Thứ Hai, ngày 27 tháng 7 năm 2015

"Biên niên" Hà Nội

Những ước lệ về mảnh đất kinh kì leng keng trong năm tháng cũ có lẽ đã mất hút. Một Hà Nội lãng mạn phe phẩy trong văn chương Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài, Vũ Bằng; trong nhạc Đoàn Chuẩn, Hoàng Dương và tranh Bùi Xuân Phái… dường như cũng nhạt dần. Và vẫn còn đó cái vẻ “hối hả, như cuống quýt giành lại những năm tháng chậm chạp đã qua” nhưng Hà Nội của Quý giờ đây đã suồng sã, tào lao, đôi khi dớ dẩn nữa. Nhưng kệ, Quý thản nhiên, Quý nhẹ nhõm, Quý “biên niên” Hà Nội theo cách của mình. 




Sao Nguyễn Trương Quý lại là người “biên niên” khi những gì của Hà Nội hằng trăm năm nay thiên hạ đã nói hết rồi? Còn gì để khai thác, mổ xẻ nữa đâu? Thế nhưng Quý vẫn “đào” ra cái để nói, lại nói một cách rất đương đại - mà nếu rơi vào tay của những nhà ưa cách tân thì họ sẽ gọi đó là “hậu hiện đại”. Tôi không chắc lắm về cái nhiễu sự hậu hiện đại kia. Nhưng rõ ràng, Hà Nội của Quý là một Hà Nội khác, sống động như thực thể diễn tiến ngoài kia. Một Hà Nội mang màu cộng sinh của thời chúng ta đang sống.

Hà Nội ấy đôi khi vớ va vớ vẩn với một “xe máy tiếu ngạo”, “forum nước chè”, “phố vẫy đủ mười khúc ngâm”, “phở hay là một chuyện vặt?”. Nhưng Hà Nội ấy cũng là nơi đi về của những người “cả phố biết mặt, cả phường biết tên” hay những người vô danh, “vò tóc chồng người” hoặc những người thích tụ bạ ở những quán nước chè vạ vật từ ngày này qua tháng khác chỉ để đánh dăm con đề và nói chuyện phiếm về cuộc đời. Đó là những người làm nên trạng thái sống cũng như nét hấp dẫn của nơi này.

Trong “Mỗi góc phố một người đang sống”, cuốn tản văn mới ra của mình, Trương Quý đã thôi băn khoăn về thể loại. Anh ung dung, nhàn tản và dừng lại ở lát cắt nào mà anh muốn. Sự giới hạn về con chữ, bó hẹp về đề tài cũng như những đơn đặt hàng đến từ các báo không còn là một điều gì ràng buộc với Quý nữa. Tất cả đã nhường cho cái sang trong đời của người cầm bút: viết về khoái cảm của mình.

Đó có thể là một nhân vật mà anh yêu thích, một bối cảnh không gian làm nên số phận của đô thị mà anh thấy ấn tượng. Hoặc chỉ là những cái nhỏ nhỏ, vặt vãnh như chiếc bản đồ gọi về một chân trời đã mất, hay “đồng nát sành điệu”, “khói biếc cuộn về chứa chan”, thậm chí cái mũi cao của Trung tá Luân – nhân vật trong bộ phim “Ván bài lật ngửa” tưởng chừng chẳng liên quan cũng là một gợi mở thú vị về sắc vóc nhân chủng người Việt. Quý viết thoải mái, tung tẩy, nhìn cuộc đời trên diện rộng và để ý xem trạng thái sống đó như thế nào, họ đã làm gì ở đó. Hay nói cách khác, anh quan tâm đến số phận nhân vật của mình hơn. Anh nghe ngóng và đi tới bến cơn rong ruổi của mình, của người. Điều đó cũng có nghĩa rằng Nguyễn Trương Quý đang thăng hoa thong dong một cõi. Anh đang tự do.

Nguyễn Trương Quý cũng đã thôi rụt rè như những ngày đầu đặt chân vào con đường chữ nghĩa. Từ “Tự nhiên như người Hà Nội”, cuốn tản văn ra đời hơn 10 năm trước cho đến “Xe máy tiếu ngạo” (2012) rồi mới đây nhất là “Mỗi góc phố một người đang sống”, Quý càng ngày càng “chín”. Nếu trước đây, đôi mắt của một người làm nghề kiến trúc sư chi phối vào văn thì dần dần chính Quý đã làm một cuộc “li khai” nhỏ để rồi giờ đây, anh làm chủ đôi mắt đó. Nó trở thành phương tiện để Nguyễn Trương Quý ngó nghiêng cuộc đời và “phơi bày cái tôi giữa những cái sặc sỡ của thế giới” như anh nói.

Anh nhìn Hà Nội thông qua những căn tính của nó với một hiện thực chồng lớp từ thời này sang thời khác mà ở đó các di chỉ văn hóa, những con người trộn lẫn đã kiến tạo ra một vùng đất đặc biệt. Anh bảo rằng, người ta thật buồn cười khi tranh luận rằng Hà Nội cũ hay Hà Nội bây giờ đẹp hơn. Và cứ đặt bút viết về Hà Nội, không hiểu vì sao nhiều người vẫn luyến tiếc một chút lá vàng bay, một chút liễu rủ lơ thơ… Quý không giỏi lí sự. Quý đứng ngoài cuộc tranh luận đó. Mới hay cũ, hoài niệm hay không hoài niệm với anh không quan trọng. Quan trọng, anh có thấy thú vị với điều đó không và câu chuyện, ký ức đó có vọng về, cùng “sóng” với mình không. Vì thế nên, sẽ chẳng có gì vô lí cả khi ai đó tìm thấy ở nhạc xưa một sự đồng điệu. Họ nghe nhạc xưa không phải họ là người cổ lổ sĩ, ăn mày dĩ vãng. Họ nghe vì họ tìm thấy ở đó một nhịp sinh học phù hợp với mình. Những người thích nghe nhạc rock, nhạc pop… cũng tương tự. Họ nghe vì sự thú vị vang lên trong mình. Quý bảo với tôi, đó là điều thú vị nhất trong những điều thú vị mà anh từng trải qua. Anh viết về người khác nhưng chính là đang viết về mình. Là bởi mình muốn nghe câu chuyện của mình, câu chuyện đó vang lên như thế nào, bằng cách gì… Nó gần như là một thôi thúc, một ám ảnh, một trải nghiệm đặc biệt.

Với Nguyễn Trương Quý, Hà Nội là một đô thị hiếu sự và lạ lùng. Nó đang trên đà sinh trưởng, không già cỗi và chết dần chết mòn như một số thành phố khác trên thế giới. Và lúc nào nó cũng có chuyện, sư vụ này vừa xảy ra chưa qua, sư vụ khác đã xảy đến. Từ câu chuyện giáo dục, câu chuyện chặt cây… cho tới mấy ngày gần đây, người ta lại râm ran chuyện bầu bán chủ tịch ở cấp Tiểu học… Tất cả làm nên hơi thở đương đại, làm nên sinh khí cho phố. Phố còn tồn tại la bởi phố có câu chuyện. Mà chủ nhân của phố, không ai khác chính là những con người sống trong phố bên sông.

Quý từng nói rằng: “Đã nhiều năm qua, nhiều người tìm đến tình yêu với Hà Nội – “hướng về thành phố xa xưa” ấy như một sự thoát ly thực tại, yêu một thứ thuộc về ký ức chứ không phải yêu một thực thể. Nhưng thực thể sẽ trở thành một phần của ký ức… Nhiều thế hệ sinh sống ở Hà Nội đã cho thấy những gì họ làm ra có tính chất cá nhân lại có sức sống lâu hơn những công trình vật chất của xã hội. Không phải phố cổ sinh ra họ, không phải hồ Gươm là nơi họ sống gần, không phải họ có mùa thu, mà họ tạo ra một phố cổ của họ, hồ Gươm khi qua tay họ hình như mới đẹp và họ đã mang lại những cơn gió heo may dịu dàng cho mảnh đất không hẳn đã dễ sống này”.

Tản văn của Nguyễn Trương Quý không bảng lãng và chảy tràn trên một mạch duy cảm lồ lộ thành câu chữ mà thiên về khảo cứu nhiều hơn. Quý thừa nhận lúc đầu Quý đã bị sự nhún nhảy và duyên dáng của câu chữ tha đi. Nhưng dần dần chính anh nhận ra rằng tất thảy những cảm xúc ấy không thể đưa mình đi xa hơn. Một mẩu tản văn cảm xúc vùn vụn thì hay nhưng mười mẩu như thế thì hóa ra dở và nhạt nhẽo. Vì vậy nên, đọc sách của anh, lượng thông tin tương đối nhiều. Đôi khi, có cảm giác như đang đi xem bảo tàng. Nhưng chắc chắn, tản văn của Quý không gây buồn ngủ. Bởi những thông tin “biên niên” ấy được đặt trong cái nhìn đương đại, với những câu chuyện về thời đại hôm nay. Xen lẫn vào đó là giọng điệu đôi khi tưng tửng, mỉa mai, chua cay, lắm lúc đầy dư vị của những bùi ngùi tiếc nuối.

Sau “Xe máy tiếu ngạo”, tôi có nghe ở đâu đó rằng anh muốn ra một tuyển tập truyện dài hơi. Nhưng tản văn dường như vẫn níu chân Quý. Quý lại là người nặng nợ với tình cũ trong khi tình mới chưa thành hình. Bằng chứng là “Mỗi góc phố một người đang sống” vừa ra mắt vẫn là tản văn – một thể loại mà nhiều người cho rằng nó là văn chương loại hai. Loại một hay loại hai có quan trọng không khi sách của anh ra cuốn nào cũng đắt khách. Có những cuốn tái bản 4 -5 lần. Và bây giờ, nhắc đến tản văn, ở trời Nam người ta nhắc nhiều đến Nguyễn Ngọc Tư thì ở đất Bắc không ai khác chính là hai cái tên Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Trương Quý.

Tôi từng thắc mắc rằng vì sao Nguyễn Trương Quý lại dại dột đi theo văn chương khi có một tấm bằng kiến trúc sư trong tay? Lụi cụi với chữ nghĩa để làm gì? Thiên hạ vẫn nói “cơm áo không đùa với khách thơ”. Tôi cũng chưa hình dung sự đa đoan mà một người đàn ông tự đeo bám vào mình nó ra làm sao vì trước giờ, người ta chỉ dành hai chữ đó cho đàn bà viết văn. Nhưng trải qua nhiều công việc khác nhau mà chẳng có công việc nào giúp mình kiểm soát mình như việc viết văn nên anh đã chọn nó và thôi, cũng xem như một vui vầy trong đời sống có quá nhiều ồn ã, xô bồ và mỏi mệt. Quý đã mang chiếc bút chì cũ của mình, trở thành kẻ tay ngang bước vào văn chương và “biên niên” Hà Nội thị dân bằng những rung động của một gã 7x duy nhất sót lại ở đất này.

Và trong lúc ngồi nói chuyện với gã tay ngang 7x ấy vào một chiều muộn ở quán café nằm ngay ngã tư phố Liên Trì và Trần Quốc Toản, thỉnh thoảng tôi vẫn nhìn xuống những viên gạch caro dưới nền nhà, nơi có một vài con nắng còn rớt lại rồi nhạt dần đi. Tôi tự hỏi, Quý có định viết tản văn nào liên quan đến những viên gạch một thời của Hà Nội?

Đậu Dung
(ANTG cuối tháng 7-2015)

Thứ Hai, ngày 20 tháng 7 năm 2015

Lời tựa - Mỗi góc phố một người đang sống


Khi mới đến một thành phố, tôi thường bị hút vào các công trình nhà cửa, cung điện lâu đài hay di tích lịch sử. Quang cảnh kiến trúc, các điểm mốc không gian là những yếu tố đập vào mắt đầu tiên.

Nhưng sau khi trải nghiệm các không gian có phần lặp đi lặp lại ở nhiều đô thị với các thiết chế cơ bản mỗi nơi, lúc trở về tôi dần quên các chi tiết, các mái chóp, gác chuông hoặc các tranh tượng nguy nga đã nhường chỗ cho cảm giác nóng hay lạnh, sự khoáng đạt hay chật chội, và ấn tượng về phong tục sống của con người giữa những khung cảnh ấy. Một thành Viên hoàn hảo về kết hợp cổ kim, về cách nghệ sĩ ở đây cố gắng làm gì đó khác đi so với hàng trăm năm kinh điển của âm nhạc, của hội họa, và vẫn còn những chuyến tàu điện leng keng gợi nhớ Hà Nội thời trước. Một Venice không nhiều sửng sốt về những tòa nhà lộng lẫy mà vì cư dân ở đấy sống trong những ngóc ngách giông giống Hà Nội, đi lại bằng thuyền trên những con kênh (may chăng giống Hà Nội thời Kẻ Chợ xa xưa?) và không có xe máy – thứ khác hẳn với Hà Nội.

Tôi đã để tâm đến lối sống con người nhiều hơn, thay vì lê bước trong những bảo tàng mênh mông. Có những thành phố tôi chẳng xem gì nhiều nội thất bên trong mà đi lang thang ngoài các quảng trường, qua các đường phố nơi phô bày các sinh hoạt thường nhật. Cuối cùng, căn phòng khách sạn nào đã nằm, bữa trưa ở đâu, người ta mua bán với mình ra sao, đã thành ký ức quan trọng. Và Hà Nội, đối chứng cho mọi thành phố mà tôi tới, khiến tôi đặt câu hỏi, cái gì làm nên giá trị bất thành văn cho từng không gian sống? Mỗi con phố phải có gì hơn là nhà cửa, hàng cây, vỉa hè, nếu như không phải là ở đấy có những con người làm nên trạng thái sống của chúng. Không có họ thì phố cũng chỉ dần như bảo tàng hoang vắng, như thành phố Venice, nơi mà người dân đang dần rời bỏ. 30 năm qua, dân số thành phố này chỉ còn một nửa, còn giá cả đắt lên gấp đôi, gấp ba. Trong khi đó, dân số Hà Nội tăng lên hơn ba lần, cho dù giá nhà cũng tăng lên rất nhiều lần. Nghĩa là hoàn cảnh của đô thị Hà Nội hoàn toàn khác với Venice. Hà Nội vẫn trên đà sinh dưỡng của nó. Ấy là nhờ những con người, họ đã sử dụng và biến cải không gian đô thị để phục vụ cho cuộc sống của mình. Họ có thể là những nghệ sĩ, nhà văn, những người cả phố biết mặt, cả phường biết tên. Nhưng họ cũng có thể là những người làm các công việc rất bình thường, cắt tóc gội đầu, sửa chữa xe máy, buôn bán này nọ. Họ làm cho phố có sức sống.

***

Khi tôi biết nhận thức thì đã thấy Hà Nội rất khác, dù hồi đó thành phố vẫn còn “quê”. Nơi tôi sống vẫn còn rất nhiều ao hồ, thậm chí nhiều khu vực mênh mông của quận Đống Đa, Ba Đình vẫn còn là ruộng vườn. Hà Nội phố xá buôn bán chỉ có một chút ở những ngã tư đầu ô hay khu vực Bờ Hồ với những cửa hàng, cửa hiệu hay sáng đèn. Đến khi đi học, được đọc sách của Tô Hoài, Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng, nghe nhạc Đoàn Chuẩn, xem tranh Bùi Xuân Phái… tôi thấy một Hà Nội rất khác, một Hà Nội có nếp sống thị dân, có nhà hàng, cửa hiệu, người ta ăn mặc nhiều quần áo lạ, có lối ứng xử khác với thời tôi sống… Tôi thấy Hà Nội trong các tác phẩm này như một miền cổ tích quá xa xôi từ thế kỷ nào vậy, nhưng lớn lên mới biết hóa ra những người sống trong thời ấy, viết ra những tác phẩm đấy, có người vẫn đang sống cùng thời mình đây thôi.

Sự phát triển của Hà Nội có một khoảng đứt đoạn do đã trải qua những giai đoạn phát triển không bình thường: chiến tranh và đóng cửa, và đặc biệt là các quan niệm về giá trị của đô thị không được coi trọng, người ta không nhìn đô thị như một xã hội thị dân mà nhìn như một xã hội bao cấp kế hoạch tập trung, có vẻ cái gì cũng có mà cái gì cũng thiếu. Vì vậy, ngoài việc hòa mình với đời sống Hà Nội hiện tại, tôi cũng bỏ công tìm hiểu, hỏi han về cuộc sống của người Hà Nội xưa. Rất nhiều thứ được lấy làm đại diện cho bản sắc Hà Nội mới được xây dựng mau chóng trong vài thập niên đầu thế kỷ 20.

Ngắm nhìn những bức ảnh Hà Nội những năm 40, trong khung cảnh ngăn nắp được đông lại thành hình tượng đã ảnh hưởng rất lớn đến mỹ cảm của các thế hệ sau này, dường như nó toàn bích và giống “chân dung” bức ảnh các thành phố di sản khắp thế giới. Những ngôi nhà nhỏ bé với mái ngói lô xô vảy cá như đợt sóng, những nhà hát, bảo tàng, trụ sở… tất cả thành một quần thể dễ thương. Một thành phố như thể sinh ra để người ta đến du lịch. Nó bình yên, thơ mộng, cái gì cũng bé xinh, tỉ mỉ khiến bất cứ ai cũng yêu ngay được.

Tôi đặt câu hỏi, những phố Hà Nội bây giờ thì sao? Những con người ở đấy họ có tiếp tục công việc khiến người khác yêu không “ngay được” thì liệu có vớt vát bằng cách thấm dần theo thời gian không? Đã nhiều năm qua, nhiều người tìm đến tình yêu với Hà Nội – “hướng về thành phố xa xưa” ấy như một sự thoát ly thực tại, yêu một thứ thuộc về ký ức chứ không phải yêu một thực thể.

Nhưng thực thể sẽ trở thành một phần của ký ức. Nhạc tiền chiến chỉ hình thành và tồn tại không đầy hai thập niên ở Hà Nội nhưng hơn bảy mươi năm sau chúng vẫn còn được hát, cũng như những cuốn sách của thời trước được đọc lại. Nhiều thế hệ sinh sống ở Hà Nội đã cho thấy những gì họ làm ra có tính chất cá nhân lại có sức sống lâu hơn những công trình vật chất của xã hội. Không phải phố cổ sinh ra họ, không phải hồ Gươm là nơi họ sống gần, không phải họ có mùa thu, mà họ tạo ra một phố cổ của họ, hồ Gươm khi qua tay họ hình như mới đẹp và họ đã mang lại những cơn gió heo may dịu dàng cho mảnh đất không hẳn đã dễ sống này.

N.T.Q

Thứ Hai, ngày 29 tháng 6 năm 2015

Nguyễn Trương Quý: một khi bắt kịp Hà Nội

SOI – Nguyễn Trương Quý là người sinh ra tại Hà Nội, sống, và chắc là sẽ sông mãi lại Hà Nội. Anh học kiến trúc nhưng lại trở thành một biên tập viên của Nhà xuất bản Trẻ. Nguyễn Trương Quý viết từ rất lâu rồi, những năm đầu 2000, thoạt tiên là những bài rụt rè mà nghiêm trang về Hà Nội, như một người đứng trình bày trước một hội đồng vô hình, cứ sợ sai.
Từ đấy đến nay, anh đã xuất bản nhiều tập sách, tản văn, và cả truyện ngắn. Cứ giữ hết các sách của Trương Quý trong nhà đi, đọc nhẩn nha, hoặc sau này, chục năm nữa chẳng hạn, đọc lại chắc chắn sẽ tủm tỉm cười vì những câu chuyện rất Hà Nội hồi ấy may quá có người đi theo tẩn mẩn ghi. Đọc Quý qua nhiều năm, thấy với Hà Nội giờ anh cũng đã suồng sã hơn, bạo dạn hơn, như người đã bắt kịp nhịp đi của Hà Nội, sảng khoái; không còn như ngày nào “cổ kính” và cẩn thận bước theo sau cuộc sống…
Tháng 6 này, Nguyễn Trương Quý ra mắt tập sách mới, “Mỗi góc phố một người đang sống“. Jacob O. Gold, nghiên cứu sinh ngành nhân chủng học ĐH Illinois, người đã dịch tập “Xe máy tiếu ngạo” ra tiếng Anh, nhận xét về tản văn của Quý: “Mỗi bài tản văn như một cuộc du ngoạn được dẫn dắt qua không gian của hoài niệm, của ghi chép về xã hội, của những tham chiếu văn hóa sâu xa và những sáng tạo hài hước pha cay đắng. Những cuốn sách của Nguyễn Trương Quý đưa chúng ta đến với Hà Nội, cho chúng ta có được cơ hội trở nên thông thạo nơi này cùng một trong những nhà quan sát sắc sảo nhất của nó”.
Xin giới thiệu với các bạn hai bài tản văn trong tập “Mỗi góc phố một người đang sống” mới nhất của anh:
.

Phố vẫy đủ mười khúc ngâm
Ở Hà Nội có kiểu bán hàng đã thành quen: Những dãy quán hàng ăn bán cùng một loại, có những cô cậu thanh niên lao ra giữa đường tóm ghi đông xe khách hoặc leo lẻo chào: “Vào hàng em đi!” Kiểu chào hàng này đầy vẻ hăm dọa, lại nguy hiểm cho cả đôi bên khi xe đang đi, khiến khách đi qua ngỡ mình lạc vào khu vực đất riêng của các nhà hàng ấy. Nếu khách chấp nhận vào một hàng nào đó, hàng bên cạnh sẽ buông câu vớt vát, “Ngu, ăn ở bên ấy toàn chân gà thối”. Thực khách hãi hùng chờ đợi món ăn được dự báo khủng khiếp dọn ra.
Nói về chuyện những người đứng vẫy khách ở dọc đường, họ đứng lố nhố như thế là vì lo sẽ mất khách về tay hàng bên cạnh. Không phải hàng nào cũng đề biển rõ ràng:
BÚN CHẢ GIA TRUYỀN
Lưu ý: Hàng bên cạnh mới mở
Mà có đề cũng không thể nhanh bằng cắt cử người khỏe mạnh ra trấn sẵn từ xa, tiện thể làm chân dắt xe. Ở Hà Nội dù phố xá chật chội, các quán xá rất tài khi đông khách cỡ nào cũng có chỗ để xe. “Anh chị cứ để đấy, em dắt cho. Không phải vé đâu ạ.” Nghĩa là làm thế nào đó, mấy cậu thanh niên sẽ nhớ cái xe của ngần ấy con người để mà khi ra lấy xe cho đúng. Với những quán này, vỉa hè là của họ và thậm chí, lòng đường cũng bị các quán liền kề nhau tranh chấp nốt.
.
 Phương án để người đi đường đi qua bình yên là hoặc ngậm cái tăm trong mồm (hơi bị kinh!) để ra ý tôi đã cơm no rượu say rồi, hoặc mặt phớt lạnh như người chả thiết ăn, thờ ơ đi qua cao lương mĩ vị. Hoặc ai được trời phú cho ngoại hình bặm trợn, cứ thế là phi qua, đám người vẫy kia liệu thần hồn mà chường mặt.
Nhưng ở Hà Nội, có những loại việc, những dãy quán mà người làm chẳng phải lao ra đường mà giành giật khách. Họ cũng vẫy, vẫy nhẹ thôi, nhưng đủ ra hiệu cho khách vào, như taxi có bật đèn tín hiệu rất tinh tế sẵn sàng chở. Những con đường ngoại ô Hà Nội, nơi gần các cửa ngõ dường như là những khu vực lý tưởng cho các dịch vụ nhạy cảm như mát xa, gội đầu, theo chiều hướng mại dâm. Các con đường mang tên những nhà cách mạng hay địa danh đầy hào khí còn được mang cái tên “phố sung sướng”, phục vụ cho những người đàn ông tìm kiếm tí đụng chạm da thịt trong những quán nhìn ngoài thấy đèn lom đom như Hà Nội thời bao cấp.
Các cô gái làng chơi hoặc ngồi lộ liễu ở cửa các quán mát xa, hoặc đứng thập thò sau những gốc cây dọc con đường Trần Khánh Dư gần cửa bệnh viện Hữu Nghị, họ đa phần cũng chẳng được nhan sắc cho lắm. Trong khi bệnh nhân của bệnh viện từng có tên là Hữu Nghị Việt-Xô đa phần là các cụ lão thành gần đất xa trời, những người có tiêu chuẩn cán bộ cao cấp mới được vào, thì hàng phố thấy sao lắm con cháu tuyền là gái tre trẻ xách cặp lồng đi nườm nượp con đường vắng lặng này. Làm gì con cháu thời buổi này có hiếu đến thế! Chẳng qua là một dạo bị các lực lượng chức năng ra chiến dịch mạnh tay truy quét tệ nạn mại dâm, các cô “gái vẫy” sáng tạo giải pháp xách cặp lồng giả vờ như đi thăm nom người ốm. Nếu có bị bắt thì giơ cặp lồng ra làm bằng chứng. Ngày nay, các cô gái nhà lành cũng ăn mặc áo xanh đỏ, cũng kẻ mắt thâm, tóc cũng nhuộm vàng, tay xách cặp lồng tần tảo, thật khó phân biệt.
.
Từ đâu ra kiểu cách đứng dàn hàng ngang ngoài đường, láo nháo như hội chợ chơi trò ú tim đuổi bắt? Chắc chắn là các hàng này hoặc thiếu tự tin về sản phẩm của mình (hàng chân gà nào cũng như hàng chân gà nào, nhập về cùng một vài nguồn, tự tin hơi khó), hoặc triệt để bài học “không cho chúng nó thoát”. Chúng nó ở đây là “thượng đế”, là “gà”, hai từ phiếm chỉ khách hàng ở hai cực ve vãn lẫn bề trên. Từ ngôn từ cho đến hành động, phản ánh một lối tư duy bạo lực, hám lợi, hớt váng bằng mọi giá.
Ở Hà Nội vẫn còn những cô gái đạp xe bán hàng hoa dọc phố, hay được các tay máy chụp lại như những dấu ấn gợi cảm của thành phố bốn mùa hoa. Dĩ nhiên nghề của các cô đã bị dùng để chỉ cho loại hình nghề vẫy đã nói ở trên, “xách cặp lồng đi bán hoa”. Nhưng có một hình thức bán hoa khác cũng hãi hùng, ấy là khi đi qua đoạn phố trước cửa nhà tang lễ thành phố ở 125 Phùng Hưng hay số 5 Trần Thánh Tông, thôi thì mồm năm miệng mười, tay vẫy ghi đông người đi đường, tưng bừng chào đón “mua hoa đi anh ơi”. Họ nhiệt tình tranh giành, cãi cọ, để làm sao bán bằng được những vòng hoa viếng cho những người cần chút không khí yên tĩnh thiêng liêng. Mua hoa viếng đám ma cũng nhộn nhịp như thể mua hoa chào mừng thành công đại hội.
Người ta nhanh chóng nhận ra nghịch lý: Hà Nội có những quán hàng có chất lượng được tín nhiệm đến nỗi người ta xếp hàng dài dằng dặc như thời bao cấp, để mua những chiếc bánh chưng, cây giò lụa như hiệu Quốc Hương phố Hàng Bông, hay vài cái bánh Trung thu Bảo Phương phố Thụy Khuê, mà không cần vẫy ai, thậm chí còn phải hạn chế nhu cầu, gây ỏm tỏi truyền thông mạng xuân thu nhị kỳ. Nhưng Hà Nội cũng sở hữu cả những tuyến đường mà người bán đói khách đến độ lao ra mời chào đầy thô bạo, cả từ hàng ăn uống cho đến đồ tang ma. Người tiêu dùng cũng lạ lùng là chấp nhận sa vào đó, ngồi ăn uống ven hồ Trúc Bạch, cứ như những pha vồ, vẫy đi qua lại là điều rất bình thường. Có cái gì đã chai sạn trong những cách mua bán đó, một khi đã chẳng ngại ngùng vòng hoa nhà này năm trăm hoa tươi vòng hoa nhà nó ba trăm cắm que khô thì màn vẫy chỉ là chuyện nhỏ.
.

*
Đồng nát sành điệu
“Hà Nội giờ chẳng như ngày xưa,” câu nói dễ trở thành cửa miệng của 100% số người quay về thăm lại Thủ đô và cả dân đang sống sờ sờ tại Thủ đô nữa. Tưởng như nhiều năm tháng sóng sau đè sóng trước đã khiến cho tính cách trôi nổi, xô bồ ngự trị trong nhiều thế hệ, dẫn tới chẳng có gì vĩnh cửu ở đây.
Vậy mà có một số thứ mãi mãi bất biến ở mảnh đất này, cho dù thời cuộc biến thiên. Không phải hoa nhài Tràng An. Cũng không chắc phở tái gầu. Nét thanh lịch thơm thể hoa nhài kia thay đổi theo quan niệm xã hội. Phở Hà Nội biến tướng nhiều kiểu, chỗ đậm mì chính chỗ chế thêm rau sống, nguyên liệu khác xa phở vài thập niên trước. Thứ bất biến ấy, là tinh thần hoài cổ.
Nhưng điều đáng nói là người ta hoài cổ về cái thời họ từng sống chưa xa xôi gì, thời họ là nhân chứng lịch sử. Đó là thời bao cấp, và thời này đang trở thành một cái mỏ sành điệu của những người hoặc đã no nê, hoặc không tìm thấy đồng cảm trong khuynh hướng thời trang bày ra hàng tuần ở cửa kính trưng bày của Louis Vuitton ở khách sạn Metropole hoặc vụ cả nghìn người tranh cãi xếp hàng đổi máy tính bảng Samsung cũ lấy mới từ đêm hôm trước. Vụ này hỗn loạn đến mức chương trình tiếp thị này bị hủy bỏ. Một khi đã lên tới hàng nghìn người theo đuổi thì sự sành điệu lại không còn ý nghĩa nữa. Với dân Hà Nội, sành điệu nghĩa là phải in ít kẻ theo thôi, và vừa đủ để tụ thành một nhóm “chúng mình với nhau”.
.
Thời bao cấp! Nói đến thời này thì có cả một kho đồ vật đã thành biểu tượng. Biểu tượng cho sự khó khăn và vượt qua thử thách của người Hà Nội. Biểu tượng cho những phẩm chất tồn tại khó tin của người Hà Nội, mà đến giờ họ lục lại, lau bụi, đánh gỉ, và trưng bày ra để ký thác nỗi niềm về một phần đời “nghèo mà đáng nhớ” của mình. Những triển lãm về thời bao cấp cách đây sáu, bảy năm có lẽ không chỉ mở đầu cho cuộc “phục hưng” ký ức của dân Hà Nội, mà còn của cả trào lưu trưng bày lưu giữ đồ cũ của cộng đồng. Tự nhiên người ta thấy, ồ, những thứ đồ cổ lỗ sĩ, mốc meo của cái thời tem phiếu lại có sức lay động hơn bao giờ hết. Và những món đồ ấy vào tay một số người có tài vặt lại biến thành thứ vẫn hoạt động được. Rồi người ta thấy các quán cà phê lại treo ảnh cũ, dựng mấy cái xe đạp gióng ngang tróc sơn, dăm cái xe máy bình bịch hình thủ cổ quái. Khi mà tất cả các album ảnh cưới đều cho chú rể đội mũ bê rê, mặc quần gấu lơ vê có dây đeo vai, và cô dâu nối tóc dài buộc trễ gái Hà Nội xưa thì đã hóa ra màu bình dân, các nhà tạo mốt lại đẻ ra xu hướng chú rể đèo cô dâu tết tóc đuôi sam, mặc áo cánh, quần lụa đen, cầm hoa lay ơn trắng trên xe đạp đi qua khu tập thể. Xu hướng này hãy còn ít, vì có vẻ cực đoan quá, mặc dù Trần Nữ Yên Khê đã mặc như thế lên phim Mùa hè chiều thẳng đứng từ cuối thế kỷ trước rồi.
Tức là cái đẹp của đồ cũ những năm bao cấp, khoảng thời gian có thể mở rộng ngược lên tận thời Pháp thuộc, đã chẳng trôi qua vô ích trong mắt những nhà nghệ sĩ khi chúng bắt đầu hết vai trò sử dụng. Những thứ đồ vật không năm tháng ấy đã cho thấy một Hà Nội ít có sự thay đổi vật chất, áo hết đời anh dùng thì “đêm cuối cùng anh để lại cho em”, xe đạp Phượng Hoàng mẹ không đi nữa thì làm của hồi môn cho con gái lấy chồng, như thể những món đồ gia bảo quý tộc Anh vậy. Chỉ hai thập niên đổi mới, người ta đã ngơ ngác với sự trống vắng những món đồ này giữa sự biến đổi vật chất ngoạn mục của đời sống thị dân. Công cuộc tìm kiếm và lưu giữ đồ thời bao cấp giúp cho những kẻ có “chất chơi” cảm thấy mình có một cái căn cốt vững vàng trước những cuộc thăng trầm tiền tài kia. Và chúng trở thành “phẩm chất Hà Nội”.
.
Vài tháng trước, một quán ăn ở số 37 Nam Tràng, gần hồ Trúc Bạch, phục dựng lại khung cảnhcửa hàng ăn uống mậu dịch được báo chí rầm rộ nhắc tới. Khách vào đấy cũng mua bằng tem phiếu, cũng ăn bằng những cái bát sắt quân dụng và ngắm những hiện vật đã từng bị họ bán đồng nát ba mươi năm trước. Còn giới “chất nghệ” thì đã biết quán cà phê Cộng hay quán Barbetta với những ông bà chủ thông minh sắp đặt đồ cũ với tinh thần tiện nghi hóa. Cũ kỹ hơn nữa là quán cà phê Báo trong trụ sở Hội nhà báo Hà Nội ở phố Trần Quốc Toản, với đủ thứ phủ bụi, ngồi ở đây người ta có thể hiểu thế nào là một sự sành điệu kín đáo, cũng kiêu kỳ chẳng kém lối sành điệu khi ngồi ở cà phê Luala hay Metropole – những nơi có giá một cốc cà phê gấp bốn năm lần và không có một món đồ thời bao cấp nào giăng trước mắt. Ở những nơi này, chỉ có bàn ghế tiện nghi và những mốt quần áo sang trọng mới nhất. Quần áo của người phục vụ ở Luala nghe đâu cũng cỡ hiệu Escada hay Van Laack! Nhưng để tôi so sánh cho mà nghe, thì năm mươi năm trước, áo bông Sĩ Lâm hay bút máy Kim Tinh cũng là đỉnh cao thời trang, chỉ cán bộ cao cấp mới dễ bề có được.
Viết đến đây, tôi cứ lởn vởn trong đầu nhận xét của một chị bạn nhà văn nổi tiếng rằng tôi đừng viết “ngoái lại mà nên nhìn ngang”. Tôi không biết làm sao để thoát ra sự hoài cổ khi mà chính chị đã từng khuyên tôi thử mua một chiếc xe máy Vespa PX cũ. Thực ra nó không đến nỗi cũ mà chỉ như thời bao cấp tôi đã từng trải qua hồi bé, nhưng đến giờ đã thành thời của đồ cổ. Cái xe khá bất tiện cho việc đi lại, mặc dù dáng xe rất đẹp và gây ấn tượng cho bạn bè tôi đến nỗi đến giờ, sau khi tôi đã bán đi được hai năm rồi, mọi người đều hỏi: “Vespa cổ đâu rồi?”
Nhưng như thế vẫn không là gì so với một anh bạn khác, Vũ Lâm. Anh này là phóng viên chuyên mảng mỹ thuật. Có lẽ vì nghiên cứu mỹ thuật nên anh cũng có sự lựa chọn khác người. Anh định mua một cái U-oát đầu vuông, loại xe có từ giữa thế kỷ trước cũng nên. Lâm rủ tôi đi cùng để thẩm định. Cái xe được để ở sân Cột Cờ, lúc ấy chưa trả về di tích Hoàng thành Thăng Long (cũng một thứ đồ cổ!), và chủ cũ là một bác bộ đội đã lâu không dùng nó. Giữa khung cảnh cổ kính và nhiều tàn tích chiến tranh của bảo tàng Quân đội ngay phía sau, cái xe có dáng vẻ nam tính mà vẫn độc đáo.
.
Sau vài cốc bia hơi ở bãi cuối sân bóng, chúng tôi leo lên chiếc xe mà trong mắt tôi kín mít như cái xe chở tiền. Con xe nhảy chồm chồm trên cái sân bóng đá cũ, bỗng tăng tốc rầm rầm lao về phía quán bia và rồi khựng lại giữa chừng trước cả mấy trăm người đàn ông đang trợn mắt lên không biết nên ngồi uống bia tiếp hay bỏ chạy. Tôi toát mồ hôi, thầm nghĩ ông bạn mà dùng cái xe này đi công tác Tây Bắc chắc “đi bằng niềm tin”. Rồi với một nỗ lực to lớn, bạn tôi cũng đưa được nó về chỗ cũ thật êm ái. Không có tràng vỗ tay hoan hô nào, và ai nấy thở phào ngồi nhậu tiếp. Nhưng rõ ràng cái xe nổi bật thật, thậm chí vài ba ông còn ra ngắm nghía.
“Ba triệu thôi.” Lâm suy tính. Tôi lắc đầu, nghĩ nhỡ đâu có cảnh hàng nghìn người bỏ chạy ngoài đường để tránh bị đâm phải. Người chủ xe cũng lắc đầu và bảo, “Thôi chú đừng mua, cái này anh bán đồng nát vậy.”
*
Minh họa trong cả bài: Nguyễn Trương Quý
(http://soi.today/?p=178394)

Thứ Hai, ngày 04 tháng 5 năm 2015

Bay trong đêm pháo hoa

"Bay lên nào em bay lên nào, vui bạn Nam Bắc về chung một nhà"... Bài này mình có ấn tượng không phải nghe từ trên đài mà từ một bộ phim - Sơn ca trong thành phố (1983). Bộ phim lấy bối cảnh thành phố Nha Trang sau giải phóng vài năm, có sự kiện một cuộc thi hát của các em học sinh, nhân vật chính là Hạnh - có bố là sĩ quan chế độ cũ đang bỏ trốn, mẹ là cô giáo - cũng là một ứng viên cho giải nhất. Hạnh đi thi hát bài "Em là hoa hồng nhỏ" của Trịnh Cộng Sơn nhưng bỏ dở vì tâm trạng xáo trộn. Bài "Em bay trong đêm pháo hoa" do một em khác hát trọn vẹn, khá hay. Nhưng bài hát đinh của bộ phim là bài hát "Chim sơn ca" do chính NS làm nhạc phim - Y Vân - viết. Y Vân thì nhiều người đã biết là một NS nổi tiếng ở Sài Gòn trước 75, ông cũng từng viết nhạc lính như kiểu Người yêu lý tưởng. Ông là người gốc Bắc. Bài "Chim sơn ca" có nhiều nét đồng điệu với nhạc thiếu nhi miền Bắc, như những bài kiểu "Em bay trong đêm pháo hoa" của Hàn Ngọc Bích.


Hồi trước nghe những bài hát hay để ý tên tác giả, thì cái tên có cái họ lạ tai cũng rất dễ chú ý. Bây giờ thật hiếm bài nào đơn giản và dễ nhớ như Rửa mặt như mèo. Hồi năm ngoái đã định làm 1 cuốn sách chọn chừng hai chục bài hát thiếu nhi, làm như cuốn sách học về thế giới xung quanh. Lời những bài hát của các NS như Hàn Ngọc Bích, Phan Nhân (Chú ếch con), Hoàng Vân (Chim vành khuyên), Phạm Tuyên (Chú voi con ở Bản Đôn)... đầy ắp những chi tiết sinh động về thiên nhiên, tha hồ minh họa và dạy cho các con. Đi kèm là CD nhạc chẳng hạn. Mỗi tội làm sách như thế quá mệt nên mãi mình cũng chưa khởi động được.
Bây giờ trẻ con nghe Sơn Tùng MTP với lại nhạc nước ngoài, đi thi cũng hát những bài ấy, đứa nào chọn kiểu Đưa cơm cho mẹ đi cày hoặc Em đi giữa biển vàng thì Ban giám khảo cứ nức nở như thể đấy là những bài hát thính phòng đại khó, phải cỡ NSND mới hát nổi không bằng! Hoặc phá cách đến phức tạp không cần thiết, hoặc làm mỏng bẹt ra lấy cớ "acoustic", rời như cơm nguội. Từ lúc nào mà các bài hát thiếu nhi quen thuộc vài thập niên trước lại thành món ăn lạ miệng vậy. Tất nhiên cũng có lý do là những bài hát nằm trong hệ thống tuyên truyền, dù vô tình hay hữu ý. Những đứa trẻ được tuyên truyền từ lúc ẵm ngửa, là sản phẩm không tránh được của một thời. Có điều vẫn có thể thấy những sáng tạo thật tươi mát và trong trẻo của những người yêu trẻ con thật sự.
(NS Hàn Ngọc Bích vừa qua đời ngày 1.5.2015, thọ 75 tuổi).

Chủ Nhật, ngày 03 tháng 5 năm 2015

Nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn gần với nhạc rock

Từ blog của Trần Ngọc Hiếu (https://hieutn1979.wordpress.com/2015/04/30/nguyen-truong-quy-nhac-phan-chien-cua-trinh-cong-son-gan-voi-nhac-rock/).
Bài phỏng vấn nhà văn Nguyễn Trương Quý dưới đây do hai bạn sinh viên Nghiêm Tố Minh và Nguyễn Hà My thực hiện. Bài phỏng vấn ban đầu chỉ nằm trong khuôn khổ của một bài tập ở trường đại học nhưng tôi đã xin phép hai bạn sinh viên và anh Trương Quý để chia sẻ trên blog này. Bởi lẽ qua câu chuyện của anh Trương Quý – một người mà tôi xem như cùng thế hệ với mình, thì âm nhạc Trịnh Công Sơn chính là một trong những nguồn đầu tiên nói với chúng tôi – những đứa trẻ lớn lên ở miền Bắc sau 1975 – về những gì sách giáo khoa đã không nói về lịch sử.
Xin cảm ơn hai bạn sinh viên và anh Trương Quý đã chia sẻ cuộc trò chuyện này:

*
Trước tiên, xin cảm ơn anh đã đồng ý đến với buổi phỏng vấn ngày hôm nay. Thưa anh, được biết anh là một người vô cùng yêu mến và am hiểu về nhạc Trịnh. Vậy điều gì khiến anh yêu thích dòng nhạc này đến vậy?
Trương Quý: Mình nghe nhạc Trịnh Công Sơn ở thời điểm là một cậu thanh niên – không khí miền Bắc nghèo khổ, bao cấp, ám ảnh. Những bài hát ấy nó có yếu tố như chất gây nghiện, ta nhìn thấy ở đấy một chất liệu đời sống khác lạ, chưa kể đến việc Trịnh Công Sơn may mắn có một giọng ca rất ấn tượng là Khánh Ly, làm cho người nghe cảm nhận được trọn vẹn những gì ông muốn truyền đạt.
Vậy anh có ấn tượng gì với dòng nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn?
Trương Quý: Nhạc phản chiến mãi sau này mình mới biết. Đầu tiên, mình chỉ biết đến nhạc tình ca như là khúc dạo đầu để đến với âm nhạc Trịnh Công Sơn, về sau biết được nhạc phản chiến là nhờ một cuốn băng, nhưng lúc ấy mình chưa thấy thích lắm vì bản phối. Thế rồi cho đến một lần, mình ra chợ Giời và tìm được một cuốn băng có tất cả những bài phản chiến ấy, bảo họ bật thử, nghe đúng cái giọng ngày xưa hát, ấn tượng kinh khủng. Về nhà, mình nghe đi nghe lại cuốn băng ấy vì giọng ca có sự truyền cảm. Sau đấy, mình mới thấy các cái bài nhạc phản chiến thực sự là một gia tài rất quý báu của Trịnh Công Sơn, thậm chí có những chất liệu vượt ra khỏi mô tip đơn điệu của nhạc tình. Trịnh Công Sơn đôi khi có những bài hát bị lặp lại cái nốt nhạc: giọng la thứ, quanh đi quẩn lại mấy cái đăng đối ấy, A, B, A#, nó dễ đoán, nó không phải là cái hay độc đáo về mặt âm nhạc. Cái hay của nhạc phản chiến là câu chuyện của cả một thời đại, nó đem đến cho mình những bỡ ngỡ, lạ lẫm, băn khoăn về một không gian, một thời gian mà mình chưa có nhiều ý niệm. Những năm tháng ấy, tuổi trẻ miền Nam đã ra sao, họ cảm thấy gì, xã hội miền Nam như thế nào. Nhạc phản chiếu của Trịnh Công Sơn, với mình, trước hết đem đến những khám phá sinh động về quá khứ mà vẫn rất tình cảm, rất lôi cuốn bởi ca từ, bởi các cấu trúc biểu đạt gây ấn tượng mạnh. Cũng có các nhạc sĩ khác viết nhạc phản chiến nhưng không thành công bằng, nghe vẫn có gì đấy sống sượng, thiên truyền đạt ý tưởng để tuyên truyền. Với mình, những ca khúc phản chiến ấy không có được sự gần gũi, thuyết phục nếu so với những ca khúc da vàng của Trịnh Công Sơn.
Được biết anh là người biên tập cho cuốn sách Trịnh Công Sơn – Bob Dylan, Như Trăng và Nguyệt” của John C. Schafer, vậy có những câu chuyện nào xoay quanh cuốn sách này không?
Trương Quý: Đây là cuốn sách của một giáo sư đại học, nó có những phẩm chất về mặt văn bản; nền tảng về văn hóa học và ngôn ngữ học của tác giả rất tốt… Cuốn sách cho thấy một đề tài có vẻ như đã nói nhiều rồi và dễ nói hay, nói hoa mĩ nhưng tác giả vẫn rút ra được những cách thức truyền đạt khoa học, không sa vào diễn cảm vì rất nhiều người viết về Trịnh Công Sơn bị bí từ, bị cái mĩ lệ trong nhạc Trịnh Công Sơn ảnh hưởng mạnh. Có thể vì tác giả là người nước ngoài, nên cái nhìn của họ không bị phiến diện
Tuy nhiên, phải nói John C. Schafer là người mà mình rất có thiện cảm, một phần vì hoàn cảnh tác giả là người có vợ người Việt Nam, xứ Huế, vậy nên có lúc tác giả còn đề cao Trịnh Công Sơn hơn là Bob Dylan, đó cũng là một cái hay.
Là người quan tâm đến âm nhạc Trịnh Công Sơn, anh có nhận xét gì về các tạo hình lạ thường trong nhạc phản chiến của ông?
Trương Quý: Mình luôn có một thắc mắc, tò mò: Trịnh Công Sơn hồi trẻ học ở một trường tiếng Pháp, hệ thống tác phẩm văn học Việt Nam trong nhà trường trước đây như nào để mà một người học sinh (lúc Trịnh Công Sơn mới viết ca khúc là lúc vừa ra khỏi thời học sinh), lại có được kho từ vừng rất tốt,trau chuốt, diễn tả các ý thức tâm lí rất tinh vi. Mình cũng rất nể khả năng diễn đạt các khái niệm triết học, tôn giáo già đời như một triết nhân thực sự ở Trịnh Công Sơn.
Có thể trong thời gian về sau càng ngày càng trưởng thành, ông càng ngày càng tích lũy được nhiều kiến thức hơn. Về cái nghịch dị trong nhạc phản chiến, mình nghĩ rằng một phần Trịnh Công Sơn chịu ảnh hưởng của những kiến thức về triết học phương Tây, họ đi tìm cách giải thích những sự mâu thuẫn trong đời sống xã hội. Ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn cũng ra đời khi bối cảnh xã hội Việt Nam chìm trong những mâu thuẫn, xung đột gay gắt.
Cuộc đời Trịnh Công Sơn trải qua những năm tháng bình yên, trước khi đất nước chia cắt hai miền cho đến khi chiến tranh leo thang ở miền Nam, con người luôn phải sống trong căng thẳng, giữa hòa bình và chiến tranh. Ông nhìn thấy ở đấy một cái gì đó như là sự hư vô, bất toàn của cuộc đời này. Trịnh Công Sơn luôn nhìn thấy tình trạng dễ thương tổn của đời sống lúc đó, như là ““mẹ vỗ tay reo mừng xác con”, “mẹ vỗ tay reo mừng chiến tranh”, nhưng ở góc độ nào đấy, mình còn cảm thấy đó là sự lộn nhào của thế giới, giống như đạn bom đã cày xới lên tất cả. Ca từ của ông khiến người ta có cảm giác như khi xem tranh của Picasso: những bức tranh với những hình hài méo mó, cảnh tượng hoang tàn, một không khí hủy hoại bao trùm.
Nói về mặt ý nghĩa lớp lang, những hình ảnh nghịch dị này không phải là lạ vì văn nghệ sĩ châu Âu giữa 2 thập niên đại chiến thứ nhất và thứ hai đã rất ám ảnh bởi cái chết, sự đổ vỡ, sự vỡ mộng trước cuộc sống. Họ nhìn hiện thực ở khía cạnh bóp méo, những hình ảnh như zombie, như ma như quỷ tràn ngập ở các trường phái Dada hay các trường phái nghệ thuật tiên phong của châu Âu. Có lẽ Trịnh Công Sơn cũng phần nào thâu nhận hưởng từ cảm thức và mỹ học của giai đoạn như thế. Nhưng có một hệ biểu tượng nổi bật hơn ở âm nhạc của ông, đó là quê hương. Ông không phân ca khúc của mình thành tình ca và nhạc phản chiến mà thành tình yêu, quê hương và thân phận.
Nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn nhìn quê hương với một giá trị nhân bản đối lập nó với chiến tranh, cái đó trở đi trở lại. Mối liên hệ giữa nhạc phản chiến với nhạc tình ca của Trịnh Công Sơn chính là độ nhân hậu. Nhạc của ông khác với nhạc tuyên truyền lên gân lên cốt, Trịnh Công Sơn có một cách diễn đạt thuyết phục hơn, có những điều mình thấy độc đáo: “người con gái Việt Nam da vàng, yêu quê hương nên yêu người yêu kém”. Tức là ông Sơn có một cái giỏi, lời đó nói bình thường nghe vụng, nhưng đưa vào âm nhạc thì nghe vẫn hấp dẫn: “đại bác qua đây đánh thức mẹ dậy, đại bác qua đây con thơ giật mình”. Trịnh Công Sơn rất tài tình trong việc chế biến các nguyên liệu sần sùi thô ráp, những cái mà nghe có vẻ như không có chất thơ, tạo thành ca từ có sức mạnh biểu đạt.
Theo anh, dư âm của nhạc phản chiến đối với ngày hôm nay như thế nào?
Trương Quý: Mình nghĩ nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn vẫn là một kho tang chưa được khai thác hết trong hệ thống âm nhạc đại chúng Việt Nam hiện đại. Trong mấy chục ca khúc da vàng của Trịnh Công Sơn vẫn có nhiều thông điệp vĩnh cửu về đời sống của con người, về tự do, về hạnh phúc, về những giá trị rất cốt lõi của đời sống. Điểm đáng trân trọng nhất là Trịnh Công Sơn vẫn giữ được một tâm thế an nhiên, một sự vô nhiễm, kể cả khi có sự ảnh hưởng của kinh tế hay chính trị. Nó như những cái mộng ước về thế giới, nơi chúng ta có thể sống cùng nhau. Mộng ước ấy ta có thể tìm thấy trong bất kì bài hát nào của Trịnh Công Sơn liên quan đến chủ đề phản chiến. Những hệ thống, mạng lưới, trường liên tưởng trong ca từ của ông rất phong phú. Những hình ảnh, thủ pháp văn học trong lời ca Trịnh Công Sơn vẫn có ý nghĩa quy chiếu nhất định đối với ngày hôm nay. Với mình, nhạc khúc da vàng có một phẩm chất gần với nhạc rock, nó có một tâm thế gì đó muốn bứt phá, nổi loạn, một chút gì đấy muốn thể hiện mình của giới trẻ, nó rất khác với tâm thế “một đời về không, hai tay quy hàng”. Đó là những ca khúc có giá trị nhân văn nhân bản mạnh mẽ.
– Xin cảm ơn anh Trương Quý về bài phỏng vấn này!
Tố Minh – Hà My (thực hiện)

Thứ Sáu, ngày 01 tháng 5 năm 2015

Lan man ở cửa ga

Hôm nay đi thăm ông anh rể nằm ở Bệnh viện 108. Ông này chắc bị xơ gan vì uống nhiều rượu quá. Không ai bất ngờ, vì đã giục đi khám từ nhiều năm nay rồi. Nhưng như nhiều ông Bắc Kỳ chính cống, tính hay gàn. Lúc nào cũng bảo khỏe khỏe, không sao không sao, mọi người cứ yên chí. Đã Bắc Kỳ gàn lại còn là bộ đội. Năm ngày rượu to ba ngày rượu nhỏ, cơm không thiết ăn, thịt nhấm vớ vẩn. Nhớ hồi ông còn trẻ, cây bóng chuyền của đơn vị, giờ sọp xuống còng queo trong bộ pyjama bệnh viện trên cái giường inox, mà chán. Thôi thì phải vào khuôn khổ, muốn sống thì phải thay đổi thói quen.

Tòa nhà cũ trong bệnh viện 108, trước là nhà thương Đồn Thủy.Tòa nhà cũ trong bệnh viện 108, trước là nhà thương Đồn Thủy.

Cũng tuần trước, bà già nói hôm nay đám ma con bà X hàng xóm. Chẹp miệng, 51 tuổi, xơ gan. Ai nhỉ, năn óc mãi mới  nhớ ra là anh Z. Hotboy ngày xưa của xóm. Sinh năm 65. Bắt đầu nghĩ lan man về một thế hệ. Mà hình như ai cũng thế, thế hệ nào cũng thế, phung phí tuổi trẻ không bằng cách này thì cách khác, không chủ động thì cũng vì hoàn cảnh.

Lúc về, một cô em xã hội gọi điện rủ cà phê. Cô thông báo tin là bạn trai báo có bạn gái rồi. Thông tin này cũng sốc vì cô ở Nam ra, đã xác định tiến tới hôn nhân với bạn kia, mà giờ vào cái lúc chuẩn bị khởi đầu mới ở HN, lại thế này. Không như các kẻ thất tình, cô khá bình tĩnh. Người khác thì chắc đã hoang mang, đã gào thét, đã oán hận, đã "khắc sâu căm thù tội ác của địch". Cô chỉ cười. Mắt thì không cười. Ừ thì lịch sử đã diễn ra như thế, nói giá mà thì có mà giá mà tỉ thứ. 

Hôm nay chọn Highland coffee đối diện Ga Hà Nội. Trời đẹp, nhiều người nước ngoài đi du lịch bằng tàu lửa xuống ga, băng qua quảng trường sang đây uống và ăn nhẹ. Quán có view quá đẹp, ngay ngã ba Trần Hưng Đạo - Lê Duẩn, nội thất cũng rộng rãi và cổ điển. Ngay sát cửa kính là những người đàn bà hút thuốc lá ở quán nước chè. Hai mươi lăm năm trước, đây hoặc tòa nhà bên kia phố Trần Hưng Đạo là một khách sạn có tên 30-4. Mình còn nhớ rõ vì hồi ấy đây như một cột mốc mỗi khi được bố mẹ chở từ lăng Bác về nhà.

Đường Lê Duẩn ngày ấy cũng có tên là đường 30-4 và đoạn dưới thì tên là đường Kim Liên. Trước nữa thì đường 30-4 có tên đường Nam Bộ. Vì thế cho nên hồi mình lớn rồi, ai cũng gọi cái Bách hóa ở đầu đường chỗ ngã tư Nguyễn Thái Học là Bách hóa số 5 Nam Bộ - nổi tiếng đến độ cứ mặc định ra đó mua phụ tùng xe đạp hay điện máy là cái gì cũng có. Thực tế thì nó cũng là bách hóa nhì nhằng thôi, loại 2 so với Bách hóa tổng hợp Tràng Tiền. Nhưng cả khu vực Cửa Nam hồi trước là trung tâm kim khí điện máy chính thống của Hà Nội, cạnh tranh với Chợ Giời. Trước nữa thì có tên dân gian là đường Hàng Lọng - Hàng Cỏ (hai đoạn liên tiếp), tên Pháp là Route Mandarine (đường cái quan), rồi Rue de Lattre de Tassigny thời tạm chiếm 1946-1954.


Quay trở lại với chỗ đang ngồi, ngày xưa là KS 30-4, hai tòa nhà 3 tầng phong cách kiến trúc những năm 40-50, nửa hiện đại nửa chiết trung, với mái che hàng hiên đua ra, gờ máng nước trát vuông, các ô cửa tròn và các phân vị ngang làm nổi bật phong cách nhà thương mại. Chút Art Deco còn lại ở những gờ cửa tròn và những biển hiệu thời ấy theo kiểu biển vẫy cổ điển có các con chữ đúc bằng xi măng. Nó đi với chữ Ga Hà Nội đúc bằng xi măng ở cửa ga xây lại thay cho tòa nhà đã bị bom B-52 phá hồi cuối 1972.

Chẳng hiểu có phải vì thế mà mình cứ ấn tượng với phong cách kiến trúc này không, sau này cũng thấy nhiều ở Sài Gòn trên những tòa nhà đường Đồng Khởi hoặc Lý Tự Trọng. Rồi đọc truyện Vũ Trọng Phụng và nhiều nhà văn thời trước, đoạn tả những cái nhà "săm", không rõ 2 cái KS cửa ga này có nằm trong số ấy không. Chúng đúng là những nhà săm cho khách độ đường, nhưng chắc cũng tiện thể cho các vị "tàu nhanh".


Hồi đi châu Âu lần gần đây nhất, do di chuyển nhiều bằng tàu nên gần như mọi KS mình chọn đều gần nhà ga. Nói chung tất cả đều ổn, trừ KS Ibid ở đối diện nhà ga Brussels-Midi. Lúc xuống ga này, mình bật cười vì nó khai và bẩn như ga Hàng Cỏ hồi trước! Ga Hàng Cỏ (tức ga Hà Nội) bây giờ còn sạch sẽ chán, quả là có cải tạo có hơn. Đêm nào đi bộ từ trung tâm về cũng thấy 1 đám các bạn gốc Phi nhốn nháo nói oang oang trước cửa, gần đấy lại còn một cái chợ giời của dân Ả Rập. Vua Leopold đệ Nhị của Bỉ đã từng gây nên tình trạng diệt chủng tới 15 triệu người Congo khi Bỉ chiếm nước này làm thuộc địa. Cũng lại là những di sản của lịch sử. Trên chuyến tàu điện ngầm đi vào trung tâm, những người phụ nữ da trắng nhẫn nại ngồi đối diện những tay da màu nhập cư hôi nách đứng giơ một tay bám dây néo, tay còn lại cầm tăm xỉa răng tanh tách theo điệu nhạc.

Cụm giữa mặt chính ga Hà Nội xây lại hồi sau 75, theo kiểu bê tông hoa đá rửa theo mốt Sài Gòn, mái bằng không ăn nhập mấy với hai cánh nhà cổ điển Pháp mái manchard lợp đá. Nhưng đi sang Ý, thì thấy nhà ga Firenze (Florence) hay Venezia (Venice), hai thành phố di sản Phục hưng, thì cũng lại là hai tòa nhà phong cách bê tông đá rửa thập niên 60-70... cũng chẳng nhịp nhàng mấy với xung quanh, thậm chí chẳng còn được cái kiểu yêu kiều sắt uốn đế chế thế kỷ XIX ở các đô thành Âu châu còn lại. Lịch sử từ cá nhân đến xã hội, đã đi qua theo những cách ít được sắp đặt nhất. Cô bạn kể hồi sắp chia tay với anh bồ cũ ở bên Đức, có tình cờ gặp một anh Tây rất hấp dẫn và giàu có hàng xóm với anh bồ. Giữa hai nhà không có hàng rào. Chắc là có rung rinh nhưng cô không thể tự nhiên bẻ lái được vì đang ở thế kẹt. Dù thì gì cũng đang ở bên này một cái rào cản nhất định. "Bạn em ai cũng chửi em ngu, không dấn tới. Nếu em làm lại thì có khác được không nhỉ?" Khác thế nào được, giờ nghĩ lại thì cái gì chẳng rõ. Khả năng hợp lý nhất là rút một kinh nghiệm nào đấy cho thực tại. Cho dù không rút được sợi dây kinh nghiệm nào thì cũng chẳng nên quá buồn. Nếu cần lựa chọn thì nên chọn cái nào làm mình thoải mái nhất, ít vướng víu nhất. Chắc cũng như chọn chỗ ngồi cà phê thôi.

Thứ Ba, ngày 21 tháng 4 năm 2015

Bớt vợ hay là một cách viết lại

"...Ai mà ai còn vở Lưu Bình Dương Lễ bằng băng cát sét do Cụ Mạnh Tuấn đóng vai hề, Cụ Quý Bôn đóng vai Dương Lễ, Cụ Bùi Trọng Đang đóng vai Lưu Bình (bốn câu ngâm sổng đã đi vào huyền thoại), Bà Xuân Theo đóng vợ Dương Lễ (nguyên vở chèo này theo tích cổ Dương Lễ có ba vợ, khi Bùi Hạnh Cẩn chỉnh lý lại, Trường Chinh chỉ đạo là chỉ để Dương Lễ một vợ thôi, lý do của Trường Chinh: có một vợ mà nhường cho bạn mới là thành thật vì bạn, thế mới quý (nên mất hai diễn viên nữ nữa)..." (http://hatvan.vn/forum/archive/index.php/t-310.html). 

"Lưu Bình - Dương Lễ tân truyện" là một truyện thơ Nôm Việt Nam, khuyết danh, gồm 788 câu lục bát. Năm 1958, tích cổ này được Hàn Thế Du viết lại, Đoàn chèo Trung ương dựng làm tiết mục tham gia Hội diễn sân khấu toàn quốc 1958 và được giải thưởng đặc biệt về ca hát. Ở đây có sự nhuận sắc đã khiến cho áp lực đối với nàng Châu Long biến mất khi trở về chỉ còn là chuyện tình ái đơn thuần. Thực tế là thân phận vợ ba (thiếp) của Châu Long nói lên nhiều điều về vai trò phụ nữ thời phong kiến, và mặc dù tên vở chèo là tên 2 người đàn ông nhưng nhân vật trọng yếu là Châu Long - cái này thì rõ rồi. Nàng Châu Long được ca tụng vì ba năm nuôi bạn chồng ăn học mà không động phòng lần nào. Dương Lễ được kính trọng vì đã khiến bạn phải tự ái mà tỉnh ngộ chuyên chú học hành, vì nhường vợ cho bạn mà giấu kín sự tình. Lưu Bình được đánh giá cao vì không bị sắc dục quấy rối mà biết tỉnh táo dùi mài kinh sử. Kết cục là đại đoàn viên, đại đăng khoa... Người ta thường sẽ nói về khía cạnh nhân cách kẻ sĩ (ý chí đạo đức giữ mình để thành công) hoặc đức hi sinh chịu đựng của phụ nữ xưa, tùy mục đích.

Năm 1958, Quốc hội có một Nghị quyết không số ngày 14.12 do ông Hoàng Văn Hoan ký, với nội dung: 1) Giao cho Chính phủ nghiên cứu thảo một đạo luật về hôn nhân và gia đình, để trình Quốc hội xét trong một khoá họp gần đây. 2) Trước khi có đạo luật hoàn chỉnh, Chính phủ nên có những biện pháp thích đáng nhằm ngăn chặn những việc không hợp lý còn tồn tại trong xã hội ta về hôn nhân và gia đình. Không rõ "những điều không hợp lý còn tồn tại trong xã hội ta" có liên quan đến việc nhuận sắc các nội dung về phong tục đa thê của đàn ông Việt trước đây không.

Cũng theo trang đã dẫn trên, một người đã nói khi thâu băng (thời những năm 80), vở chèo này cũng có hai bản. Đều là các diễn viên ở trên diễn, nhưng bản 1 dài hơn bản 2 mười lăm phút.

Bùi Hạnh Cẩn có nói Đoàn Thị Điểm trong "Truyền Kỳ Tân Phả" có viết Tùng Bách thuyết thoại, (cuộc trò chuyện dưới rặng thông, trắc) [cái này còn tồn nghi], lấy cốt truyện Lưu Bình Dương Lễ, tạo ra hai nhân vật mới : chàng Hà, một thư sinh thi hoài không đỗ, nhờ lấy vợ giàu, có ruộng nên chăm chỉ cày ruộng trở nên giàu có và thư sinh họ Nguyễn, hai người gặp nhau dưới rặng tùng bách cùng biện luận với nhau về Sĩ và Nông. Hà được vợ và Nguyễn thuyết phục trở về trường học, sau đỗ đạt làm quan to, Nguyễn thi hỏng đến thăm, Hà hất hủi nhưng sai vợ thiếp nuôi dưỡng, Nguyễn lại thi đỗ. Hai nhà gặp lại thân thiết với nhau. Bùi Hạnh Cẩn có cuốn Bà Điểm họ Đoàn (1987). Hiện NXB Trẻ có in cuốn "Truyền kỳ tân phả" trong bộ Cảo thơm trước đèn, bản dịch Ngô Lập Chi, Trần Văn Giáp.

Một thông tin không biết có tính là liên quan không đến vấn đề mô hình gia đình VN: cũng những năm 80, thì năm 1983 UB Dân số và Kế hoạch hóa gia đình được thành lập với Chủ nhiệm là Võ Nguyên Giáp. Rõ ràng câu chuyện về đức hi sinh của những nhân vật chính trong Lưu Bình Dương Lễ được lấy làm trọng tâm để tuyên truyền nên người ta cho rằng hi sinh vợ duy nhất oách hơn. Thứ hai là thuyết phục quần chúng dễ hơn khi cắt bớt lớp diễn của hai diễn viên đóng vai bà cả và bà hai, để nói rằng không chỉ Châu Long xa chồng mà Dương Lễ cũng phòng không đợi vợ.

Trong bản chèo gần đây nhất được phát hình trực tiếp trên truyền hình, do Nhà hát Chèo Hà Tây biểu diễn, thì không có nhân vật hai bà vợ đầu. Vở của đoàn chèo Thái Bình cũng tương tự (có thể xem các vở này trên YouTube).

Điều đáng nói ở đây là có thể các soạn giả ngày xưa chủ ý xây dựng bài học đạo đức qua việc các nhân vật hi sinh qua lại cho nhau, chăm chăm giữ cương thường như một mục đích cao hơn hẳn những nhu cầu tâm tình của con người. Tuy nhiên, họ cũng vô tình làm hiện ra các quan niệm vô cùng vững chắc của hệ thống kiểm soát cá nhân trong xã hội Việt Nam truyền thống. Trong trang này, tác giả có lẽ đã khai thác từ truyện thơ Nôm (http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=237&Itemid=46), vợ Dương Lễ chủ động đề nghị cho nàng ba Châu Long sang nhà Dương Lễ và chính bà cũng là người kéo bức rèm để Châu Long bước ra cho rõ cuộc vuông tròn. Rõ ràng như thế là người phụ nữ nằm trong trật tự ngăn nắp, chấp nhận mình làm nên trật tự đấy. 

Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên trong buổi giao lưu "Trong văn có sử" diễn ra hôm qua, nhân chuyện nhà văn Trần Chiến nói về việc ông viết lại truyện "Châu Long" trong tập "Gót Thị Màu, đầu Châu Long" có nói rằng có thể làm cả 1 tập toàn truyện viết về Châu Long của các nhà văn VN, phải đến 10 truyện (trong đó có truyện của Lê Minh Hà trong tập "Truyện cổ viết lại").

Tất nhiên ở tích xưa thì các sự bất thường như cho vợ (dù là vợ bé) đi ở với người đàn ông khác (dù là bạn thân) ba năm, hoặc ở ba năm với nhau mà không ăn nằm gì, vẫn đi đến kết cục "bình thường" là hòa hợp, hòa giải và êm thuận. Còn bây giờ, chuyện vợ đi ở với người đàn ông khác thì chẳng biết có bình thường không (!), hay ở với nhau ba năm mà chẳng sờ gì vào nhau có khi không hiếm, còn chuyện tái hợp ba mặt một nhời có lẽ rất bất thường. Vì thế cả truyện của Trần Chiến lẫn Lê Minh Hà đều không chấp nhận kết cục cổ điển, mà hoặc cho Châu Long đi tu, hoặc bỏ đi trong đêm tối. Điều ấy chắc chắn có được là nhờ sự có mặt của quan niệm một vợ một chồng (do công tác DS & KHHGĐ hay do ảnh hưởng phương Tây trong bình đẳng giới). 

Cũng trong những năm 80, trào lưu các vở chèo, cải lương cải biên từ các câu chuyện lịch sử được khai thác rầm rộ, ngay Lưu Quang Vũ cũng có nhiều vở đắt khách, ra rạp đông mà lên TV cũng nhiều người xem (vì lúc ấy TV là phương tiện giải trí duy nhất để xem). "Ngọc Hân công chúa" của đoàn chèo HN (kịch bản hình như LQV viết chung với cha là Lưu Quang Thuận) rõ ràng lờ đi việc Ngọc Hân phải làm lẽ mà xây dựng sự hân hoan của công chúa khi lấy một vị anh hùng. Chưa kể đến việc tác giả ngang nhiên bê Bùi Thị Xuân ra Thăng Long để làm thành đối trọng về nhan sắc/văn hóa... giữa Đàng Trong với Đàng Ngoài, trong khi Bùi Thị Xuân chưa bao giờ ra Bắc cả (cũng như chuyện cầm cành đào vào Nam cũng khởi phát từ đây). May mà truyện Kiều chỉ xây dựng mối quan hệ trung tâm giữa 3 nhân vật Kim Vân Kiều, chứ nếu đúng kiểu truyền thống VN thì Kim Trọng khi làm quan, chắc gì đã có mỗi Thúy Vân làm vợ mà phải có 2-3 cô thê thiếp nữa. Thật tình cờ, Nguyễn Du xây dựng các mối quan hệ của Kiều với các người đàn ông trong đời cô đều không bị cạnh tranh với các bà vợ khác, trừ Hoạn Thư vợ chính thất của Thúc Sinh ra. 

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ