn dụ xung đột với nhau, họ tan rã. (Morgan 2006) Về phần Hội Truyền bá quốc ngữ, việc kế tục nó của Nha Bình dân học vụ, cũng là bước đầu tiên của việc quốc hữu hóa và tập trung hóa các tổ chức ngoài nhà nước ở Việt Nam trong những thập niên sau, khi chủ nghĩa xã hội kiểu Xôviết trở thành chủ đạo.

KẾT LUẬN

Hội Truyền bá quốc ngữ thực sự là một tổ chức phức tạp để đọc ra những ẩn dụ của nó dưới góc độ nghiên cứu của Morgan. Nói cách khác, nó chứa đựng nhiều lớp nghĩa mà ngay cả những người sáng lập cũng đọc trong những góc độ có giới hạn. Hội đã thể hiện một môi trường tuyệt vời mà các nhà quản trị của nó có thể áp dụng những phương pháp quản lý thích hợp trong việc đóng góp vào cộng đồng rộng lớn. Mặc dù có sự khác biệt của các thành viên về quan điểm chính trị nhưng tầm nhìn và sứ mệnh chia sẻ của họ trong việc xóa nạn mù chữ đã đóng một vai trò lịch sử ở Việt Nam. Vượt ra khỏi khuôn khổ của một ẩn dụ cho một tổ chức, Hội truyền bá quốc ngữ cũng dường như thể hiện một ẩn dụ cho một nhận diện/căn cước của đất nước trong giai đoạn chuyển hóa. Ngày nay, nhiều người Việt vẫn tiếp tục tìm kiếm những bài học có ích từ chương trình của tổ chức này để cải thiện nhiều lĩnh vực trên đất nước mình, không chỉ giáo dục mà còn những cách thức quản trị tổ chức rộng lớn hơn. 

Nguyễn Trương Quý

Chủ Nhật, ngày 17 tháng 4 năm 2016

Chế tạo vua Hùng

Nhân chuyện mọi người cứ vật vã câu hỏi vua Hùng có thật không, thì sao không hỏi "vua Hùng thật cỡ nào". Mọi truyền thống đều được chế tạo - cái này đã là một kết quả được nghiên cứu từ nửa thế kỷ qua, đơn cử như của Benedict Anderson hay Hobsbawm (invented tradition). Trong trường hợp Việt Nam, các sản phẩm văn hóa được sử dụng triệt để để làm công cụ chế tạo truyền thống, nhất là lòng ái quốc, từ thời Lý Thường Kiệt với bài thơ thần Nam quốc sơn hà (lúc ấy ái quốc nghĩa là trung quân - sông núi nước Nam vua Nam ở chứ không phải dân Nam ở!), cho đến năm 1917 khi Khải Định ký dụ lấy 10/3 AL làm ngày tưởng niệm Hùng Vương, sau thành ra giỗ tổ.

Kiến tạo "chủ nghĩa ái quốc" đi liền với khái niệm nhà nước-quốc gia hay nhà nước-dân tộc vốn hình thành ở châu Âu giữa thế kỷ 19, du nhập vào VN, và mau chóng được các nhà đấu tranh độc lập nắm lấy như một ngọn cờ tập hợp công chúng. Nhiều bài hát hành khúc của cách mạng Pháp đã được đặt lời Việt mang nội dung yêu nước của người VN (mượn nội dung chống xâm lược phương Bắc). Thế là gậy ông đập lưng ông và tiến tới là rất nhiều bài hát do người Việt sáng tác, mượn chuyện tổ tiên dựng nước giữ nước, gần như những bài giảng lịch sử của các trí thức trẻ có giai điệu. Trong khi các bài nghiên cứu công phu rất khó thấm vào quảng đại bình dân thì những bài hát kiểu hành khúc hoặc nội dung "big words" rất dễ nhập tâm. 




Những bản nhạc dòng ái quốc khoảng những năm 1940

HÙNG VƯƠNG - Thẩm Oánh

Bốn ngàn năm văn hiến
Nước Nam khang cường
Là nhờ công đức Hùng Vương.
Hoa gấm giang sơn này cùng chung đắp xây
Bao thời hùng uy vẻ vang
Đời đời nhờ Hùng Vương đã vì quốc dân lập non nước này
Cho cháu con quây quần vẽ nên cơ đồ bền vững tới nay
Việt Nam bao sáng tươi
Thề cùng bền gắng cương quyết xây nhà Nam
Đây cháu con Lạc Hồng từ Bắc chí Nam
Xin đoàn kết tâm đồng
Non nước Việt Nam nhờ Hùng Vương
Quyết thắng muôn năm dòng giống khang cường. 



Tiếc là tôi chưa tìm được hình bìa bản nhạc Hùng Vương của Thẩm Oánh - một sản phẩm viết vào giai đoạn những năm 1940, khi cuộc vận động sáng tác các bài hát "thanh niên-lịch sử" (tên gọi chung cho các bài hát dòng ái quốc, song song với nhạc lãng mạn mà ta quen gọi nhạc tiền chiến) lên cao. Trong lĩnh vực viết các bài ái quốc này, Lưu Hữu Phước, Phạm Duy, Văn Cao, Hùng Lân, Hoàng Quý, Văn Giảng và Thẩm Oánh là những người nổi bật nhất. Xét cho cùng, các ông đã góp phần "chế tạo" ra lịch sử hiện đại của người Việt. Nhiều bài hát từ thời những năm 41-45 đã nhắc nhiều lần cụm từ "nước ta bốn ngàn năm văn hiến". Các tờ nhạc sưu tầm ở đây cũng có hình bìa vẽ như những truyện tranh lịch sử vậy - nhiều cái khá ảnh hưởng nặng lối vẽ truyện sử Tàu kiểu Tam Quốc kết hợp với phong cách bích chương Art-Deco, lối vẽ có bút pháp sử thi, phóng đại, gây nên cảm nhận hoành tráng - vì thế cũng lại là một giá trị kép của tuyên truyền lịch sử.

Một số bài hát dòng ái quốc những năm 1940 có thể chia làm 3 mảng (một số bài hát sau năm 1950 ở các vùng chiến khu mang tinh thần có sự chỉnh huấn thì tách riêng, vì mang một hơi thở khác):
1. Lịch sử: về các anh hùng dân tộc, các sự kiện chiến tranh trong các triều đại cũ:
- Hùng Vương - Thẩm Oánh
- Kinh cầu nguyện (Người xưa đâu tá) - Lưu Hữu Phước & Mai Văn Bộ (viết về Hai Bà Trưng)
- Trưng nữ vương - Thẩm Oánh
- Đêm Mê Linh -  Văn Giảng
- Hồ Lãng Bạc - Xuân Tùng (về Hai Bà Trưng)
- Ngày xưa - Hoàng Phú (về Hai Bà Trưng)
- Bóng cờ lau - Hoàng Quý
- Hội nghị Diên Hồng - Lưu Hữu Phước và Việt Tiên
- Sông Bạch Đằng/Bạch Đằng Giang - Lưu Hữu Phước
- Chiều buồn trên sông Bạch Đằng - Hoàng Quý
- Hò kéo gỗ sông Bạch Đằng - Văn Cao
- Tiếng sóng Bạch Đằng - Anh Việt
- Hưng Đạo Vương - Thẩm Oánh
- Nước non Lam Sơn - Hoàng Quý
- Đêm Lam Sơn - Thanh Thoại
- Nam Quan hận khúc - Văn Giảng
- Ải Chi Lăng - Lưu Hữu Phước
- Bình Định Vương Lê Lợi - Thẩm Oánh
- Gươm thần - Thẩm Oánh
- Gươm tráng sĩ - Phạm Duy
- Hờn sông Gianh - Lưu Hữu Phước
- Gò Đống Đa - Văn Cao
- Vua Quang Trung đại phá quân Thanh - Hoàng Thi Thơ (bài này có lẽ muộn hơn, vào những năm 1960).
- Thăng Long hành khúc ca - Văn Cao
2. Các khái niệm "Tổ quốc - Dân tộc - Việt Nam"
- Việt Nam [minh châu trời đông] - Hùng Lân
- Việt Nam trên vạn vật - Hoàng Gia Lịnh
- Việt Nam bất diệt - Hoàng Gia Lịnh
- Nhà Việt Nam - Thẩm Oánh
- Việt Nam anh dũng - Dương Thiệu Tước
- Việt Nam mến yêu - Dương Thiệu Tước
- Hồn Việt Nam - Bùi Công Kỳ
- Tiến quân ca - Văn Cao
- Đàn chim Việt - Văn Cao
- Uất hận - Nguyễn Xuân Khoát
- Hồn tử sĩ - Lưu Hữu Phước và Phan Mai
- Chiến sĩ vô danh - Phạm Duy
- Lên đàng - Lưu Hữu Phước
- Đông Nam Á châu - Lưu Hữu Phước
- Thiếu nữ Việt Nam - Lưu Hữu Phước
- Khúc khải hoàn - Lưu Hữu Phước
- Quốc dân tiến - Nhất Lê
- Tiếng dân cày - Nguyễn Mỹ Ca
- Lịch sử Việt Nam - Hùng Tâm
- Việt Nam! Việt Nam! - Võ Đức Thu
- Hoa xuân đất Việt - Nguyễn Văn Thương
- Việt Nam độc lập hành khúc - Trần Văn Lý
- Hồn trai Việt - Mạnh Phát
- Trai đất Việt - Dương Minh Ninh
- Dân Việt - Chung Quân
- Hận kỳ đài - Chung Quân
- Hận rừng hoang - Hoàng Mộc Linh và Tùng Lâm
- Người trai Việt nhớ chăng? - Thẩm Oánh
- Chí người trai Việt - Võ Đức Tuyết và P.Lang
3. Thanh niên - đội ngũ:
- Cùng nhau đi hồng binh - Đinh Nhu
- Tiếng gọi thanh niên/sinh viên - Lưu Hữu Phước
- Tiến bước thanh niên - Hiếu Nghĩa
- Hồn thanh niên - Hoàng Trọng, lời Quốc Bảo & Nguyệt Diệu
- Đoàn quân Việt Nam/Đoàn vệ quốc quân - Phan Huỳnh Điểu
- Tuyên truyền xung phong - Phan Huỳnh Điểu
- Mùa đông binh sĩ - Phan Huỳnh Điểu & Tế Hanh
- Nhớ người chiến sĩ - Ngọc Trai
- Chiến sĩ Việt Nam - Văn Cao
- Không quân Việt Nam - Văn Cao
- Hải quân Việt Nam - Văn Cao
- Bắc Sơn - Văn Cao
- Lục quân Việt Nam - Văn Giảng
- Thúc quân - Văn Giảng
- Đoàn hùng binh - Văn Giảng
- Chàng ra đi - Trần Hoàn
- Chàng đi theo nước - Hiếu Nghĩa
- Lá thư biên cương - Hiếu Nghĩa
- Hò leo núi - Phạm Đình Chương
- Mùa đông chiến sĩ - Phạm Duy
- Đường ra biên ải - Phạm Duy
- Xuất quân - Phạm Duy
- Thanh niên Việt Nam quyết tiến - Phạm Duy
- Thanh niên ca - Phạm Duy
- Nhạc tuổi xanh - Phạm Duy
- Khởi hành - Phạm Duy
- Nợ xương máu - Phạm Duy
- Về đồng quê - Phạm Duy
- Bình dân đi học - Phạm Duy
- Con đường vui - Lê Vy, Mai Hạnh & Phạm Duy
- Dưới bóng cờ - Nguyễn Văn Thương
- Sĩ nông công thương - Văn Giảng
- Thanh niên! Thanh niên! - Văn Giảng
- Quân hành ca - Văn Giảng
- Nhịp sống thanh niên - Ngô Ganh
- Khỏe vì nước - Hùng Lân
- Rạng đông - Hùng Lân
- Tiếng gọi lên đường - Hùng Lân
- Quyết tiến - Võ Đức Thu
- Hùng tiến - Nguyễn Hữu Ba
- Thu khói lửa - Nguyễn Hữu Ba
- Quãng đường mai - Nguyễn Hữu Ba
- Lửa rừng đêm - Nguyễn Hữu Ba
- Chàng tuổi trẻ - Vân Đông
- Đoàn lữ nhạc - Đỗ Nhuận
- Nhớ chiến khu - Đỗ Nhuận
- Du kích ca - Đỗ Nhuận
- Đêm trong rừng - Hoàng Quý
- Súng ơi - Hoàng Thi Thơ
- Phất cờ Nam tiến - Hoàng Văn Thái
- Nam tiến - Lưu Hữu Phước
- Ta cùng đi - Lưu Hữu Phước
- Reo vang bình minh - Lưu Hữu Phước
- Thiếu sinh hành khúc - Lưu Hữu Phước
- Học sinh hành khúc - Lê Thương
- Đoàn nữ cứu thương - Trần Văn Lý
- Đoàn quân xung phong - Trần Văn Lý
- Làn sóng dân chủ - Nguyễn Ngọc Bạch
- Cương quyết ra đi -  Nguyễn Ngọc Bạch
- Diệt phát xít - Nguyễn Đình Thi

Một số  bài khác về chiến công hay địa danh đương thời đã phát triển xa khỏi khu vực khái niệm của 3 loại trên, cũng kể tới như: 
- Tiểu đoàn 307 (Nguyễn Hữu Trí, thơ Nguyễn Bính)
- An Phú Đông - Lê Bình / Võ Đức Thu
- Trên sông Lô - Phan Huỳnh Điểu
- Sông Lô - Văn Cao
- Tiếng hát trên sông Lô - Phạm Duy
- Lô giang - Lương Ngọc Trác
- Chiến sĩ sông Lô - Nguyễn Đình Phúc
- Bình Trị Thiên khói lửa - Nguyễn Văn Thương
- Ngày về - Lương Ngọc Trác, thơ Chính Hữu
- Mơ đời chiến sĩ - Lương Ngọc Trác, thơ...
- Lời thề quyết tử
- Về miền Trung - Phạm Duy
- Du kích sông Thao - Đỗ Nhuận
- Hành quân xa - Đỗ Nhuận
- Giải phóng Điện Biên - Đỗ Nhuận
- Qua miền Tây Bắc - Nguyễn Thành
- Đường lên Tây Bắc - Văn An
- Hò kéo pháo - Hoàng Vân
- Lá xanh - Hoàng Việt
- Nhạc rừng - Hoàng Việt

Thứ Hai, ngày 21 tháng 3 năm 2016

Gặp Hà Nội bên bờ biển Pháp

Cách đây hai năm, khi đọc cuốn tiểu thuyết “Yersin: dịch hạch và thổ tả” của Patrick Deville, tôi đã ấn tượng dòng mô tả về Hà Nội năm 1902 và sau đó 112 năm, những ngôi nhà sau những rặng cây xanh um, bên trong những hàng rào sơn trắng, “gợi nỗi nhớ nhung đâu đây về Cabourg và Deauville”. Cuốn sách tái hiện cuộc đời của bác sĩ Yersin, người đã sống hơn nửa cuộc đời với đất nước Việt Nam, một nhà bác học bắc cây cầu nối hai nền văn hóa. Cuối thập niên 1920, một nhà văn Pháp đã viết về Hà Nội: “bầu trời trong xanh và cao tít, tiếng chim kêu làm tôi tưởng mình đang ở Paris vào một sớm mùa xuân đầy nắng”.

Thế là chuyến đi châu Âu gần nhất, tôi đã không có nhiều đắn đo khi mua vé tàu từ Paris ngược lên bờ biển Normandie, để vừa ngỡ ngàng vừa vui mừng khi gặp những hình ảnh quá quen thuộc của những góc phố Hà Nội, Đà Lạt… Chỉ khác là ở những thành phố nhỏ Deauville hay Cabourg, tôi không có phương tiện nào khác ngoài thả bộ dọc theo những con phố yên tĩnh, vườn cây nối tiếp vườn cây. Những ngôi biệt thự có lẽ đã là nguyên mẫu cho những công trình dân sinh ở Hà Nội cùng thời, hoặc những nhà quy hoạch thời ấy đã chịu ảnh hưởng của lý thuyết thành phố vườn. 



Deauville

Dĩ nhiên khi trở về thành phố mình sống, tôi dễ thất vọng khi những phiên bản đã bị biến dạng. Tôi biết Hà Nội đã vượt ra khỏi khuôn khổ một thành phố nho nhỏ như quy hoạch ban sơ, với quá nhiều chức năng phức hợp hơn cái thời đầu thế kỷ trước. Bởi vì những cánh đồng xung quanh thành phố đã trở thành bãi chờ của các khu đô thị mới, của việc thổ cư hóa thành phường, quận nội thành. Trong khi ấy, chuyến tàu chở tôi rời Paris xuyên qua những cánh rừng, đồng lúa và đồng cỏ, nơi những con bò nhẩn nha gặm trong nắng thu. Thành phố và nông thôn nối tiếp nhau không mấy xung đột về bề ngoài. Những tòa nhà thấp dần rồi cứ thế toàn những mái ngói, mái lợp đá xinh xắn, gần như không một tòa nhà mái bằng nào xuất hiện trong đường chân trời. Trong khi đó, bên cánh đồng những làng của huyện Từ Liêm cũ, nay là hai quận Bắc và Nam Từ Liêm, chen chúc những tòa tháp cao hàng chục tầng. Ngôi làng cũ của những thôn xã phên giậu kinh thành xưa bỗng dưng lọt thỏm giữa các khu đô thị mới, với đường làng xưa thành ngõ phố mới, chật chội và lộn xộn hệt như các phường sinh ra từ mấy chục năm qua của quận Đống Đa hay Thanh Xuân.

Dĩ nhiên nhiều khu đô thị cũng được đầu tư về cảnh quan và chất lượng dịch vụ, như thể những thành phố trong lòng thành phố, nhấn mạnh yếu tố sân vườn và môi trường như một giá trị gia tăng. Những đường nét tân cổ điển cũng nhắc nhở nỗi nhớ về một ký ức xưa. Nhưng tại sao lại cắt đứt mối dây liên hệ giữa phố cũ và làng xưa, mà thay thế bằng những mô hình mới và lại tái hiện mối liên hệ một cách máy móc vậy?

*

Ở phố cũ Hà Nội, có một trục đường đáng được xếp vào kỷ lục về mật độ cây xanh và vườn hoa. Chỉ dài chừng 2km đã có tới 9-10 vườn hoa, dọc theo một trục có bề rộng 100m. Đây cũng là trục có nhiều ngã sáu kiểu quảng trường ngôi sao, ảnh hưởng từ quy hoạch tân cổ điển duy lý. Nó bắt đầu từ trung tâm của Hà Nội thời thuộc địa: quảng trường trước tòa nhà Ngân hàng Nhà nước, với vườn hoa Lý Thái Tổ (tức vườn hoa Chí Linh cũ), tiếp đó là vườn hoa Diên Hồng theo trục Lý Thái Tổ dẫn về quảng trường Nhà hát Lớn, với hai bên là vườn hoa Cổ Tân và vườn hoa Cách mạng tháng Tám. Chúng ta đi theo phố Lê Thánh Tông để gặp vườn hoa Tao Đàn ở ngã ba với phố Lý Thường Kiệt, trước cửa Đại học Đông Dương cũ (chính là nơi lập trường Y đầu tiên do Yersin làm hiệu trưởng, nay là trụ sở một nhánh của Đại học Quốc gia), một công trình kiến trúc của KTS Ernest Hebrard, nhà quy hoạch của Hà Nội thời kỳ 1930. 



Trục vườn hoa Hàng Vôi-Yersin (Hà Nội)

Đi xuôi tiếp hơn hai trăm mét, đến ngã sáu Trần Hưng Đạo, ta gặp vườn hoa Bình Than, một vườn hoa được tạo nên bởi phố Tăng Bạt Hổ và một nhánh để tạo ra một phố thứ sáu, và chuỗi vườn hoa này được nối tiếp ngay bằng vườn hoa nhỏ nhất trong số các vườn hoa Hà Nội mà nhiều người không biết tên hoặc đã lãng quên – vườn hoa Vụ Quang, đặt tên theo căn cứ khởi nghĩa Cần vương của Phan Đình Phùng. Song song với Tăng Bạt Hổ là phố Trần Thánh Tông, giữa hai phố này là khu vực từng là trường đua ngựa cũ, rồi sau là khu tổ hợp bể bơi, nhà thi đấu, để kết thúc bằng vườn hoa Pasteur với tòa nhà của Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, một công trình cùng phong cách với tòa nhà Đại học Đông Dương cũ. Qua một ngã tư bên cạnh tòa nhà là vườn hoa Yersin, cái tên tưởng nhớ vị Hiệu trưởng đầu tiên của trường Y Đông Dương và giám đốc sáng lập Viện Vệ sinh dịch tễ cũng như hệ thống của nó ở Việt Nam. 



Vườn hoa Yersin, Hà Nội

Bên cạnh trục phố này là những khu biệt thự nhiều kiểu dáng, từ phong cách tân cổ điển duy lý và uy nghi xen kẽ kiểu miền Normandie với mái dốc cao lợp đá ở khu vực quanh quảng trường Ngân hàng và Nhà hát Lớn đến kiểu Art Deco và chiết trung những năm 30-40 ở tuyến Tăng Bạt Hổ và ăn ra Phan Huy Chú, Phạm Đình Hổ… Chúng duyên dáng hơn nhiều lần nhờ những hàng cây lâu năm dọc các phố, nhờ những vỉa hè rộng thoáng và nhờ những hàng rào tạo vẻ khiêm cung, lịch lãm.



Biệt thự trên phố Tăng Bạt Hổ, Hà Nội

Chúng ta sẽ không bàn quá sâu về chi tiết kiến trúc và địa danh ở đây, nhưng có cái gì hằn trong cảm xúc cộng đồng đô thị hơn những tên đường phố và công trình mang dấu ấn di sản một thời? Trái ngược với những cái tên nói trên, chẳng hạn như Cầu Giấy, Giáp Bát hay Thanh Xuân Bắc, những địa danh đủ gợi ra hình dung về các vấn đề đô thị: xây dựng thiếu quy hoạch, tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm không khí, thiếu cây xanh…

Những khu đô thị mới được lựa chọn và hút hàng dù giá đắt đỏ, có phần nào hấp dẫn cư dân nhờ câu chuyện tái hiện môi trường sống lý tưởng của một thời đặt trong cái vỏ tiện nghi hiện đại. Huyền thoại thành phố vườn vẫn tiếp tục khi mà các bản thiết kế vẽ rất nhiều cây xanh trồng trên mái nhà cao tầng.

*


Poster kỷ niệm Marcel Proust ở hiên Grand Hotel, Cabourg

Ở Cabourg, hệ thống đường phố được quy hoạch duy lý giống hệt một mạng nhện với vài cung tròn đồng tâm và những con phố hội tụ về công trình lớn nhất nằm bên bờ biển: Khách sạn Grand Hotel. Đây là nơi nhà văn Marcel Proust đã từng ở và viết những trang quan trọng của bộ tiểu thuyết Đi tìm thời gian đã mất – tác phẩm được xem như quan trọng bậc nhất của văn học hiện đại. Dải bờ biển và các thị trấn nhỏ nhắn dọc các triền đồi dốc ra biển là niềm cảm hứng của các họa sĩ trường phái Ấn tượng. Ở hàng hiên khách sạn nhìn ra bãi biển, những dấu tích kỷ niệm của một thời nghệ thuật lấy thiên nhiên làm đối tượng thẩm mỹ được bảo tồn nguyên vẹn. Sau những thế kỷ chìm đắm trong kiểu cách kinh viện tù túng, các họa sĩ đã tìm kiếm vẻ đẹp tự nhiên và niềm vui trần thế. Quy hoạch duy lý ở những thành phố này vẫn lãng mạn bởi những công trình thấp tầng và sự đa dạng của chi tiết kiến trúc ẩn mình sau cây xanh, với những hàng hiên và bancông mở thoáng. Đến những thành phố cỡ trung bình này, tầm mắt và bước chân con người không còn mệt mỏi với hệ thống những đường trên cao và những giao thông ngầm hay nổi. Sống kỹ hơn và thiên nhiên hơn, đã có một thời Hà Nội được quy hoạch theo hướng như thế.



Cabourg - Hà Nội

Trục phố Lý Thái Tổ-Tăng Bạt Hổ đã nhắc đến ở trên, là một nỗi nhớ nhung xa xôi, giờ vẫn còn đường nét của một khu phố vườn, tuy đã nhiều biến đổi. Đi về mạn những khu đô thị mới của Hà Nội như Mỹ Đình, Định Công… cũng gặp một chút không khí ấy ở các khu nhà thấp tầng, nhưng chúng vẫn như những ốc đảo giữa những chung cư cao tầng san sát như chuồng thỏ.
Ở căn phòng số 414 khách sạn Grand Hotel, Proust đã dựng nên một không gian văn học của mình, cũng như những căn phòng của khách sạn Metropole ở Hà Nội, nơi Graham Greene hay nhiều nhân vật từng ở, họ đã nhắc đến thành phố này như một chốn “êm đềm, êm đềm lắm” theo lời danh hài Charlie Chaplin trả lời phóng viên-nhà văn Thạch Lam của báo Phong Hóa năm 1936 khi ông tới đây. Chắc cũng đã có những người theo dấu Greene hay hề Charlot mà đến Hà Nội, cũng như tôi đã đến nơi Proust “đi tìm thời gian đã mất”. 

Nguyễn Trương Quý
(bài đăng trên trang diendan.org số Xuân Bính Thân)

Thứ Năm, ngày 17 tháng 3 năm 2016

Từ soap-opera đến web-drama: cuộc phiêu lưu của truyền thông hội tụ

Thập niên vừa qua cho thấy một sự tăng trưởng ngoạn mục trong lĩnh vực số hóa và hội tụ truyền thông tại khu vực Đông và Đông Nam Á (hay còn gọi là Viễn Đông), song song với tốc độ tăng trưởng GDP cao nhất thế giới của một số quốc gia, ví dụ như Trung Quốc và Việt Nam. Không đâu có thể chứng minh hoàn hảo hơn cho câu chuyện rằng kinh tế truyền thông đóng một vai trò quan trọng trong khung cảnh của sự phát triển kinh tế như thị trường mênh mông này. Khu vực này là địa chỉ của những công xưởng chế tạo phần cứng lớn nhất toàn cầu và là nhà của những nhãn hiệu loại đình đám nhất trong lĩnh vực điện tử và công nghệ viễn thông, do vậy trở thành sân khấu lý tưởng cho truyền thông hội tụ trong kinh tế truyền thông.

Do đây là địa bàn của một số cơn bùng nổ kinh tế kéo dài nhất thế giới trong nhiều thập niên, vùng Viễn Đông cũng trải nghiệm sự thay đổi đột biến trong truyền thông. Trong bài viết của mình, tôi sẽ khảo sát một số sự tác động của truyền thông hội tụ tại Việt Nam gần đây, dưới làn sóng của đầu tư nước ngoài từ những nền kinh tế lớn nhất Đông Á, như Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Tôi tập trung vào một số xu hướng đáng chú ý của các sản phẩm văn hóa nghe nhìn nhập khẩu từ các nước này vào Việt Nam, từ thể loại phim truyền hình truyền thống cho đến quyền lực đang lên của web-drama để chỉ ra phần nào công thức chung của truyền thông hội tụ. 

“OSHIN” – SỰ HỘI TỤ SƠ KHỞI

Khi bắt đầu chương trình Đổi Mới, chính quyền Việt Nam có một cơ hội lớn khi hai nhà đầu tư lớn nhất từ Đông Á là Nhật Bản và Hàn Quốc đã trải qua một thời kỳ phát triển kinh tế rất thành công. Không để bị ảnh hưởng nhiều từ sự cấm vận của Mỹ lên Việt Nam vốn chỉ chấm dứt mãi tận năm 1994, hai nguồn sức mạnh kinh tế này đã trở thành những nhà đầu tư sớm nhất xây dựng nhà máy và vận hành chuỗi cung ứng chiều dọc trong nhiều lĩnh vực. (GRIPS, 2002). Không ngạc nhiên là họ mau chóng khởi sự hệ thống truyền thông của họ không chỉ ở vai trò hỗ trợ cho sản xuất mà còn là chìa khóa để chinh phục thị trường Việt Nam. Nhà chinh phục đầu tiên là một cô gái từ một bộ phim truyền hình. Khi loạt phim truyền hình drama Oshin của Nhật Bản được phát sóng trên truyền hình Việt Nam cũng như 85 nước khác, 297 tập phim dài 15 phút này trở thành hiện tượng trong xã hội Việt Nam suốt từ năm 1995 sang 1996. Thông qua câu chuyện tự thuật của một người phụ nữ từ lúc là một người giúp việc nhà đến khi trở thành người thành lập chuỗi siêu thị đầu tiên của Nhật, khán giả Việt đã có một hình dung đầy hấp dẫn và nhiều cảm xúc về một miền đất hứa như Nhật Bản. (Pettus, 2003). 



3 diễn viên đóng Oshin

Do độ dài của mỗi tập chỉ có 15 phút, mỗi buổi phát sóng dài bốn mươi phút sẽ dành phần thời lượng đắt giá còn lại cho quảng cáo. Vào lúc đó, hầu hết các spot quảng cáo đã thuộc về các thương hiệu Nhật như TV màn hình phẳng của Toshiba hay máy giặt Sanyo. Vậy khách hàng có thể mua những đồ điện máy đó ở đâu? Bên cạnh sự suy thoái của hệ thống bách hóa tổng hợp nhà nước và các khu chợ giời không mấy đáng tin cậy, một số siêu thị đã ra đời đúng lúc. Siêu thị đầu tiên ở Hà Nội, ‘Minimart Hanoi’, được mở vào tháng Ba 1995, trong khi cái đầu tiên ở Việt Nam được mở năm trước tại TPHCM (Mukherjee, 2015). Hơn thế nữa, vào năm sau đó, Nguyễn Kim, trung tâm điện máy gia dụng chuyên biệt đầu tiên được mở ở TPHCM với cam kết “chỉ bán đồ chính hãng, có bảo hành bằng văn bản” (VCCI, 2012). 

Cùng năm đó, Toshiba bắt đầu vận hành liên doanh với Việt Nam sản xuất và bán TV màu, và Sanyo thì cũng khánh thành nhà máy sản xuất máy giặt. Những đồ gia dụng này chính là những thứ ‘bạn trong nhà’ (housemate) với những bà nội trợ (housewives) và dĩ nhiên, những người giúp việc. Khán giả Việt Nam hẳn học được rằng họ đã trở thành một phần của một chuỗi cung ứng khác xa với hệ thống bao cấp lỗi thời trong quá khứ. Cặp song sinh sản phẩm giải trí và kỹ nghệ đến từ Nhật Bản minh họa khá xác đáng chuỗi cung ứng chiều dọc do nhà lý thuyết quản trị Michael Porter (1985) đã đề ra khi chương trình truyền hình tham gia “vào chuỗi cung ứng kết nối nhà sản xuất và người tiêu dùng” (Doyle, 2013: 20), giúp cho việc kinh doanh chạy từ những khâu đầu trong quy trình sản xuất đến khâu hoàn thành khi chúng được cung cấp hay bán cho khách hàng. 

Bộ phim truyền hình Nhật Bản Oshin không phải là bộ phim truyền hình nước ngoài đầu tiên giành được sự hâm mộ rộng rãi từ khán giả Việt (trước đó đã có những bộ phim mùi mẫn của Nam Mỹ hay phim Trung Quốc/các nước và khu vực nói tiếng Hoa), nhưng đây là một chương trình truyền hình thương mại đầu tiên có phần quảng cáo dài kèm theo. James Lull đã giải thích rằng nhà chức trách đã nhận ra quyền lực cứng của đồng tiền từ quảng cáo của nước ngoài và quyền lực mềm từ mức giá rẻ và hấp dẫn của những chương trình giải trí này. (Lull, 2000). Hơn thế, tên gọi ‘Oshin’ hay ‘ôsin’ trong cách phiên âm Việt Nam cũng đã trở thành biệt danh của những người phụ nữ giúp việc trong các ngôi nhà Hà Nội. Khi chính quyền cách mạng được thành lập năm 1945, họ tuyên bố xã hội XHCN không thể có mối quan hệ chủ-tớ, và coi việc thuê người giúp việc là việc phi nhân tính và hạ thấp nhân phẩm. 



Một hí họa quen thuộc về người giúp việc "ôsin" trên truyền thông VN

Những tên gọi cũ của người hầu trong thời kỳ Pháp thuộc như “con sen” cho các cô gái và “thằng ở” cho các cậu trai đã bị tuyệt chủng. Trong gần nửa thế kỷ, đời sống đô thị Hà Nội gần như không có thuật ngữ “người giúp việc”. Khi đổi mới kinh tế cho phép kinh tế tư nhân được vận hành, nhiều hộ gia đình giàu có và trung lưu ở thành phố lớn có nhu cầu lớn về người giúp việc. Bộ phim truyền hình Nhật đã tạo nên một cách gọi hợp thời để định danh cho họ. Các nhà quảng cáo dùng cả hình ảnh nhân vật chính để bán sản phẩm trên truyền hình và các băng video thu lại những tập phim đầu tiên còn được chiếu ngoài quán cà phê cũng như bán trong hiệu băng hình. Thêm vào đó, một số quán ăn và café lấy tên là “Ôsin”. Hai tác giả nổi tiếng nhất trong văn học đương đại Việt Nam, Hồ Anh Thái và Nguyễn Huy Thiệp viết truyện ngắn hài và kịch về công việc này. 

Pettus (2003) khẳng định rằng vào đầu thập niên 1990, các nhà đầu tư lớn nhất ở châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và nước đang lên - Trung Quốc – là những “hình mẫu hợp khẩu vị” của sự phát triển kiểu tư bản chủ nghĩa mà không phải bận tâm đến những hình mẫu ‘rủi ro’ từ Mỹ hay châu Âu, vì thế những bộ phim truyền hình châu Á vốn đầy những bài học đạo đức như Oshin có thể khích lệ “một sự ý thức về ‘các giá trị châu Á’ trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế” (Pettus, 2003: 169). Thực vậy, hiện tượng này không chỉ thể hiện một chuỗi khép kín gồm ba khâu từ tạo ra nội dung truyền thông, đóng gói thành sản phẩm và phân phối tới khách hàng, mà còn cho thấy sự hội tụ truyền thông trong khuôn khổ quốc gia đã vượt ra quy mô một bộ phim truyền hình để trở thành một thói quen văn hóa.


“BẢN TÌNH CA MÙA ĐÔNG” – PHẨM TÍNH NHIỀU TẦNG BẬC

Cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997 đã khiến chính phủ Hàn Quốc thay đổi chính sách kinh tế sang khuyến khích thứ quyền lực mềm của mình: xuất khẩu văn hóa. Sự thay đổi quan trọng này tạo nên một làn sóng đã càn quét qua toàn châu Á với tên gọi Hallyu (Hàn lưu hay Làn sóng Hàn Quốc). Việt Nam cũng là một nhà tiêu dùng đầy hứng khởi của cả hai sản phẩm công nghiệp lẫn văn hóa đến từ nhà đầu tư quen thuộc này.

Từ chỗ xếp thứ 5 trong danh sách đầu tư nước ngoài (FDI) tại Việt Nam giai đoạn 1988-2000, Hàn Quốc đã thế chỗ Nhật Bản để trở thành nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam năm 2015, với một khoản tăng lên trị giá 3 tỷ đôla Mỹ để xây dựng một nhà máy của Samsung Electronics. Vượt qua nhiều đối thủ Nhật Bản, Samsung đã trở thành một thế lực trong lĩnh vực sản xuất TV màn hình rộng kỹ thuật số và điện thoại di động thông minh, hai sản phẩm kỹ thuật số đòi hỏi một số tiêu chuẩn đa nền tảng để thích ứng với các thay đổi mau lẹ về kỹ thuật trong truyền thông. Trong số 28,7 triệu người dùng điện thoại thông minh ở Việt Nam 2014, Samsung là lựa chọn lớn nhất với thị phần chiếm hơn ¼ (IDC, 2015). Khung cảnh này xét trên bề mặt có thể gợi nên liên tưởng tới nhận định rằng “trong thế kỷ 21, khâu phân phối trở nên dần tiến một cách có định hướng tới các nền tảng số và các thiết bị di động khi các thói quen tiêu dùng truyền thông thay đổi trong việc lựa chọn những địa chỉ phân phối.” (Doyle, 2013: 21) [đoạn này cần đổi trích dẫn thích hợp]




Song song với quyền lực của đồng tiền đầu tư, vào thời điểm chuyển sang thế kỷ 21, sự tăng trưởng về độ phổ biến của phim truyền hình Hàn Quốc và K-pop cũng chinh phục người tiêu dùng Việt Nam và nhiều quốc gia châu Á khác. Trong sức nóng của Hallyu, nhiều người Việt trẻ nhận thấy Hàn Quốc không chỉ là một hình mẫu hấp dẫn kỳ diệu để ngưỡng mộ và học theo, mà còn là một quốc gia đồng văn chia sẻ một không gian văn hóa Hán tự (Hán tự văn hóa quyển, Sinosphere) vốn không gây cảm giác đe dọa như Trung Quốc – láng giềng khổng lồ và kẻ thù cũ của VN. Mặc dù các bộ phim truyền hình tiếng Hoa cũng rất phổ biến ở Việt Nam, khán giả trẻ ưa thích vẻ bề ngoài thời trang hiện đại của phim truyền hình Hàn và K-pop. Giống với những người mẫu trên sàn diễn catwalk, những diễn viên của những loạt phim truyền hình thành công nhất như “Bản tình ca mùa đông” hay “Ngôi nhà hạnh phúc” đã trở thành đại sứ thương hiệu cho nhiều nhãn hàng từ đồ mỹ phẩm cho đến điện thoại di động. (Finacial Post, 2014). 



Fan Việt khóc khi đón thần tượng K-pop Hàn Quốc. Nguồn: ringring.vn

Bối cảnh của các bộ phim truyền hình này luôn đẹp đẽ thần tiên với phong cảnh tráng lệ hoặc các văn phòng sáng choang. Mối quan hệ lãng mạn giữa các nhân vật chính thường rất công thức khi họ phải vượt qua các ranh giới giai cấp để đến được với nhau. Các diễn viên xuất hiện có khi đồng thời xuất hiện trên các trang quảng cáo lẫn bản tin bên trong các tờ báo in và tạp chí. Trước, trong phần giải lao và sau chương trình truyền hình, các nhãn hàng Hàn Quốc dường như không chỉ là những đoạn quảng cáo bình thường mà còn là những clip rất bắt mắt. Trên Internet và mạng truyền thông xã hội, các câu lạc bộ người hâm mộ phát cuồng vì các chàng trai babyface và các cô gái da trắng sứ đến từ Seoul. Truyền thông nhà nước thì bực dọc với cảnh tượng các nhóm fan gào khóc khi đợi đón các ca sĩ K-pop ở sân bay, nhưng chính đài truyền hình trung ương VTV cũng lại phát sóng một chương trình thi tài do hãng Lotte đầu tư tài trợ, chọn người hát hay mà kỳ thực giống những ca sĩ K-pop nhất. (Thanh Niên, 2015; Đầu tư, 2014). Một số nhà “gác cổng” của xã hội lại nêu lên rằng các ngôi sao K-pop hát không giỏi và các bộ phim truyền hình có kịch bản thường quá ư ủy mị. Dẫu sao thì thông qua câu chuyện về cuộc viễn du nhiều trắc trở của một thế hệ mới ngoại hình bắt mắt này, những bộ phim truyền hình đã bán rất chạy một phẩm tính nhiều tầng bậc: lối sống hoàn hảo, món giải trí hấp dẫn và những hàng hóa đồ dùng tiện nghi. 


“NGHIỆN” THỂ LOẠI ĐANG LÊN

Là láng giềng của Trung Quốc, Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh từ văn hóa Trung Hoa, vốn có gốc rễ từ thời gian đô hộ lâu dài của các triều đại phong kiến nước này hơn một ngàn năm trước. Sau khi “bình thường hóa quan hệ” năm 1991, sự liên đới về kinh tế tăng lên đột biến. Theo gót dòng chảy trao đổi thương mại, các sản phẩm văn hóa Trung Quốc cũng xuất khẩu sang Việt Nam với một khối lượng cực lớn. Năm 2015, Việt Nam có khoản thâm hụt thương mại ước chừng 32,3 tỷ đôla Mỹ với Trung Quốc, là con số cao nhất từ trước đến giờ (Viet Nam News, 2016). Hiển nhiên là các hàng hóa truyền thông như các bộ phim truyền hình và sách vở cũng có tình trạng tương tự. Mặc dù các nhà gác cửa văn hóa cho rằng “quảng bá văn hóa của một nước khác là một vấn đề rất nhạy cảm” nhưng nhiều kênh truyền hình nhà nước lại “phát sóng tám tiếng phim nước ngoài mỗi ngày, hầu hết là phim của Trung Quốc đại lục, Hàn Quốc, Đài Loan và Hồng Kông.” (Viet Nam News, 2013).

Tân Hoa xã (Xinhua), hãng thông tấn nhà nước của Trung Quốc đã công bố “giữa 2009-13, đã có 841 đầu sách Trung văn được được dịch và xuất bản ra tiếng Việt, trong đó 617 là sách [văn học] mạng. Hầu hết các tác phẩm văn chương mạng nổi bật nhất của Trung Quốc đều được dịch ra tiếng Việt, bao gồm các tiểu thuyết lãng mạn của gần 100 nhà văn mạng Trung Quốc.” (Xinhua, 2015). Nhiều tác giả trẻ Việt đã tìm thấy một công thức thành công trong việc tự xuất bản trên mạng với những câu chuyện và nhân vật tương tự vốn ưa chuộng những chủ đề tình yêu đồng giới cấm kị hay những cái gọi là truyện cổ tích tân thời. Cái tên chung của dòng sách này là “ngôn tình”, trong đó “đam mĩ” (danmei) thì được dùng để gọi những câu chuyện tình của người đồng tính nam, nhưng hầu hết được các tác giả nữ viết và dành cho độc giả nữ. 

Khi Internet xuất hiện ở Trung Quốc, nhiều cư dân mạng giới nữ ở đây đã bắt đầu gắn bó với thể loại mới mẻ đam mỹ. Lucifer’s Club (LC) - Cộng đồng văn học mạng Trung văn đầu tiên có mục đích khuyến khích việc sản xuất và tiêu thụ đam mỹ được thành lập năm 1999. Diễn đàn mạng này cung cấp tài khoản đăng nhập chỉ cho thành viên để cung cấp các tác phẩm vốn vi phạm sự kiểm duyệt của nhà nước. Một học giả Trung Quốc đã thống kê được có “khoảng 72.200 tác phẩm (bao gồm cả hoàn thành lẫn xêri đang viết) trong cơ sở dữ liệu” vào năm 2013. (Shih-Chen Chao, 2016). Có nhiều kiểu xếp hạng top 100 của mức độ ưa thích trên trang này: phổ biến nhất, nhiều click nhất, được tuyển chọn nhiều nhất, và nhiều “thích” nhất (tương tự như chức năng ‘like’ của Facebook). Cộng đồng này thực sự là một trường hợp nghiên cứu thú vị cho ý phân tích rằng “Với sự lan truyền của kỹ thuật số và sự tăng trưởng của Internet, đáng ghi nhận rằng nhiều người tiêu dùng tự thân họ đã trở thành những người kiến tạo và người xuất bản phi thường cho các nội dung. Sự tham gia ngày càng tăng của người tiêu dùng trong các hoạt động thượng tầng là biểu thị cho việc quan niệm thông thường về chuỗi cung ứng dọc vật lộn ra sao để có sự công bằng đầy đủ đối với sự phức tạp của ngành công nghiệp truyền thông.” (Doyle, 2013: 20).



Nguồn từ trang "Ma Nữ Bánh Bao - Kịch truyền thanh đam mỹ"

Từ dòng tin nhiều phần hồ hởi của Tân Hoa xã, ta có thể xem đó như là sự thừa nhận chính thức [của Trung Quốc] dành cho tiểu thuyết ngôn tình mạng, vốn gần đây đã bị hạn chế từ phía cơ quan quản lý xuất bản Việt Nam. Theo truyền thông nhà nước của Việt Nam, “Nếu như ngôn tình chất lượng kém là vô bổ, khiến giới trẻ mất thì giờ để mơ mộng vào những điều viển vông hão huyền thì thứ ngôn tình biến tướng này mới là độc dược ẩn chứa nhiều nguy cơ nhất. Với đối tượng độc giả trẻ tuổi, chưa đủ trải nghiệm, chưa đủ vốn sống, họ dễ dàng bị tiêm nhiễm những tư tưởng sai trái, những suy nghĩ phiến diện đầy nguy hiểm về tình dục và tình yêu.” (Tuổi Trẻ, 2015). Trong số này, đam mỹ bị buộc tội nhiều nhất. Mặc dù chính quyền Trung Quốc đã nhìn nhận tiểu thuyết văn học mạng gồm cả ngôn tình cũng là cây cầu xuất khẩu văn hóa sang Việt Nam, nhưng trong nước họ không để cho chúng được tự do. Các tác phẩm có nội dung khiêu dâm và bạo lực bị kiểm duyệt và xóa đi. Năm 2011, Tân Hoa xã đã đưa tin 32 tác giả đam mỹ đã bị cảnh sát địa phương ở Trịnh Châu, tỉnh Hà Nam đột kích bắt giữ vì họ đã xuất bản các nội dung đồng tính nam online để kiếm lời. Cảnh sát đã rất sốc khi phát hiện ra hầu hết các tác giả đam mỹ là các cô gái tuổi đôi mươi, người trẻ nhất mới 17 tuổi. (Shih-Chen Chao, 2016). Tuy nhiên, nền tảng Internet mới gợi ý cho thế hệ mới về việc ý thức về quyền lực mềm của họ trong việc định nghĩa một số trào lưu văn hóa ngoại biên như bình đẳng giới vốn nói chung bị né tránh trong kinh tế truyền thông Trung Quốc và láng giềng chịu ảnh hưởng của nó – Việt Nam. 

Trong khi các nhà chức trách cố gắng dán nhãn đam mỹ như một thể loại ‘độc hại’, các tác giả đã vượt qua khỏi sự hình dung của những người “gác cổng”: họ hình ảnh hóa các trang viết của mình. Họ đã tạo ra thể loại online mới để chuyển thể những tiểu thuyết đam mỹ này - web-drama – mà không cần phát sóng trên truyền hình nhà nước. Bộ phim web-drama đương có lượng xem cao nhất, “Thượng Ẩn” (tên tiếng Anh là Addicted – Nghiện hoặc Heroin), đã được xem hơn 10 triệu lượt ngay trong ngày ra mắt. Một “hit khủng” khác thậm chí còn đạt tới 2,4 tỷ lượt xem trước khi bị gỡ bỏ khỏi trang đăng phát video, tuy nhiên khán giả có thể xem ở bên ngoài Trung Quốc thông qua YouTube. Lý do mà cơ quan kiểm duyệt dùng để cấm những web-drama này cũng giống với vấn đề của những câu chuyện gốc: tình yêu đồng giới giữa những học sinh tuổi mới lớn. (WSJ, 2016; Time, 2016). Tuy nhiên, lý do chính nằm ở một yếu tố khác: chính quyền và truyền thông nhà nước có lẽ nhận thấy quyền lực không được phép của các nhóm web bên lề đe dọa vai trò của họ. Thực vậy, việc xem truyền hình online đã trở thành “một sự thay đổi khổng lồ đối với các công ty truyền thông truyền thống”, bởi vì “giờ đây quyền lực đã chuyển vào tay người tiêu dùng.” (Albarran, 2010: 73).

Mặc dù các nhà quản lý có thể ngăn chặn việc xuất bản hiện tượng truyền thông này thông qua một số rào cản kỹ thuật, thuật ngữ “độc quyền cổng vào” [gateway monopolist] có thể không tạo được tác động hoàn toàn lên chuỗi cung ứng, nhờ vào sự phát triển của băng thông rộng. Vào đầu 2015, tổng số thuê bao băng thông rộng tại Trung Quốc đối với di động là 640 triệu và với cố định là 204 triệu. Tổng số của cả hai loại giờ đây gấp 10 lần dữ liệu năm 2008 (China Internet Watch, 2015). Việt Nam cũng nằm trong số 8 thị trường nổi lên quan trọng nhất về thuê bao băng thông rộng (State of Broadband report 2015).



Ca sĩ Sơn Tùng M-TP, đại sứ thương hiệu của Oppo tại VN. Nguồn: http://www.oppomobile.vn/neo5-son-tung.html

Gần đây, khán giả Việt Nam cũng chứng kiến hai xu hướng trái ngược đối với vấn đề Trung Quốc trong truyền thông. Một mặt, truyền thông xã hội Việt Nam dấy lên mối nghi ngại về việc hàng hóa Trung Quốc quá tràn ngập và cạnh tranh với sản phẩm trong nước. Thêm vào đó, việc xung đột ở Biển Đông nơi hải quân Trung Quốc xâm chiếm những vùng đảo đá được Việt Nam tuyên bố chủ quyền mang tới sự giận dữ trong tâm lý cộng đồng. Mặt khác, sự áp đảo của các sản phẩm đầu ra của truyền thông Trung Quốc như tin tức về tiểu thuyết ngôn tình đam mỹ hay web-drama trêm truyền thông mạng và báo lá cải cho thấy ý chí tẩy chay những sản phẩm “made in China” là bất khả thi (SaoStar, 2016). Nhiều ngôi sao nhạc trẻ Việt Nam cũng là những đại sứ thương hiệu cho một số sản phẩm điện thoại di động Trung Quốc, ví dụ như Mỹ Tâm với Huawei, Sơn Tùng M-TP, Tóc Tiên, Noo Phước Thịnh với Oppo. Nhãn hiệu sau còn xuất hiện như một biển hiệu đậm nét trong một video ca nhạc (Thật bất ngờ của Trúc Nhân) và thậm chí trong gala Táo Quân đêm giao thừa của VTV. (Trieu, 2014; PC World Việt Nam 2016; Kiến Thức, 2015). Trong khi đó, thị phần điện thoại di động của Oppo nhảy vọt từ 1 lên 10% sau hơn một năm, xếp thứ ba tại Việt Nam. (IDC, 2015; Đầu tư, 2015).


KẾT LUẬN

Truyền thông hội tụ, đặc biệt là số hóa, có thể là một cây gậy thần để giúp các công ty và người tiêu dùng gần lại với nhau hơn trước đây. Nhờ Internet, nền tảng phân phối nội dung xuất chúng, một số rào cản đã bị xóa bỏ. Sự tự do hóa này cũng khiến cho cuộc hôn phối giữa hai bên tồn tại “cho đến khi cái chết (của nền tảng lỗi thời) chia lìa đôi ta”. Ở Việt Nam, khi nền tảng chuyển từ tương tự (analog) sang số (digital), hoặc nhà sản xuất thay đổi từ các nhà đầu tư khác nhau, câu chuyện của truyền thông hội tụ vẫn giữ một cốt lõi quan trọng: giao tiếp bên trong cộng đồng. Hiểu được căn tính Việt có lẽ là lợi thế của những nhà đầu tư đến từ không gian văn hóa Hán tự Đông Á, vì vậy kinh tế truyền thông của họ có thể tìm thấy cách để chiếm lấy trái tim của người tiêu dùng Việt dễ dàng hơn bất cứ đối thủ cạnh tranh nào từ các vùng văn hóa khác. Hơn nữa, khi xem xét các khía cạnh của truyền thông hội tụ, chúng ta cũng nên tính đến cách một số nền kinh tế đặc biệt đã xây dựng thương hiệu quốc gia hay thậm chí căn tính quốc gia trong kỷ nguyên toàn cầu hóa. Các bộ phim truyền hình đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc hay Trung Quốc như chúng ta đã thảo luận ở trên, cung cấp cho người Việt một nhận biết về những làn sóng thương hiệu không thể cưỡng lại nổi.

© Nguyễn Trương Quý


Tham khảo 

Albarran, Alan B. (2010). The Media Economy. London: Routledge.
China 4G Mobile Users Reached 160 Million in Q1 2015. (2015, April 30). China Internet Watch. Link: http://www.chinainternetwatch.com/1...
China’s Censors Take Another Gay-Themed Web Drama Offline. (2016, February 24). Wall Street Journal. http://blogs.wsj.com/chinarealtime/2016/02/24/chinas-censors-take-another-gay-themed-web-drama-offline/
Chinese Censors Have Taken a Popular Gay Drama Offline and Viewers Aren’t Happy. (2016, February 25). Time. http://time.com/4236864/china-gay-drama-homosexuality/
Chinese literature thrives in Vietnam. (2015, March 16). Xinhua. http://news.xinhuanet.com/english/2015-03/16/c_134069660.htm
Doyle, G. (2013). Understanding Media Economics. 2nd ed. London: Sage.
Foreign direct investment in Vietnam. (2013, January 16) Vtown. http://vtown.vn/en/articles/foreign...
How Korea became the world’s coolest brand. (2014, August). Financial Post. http://business.financialpost.com/n...
Japan’s Development Cooperation in Vietnam―Supporting Broad-based Growth with Poverty Reduction. National Graduate Institute for Policy Studies (GRIPS), GRIPS Development Forum, Tokyo, May 2002
Korean, Chinese movies blight on local TV. (2013, January 28). Viet Nam News. http://vietnamnews.vn/talk-around-t...
Lotte promotes Vietnamese pop stars. (2014, April 14). Vietnam Investment Review. http://www.vir.com.vn/lotte-promote...
Lull, J. (2000). Media, Communication, Culture: A Global Approach. Cambridge: Polity.
Minh T. N. Nguyen (2014). Vietnam’s Socialist Servants: Domesticity, Class, Gender, and Identity. New York: Routledge
Mukherjeem, M. et al (2015). Retailing in Emerging Markets: A policy and strategy perspective. Abingdon: Routledge.
Mỹ Tâm làm đại sứ thương hiệu smartphone Huawei. (2016, March 12). PC World Vietnam. http://www.pcworld.com.vn/articles/...
Nguyen Kim Targets US$2 Billion. Vietnam Business Forum. Retrieved from http://vccinews.com/news_detail.asp?news_id=26718
Oppo không chỉ lố bịch ở Táo quân, quảng cáo tràn VTV. (2015, February 20). Kiến Thức. http://kienthuc.net.vn/sot-mang/opp...
"Oshin" director hopes to give youth more courage. (2013, November 27). VietnamPlus. Retrieved from http://en.vietnamplus.vn/oshin-dire...
Oversentimental, sex fiction of Chinese origin endemic in Vietnam. (2015, April 16). Tuoi Tre Newspaper. http://tuoitrenews.vn/lifestyle/27511/oversentimental-sex-fiction-of-chinese-origin-endemic-in-vietnam
Pettus, A. (2003). Between sacrifice and desire: National Identity and the Governing of Femininity in Vietnam. New York: Routledge.
Samsung, Oppo tighten competition in smartphone segment. (2015, January 7). Vietnam Investment Review. http://www.vir.com.vn/samsung-oppo-...
Sanyo Eyeing 50 per cent of Vietnam’s Washing Machine Market. (2016, March 11). Vietnam Business Forum. Retrieved from http://vccinews.com/news_detail.asp?news_id=3870
Shih-Chen Chao (2016). Grotesque eroticism in the Danmei genre: the case of Lucifer's Club in Chinese cyberspace. Porn Studies, 3:1, 65-76, DOI: 10.1080/23268743.2015.1119991. Published by Rouledge.
Sơn Tùng M-TP – Hành trình mới cùng Neo 5. Official website of Oppo Mobile Vietnam. http://www.oppomobile.vn/neo5-son-t...
South Korea continues to be biggest foreign investor in Vietnam. (2015, November 15) Tuoi Tre News. http://tuoitrenews.vn/business/31615/south-korea-continues-to-be-biggest-foreign-investor-in-vietnam
Trade deficit with China rises. (2016, January 6). Viet Nam News. http://vietnamnews.vn/economy/280753/trade-deficit-with-china-rises.html
Trieu, Hoang Giang. Oppo: Fast and… Safe or Furious? (2014, December 22). http://www.maad-gurus.com/brand-sta...
Vietnam Smartphones Increase by 57% in 2014, Heats Up by Budget Models, Says IDC. (2015, March 12). http://www.idc.com/getdoc.jsp?containerId=prVN25480615
Vietnamese fans burst into tears seeing K-pop stars in Hanoi. (2015, March 27). Thanh Nien News. http://www.thanhniennews.com/arts-culture/vietnamese-fans-burst-into-tears-seeing-kpop-stars-in-hanoi-40437.html
Vietnam's FDI pledges dip, but actual inflows jump in 2015. (2015, December 29) Reuters. http://www.reuters.com/article/vietnam-economy-fdi-idUSL3N14J1I120151230
Web drama: Lãnh địa mới cho các nhà làm phim Hoa ngữ. (22 January 2016) SaoStar. http://saostar.vn/dien-anh/web-drama-lanh-dia-vang-cho-cac-nha-lam-phim-hoa-ngu-222985.html

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ