Thứ Hai, ngày 24 tháng 3 năm 2014

Một tinh thần Baroque trong kiến trúc Việt Nam?

Bài viết đã đăng tạp chí Tia Sáng năm 2006. Bản này có sửa chữa và bổ sung ngày 21. 3. 2014.
***
Tinh thần Baroque trong kiến trúc: phải chăng là nét đặc trưng nhất của kiến trúc Việt Nam?
Sự cầu kỳ, rườm rà và hỗn hợp là một nét khá phổ biến trong các công trình kiến trúc hiện nay. Xu hướng chạy theo những hình thức mang ảnh hưởng cổ điển châu Âu, với những chi tiết phô trương, mà nhiều người đánh giá là một vấn đề kinh niên của kiến trúc hiện đại Việt Nam, xét cho cùng có một sự tiếp nối. Đó là truyền thống phóng túng và hình thức chủ nghĩa của kiến trúc Việt Nam. Trong phạm vi bài viết, từ baroque ở đây được nhắc đến với ý nghĩa về tính sáng tạo, sự phóng túng, sự giàu có về ý tưởng và tính cách tân mạnh mẽ mà nó hàm chứa.
Ta hãy thử bàn xem, những đặc tính về mặt tổ chức không gian và thẩm mỹ kiến trúc cổ truyền vốn được các nhà chuyên môn đánh giá cao có phải thực sự có những hiệu quả xuất sắc như thế không?

Đình Chu Quyến, công trình kiến trúc truyền thống tiêu biểu của người Việt Bắc Bộ.
Chúng ta cũng hãy thử so sánh xem khả năng phóng túng của những sản phẩm kiến trúc hiện nay so với những thời trước ra sao? Trước đây, khi với vật liệu và công nghệ hạn chế, những người xây dựng của một xã hội nông nghiệp cổ truyền đã có những kết quả nhất định, đem lại một mô hình ít biến đổi suốt nhiều thế kỷ. Vậy thời nay, với tất cả điều kiện cần thiết để thay đổi cách thức xây dựng, nhất là trong một thế giới thông tin không giới hạn thế này, sự phóng túng của kiến trúc Việt Nam đã đi được đến đâu?
Baroque của kiến trúc dân gian
Phần để lại tương đối nhiều nhặn hơn cả trong các công trình kiến trúc truyền thống là các chạm khắc đình làng, được xác định là có mặt vào thế kỷ 16, gần như tương đồng thời điểm với kiến trúc Baroque châu Âu. Nếu các kiến trúc thờ tự Phật giáo thiên về tính trau chuốt, kinh điển thì ở rất nhiều ngôi đình làng, mặc dù nhang nhác giống nhau, nhưng mỗi nơi những người thợ thủ công đã tạo tác những sản phẩm điêu khắc độc đáo, trên bức ván cốn, đầu bảy, đầu kèo, cho đến những đầu đao được chạm trổ kỳ khu với tất cả tâm tình. Nét phóng túng không chỉ nằm ở đề tài: cảnh sinh hoạt như hứng dừa, trai ghẹo gái tắm, cảnh hội hè phồn thực, cảnh thần tiên, mà còn ở lối thể hiện dân dã, giản dị và nhất là hài hoà với tổng thể. Tiếng nói phồn thực hay hóm hỉnh nào cũng có mẫu số chung với tâm thức folklore của cộng đồng làng xã. Nó có dáng vẻ baroque khi tương phản với những chủ đề mực thước, nghiêm cẩn, khuôn sáo của các phạm trù “tứ quý, tứ bình, tứ linh” cho đến đề tài “ngũ thường, ngũ hành” của Nho giáo.

Chạm khắc đình làng với các đề tài “baroque”. Một tổ hợp trang trí bộ vì đình Hoàng Xá, Chương Mỹ, Hà Nội. Ảnh: Nguyễn Hoài Nam.


Dàn nhạc, đình Hoàng Xá, Chương Mỹ, Hà Nội. Ảnh: Nguyễn Giang.


Tiên nữ cưỡi rồng, đình Giẽ Hạ, Phú Xuyên, Hà Nội. Ảnh: Vũ Thị Hằng.


Người cưỡi hổ, chùa Đậu, Phú Xuyên, Hà Nội. Ảnh: Nguyễn Hoài Nam.
Trong ký ức tập thể người Việt, những kiến trúc cổ nằm trọn trong không gian văn hóa cổ truyền, các công trình phục vụ thực dụng cho mục đích sinh hoạt làng xã. Vì thế, khái niệm đó là những bảo tàng, những hình ảnh vật thể cho không gian làng xã khá mờ nhạt nơi cư dân, nó chỉ được đề ra sau những cuộc khảo sát của trường Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) hay các ghi chép điền dã của L. Bezacier. Tuy nhiên, với những gì còn lại cho đến ngày nay, tính phóng túng của kiến trúc cổ truyền của người Việt vẫn chỉ dừng lại ở một số cấu kiện chạm khắc. Các khối nhà đều dàn trải từ mô hình 3 gian 2 chái, phát triển thành mặt bằng hình chữ đinh đến nội công ngoại quốc, thậm chí đặc điểm nổi bật là mái đao cong không phải lúc nào cũng làm được mà có khi bít đốc đầu hồi. Tới lui cũng chỉ hai hình thức đó, và họa hoằn mới có đột biến chiều cao như gác chuông chùa Keo (Thái Bình) hay một số tháp đá như ở chùa Bút Tháp. Nhất là khi so sánh với hệ thống di sản của các đất nước khác, hay như di sản kiến trúc Chăm ở Nam Trung Bộ, lấy trọng tâm là các bảo tháp, rõ ràng hình ảnh của kiến trúc Việt cổ truyền là sự thích nghi, sự dung hòa và gắn với thiên nhiên như một cách tồn tại. Sự so sánh có thể được dẫn qua một nguồn đánh giá gián tiếp trong vở kịch có đề tài liên quan kiến trúc – Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng – viết năm 1943.

Mái đao đình Chu Quyến.
Trong vở kịch, Nguyễn Huy Tưởng thông qua nhân vật Vũ Như Tô – kiến trúc sư cung đình của vua Lê Tương Dực và Đan Thiềm – cung nữ quá thời, tri kỷ, nàng thơ của ông, phát biểu về ước vọng xây dựng những công trình sánh với Chiêm Thành. Sản phẩm nghệ thuật được đem ra bàn ở đây là Cửu Trùng Đài, xét về mô tả thì trăm nóc, cao 9 tầng: “Ở Cẩm Giàng có người thợ là Vũ Như Tô ở nhà lấy cây nứa dựng thành kiểu điện lớn trăm nóc, đến đây đem kiểu nhà ấy dâng lên, khuyên vua xây dựng… (Đại Việt sử ký toàn thư), “Dựng hơn trăm nóc cung điện lớn có gác, lại khởi công làm Cửu Trùng Đài” (Khâm định Việt sử thông giám cương mục chính biên), có thể là một ví dụ thích hợp cho tinh thần Baroque phóng chiếu từ dân gian vào cung đình. Từ chỗ chỉ là người thợ ở quê, nhưng khi thành dự án ở cung đình, Vũ Như Tô đã có dáng dấp công trình sư, tất nhiên là một kiến trúc sư.
Nhưng dưới mắt sử gia thời phong kiến thì thao tác nghệ thuật của ông là “đem kỹ xảo mê hoặc vua, được lạm bổ làm đô đốc kiêm coi các sở ở Công bộ…  dùng hết tiền của và sức dân trong nước. Bấy giờ, đương làm điện lớn trăm nóc chưa xong, dân gian ai cũng nghiến răng tức giận.” Thái độ của dân gian không có chỗ cho sản phẩm ngoại cỡ này, và kết cục của kẻ tham vọng được ghi lại: “Lúc ấy Như Tô đương coi làm mấy nóc nhà đại điện chưa xong thì bị giết, Tô cũng bị quăng xác ra ngoài chợ, quan dân ai cũng chỉ trỏ xác hắn mà chê cười, có người còn nhổ nước bọt.” Và dĩ nhiên Cửu Trùng Đài – một sản phẩm baroque Việt – cũng tiêu tan. Rõ ràng, người Việt chỉ chấp nhận baroque khi nó cáng đáng ý niệm tôn giáo hoặc thực dụng. Tinh thần baroque dân gian núp sau các nghi lễ thờ phụng hoặc sản phẩm tín ngưỡng.
“Kinh kỳ lộng lẫy nhất trần gian”

Điện Kính Thiên thành Hà Nội 1884. Ảnh: Hocquard.

Như chúng ta đều thấy, thành Hà Nội – hậu thân thành Thăng Long khi người Pháp chiếm, đã chẳng còn gì ngoài vài cái nền cũ cùng vài ba gian điện bé nhỏ trong những bức ảnh chụp năm 1884 của bác sĩ Charles-Édouard Hocquard. Vũ Như Tô theo điểm nhìn của Nguyễn Huy Tưởng, mang một quan niệm chỉ xuất hiện vào thế kỷ 19 ở châu Âu và đến tận lúc chế độ thuộc địa được áp đặt ở Đông Dương, người Pháp vẫn còn đang định nghĩa: khái niệm “quốc gia dân tộc”/nation-state, sinh ra từ sự lớn lên của ý thức về nhà nước dân tộc. Quốc gia dân tộc không chỉ là một thực thể chính trị và địa lý; nó còn là một thực thể về văn hóa và sắc tộc (Eric Hobsbawn, dẫn theo Jason Gibbs). Ở Việt Nam, nó mang khao khát tách biệt bản sắc riêng, tách khỏi vòng ảnh hưởng đồng dạng của mô hình phong kiến Trung Hoa. Với kiến trúc, có thể thấy qua quá trình tiếp biến kiến thức thiết kế của các KTS trường Mỹ thuật Đông Dương hay các quy hoạch gia người Pháp áp dụng cho Hà Nội, Đà Lạt, Sài Gòn – vừa là những bản sao của Paris, Dauville, nhấn nhá bằng các công trình có màu sắc hoa mỹ và biểu tượng (Nhà hát Lớn, Viện Đại học, Bảo tàng trường Viễn Đông Bác Cổ, Nhà Godard…), vừa có chú ý khai thác màu sắc bản địa và cảnh quan, vượt lên tư duy quy hoạch chức năng tầm thường. Trong không khí đô thị đó, Vũ Như Tô và Đan Thiềm phát ngôn bằng tư duy của trí thức tân học Nguyễn Huy Tưởng:
“Vũ Như Tô: …Không ai dám vượt ra khuôn sáo nghìn xưa, nghề kiến trúc đọng lại như một vũng ao tù. Người có tài không được thi thố đành phải tiến về mặt tiểu xảo. Mà nói ngay đến những bọn này nào họ có được yên thân. Họ phải lẩn lút, giấu giếm…”
“Đan Thiềm: Thảo nào mà nước ta không có lấy một lâu đài nào ra hồn, khả dĩ sánh với những lâu đài Trung Quốc. Ngay cả Chiêm Thành cũng hơn ta nhiều lắm… Ông cứ xây lấy một tòa đài cao cả. Vua Hồng Thuận và lũ cung nữ kia rồi mất đi nhưng sự nghiệp của ông còn lại về muôn đời. Dân ta nghìn thu được hãnh diện, không phải thẹn với những cung điện đẹp nước ngoài, thế là đủ. Hậu thế sẽ xét công cho ông, và nhớ ơn ông mãi mãi. Ông hãy nghe tôi làm cho đất Thăng Long này thành nơi kinh kỳ lộng lẫy nhất trần gian”.
Đáng chú ý là cung nữ Đan Thiềm và ngay cả Vũ Như Tô vào đầu thế kỷ 16 cũng rất khó có khả năng đã tận mắt nhìn thấy kiến trúc Chiêm Thành để so sánh “hơn ta nhiều lắm”, ngoại trừ các ảnh hưởng phái sinh của điêu khắc Chàm lên các di sản đời Lý-Trần trước đó. Đây hẳn thực tế là trải nghiệm của chính Nguyễn Huy Tưởng, vào thời đã có thể thăm các tháp Chàm, và khi này các khảo sát di tích Chàm của người Pháp đã được hoàn thành đầy đủ, với bảo tàng Chàm ở Đà Nẵng và ngay tại bảo tàng của trường EFEO tại Hà Nội (nay là bảo tàng Lịch sử) cũng trưng bày quy mô cùng các ấn bản đồ sộ của Bezacier.

Một hình dung về quy mô cung điện ở Thăng Long: Phủ chúa Trịnh. Hình vẽ trong cuốn A Description of the Kingdom of Tonqueen của Samuel Baron, 1685.
Chú thích: Buổi chầu của Chúa Đàng Ngoài. 1. Chúa ngồi trên một cái võng (trên lầu). 2. Các quan theo thứ bậc đang quỳ lạy. Hai dãy quan đang đứng có lẽ là hai ban văn võ. 3. Lính nội phủ canh gác (dưới trệt). 4. Binh lính (nhóm 3 người hai bên đang vác hèo).


Cảnh Kẻ Chợ nhìn từ sông Cái. Samuel Baron.
Chữ trên hình vuông: The City of Cha-cho, the Metropolitan of Tonqueen.
(trên sông) Thuyền chèo tay và cách chèo của họ.
Chú thích: 1. Kho súng của vua (tòa nhà cao nhất bên trái). 2. Bãi cát nơi lập đàn Tế kỳ đạo (theo giải thích là đàn trai giới giải tai ách). 3. Chuồng voi của vua. 4. Nhà xưởng đã được thiết kế của người Anh (có cột cờ Anh hình chữ thập). 5. Nhà xưởng của người Hà Lan (treo cờ Hà Lan). Có thể đoán là hai nhà xưởng của Anh và Hà Lan nằm ở hai bên cửa sông Tô Lịch đổ ra sông Hồng, tức khoảng phố Hàng Buồm ngày nay.
Tinh thần “lộng lẫy nhất trần gian” nói trên có thể là kết quả từ ý thức “quốc gia dân tộc” của phương Tây truyền qua kênh “Khai sáng” của nền văn minh Pháp, chứ không phải vì ý niệm thần thánh nào. Nó xuất xứ từ ý niệm thực thể văn hóa và sắc tộc. Nó hướng đến việc triển lãm, phô bày qua các hệ thống truyền thông đại chúng. Điều này khác với cách sử dụng nghệ thuật ở các công trình tôn giáo phương Đông. Tôi đã vô cùng ngạc nhiên khi đền Angkor và Bayon có thể chạm khắc cả những cái ngách tối tăm, hai diện tường đá cách nhau 20cm cũng chạm khắc tỉ mỉ như các khu vực khác.

Áp phích quảng bá du lịch xứ Bắc Kỳ của Pháp có hình ảnh một quần thể kiến trúc truyền thống.
Ngay ở các công trình đình chùa Việt Nam, có thể thấy các yếu tố trang trí kỳ công ở những vị trí khó nhìn, tít trên cao hoặc trong chỗ thiếu ánh sáng trực tiếp của công trình như bộ vì nóc, đầu dư, cốn, gian thờ cung cấm. Nó khác với cách phô trương của Baroque châu Âu, vốn đề cao khoái cảm trực diện, tôn vinh sự dư dật. Nó mang tâm thế của nghi lễ thần thánh. Vì thế những bản phục chế của thời “duy vật” lại không thể đạt tới độ hoàn mỹ của nguyên bản.
Nó cũng lại chưa từng được đề ra như một hoạt động nghệ thuật để làm được điều mà Nguyễn Huy Tưởng khao khát: kiến trúc không phục vụ riêng hôn quân mà phụng sự cái Đẹp. Ý niệm nhập cảng từ Tây phương này được viết năm 1943, là kết quả của một giai đoạn cưỡng bức lẫn giao thoa văn hóa Đông-Tây. Nó có vẻ như nghiêng về quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật, đối ngược với phái nghệ thuật vị nhân sinh, là nội dung cuộc tranh luận văn nghệ vài năm trước. Cùng năm 1943, Đề cương văn hóa do Trường Chinh soạn thảo đã xác định sự lựa chọn thứ hai. Và như chúng ta đã biết, cuộc chiến tranh Đông Dương diễn ra sau đó 2 năm gần như đặt ngành kiến thiết xây dựng vào tình trạng tầm nhìn ngắn và trung hạn, thậm chí là phát huy giá trị tạm thời, dã chiến. Vì vậy, để có một ý niệm gì về baroque quả thực xa vời.
Mặt nạ Baroque đương đại
Như chúng ta đều biết, kiến trúc là một ngành sáng tạo, và luôn luôn tìm cách đổi mới để thích nghi với những nhu cầu sinh hoạt của con người. Hơn nữa, với tư cách một ngành nghệ thuật, kiến trúc cũng cần có những khu vực ngẫu hứng và phóng túng của mình để làm động lực phát triển. Đặc tính phóng túng Baroque này nếu ở văn chương, mỹ thuật  dễ nhận ra, những dòng nghệ thuật mang tính đa thanh này chứa những yếu tố có tính cách tân. Nhìn vào sự cầu kỳ, bồng bột và lan tràn của những hình thức kiến trúc “đặc dị” khẳp nơi trên nước Việt Nam, liệu ta có thể xem đó như là một biểu hiện đẹp đẽ cho tinh thần Baroque kiểu Tân Phục Hưng không?
Câu trả lời là không. Sự phóng túng mang ngôn ngữ cách tân không thấy có, mà chỉ là những tiểu xảo trang trí rẻ tiền. Nếu các nghệ sĩ của các ngành nghệ thuật khác của VN đang thiếu khả năng tưởng tượng và phóng túng, thì kiến trúc sư cũng đồng cảnh ngộ. Sau nhiều năm gò mình trong những khuôn khổ và định chế cứng nhắc, lực lượng sáng tác bung ra trong cơn lốc xây dựng thời đầu tư mới. Như một cái vườn thiếu cày xới cẩn thận, những gì xâm nhập để mọc lên là những cỏ giả lắt nhắt, có hoa nhưng là hoa dại sinh sôi nảy nở trên mảnh vườn cằn cỗi. Điều đó có thể nói về cách thức tiếp nhận những nét kiến trúc bên ngoài, nhất là tâm lý và truyền thống nặng về dập khuôn, song lại dành nhiều công sức vào những cách chơi nho nhỏ, vụn vặt.

Từ nghê gỗ đình Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh, niên đại 1736…


…đến sư tử đá phong cách Trung Hoa năm 2005 ở đền Đô, cũng ở làng Đình Bảng.
Nhìn vào kiến trúc cổ được xếp là đẹp như kiến trúc đình làng, những gì thú vị nhất là những nét thừa hưởng từ kết cấu có từ vùng bán sơn địa như nhà sàn, mái dốc lớn. Và mọi đình làng đẹp cũng không ra khỏi khuôn khổ vài gian nhà gỗ, mái đao cong nhẹ. Những phóng túng nếu có chỉ ở những trang trí điêu khắc nằm bên trong. Nhưng đó là câu chuyện của một nền kinh tế nông nghiệp và kỹ thuật xây dựng hạn hẹp. Còn bây giờ, sự phóng túng mà ta nói với ý nghĩa tích cực là mang yếu tố lãng mạn dường như đang thiếu ở kiến trúc Việt Nam ngày nay.
Chưa khi nào tinh thần phóng túng được thể hiện nhiều nhưng lại nửa vời như hiện nay. Hãy thử phân tích một ngôi nhà điển hình hiện nay. Một ngôi nhà ống lô phố kích thước 4x15m, xây bằng hệ khung cột, với 6 đến 8 cột xây hết đất, ba bề tường kín như bưng, có thể có một cái giếng trời ở giữa và như thế chồng lên 3-4 tầng giống một cái hộp diêm. Dường như chỉ còn phải tốn công cho mặt trước nên kết quả là mặt tiền này hội tụ những gì khéo léo và diêm dúa như một đồ án trang trí. Phóng túng ở đây nghĩa là gờ phào kiểu gì, hoa lá orot, cantouch, trán tường tam giác, cột Hi Lạp giả, có thể có thêm sư tử hí cầu, đại bàng đậu trái đất, nữ thần tự do cho đến mái đao đình làng. Mô hình “lâu đài Baroque” đang phổ biến mang dáng vẻ hỗn dung. Những hình ảnh ở đây là những nét thu nhặt từ những nguồn ảnh hưởng bên ngoài, mang những yếu tố “mẫu” lặp đi lặp lại đến mức sáo rỗng. Gạt bỏ đi lớp mặt nạ trang trí đó, công trình kiến trúc của người Việt đầu thế kỷ 21 thiếu hẳn những cảm xúc lãng mạn và tinh tế. Con người Việt Nam những năm này thiếu một khả năng bay bổng cũng như vẫn chưa đủ nghiêm túc để thực hiện một nền kiến trúc vừa chứa đựng nền tảng công nghệ cho đến những đột phá về hình thức thể hiện.

.


Phố đồ gỗ Đồng Kỵ: các mặt tiền trang trí như những mặt nạ “baroque”.
Chúng ta đều thấy những kiến trúc đẹp ở các thành phố như Hà Nội, Huế hay Hội An là do những thế hệ trước đã sắp đặt chúng trong không gian văn hoá đô thị. Chúng ta cũng thấy những ngôi chùa cổ đẹp là vì lý do gì. Những bài thơ đô thị như người ta nói đến ở đây là cái gì nếu không là vẻ lãng mạn, chất thơ và sự sáng tạo chứa đựng những nét phóng túng nhất định, dù có lặp lại nhưng trên hết, thấm một tinh thần và thái độ cảm xúc với cảnh quan. Chùa Thầy đẹp là nhờ bối cảnh non nước mà người xưa đã dày công nắn chỉnh, nhà thờ đá Phát Diệm đẹp là bởi người thực hiện, cha Sáu đã bỏ cả tâm huyết để tìm ra tiếng nói chung giữa loại hình tôn giáo ngoại lai với kết cấu và hình thức bản địa. Còn nhìn vào những kiến trúc mới, chúng ta thấy sao?
Sẽ có ai trong số chúng ta đi tìm chất thơ và lãng mạn của những thành phố thị xã mới mở, những khu đô thị mới?
Sự thật là một tâm trạng xơ cứng, một công việc hành chính hoá thiết kế không thể giấu vào đâu được. Sự phóng túng và lãng mạn dường như gặp phải một rào cản mà bản thân người thiết kế không hoá giải được.
Ở mức cơ bản nhất, hệ thống duyệt đồ án và năng lực của chủ đầu tư là một giới hạn. Họ sẽ chấp nhận những phương án nào an toàn và có lãi nhất. Chủ đầu tư của ta chưa phải là những Mạnh Thường Quân đúng nghĩa để theo đuổi những ý tưởng baroque nhất. Những sự phóng túng bề ngoài hiện thời vẫn nặng tính trưởng giả.
Mức hai, những người thiết kế của ta nằm trong môi trường xã hội chưa có sức sống văn hoá đủ cao để đọc được những tinh thần thời đại. Những trào lưu hiện đại du nhập vào VN không gặp được tần số của số đông. KTS mới chỉ làm được một cái vỏ bao bọc lấy một khuôn dạng cũ để thích nghi với nhu cầu của xã hội. Về mặt nghề nghiệp sáng tác, KTS VN có tài song không có nhiều điều kiện để mô hình hoá ý tưởng của mình lên mức lý luận. Xa hơn nữa, họ chưa dùng được những ý tưởng đó thuyết phục được cộng đồng. Le Corbusier hay Kenzo Tange làm được những ý tưởng khổng lồ và phóng túng nhất cũng là nhờ khả năng tiếp nhận của những nơi đặt hàng các KTS này. Những chủ đầu tư có học, nhìn nhận công việc của các KTS lớn như những nhà lý luận xã hội, họ xác định được ngay khả năng hai bên đồng hành được đến đâu. Lúc đó bài toán xây dựng đã giải được một nửa.
Cuối cùng, những xã hội cởi mở, táo bạo và ủng hộ sáng tạo là những mảnh đất màu mỡ cho các ý tưởng baroque nhất. Xã hội như thế tất sinh ra những nhà sáng tạo của mình. Đúng là xã hội VN càng ngày càng cởi mở, song những gì mọc lên như cỏ dại lại cho thấy, xã hội đang có những giới hạn về cách sử dụng năng lực kiến trúc của mình. Năng lực kiến trúc là một tiêu chí để đánh giá mức độ văn minh, bao gồm từ cách ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội đến thẩm mỹ trang trí. Những nét Baroque nửa mùa của ta là những nhộn nhịp vỏ bọc, bên trong là những khối tích nặng nề. Nghĩa là kiến trúc của ta chạy theo tinh thần Baroque nhưng ở khía cạnh hời hợt, bề nổi và phù phiếm, như một người non tay không chỉ huy được dàn nhạc với tầng tầng lớp lớp cấu trúc và tư tưởng bên dưới.
Dĩ nhiên kiến trúc không chỉ có Baroque thì mới phóng túng, mới sáng tạo, mới cách tân. Nhưng nhìn ở khía cạnh nhộn nhịp và phong phú bên ngoài của bộ mặt kiến trúc hiện nay, tinh thần Baroque dường như cần được hiểu cho đến nơi. Nếu không, sẽ chỉ là những suy thoái về mặt năng lực kiến trúc, không chỉ ở phương diện hình thức mà còn ở trong tận nội dung. Thiếu một cách sáng tạo phóng túng, có thể chỉ khiến cho công trình quá công năng thuần túy, nhưng thiếu một cách nghĩ mang tinh thần Baroque, là thiếu hẳn một sức bật để ra được những công trình vượt lên khuôn mẫu tầm thường.
*
Nguyễn Trương Quý
(http://soi.com.vn/?p=142596)

Thứ Bảy, ngày 22 tháng 3 năm 2014

Cái mũi cao của trung tá Luân

Hai người đàn ông tên Tín từng được xem như đại diện cho vẻ đẹp đàn ông Việt những năm 80. Thưc ra trông họ không giống những người nam giới thời ấy. Họ có gì đó "hơi Tây" - mũi cũng cao, mắt cũng sâu, râu cũng rậm, ông Thương ria sâu róm ông Chánh ria con kiến. Ừ, thời những năm bao cấp đói ăn rách mặc, mà lại duy trì những vẻ đẹp khác lạ thế cũng là điều đặc biệt. Khán giả Việt đi xem họ cũng mơ mộng được ít nhiều về sự lãng mạn giữa cuộc sống nghèo khó. Dù là phim đề tài chiến tranh cách mạng, bắn nhau bùm bùm cũng cần có kép đẹp thể hiện. Nó cũng đồng mẫu số với phim Hollywood xưa nay thôi, lựa lấy những vẻ đẹp tuấn tú nhất của chủng loài mà làm đẹp mắt công chúng.


Thương Tín và Chánh Tín trong phim Ván bài lật ngửa.

Từ bao giờ người Việt chú ý đến sắc vóc nhân chủng mình nhỉ? Thật khó biết những câu "cổ tay em trắng như ngà" là của thế kỷ nào. Các văn bản về phong tục như "Dư địa chí" của Nguyễn Trãi (TK 15) để lại thường chỉ nói đến tính tình hoặc mơ hồ hơn, "khí chất", sức lực, những cái thiên về khả năng lao động hoặc đạo đức. Nhiều văn bản lại rơi vào tình trạng được thêm thắt, sửa chữa. Với lại cái nhìn của người Việt về chủng tộc mình cũng ít điều kiện so sánh. 

Vào giữa thế kỷ 17, thương nhân người Anh gốc Hà Lan Samuel Baron đã viết, đại để là rất ít người Việt từng đi ra nước ngoài. Họ gần như không có ý niệm so sánh gì hết. Nhân vật từng giữ vai trò đại diện thương mại cho một công ty có tên Công ty Đông Ấn của Anh (English East India Company, phân biệt với một công ty Đông Ấn khác của Hà Lan) này có lý lịch cũng đặc biệt: sinh ra ở Thăng Long vào khoảng năm 1637, là con của thương nhân Hà Lan Hendrik Baron và một phụ nữ Đại Việt. 1659, Samuel Baron được bố gửi về châu Âu. Khoảng 1670, anh ta quay lại châu Á và chuyển sang làm cho người Anh, đúng lúc Anh và Hà Lan có chiến sự. Công ty mở một nhà máy/xưởng (factory) ở Tonkin nhưng tình hình làm ăn rất chán. Chủ yếu là buôn bán tơ sống của Đàng Ngoài và thuốc súng của Bồ Đào Nha. Có nhiều lý do, phần vì tính cách của người sếp Anh (William Gyfford), nhưng theo những gì Baron diễn giải và thư từ gửi về công ty mẹ, thì do cách thức làm ăn châu Âu không tài nào phá vỡ nổi hòn đá tảng trì trệ của xứ Đàng Ngoài. Không rõ Baron rời bỏ quê mẹ lúc nào, nhưng khoảng 1685, tại Madras, Ấn Độ, Baron viết một bức thư gửi hai người đại diện Hội Hoàng gia London, nói mình sắp lên đường đi Trung Quốc. Sau đấy thì không ai nghe nói đến ông ta nữa.

Tuy nhiên, có một chi tiết đáng lưu ý, là Baron có khắc một tấm bia đá hay hòn đá dòng chữ tên của mình cùng năm "Baron 1680" mà trong một bài viết của người Pháp năm 1882 xuất bản ở Sài Gòn đã xác nhận thấy ở cạnh sông Đáy (Theo chú thích 321 cuốn "Views of Seventeenth-Century Vietnam", Cornell University). 

Ông Tây lai này ghi chép tỉ mỉ các loại phong tục, từ triều vua Lê đến phủ chú Trịnh, đám ma đám cưới, nhằm để phán bác lại một cuốn ghi chép nhiều sai lầm của một nhà du hành người Pháp Jean-Baptist Tavernier (mà có vẻ như cũng chưa biết mấy về Đàng Ngoài, chủ yếu nghe hơi nồi chõ hoặc lưu lại Thăng Long vài ngày). Theo Baron, người Đàng Ngoài sống rất kém về kỷ cương luật lệ, không thân thiện và nóng nảy, chẳng tò mò gì về các nước khác, với người nước ngoài thì đầy lòng nghi ngờ, buôn bán xấu tính, nghèo đói, và có một thứ ngôn ngữ khó học. Kể cũng lạ, không biết vai trò của bà mẹ người Việt thế nào?

Theo mấy sách khác: Khoảng thời gian trước khi Baron ra đời, 1630, vua Lê Thần Tông cũng đã lấy con gái viên Phó Toàn quyền Hà Lan làm cung phi. Theo wiki thì: Trong cuốn “Histoire ancienne et moderne de l’Anam” (Lịch sử cổ và hiện đại của Trung Kỳ) của giáo sĩ Adrien Lurray thuộc Hội truyền giáo ngoại quốc của Pháp có đoạn viết: “Vua Lê Thần Tông khi ở ngôi lần thứ nhất đã lấy một người vợ Hà Lan lai Triều Tiên. Nàng tên là Onrona, được xếp hàng cung tần, đứng thứ hai sau Hoàng hậu”. Vua cũng có một con nuôi tên là Charles Hartsink. Đây được coi là người Hà Lan đầu tiên được phép mở hiệu buôn ở nước ta, đặt nền móng cho việc xây dựng thương điếm Hà Lan ở Phố Hiến, người này cư trú ở Đàng Ngoài khá lâu và thông thạo tiếng Việt, am hiểu tình xã hội, nội tình triều đình. Tại sao Hà Lan lại có vẻ nhộn nhịp ở Thăng Long thế, là vì Đàng Trong không thích làm ăn với Hòa Lan (Hà Lan) nên hội này quay ra Bắc. Nhưng rõ ràng là chừng ấy sự xâm nhập vẫn chưa làm cho việc làm ăn dễ dàng, mặc dù Baron có vẻ được lui tới các chỗ quan trọng như cung vua phủ chúa. Điểm đáng kể là Baron không kì thị chủng tộc mà chủ yếu bực bội với cung cách làm ăn và sự khó thông đạt với người Việt.

Baron tả về vóc dáng người Việt: "nói chung người Đàng Ngoài cũng có sắc da nâu giống người Trung Hoa và Nhật Bản, nhưng đẹp hơn, và phụ nữ thì gần trắng như người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. Mũi và mặt họ không quá bẹt như người Trung Hoa, tóc họ đen và nếu để dài, sẽ đeo một món trang sức..."

Từ lúc người Việt Đàng Ngoài được mô tả trong mắt phương Tây, người Việt đã được so sánh triệt để với người Trung Hoa hay Nhật Bản, những chủng tộc rõ ràng định vị rõ nét hơn từ trước. Mô tả họ về tính cách, quả thực chưa bao giờ dễ cả. Điều này có thể làm một số bác vỗ đùi đánh đét, người Việt sâu sắc, khó đoán và bí ẩn nhất quả đất! 

**

Quay lại với chuyện vẻ đẹp minh tinh. Quả thực xem phim, poster hay trailer mà hình đào kép đẹp cũng tác động đáng kể đến việc đi xem. Hoặc bấm mấy chục kênh, bỗng khuôn hình rơi đúng vào một vẻ đẹp được đặc tả là xác suất rất cao sẽ để yên đó, xem chàng/nàng đang diễn cái gì. Truyện có thể không có chuyện, phim có thể không có cốt, nhưng chắc hiếm ai làm phim không có diễn viên. Mà đã mang danh diễn viên thì phải len chân làm đào kép chính, và đã vậy phải đẹp. Tất nhiên có nhân vật xấu xí, nhưng cứ đo tỉ lệ diễn viên đẹp với xấu xem sao. Trước ngày trao giải Oscar, chẳng phải là năm châu bốn bể bận biu xem gái đẹp trai đô nào giành tượng vàng, và ai mặc gì đi trên thảm đỏ quyết định sự quan tâm của công chúng ngang với các bài phát biểu nhận giải đầy ắp nụ hôn gió và lời cảm ơn đó sao.

Chánh Tín có lẽ cũng là một kiểu Kevin Costner, có vẻ đẹp phong lưu mã thượng, ladykiller, nhưng càng về sau thì dở, thậm chí quá dở, dở kinh người, những phim dở làm người ta quên mất cả phim hay (Waterworld, The Postman, xem mà buồn cho đã có thời khoe mông Khiêu vũ với bầy sói và làm Vệ sĩ cho gái lẳng Whitney Houston). Không nhớ phim "Chiếc mặt nạ da người" và "Bản tình ca cuối cùng" có hay không (phim video, đóng với Lê Khanh) nhưng nghiệp đóng phim dài thế vẫn chỉ làm người ta nhớ trung tá Nguyễn Thành Luân từ ba mươi năm trước. Chánh Tín, Thương Tín đều chiêu đãi người xem bằng vẻ phức tạp, khó đoán và bí ẩn, thứ bây giờ cứ như không đội trời chung các nam diễn viên trẻ hay sao ấy. Các nam diễn viên đóng phim ly kỳ hình sự của ta bây giờ, mặt phẳng lặng không có sợi lông nào mọc thừa trên mép, máy quay focus hơi quá sâu vào những hàm răng trắng đều. Nó làm người xem không cảm nhận được sự đăm chiêu của các chiến sĩ công an trẻ đẹp - "Chạm tay vào nỗi nhớ", phim truyền hình đang phát trên VTV3. Thế nên người hâm mộ vẫn xúc động quyên được 600 triệu đồng cho người đóng vai trung tá Luân, vì trung tá Nguyễn Thành Luân vẫn mãi là hiện thân một vẻ đẹp kết hợp hai ông Thiện-Ác, hộ vệ tinh thần người Việt suốt những năm tháng bao cấp khổ sở. Những ông tướng canh đền.

Hình như có một nguyên nhân lý giải cho việc những hình tượng trung tá Luân, Sáu Tâm (vai của Thương Tín trong Biệt động Sài Gòn) đạt tới mức được hâm mộ bền bỉ thế, là ở vào cái tuổi trên dưới 30, các nghệ sĩ đã trải qua những biến cố lịch sử, họ đã lớn lên ở chế độ cũ, rồi lăn lộn vào đời sống trong giai đoạn không nói thì ai cũng biết, nhưng là giai đoạn người Việt cực kỳ mẫn cảm với chính trị, với các vấn đề lịch sử. Người Việt được tôi luyện qua mấy chục năm cọ xát thực tế chiến tranh nên ai cũng giỏi khoa "lý luận chính trị vỉa hè", dễ hiểu là các chiến sĩ tình báo với bộ đội đa tình quyến rũ thế nào. Tất nhiên mấy bộ phim cũng hơi bị sơ lược và nhiều cái buồn cười khi xem lại, nhưng các nghệ sĩ quả thực cứ tự nhiên mà phát ra những từng trải, những bản năng diễn xuất. Nhắc lại: mũi Chánh Tín cao hơn chuẩn bình thường và cằm Thương Tín chẻ, hai thứ không nói thì ai cũng biết là ước mơ của triệu người Việt. Chừng ấy 600 triệu còn là ít!

Thứ Hai, ngày 17 tháng 3 năm 2014

Tàu anh qua núi, tàu tôi qua đâu

Hồi bé tôi hâm mộ nhất bài "Tàu anh qua núi". Tôi được nghe hát trực tiếp dễ đến 3 lần qua các giọng ca Thanh Hoa, Bích Việt và một nữ ca sĩ quân đội nào đó nữa mà tôi quên tên rồi, các cô đều biểu diễn ở hội trường xí nghiệp mẹ tôi. Tôi cũng nghe nhiều nhạc vàng lắm, cái đài nhà hàng xóm nếu đã mất điện thì thôi, cứ mở là có những bài mà lúc ấy chỉ nhớ những cái điệp khúc mùi mẫn như "trời dành cho anh một con dốc lớn, để lăn hết cuộc đời" (mà tôi nghe thành "để ngàn năm hết đợi chờ"?), "Bao nhiêu chàng trai tay xiết mạnh, thầm hẹn ngày về quê Bắc ơi" (mà tôi cứ thắc mắc sao nhạc vàng lại có "về quê bác ơi"?).

Nhưng rõ ràng là tôi thích "Tàu anh qua núi" và nhớ đến bài ấy, là vì tôi rất chú ý đến câu "qua đèo Hải Vân mây bay đỉnh núi". Ồ, đèo Hải Vân, một địa danh đột nhiên đập vào óc, nó gây tò mò, cái gì đó xa xôi, cái gì vẫy gọi. Đến mức cứ lần nào có văn nghệ ở xí nghiệp là tôi thắc mắc, sao lần này không hát bài "qua đèo Hải Vân"?

Đèo Hải Vân khi ấy đã là cái gì đó gợi cảm vậy với một đứa bé 4, 5 tuổi nhỉ. Sau này tôi vẫn chưa đi qua đỉnh đèo, vì đâu như 2, 3 lần đi qua hầm đường bộ, nhưng cũng cảm nhận cái độ dài dằng dặc quanh co, và biết rằng trong nghệ thuật ngôn từ, có những vùng tiềm thức làm bật lên sự cộng hưởng của những âm tiết nhất định.

"Người đi qua đời tôi
Hồn lưng miền rét mướt
Vàng xưa đầy dấu chân
Đen tối vùng lãng quên"

Dĩ nhiên "hồn lưng" nghe khó hiểu nhưng khó quên. Nếu hát thành "hồn lưu" thì cũng như "nắng khuya" thành "nắng mưa", "yêu em tấm áo thô sơ" thành "tấm áo đơn sơ"... là xong phim rồi. Đèo Hải Vân dĩ nhiên tôi lúc ấy cũng biết là một nơi ở miền Nam, nơi có lẽ có một thế giới khác với Hà Nội, với xí nghiệp và với các tiết mục văn nghệ ở đây.

Quay lại với "Tàu anh qua núi". Lần nào nghe Thanh Hoa hát tôi cũng chỉ quan tâm đến việc cô ấy chinh phục những nốt cao và sự biến hóa của cô ở đoạn kết (Là yêu nhau mấy sông em cũng lội, là yêu nhau mấy núiiiii em cũng trèoooo...). Hôm rồi xem một chương trình ca nhạc với chủ đề cover lại các ca khúc nhạc đỏ một thời, và thay vì Thanh Hoa là Thu Minh trong một bản được phối theo kiểu nhạc sàn. Thu Minh hát hay, sinh động, và rất biết mình đang hát gì, thế là rất thành công rồi, có lẽ là tiết mục khá nhất hôm đó, nếu so sánh với các tiết mục như cơm nguội thiu của 2 diva khác.

Màn đấu khẩu của hai phe - ủng hộ đường sắt VN và phê phán nó - cũng khá thú vị. Tuy nhiên ở đây tôi không bàn đến chuyện cái tệ hại của ngành đường sắt, mãi trì trệ, tôi đã từng vô cùng tuyệt vọng đứng ở cửa tò vò quầy vé khi đi mua vé tàu vài lần, và thôi thì đúng như biệt ngữ "ĐSVN = Đừng Sờ Vào Nó", đất nước mình bao giờ có đường sắt cao tốc hay khổ rộng 1,435m, v.v... mà tôi muốn nghĩ xem, tại sao những chuyến tàu luôn đầy tính biểu tượng. Những chuyến xe cũng thế, chuyến bay thì ít hơn.

Nhiều phim ảnh từ thời "kinh điển" của Hollywood đã phát triển hẳn một motif gọi là "bến cảng sương khói" - có lẽ là lấy từ cái tên bộ phim Pháp năm 1938 "Le Quai des brumes" - mà Umberto Eco đã phân tích từ bộ phim kinh điển Casablanca (1942), chính là cảnh Rick (Humphrey Bogart) đợi Ilsa (Ingrid Bergman) mà bị leo cây, đoàn tàu tu tu xình xịch rời ga nào đó Paris (ga Lyon đèn vàng, cầm tay em muốn khóc - Cung Trầm Tưởng?) nhả khói mù mịt vô tình xóa nhòa mặt người thương. Những người thương về với người thương cũng có khi trong cảnh bẽ bàng như trong Cầu Waterloo (1940), nữ nhân vật Myra do Vivien Leigh thủ vai vì chiến tranh, người yêu danh gia vọng tộc chết trận, mà sa cơ làm gái điếm, ong qua bướm lại đã thừa xấu xa. Nào ngờ gặp người yêu ngỡ trong mộng mê ở sân ga cũng mịt sương mù thành Luân Đôn ngươi có nhớ, nàng xấu hổ vì thực tại ê chề, gieo mình xuống dòng Thames quyên sinh. Quả thực "tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời" mới biết lòng thục nữ. Nếu tôi làm phim Kiều, tôi sẽ học đòi Romeo & Juliet của Leonardo di Caprio, cho Kiều sống ở đầu thế kỷ 20, mặc đồ tân thời, đi tàu hỏa xa Đông Dương, khói tan rồi, hiện lên khuôn mặt nàng năm 31 tuổi đầy quyến rũ. Với điều kiện ga Hàng Cỏ phục dựng nguyên bản thời xưa. Và Kim Trọng nhất thiết đánh Citroel tiến từ từ đến. "Anh!" ... Ôm ấp nghẹn ngào xong rồi, lên xe. "Vân đâu anh?" "Ở nhà, đang trông nồi yến em ạ. Cô ấy nhất định tự tay nấu đãi em." Chiếc xe đi xa dần trong làn sương trời thu đất Bắc. Tiếng còi tàu bâng quơ dọc đường Hàng Lọng.

Dĩ nhiên tôi chỉ tạo ra một cảnh sến kinh hoàng thế thôi. Còn thì những chuyến tàu đã đi vào ký ức tập thể người Việt như những cuộc hành trình đầy tâm trạng. "Ôi còi tàu như xé đôi lòng" - vừa là còi tàu thủy, cũng lại là còi hỏa xa trong Biệt ly (1937) của Doãn Mẫn. "Những cuộc chia lìa khởi từ đây. Cây đàn sum họp đứt từng dây" trong Những bóng người trên sân ga (1937) của Nguyễn Bính. Rồi con tàu "như đã đem một chút thế giới khác đi qua" cho hai chị em Liên và An ở một cái ga xép trong Hai đứa trẻ (1938). Tôi đã đi về thăm nhà lưu niệm Thạch Lam ở cạnh ga Cẩm Giàng, căn nhà nằm sát sạt ngay bên đường tàu. Công nhận là vào cái thời triền miên buồn chán, thì tàu hỏa là cái gì đó náo nhiệt hơn hẳn xung quanh đối với trẻ con. 50 năm sau, cái thời tôi còn bé, đường tàu vẫn thú vị. Buổi đêm nghe tiếng còi tàu vẳng lại thực bình yên. Đặt một viên đá dăm ở taluy đường tàu lên ray, chờ tàu lao qua, xem bánh xe nghiền nát vụn viên đá ra sao. Đi học trên đường tàu, bước theo các thanh tà vẹt cho nhanh - vì khoảng cách các thanh dài hơn bước chân trẻ con cấp 1. Cũng có lần hút chết vì tàu đi gần đến nơi rồi mà bọn trẻ chúng tôi vẫn cắm cúi bước. Bà già đạp xe đi qua trông thấy, gào thét ầm ĩ, lôi cổ về mắng cho một trận.

Đấy là thời Việt Nam đã đi vào quá vãng. Còn bọn Tây nhé, Harry Potter vẫn hoài cổ, vẫn vân vi lâu đài với phép thuật, và nhất là phải đi tàu từ ga King's Cross ở sân ga 9 3/4. Chuyến tàu vẫn nhả khói mù mịt trong truyện lẫn phim, như một nguồn cảm hứng đến ám ảnh. Nước Anh làm công tác bảo tàng như thể để dành đó, năm nào Hollywood cũng có nhu cầu mang ra mượn để khai thác, cầm chắc ăn giải Oscar phục trang và làm tóc. Bằng chứng mấy mùa Oscar rồi giải này về tay phim của đạo diễn Anh và đề tài cổ trang Anh quốc. Nhắm mắt cũng hình dung ra cảnh đoàn tàu đen xì chạy băng qua núi đồi thảo nguyên xanh xanh, xa xa đàn cừu có chú Shaun the Sheep chẳng buồn nghển cổ ngó.

Những chuyến tàu thực sự chỉ ý nghĩa khi đi đường dài, khi nối liền hai địa điểm thật xa, như xuyên Việt chẳng hạn. Thời đánh nhau, ở miền Bắc có những bài hát sôi nổi như:
- "Cô lái thong dong ngước trông nhịp cầu mến yêu đoàn tàu cô hằng chờ mong" (Ánh đèn sáng trên cầu Việt Trì - Hoàng Hà, 1958),
- "Về đây với đường tàu, xiết tay ta hẹn nhau, khi Bắc - Nam chưa một nhà ta quyết chưa về làng quê" (Về đây với đường tàu - Lưu Cầu, 1966),
- "Ngọn khói con tàu, như tay vẫy gọi" (Đường ra mặt trận - Huy Du, thơ Xuân Sách, 1966)...
- "Dòng sông Mã soi bóng nhịp cầu có những đoàn tàu hối hả về Nam" (Cây lúa Hàm Rồng- Đôn Truyền, 1972)

Còn ở miền Nam có bài nỉ non "Anh ơi đây đô thành ở đây em sống không quen, đưa nhau lên tàu về quê ta sống vui hơn" (Tàu về quê hương - Lam Phương). Cũng có bài như Tàu đêm năm cũ (một bác Phương khác - Trúc Phương), tàu này cũng hơi chậm vì nỗi bolero đánh võng hơi bị chóng mặt, "đưa tiễn người trai về ngàn" hơi bị dùng dằng, đúng tâm lý đau lòng kẻ ở người đi. Trịnh Công Sơn cho tàu đi nhanh hơn, "Mẹ già cười xanh như lá mới trong khu vườn, ruộng đồng Việt Nam lên những búp non đầu tiên. Một đoàn tàu đi nhả khói ấm hai bên rừng, một đàn gà cao tiếng gáy đánh thức bình minh" (Ta thấy gì trong đêm nay - 1968). 

Khi đất nước thống nhất, đường sắt lãnh ngay vinh dự nối liền, nào là từ Đường tàu mùa xuân (Phạm Minh Tuấn, 1976) "người thương về với người thương", đến Tàu anh qua núiqua đèo Hải Vân đã kể, rồi Bài ca đường sắt (Lê Xuân Thọ), Gửi anh công nhân đường sắt(Tân Huyền)... Nói chung ai mà chẳng muốn leo lên con tàu Thống Nhất "tàu sức trẻ mùa xuân" mà đi vào Nam. Thế rồi để mãi là một chuyện cũ, như cái tàu cũ trên khổ đường ray rộng 1m oằn mình suốt 78 năm khi bắt đầu xuyên Việt.

Những người lính Đồng Minh tù binh của Nhật đã chết vì xây tuyến đường sắt có cây cầu qua sông Kwai. Thành truyện và phim Cầu qua sông Kwai trứ danh. Những người nô lệ Congo phục dịch xây đường sắt dưới sự cai trị của vua Leopold, Bỉ cuối thế kỷ 19. Được kể trong Tâm bóng tối của Joseph Conrad. Tuyến đường sắt răng cưa từ Tháp Chàm lên Đà Lạt đã bị bỏ không, những cái đầu tàu còn lại đã bán nốt cho Thụy Sĩ, khiến nước này thành nước duy nhất còn có đường sắt răng cưa, loại đường sắt leo núi đặc biệt. Kể sơ sơ thì nhiều vụ án mạng trên các chuyến tàu tốc hành trong tiểu thuyết hay phim ảnh giải trí, nào là chuyến tàu tốc hành phương Đông từ Istanbul về Calais của bà Agatha Christie, nào là Midnight Express... Những vụ án trên các toa tàu hạng nhất luôn hấp dẫn, li kì, lướt qua những đô thành tráng lệ, những nhà ga đầy dấu ấn Nouveau Art, thời kim khí bắt tay hữu hảo với mỹ thuật, khiến mỗi nhà ga là một bài ca của dầm sắt uốn, khung vòm và đinh tán. Vị trí của những nhà ga ở ngay trung tâm thành phố cũng nói lên sự quan trọng của phương tiện này vào thời đầu thế kỷ trước. 

Tôi đã hoàn toàn ngạc nhiên và lúc đầu còn thất vọng khi nhà ga của thành Firenze (Florence) hay Venezia (Venice) vuông chằn chặn, cũng đá rửa và cửa gỗ không hoa văn. Nói chung cũ kỹ buồn tẻ tựa như ga Hà Nội. Sau đấy mới biết ga ở Firenze còn là tiêu biểu của kiến trúc công năng hiện đại Ý nữa cơ đấy. Nhưng nghĩ lại thì hình như ít người để ý đến tính mỹ thuật của nhà ga xe lửa. Sân bay thì còn đáng nói. Chứ khách đi tàu vừa đến ga để khởi hành là chạy hớt hải xem ke nào, xem giờ nào... khách xuống tàu là ba chân bốn cẳng dò tìm bản đồ hay bãi taxi, ga metro ở đâu để về chỗ nghỉ hoặc chuyển tiếp sang tuyến khác. Chẳng thấy cảnh tiễn biệt lãng mạn "bến cảng sương khói" nào. Tàu diezel ở ta rồi tàu chạy điện nước ngoài làm cho các chuyến tàu bình thường như các chuyến ô tô khách đường dài. Hình như người ta cũng ít vẫy tay. Tàu chuyển bánh rồi, chỉ nhắn cái tin "Đã bắt đầu đi" là xong. Con tàu đi lòng không phân vân.

Nếu không phải tàu thì là cái gì nhỉ, cái gì có thể gây nên ám ảnh toàn cầu như thế. Đến nỗi mà chẳng có tàu lên Tây Bắc nhưng cụ Chế cũng phải viết về một "Tiếng hát con tàu" - "nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương". Đến nỗi Nguyễn Minh Châu viết hẳn một truyện tên "Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành" năm 1983 - sau này có bộ phim làm theo đổi tên thành "Người đàn bà mộng du", cái tên kém xa về tính biểu tượng. Cái cô Quỳ nhân vật chính, cả đời cứ xê dịch để đi tìm hạnh phúc đích thực, nên đi tàu là rất gợi hình. Có điều Nguyễn Minh Châu hẳn quá hiểu một nền văn học minh họa, đến nỗi chẳng ngại bịa là Việt Nam có tàu tốc hành. Hihi, mãi đến năm chín mấy, tàu S1 mới lên được 34 tiếng, nghĩa là 50km/h, thì gọi là tốc hành sao được hả cụ Châu ơi!

N.T.Q

Thứ Hai, ngày 10 tháng 3 năm 2014

Cảm giác mạnh kiểu Thái

1. Nhớ hồi còn nhỏ, mọi người nói đến Thái Lan là hình dung ra một nước suy đồi cả về văn hóa lẫn kinh tế. Suy đồi về xã hội vì toàn làm điếm với SIDA. Về văn hóa vì toàn phim cấp 3 với sặc mùi nỉ non TVB-style. Về kinh tế vì chỉ là một xã hội tiêu thụ, sân sau của các thế lực đế quốc mại bản. Suy đồi ấy là so với nước ta. Nước ta không ai ủng hộ điếm với lại con số SIDA "luôn luôn được kiểm soát", trong khi đồn rằng nhà sư Thái Lan còn bị nhiễm HIV nữa là. Nước ta phim ảnh lành mạnh, dẫu còn đen trắng nhiều nhưng đi vào lòng người đầy thánh thiện và xây dựng nhân cách, lại có những tìm tòi có đẳng cấp. Nước ta còn có dàn nhạc giao hưởng, chứ Thái làm gì có? Kinh tế thì nước ta dù bước vào kinh tế thị trường cũng vẫn đầy tự lực cánh sinh và hợp tác quốc tế chứ đâu có nhờ vào chiến tranh VN mà dựa hơi Mỹ làm giàu như bọn chư hầu kia đâu?

Nhưng ngay từ ngày ấy, hàng Thái đã là cái gì hấp dẫn và mê hoặc, trước nhất là hình thức, sau đến sự phong phú và lạ. Đến nay thì hàng Thái vẫn tỏ ra hơn hàng Tầu vì vẫn lạ và độc hơn, thời trang hơn. Và giá cả thì có thể không rẻ hơn nhưng ắt là có cơ sở tin tưởng hơn so với thứ hàng đánh qua biên giới kia.

Nhưng Thái lại hay bất ổn. Ở nhà nghe Thái bạo loạn, sân bay bị phong tỏa mà hãi. Công nhận là nước này phức tạp có bài, 25% gốc Tầu nắm kinh tế, dân miền Nam lại dính quả Hồi giáo, dân nông thôn ủng hộ Thaksin trong khi dân thành thị lại chối ông này. Nhưng Thái tôn sùng vua, người Thái lại dễ cười, chắp tay cúi chào cho dù khách chẳng mua chẳng bo. Người Việt có lẽ trần đời mới được nếm cảm giác đế vương (có vẻ vô điều kiện) như thế này.

2. Cô ca sĩ hát ở quán Savoye trông có vẻ đẹp tự nhiên, nói tiếng Anh giọng chuẩn, dáng vẻ nữ tính, da trắng nhưng không phải gốc Tàu. Dân Philipines chăng? Quả đúng vậy - vì kiểu châu Á như cô lại thành hiếm. Người Thái ở thành phố bây giờ thật chẳng biết đực cái thế nào nữa. Trừ khi là phụ nữ gốc Tàu da trắng, mắt một mí và dáng mảnh dẻ, còn thì con trai Thái "trắng" ăn mặc trang điểm như Hàn Quốc hay F4 Đài Loan, hoặc metrosexual quá mức, đi lại tha thướt "anh/em đi như chiều đi". Con gái Thái gốc vốn đen và nét thô, lại cứ hay trang điểm đậm nên đâm ra các cô này trông chẳng khác đám trans cũng đen và thô, cũng trang điểm đậm. Con trai Thái đen mà ăn mặc điệu cũng thành đồng hạng với hai cánh này nốt. Đi trên đường phố dễ gặp người như thế, đố biết đâu mà lần. Đám cave đứng đường mà trong ánh nhập nhoạng thì xấu rồi, nhưng các cô trans có khi còn đẹp hơn phụ nữ thường.

Đám trans dường như có mỗi việc là ăn mặc thật đẹp, thật diêm dúa để kéo khách chụp ảnh, chắc để promotion cho quán bar (bên cạnh lý do là hạnh phúc khi được công chúng quan tâm và thừa nhận vẻ đẹp của mình). Có cô còn đẹp như... Tăng Thanh Hà. Nhưng cũng có các cô phì nộn cố tố cái sự dị mọ của mình lên, như show diễn hài. Nhưng xấu nhất là đám gái múa cột ở những cái Soi (ngõ) bên trong. Ở VN mình, phải chân dài với xinh mới mong giật khách. Ở đây, chân ngắn với bụng to hơn ngực cũng múa cột được, miễn là dẻo.

Trong không khí hỗn độn của nhạc, ánh đèn loe lóe, có những ông già Tây đi xe lăn, tay run rẩy Parkinson vẫn lần mò vào, mắt hau háu háo hức xem. Thời khủng hoảng kinh tế, lại sau bạo loạn, dù vãn người hơn nhưng vẫn đông hơn VN. Thấy nhiều dân Nga sang chơi, đi theo hàng đoàn cả gia đình. Cô ca sĩ cùng anh bạn diễn hát Tình ca du mục bằng tiếng Nga để tặng cho một cô bé Masa nào đấy ở dưới bàn tiệc.

3. Nước biển xanh trong rợn người. Chẳng có vẻ gì là dễ chết cả. Vài nghìn người chết ở đây vì sóng thần đã là quá khứ. Nhưng san hô thì chả còn mấy, không ăn nhằm gì với san hô Nha Trang hay Vĩnh Hy. Bãi cát thì hơi nhiều đá và vỏ ốc cùng xác san hô. Cá ở đây quen được nhử mồi nên cứ vây lấy người bơi, dạn dĩ đến độ cắn cả chân người. Khách Tây trầm trồ với những đảo đá. Sao không đến Hạ Long mà ồ à chứ, VN có cả đống. Nhưng VN chẳng biết chắp tay "Khawp khun khawp" với lại "Sawadee". Mắt người VN lại lanh lợi quá, đảo như rang lạc chứ không khiến người ta yên trí như cái mắt cá lờ đờ của người Thái làm du lịch.

Viết tiếp:

Chắc là phim The Beach nổi tiếng thật. Thứ nhất là cái đảo Phi Phi ăn theo bộ phim có Leonardo di Caprio đóng nên thôi rồi là lũ lượt bọn thanh niên da trắng, đứa nào đứa nấy no đủ đẹp đẽ. Nhưng nghịch dại cũng khó đỡ. Cả lũ trêu chọc bọn khỉ, để cả mấy con vật tội nghiệp nổi đóa, phi từ trong bãi cát ra, móng vuốt như sẵn sàng cào cấu, làm các hành khách yếu bóng vía sợ mất mật. Một quả dừa ném bụp một cái bắn xuống nước, cả lũ người cười hô hố lên. Trên phim cũng mô tả một đám người văn minh trở nên hung tợn trong cảnh lạc bầy, người cũng như thú. Phim cũng không dạy cư xử được nhỉ. Thứ hai là phần 2 bộ phim Nhật ký tiểu thư Jones cũng dựng nên cảnh các nhân vật đi sang Thái Lan, bất chấp tiểu thuyết không có. Và trên máy bay thì có hai nhân vật liếc mắt đưa tình vì cùng đọc cuốn The Beach. Thế mà Leo đến giờ vẫn chưa giành tượng Oscar. Hãy đóng phim The Mountain đi. Nhưng thôi rồi, Jake Gyllenhaal và Heath Ledger đã đóng The (Brokeback) Mountain mà chỉ được đề cử Oscar cả đôi. Biển không, núi không, vậy Viện Hàn lâm thích cái gì? Thích bóng đêm, thích đen tối. Quả đáng tội, Heath Ledger cũng ăn một giải Oscar nam phụ cho phim The Dark Knight và rồi chết liền năm đó. Hi vọng Leo không đến nỗi giành Oscar rồi chết ngay.

4. Đi Thái Lan quả thực là dễ nhất ngay cả với người già. Giá vé máy bay thì dễ chịu hơn đi các nước khác, ăn uống thì cũng dễ nuốt hơn là Trung Quốc, dù không hoành tráng di tích bằng. Thái Lan có lẽ là vỡ lòng du lịch cho những người Việt bắt đầu có điều kiện hưởng thụ chút. Vừa có tâm linh (nước có Phật giáo là quốc giáo), có hình ảnh cung đình vàng son (Hoàng gia Thái cũng hào nhoáng), lại vừa có ẩm thực (đồ ăn Thái ngon như đã nói), lại hiện đại (hơn VN là cái chắc, Hà Nội với SG đã có tàu điện ngầm với tàu điện trên cao đâu. À, tuyến Cát Linh - Hà Đông lại vừa bị dừng rồi, vẫn chỉ có mấy trăm cái cột dựng lên thôi) - quả là một điểm đến không thể tốt hơn. Ấy là chưa nói đến mua sắm và thử cảm giác mạnh.

Cảm giác mạnh ở đây, theo như các cụ bà trong đoàn cơ quan bà chị tôi nói, là mấy cái món "xếch xâu". Thôi thì đã xem queer show rồi, Tiffany với lại Diamond gì đấy, các cụ nghỉ ở khách sạn hoặc đi mát xa chân đi, để đám thanh niên đi xem cái cảm giác mạnh kia. Bắn bóng bàn bằng cửa mình, nuốt dao cạo bằng cửa mình... Kinh, nghe đến là các cụ đã khó thở rồi. Bọn Thái này đúng là lăng nhục đàn bà. Chúng mình sống qua thời chiến tranh, giáp mặt kẻ thù chẳng một giây nao núng, đời nào chấp nhận nổi.

Nhưng thấy thanh niên rậm rịch đùa trêu nhau suốt cả ngày, các cụ đâm sốt ruột. Mà nghĩ đến cảnh bọn trẻ đi hết, mấy bà già ngồi giãi thẻ với nhau cũng chán. Thế thôi để tao đi xem thế nào. Sợ quái gì, tao sống tròn hoa giáp rồi. Cánh trẻ nửa can ngăn, nửa nhử mồi khích bác. Rút cục xuống đến sảnh, chia làm hai. Có hai, ba cụ bà đã máu thì đừng hỏi bà cháu là ai. Mấy cụ còn lại theo trường phái cổ điển, đi mát xa chân ở cạnh sảnh khách sạn cho lành.

Các cụ vào phòng mát xa, đã thấy cả dàn nhân viên chắp tay thi lễ, người nhanh nhẹn dâng nước, kẻ mau lẹ tung khăn. Các cụ tấm tắc khen, bọn Thái nó làm dịch vụ tốt quá, làm nghề phục vụ tử tế thế chứ. Ở nhà mình cứ nghĩ làm cái nghề đấm bóp là dễ sinh tệ nạn, đâm ra đi ra hàng quán mà cứ như xin cho. Đến bọn ô sin lúc nào cũng tấp tểnh nghỉ, có đứa nào chịu coi đấy là một nghề tử tế đâu! Một pha mát xa chỉ kéo dài bốn mươi lăm phút. Cánh đi xem "xếch xâu" vẫn chưa về. Thôi chết rồi, bọn mình chẳng đứa nào có chìa khóa phòng. 

Nghĩ lại thì các cụ cũng không hiểu tại sao không dám hỏi lễ tân, mà cũng chẳng biết hỏi gì, tiếng Anh tiếng Thái biết nói sao. Mấy bà già đành nửa nằm nửa ngồi ở xa lông sảnh khách sạn, đợi cái lũ chết tiệt kia mau mau về mở cửa. Xem gì mà xem kỹ thế.

Thêm một tiếng đồng hồ nữa mới thấy đội bạn về. Cười nói rôm rả. Vui chưa kìa, hớn chưa kìa. Bọn trẻ chốc chốc cười rinh rích, lại còn quay sang chọc hai cụ bà đi cùng: "Phê nhé. Các cụ sáng mắt bổ não nhé." Bà tròn hoa giáp đỏ bừng mặt: "Bố tiên sư nhà nó! Nó cho các bà xem... xem... địt nhau!" "Đòi về nó không cho về! Con với cháu!"

Cánh trẻ cười rũ, "ơ hay, bọn con đã báo trước ở nhà rồi còn gì. Các bà đòi đi đấy chứ."

Về phòng, các cụ hối hả đi tiểu, hối hả uống nước, hối hả lấy máy đo huyết áp ra kiểm tra mạch. Sợ quá, cứ như tăng xông bà ạ. 180/120. Đúng là cảm giác mạnh.

Thứ Ba, ngày 04 tháng 3 năm 2014

Người mắc chứng tiền đình (P.2)


Sếp rất hài lòng với sự thu xếp của Lãm. Sau hơn một tuần làm ngày làm đêm muốn sụn lưng, bản thảo cuối cùng cũng khá tươm tất. Việc đầu tiên là nhờ giáo sư Võ Trinh viết lời giới thiệu. Năm nay đã hơn chín mươi tuổi, gặp được ông đã khó, nhờ ông viết cái gì đó còn khó hơn. Nhưng bằng sự thần kỳ luôn luôn có ở Việt Nam, thông qua bạn học cũ, sếp đã móc nối với con trai giáo sư và rồi có bản lời giới thiệu sau hai tuần, vừa kịp ngày in. Đọc qua thì Lãm cũng thấy không có gì đặc sắc, như thể tác giả viết một bài cảm xúc về những kỷ niệm xưa đã đăng đâu đó, không liên quan mấy đến nội dung cuốn sách. Nhưng đã ở tình thế nước đến chân rồi thì anh cũng giao file để bộ phận dàn trang cho vào. Xong xuôi rồi là có thể tự cho phép mình một kỳ nghỉ.
Một tối nọ, Lãm thấy mỏi mắt khi đọc bản thảo trên máy tính, anh đóng laptop lại rồi lên giường nằm. Gáy anh căng lên vì ngồi suốt lúc nãy. Vừa đặt đầu xuống gối, bỗng óc anh quay cuồng, mắt nảy đom đóm như vừa bị ai giáng một cú vào thái dương. Cả người anh như trong một cơn nhào lộn không làm sao dừng được. Lãm cố kìm để không gào thét, trong khi cơn buồn nôn ứa lên tận họng.
Bác sĩ nhanh chóng kết luận là Lãm bị tiền đình do thoái hóa đốt sống cổ. “Có triệu chứng tiền tai biến”. Căn bệnh không có gì lạ nhưng Lãm đã không ngờ nó đến sớm. Anh suy nghĩ, không biết có phải do căng thẳng của đợt làm sách vừa rồi không. Kỳ nghỉ của anh rút cục thành kỳ dưỡng bệnh. Lãm bị cách ly khỏi máy tính và điện thoại di động. Sách đương nhiên cũng bị cấm. Được hai ngày, Lãm ngứa tay, lén lục tìm điện thoại. Vợ anh bắt gặp, đay nghiến: “Còn muốn sống để làm người không hả?” Lãm bực, nhưng nghĩ cũng chẳng có gì gửi mình ngoài vài cái email hay tin nhắn vớ vẩn, nên thôi.
 
   Minh họa của Đặng Hồng Quân

Thuốc của bác sĩ kê cho Lãm khá công hiệu. Một mặt, nó ức chế các xung động thần kinh, làm cho anh trầm tĩnh hơn. Mặt khác, Lãm cũng cảm giác như mình chậm hơn trước.

Ba ngày sau khi Lãm gửi sách biếu Võ Trinh, anh nhận được điện thoại. Thông tin như sét đánh ngang tai. Cuốn sách hóa ra rất nhiều chỗ sai về thời điểm và nhân vật. Giáo sư kiên quyết không chấp nhận cho ra cuốn sách này. Sếp chửi tục. Rõ ràng là con của giáo sư đã nhận lời chuyển bản thảo cho ông đọc. Vậy thì cái lời giới thiệu kia là viết cho cái gì? “Hay không phải ông ấy viết?” Lãm thắc mắc. Sếp giận dữ, giơ chân đá cái ghế đổ rầm. Lãm nghĩ, may mà chính sếp làm nhiệm vụ này chứ không thì anh chịu hậu quả mệt. Trái với sự nhạy cảm thông thường, lúc này Lãm chỉ thấy bình thản. Anh cũng ngạc nhiên trước sự điềm tĩnh lạ lùng ấy, có lẽ là nhờ thuốc.
Lãm như trút được gánh nặng khi sếp nhận trách nhiệm thu xếp “hậu sự” của cuốn sách. Phương pháp lâu nay vẫn là tình cảm và chu đáo, đặt yếu tố “con người” lên trên hết như thông điệp của sếp vẫn đem đi ngoại giao tại các buổi gặp gỡ đối tác và tác giả cộng tác.
Tuy đã biết tài ăn nói đến rắn cũng phải bò ra nghe của sếp nhưng Lãm cũng không lấy làm bất ngờ khi sếp gọi điện kể lại phản ứng của Trần Lũy. Ông ta nhất quyết đổ lỗi cho Lãm và nhà xuất bản đã can thiệp vào bản thảo. Lãm nghe giọng sếp có phần uất ức, “Cậu chuẩn bị sẵn bản thảo biên tập có chữ của lão Lũy xác nhận để đối chất. Lãm ơi, anh không ngờ lão ấy có thể đối xử với mình như thế. Không có mình thì còn lâu bản thảo của lão mới được đàng hoàng thế”. Tiếng sếp có phần hơi lạc đi. Lãm nghĩ, sếp bây giờ còn nói không ngờ, sao từ lúc mình gàn thì không nghe. Chẳng qua sếp cũng ham thành tích.
Vậy là một cuộc họp ba bên được triển khai tại nhà riêng Võ Trinh. Đây là lần đầu tiên Lãm gặp trực tiếp Võ Trinh.
Ông có khuôn mặt nhiều túi mỡ chảy xệ, đôi mắt nhỏ tí không rõ cảm xúc. Duy có mái tóc trắng như cước dài bồng bềnh là sống động, như Lãm vẫn thấy trên những bức ảnh hoặc tivi. Bên cạnh ông là chị con gái, chị này khuôn mặt mỏng, đôi môi khô khan. Chị nâng cặp kính như một thói quen, đặt cuốn sách lên đùi, tay cầm sẵn bút như chờ súng khai hỏa. Năm người ngồi quanh bàn, dưới ánh đèn vàng vọt và giữa những giá sách cũ kỹ, hệt như cảnh một bức tranh Phục hưng Hà Lan bí hiểm. Trần Lũy không nhìn Lãm lần nào, ngồi khúm núm hơi lùi xa bàn về phía Võ Trinh. Lãm chăm chú quan sát Trần Lũy, thấy sếp mình có khi vẫn có cái lý khi chọn bản thảo của ông ta. Bỗng nhiên Lãm thấy chán ngán.
Sau lời mào đầu đầy ắp sự lễ độ của sếp, Võ Trinh nhận thấy Trần Lũy nhấp nhổm. Ông chớp mắt, khẽ nói. “Anh Lũy nói đi”. Khác với vẻ lề mề nói lặp như mọi lần, Trần Lũy rành rọt nói không vấp tí nào như đã chuẩn bị sẵn. Đến câu “nhà xuất bản phải có trách nhiệm sửa chữa và in lại cuốn sách” thì Lãm cắt lời: “Nhưng chính bác…” Sếp vội giật tay Lãm rồi nói chen vào. “Dạ, cháu rất hiểu vấn đề của cuốn sách là còn nhiều tồn tại. Nhưng cháu muốn xin ý kiến của giáo sư ạ”.
Giọng Võ Trinh nhỏ nhưng khá rõ, âm sắc lạnh. Sau khi đánh giá khích lệ sự công phu của tác giả thì ông nói: “Tôi nói không phải là để bắt bí các anh. Nhưng vì sự an toàn, xin lỗi, chu toàn của cuốn sách, và cũng là để không ai có quyền bắt bẻ gì, các anh cần in lại”.
“Dạ, đúng thế ạ”. Giọng Trần Lũy phụ họa đầy lố bịch.
Lên taxi, sếp thở dài. “Mất toi cả mấy trăm triệu. Cậu là biên tập viên, phải có trách nhiệm tìm cách bán sao cho thu hồi lại vốn đấy”. Lãm coi như không nghe thấy, nhắm mắt lại.
**
Hai tháng sau khi cuốn sách đã được in ra, số sách tồn vẫn còn đến hai phần ba. Tín hiệu từ các nhà sách không khả quan. Trong khi đó, phản hồi của các báo về cuốn sách chân dung danh nhân mang phong cách mới phần nhiều không khác với thông cáo báo chí mà Lãm đã tỉ mẩn chấp bút cho sếp duyệt kỹ lưỡng, nghĩa là chẳng chệch hướng tí nào. Coi như một cuốn sách cúng cụ vốn dĩ khó bán như mọi cuốn thể loại ấy nên chẳng ai quá đỗi bi quan.
Chứng tiền đình của Lãm cũng không còn, chỉ có phản xạ của anh vẫn chưa nhanh. Đôi lúc anh như người trong phim quay chậm.
Mọi buổi tối, Lãm đều bị vợ bắt đi ngủ sớm. Cô tịch thu điện thoại của anh, chỉ cho dùng đúng tám tiếng ban ngày.
Nửa đêm hôm đó, chuông điện thoại cố định nhà Lãm kêu ầm ĩ. Tiếng vợ anh trả lời, rồi cô lay anh dậy. Cô lấy tay bịt ống nghe. “Sếp gọi đấy. Có cái thứ cơ quan nào vô lý thế này không, nửa đêm gọi điện”. Lãm bỏ ngoài tai lời cằn nhằn của vợ, cầm ống nghe lên.
“Anh phải đi, sếp gọi có việc”.
“Mình có thần kinh không. Kệ ông ấy, ai chết cũng để đến mai. Mình còn cái thân mình kia kìa”.
Mặc cho vợ chì chiết, Lãm dắt xe đi.
Lãm không dám nói với vợ là gặp sếp ở đâu. Thoạt tiên anh cũng không hiểu tại sao sếp lại gọi mình đến quán karaoke, dù có biết sếp thích hát hò văn nghệ. Trong tình trạng sách ế thì ăn mừng thế này xem ra hơi khác thường.
Lãm sửng sốt thấy sếp ngồi gục gặc bên chai rượu. Ngồi một mình trong căn phòng hát. Màn hình chạy chữ một bài hát não nề. Họa hình người tình trên bờ cát… “Ngồi đi. Hát đi. Uống đi. Lãm”.
Lãm cũng không biết nên hỏi gì, mà nhạc quá to. Sếp ấn nút bài tiếp. “Hát đi”. Sếp dúi cái micro vào tay Lãm. Anh đành miễn cưỡng hát.
“Mày hát được đấy. Nhưng mà hát hết mình đi. Đứng dậy mà hát”.
Sau nửa chai rượu, sếp hỏi. “Mày thấy vụ ấy thế nào?”
Thấy Lãm mặt ngây độn, sếp cáu. “Thế mày ở nhà làm cái gì?”
Thì ra lúc cuối buổi chiều, có một bài báo mạng nêu lên một số cuốn sách có dấu hiệu vi phạm. Theo đó thì cuốn về Trương Hoàng Phong của Trần Lũy mặc dù không sai lệch nội dung nhưng lại có dùng những nguồn trích dẫn không chính thống. Kết luận của bài báo thòng một câu phát biểu của một ông quản lý nào đó: “Nếu các cuốn sách có dấu hiệu vi phạm thì phải thu hồi”.
Lãm đọc xong bài báo trên cái điện thoại của sếp, anh ngẩn ra. Mấy cốc rượu làm anh không suy nghĩ mạch lạc nổi. “Có… sao không anh?”
Sếp nở nụ cười bí hiểm, nhét điện thoại vào túi. “Thôi, kệ nó. Uống rồi về, mày”.
Bỗng nhiên, khắp nơi nói đến cuốn sách về Trương Hoàng Phong. Một tờ báo mạng công bố những lời của Trần Lũy đổ lỗi cho lối làm ăn tắc trách của nhà xuất bản và biên tập viên. Dường như một chiến dịch hạ bệ nhà xuất bản dậy lên, song song với một làn sóng ủng hộ nó như một đơn vị dũng cảm, hoặc là một nạn nhân của lối nghiên cứu chộp giật, xào xáo sưu tầm hàng chục năm nay. Dù thế nào thì cuốn sách cũng bán chạy đến nỗi có cả sách in lậu.
Cuốn sách hóa ra chứng minh lời của sếp là đúng. Mặc dù như Lãm thấy nó nhạt nhẽo đến mức anh xấu hổ không bao giờ quảng cáo cho bạn bè, nó nhận được giải thưởng của một hội nghiên cứu, một giải cuốn sách của năm. Trần Lũy cũng kịp được nhắc đến như một người có công phu khảo cứu, thậm chí có tờ báo còn phong ông ta là “nhà Hoàng Phong học”. Tuy nhiên gần đây người ta thường gặp ông ta đi dò dẫm dọc vỉa hè thư viện, hai tay bấu lấy song sắt hàng rào, mắt trợn trừng.
Cuốn sách cũng chấm dứt sự nghiệp biên tập của Lãm. Người ta không còn thấy anh ngồi đăm chiêu bên những chồng bản thảo nữa. Anh hay lang thang phượt các vùng núi hoặc du lịch khắp nơi. Mới tuần trước, nhân dịp một ngày năm mới trong một quán cà phê, tôi đã gặp anh, và được anh kể lại câu chuyện trên. Những ngón tay từng lật giở không biết bao nhiêu trang bản thảo, giờ thành thạo giơ máy ảnh lên bấm. “Thì mấy trò gây xì căng đan đó bây giờ bọn ngôi sao nó làm như cơm bữa mà. Mày suy diễn thế chứ tao không tin sếp tao dám. Thằng cha ấy nhát bỏ mẹ”. Trông anh không có vẻ gì là người từng bị tiền tai biến, anh nở nụ cười ám khói thuốc, hấp háy cặp mắt nhanh hoạt: “Thời của tao qua rồi. Mày mới xứng đáng danh hiệu người biên tập viên nhân dân. Mày viết tản văn đều, ra sách mới cho anh mấy cuốn nhé”.
(Đăng trên báo Đại biểu nhân dân: http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=80&NewsId=307860)

Người mắc chứng tiền đình (P.1)

(Truyện đã đăng tập Dưới cột đèn rót một ấm trà)

Trong giới biên tập, nếu ai còn nhớ thời hoàng kim của sách in ở Hà Nội, thì hẳn biết Lãm. Anh là biên tập viên nổi tiếng mát tay với các đề tài văn chương nghiêm túc. Duy có một lần, như Lãm kể, không hiểu vận hạn thế nào, anh cũng gặp bản thảo khó xơi. Mọi sự bắt đầu từ khi sếp giao tập bản thảo về Hoàng Phong để ra sách nhân năm mươi năm mất của vị danh nhân này. Lãm không thích đề tài lịch sử, nhưng sếp nhất quyết làm, “đây là nhiệm vụ chính trị của cơ quan, cậu phải làm. Cậu đã từng làm mấy cuốn ngày trước rồi, giao bọn tre trẻ làm, tôi không tin tưởng”.
Sếp trấn an Lãm rằng bản thảo này sẽ làm theo kiểu hỏi đáp, có năm trăm câu ngắn gọn, “sẽ dễ làm thôi. Cậu không phải nhọc công gì, chỉ đối chiếu lại thông tin và sửa chính tả. Tác giả có thâm niên nghiên cứu rồi, không phải lo”.
Việc đầu tiên Lãm phải làm là đến gặp tác giả để lấy bản thảo viết tay mang về, đánh máy lại thành file văn bản rồi dàn trang. Sếp nhắn: “Tớ đã gọi điện cho ông Lũy rồi. Đến vào buổi tối nhé, ban ngày ông ấy hay lên thư viện tra cứu”.


Minh họa của Đặng Hồng Quân

Địa chỉ cần đến ở trong một khu tập thể sắp chờ giải tỏa của một cơ quan Bộ ngày trước. Anh đã quen đến những nơi cũ kỹ như thế này để nhận bản thảo. Vậy mà anh vẫn không hiểu, những tác giả hàng ngày nhìn ra cửa sổ với dăng dăng dây phơi quần áo, xô chậu và đường ống nước, họ lấy cảm hứng từ đâu?
Lãm dò dẫm bước dọc cái hành lang tôi tối, rồi tới căn hộ ở cuối cùng. Anh thò tay qua cánh cửa sắt đầy bụi, gõ vào lần cửa gỗ màu xanh lá cây đã bợt. “Ai đấy?” Một ông già nét mặt xương xẩu cau có hiện ra sau cánh cửa. Lãm xưng tên và lý do đến. Ông già vụt đổi thái độ, cười rạng rỡ, giọng hào hứng: “A anh Lãm, anh Lãm. Vào đi, vào đi. Mời anh, mời anh”.
Căn hộ cũ kỹ, đồ đạc phủ đầy bụi. Lãm hắt xì hơi. Lãm không có khăn mùi xoa, anh lén quệt mũi vào ngón trỏ rồi định chùi vào hông quần nhưng ông Lũy đã giơ tay nắm lấy để bắt. Bàn tay khô lạnh của ông nắn nắn lấy bắp tay anh. “Quý hóa quá. Quý hóa quá. Trẻ quá. Trẻ quá”. Anh không biết ông này có định nói lặp hai cụm từ một trong mọi lời phát ra không. Lãm thu tay về, tay vẫn còn dinh dính. Ông Lũy có khuôn mặt nhầu, mặc áo sơ mi cắm thùng hơi quá mức cẩn thận cho một bộ đồ mặc ở nhà. Ông có một hơi thở nặng mùi.
Ông già chỉ vào tập giấy A4 xếp ngay ngắn trên bàn. “Đấy, đấy. Tôi đã xếp sẵn rồi. Xếp sẵn rồi”.
“Vâng, để cháu mang về đọc rồi trình sếp cháu đã bác nhé. Bác ký giấy xác nhận cho cháu”.
“Không cần đâu, không cần đâu”.
“Bác cứ ký giúp ạ, vì đây là thủ tục”.
Ông già nắn nót đặt bút ký vào tờ biên nhận mà Lãm đã in sẵn. Lãm chào ông ra về, và lời chào anh nghe thấy vẫn là một tràng hai cụm từ lặp lại. “Thế anh về nhé. Thế. Anh về nhé”. Lãm chợt nghĩ, rõ ràng không thể là nói lắp vì ông ta ngắt câu rất rõ ràng.
**
Tập bản thảo mà Lãm hình dung là mỗi câu chỉ độ nửa trang A4 nhưng rút cục dài đến hai trang. Thảo nào nó dầy ự đến thế. Nghìn tờ giấy. Hai ram nguyên. Nội dung của nó hệt như những bài giảng chính trị mà câu hỏi thực ra là những câu mớm nội dung, đọc lên đã thấy câu trả lời đương nhiên là đồng tình và diễn giải mà thôi. “Chú bé Phong sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước tự ngàn đời…” Lãm bật cười, gạch mấy chữ có truyền thống và tự ngàn đời đi. Chỗ nào cũng múa bút thế này thì chết. Lãm tặc lưỡi, ôi thôi kệ, sếp đã muốn làm nhanh thì mình cứ thế mà gọt cho gọn.
Dĩ nhiên Lãm không hơi đâu đọc bản chép tay. Anh thuê người đánh máy nhập liệu, tranh thủ đặt họa sĩ vẽ bìa rồi bắt tay vào biên tập dữ liệu. Những chỗ như tự ngàn đời hóa ra đầy rẫy trong bản thảo nhưng làm mãi Lãm cũng hết buồn cười, anh thậm chí còn lấy làm thích thú như người nhặt rau, mong gặp cọng nào sâu cọng nào úa để công việc đỡ tẻ và đỡ phải nghĩ. Lãm khá hài lòng với chính mình khi gọt xuống được còn gần bảy trăm trang, vị chi mỗi câu một trang rưỡi. Rồi sẽ gọt nữa, mà cũng phải dành đất cho sếp gọt chứ, anh nhủ thầm khi chuyển bản sửa cho trưởng ban biên tập.
Lãm cho phép mình xả hơi ba ngày bằng cách đi cùng một nhóm bạn chụp ảnh hoa cải ở Mộc Châu. Giữa cuộc nhậu vui vẻ ở chỗ đi chơi, cú điện thoại của sếp đã làm hỏng tất cả. “Cậu làm ăn thế à? Về ngay, về ngay. Tệ quá. Tệ quá”. Lãm không hiểu sếp có lây bệnh nói đúp hai câu một của ông Lũy không nữa.
Tập bản thảo đã sửa chi chít những chỗ khoanh tròn rất tháu của sếp: “Giống hệt trang 72 cuốn Danh nhân xứ Thanh”; “Không khác một dấu phẩy bài về Trương Hoàng Phong trong cuốn Hợp tuyển văn thơ Bắc Trung Bộ”… Lãm không nói được câu nào, ngạc nhiên vì nghĩ mình đã cắt ghép đến nát ra rồi, vậy mà sếp vẫn nhận ra được văn bản gốc thì hãi quá.
“Cậu biên tập phải biết những cuốn kia chứ? Cuốn này đến hai phần ba cóp nhặt hết. Quá tệ”.
“Em có đọc nhưng lâu rồi, cũng không phải mảng của em. Với cả thấy sếp nói chỉ cần sửa chữa qua…”
Sếp nhìn Lãm một cái rồi đưa mắt nhìn xuống bản thảo. “Tôi nói vậy là trên tinh thần chung thôi. Biên tập viên vẫn cần phải biên tập tỉnh và phiêu hơn nữa”. Tỉnh? Phiêu? Lãm đã định vặc lại nhưng rồi thôi. Dù sao anh ta cũng ở cái ghế chỉ huy, chịu trách nhiệm cho nội dung, không thể để anh làm bừa được.
“Nếu nó dở quá thì thôi sếp ạ”. Lãm dấn thêm một bước. “Ảnh hưởng đến uy tín cơ quan mình còn nguy nữa”.
“Không! Vẫn làm chứ. Nó có cái dở như đã nói rồi, nhưng cái được là công sưu tập tư liệu. Người ta rất quan tâm đến cuốn này, vì đợt này chưa thấy nhà xuất bản nào có sách về Trương Hoàng Phong cả. Mình phải làm sách có chiến thuật, cậu hiểu chứ”.
Người ta là ai, Lãm cũng hiểu hiểu sếp định nói gì nhưng nghĩ đến việc sửa lại bản thảo thế nào, anh chỉ thấy ngao ngán. Như thấy được nỗi do dự của Lãm, sếp bồi thêm mấy câu. “Cậu hiểu ý tớ phiêu là sao chưa? Cậu phải vận dụng cái tài của cậu ở những cuốn trước ấy, cậu thêm vào đồ họa, các số liệu thống kê, các trích lục ngắn gọn, giật lại các tít phụ, trình bày sao cho nó sinh động hẳn lên. Tớ tin là cậu thừa sức làm được. Thôi về làm đi, nhanh nhẹn lên, nhé”.
Bây giờ, nói thế nào với ông Lũy là một điều mệt mỏi hơn nhiều. Một người đáng tuổi ông cha mình, yêu cầu đụng chạm đến sự toàn vẹn của tác phẩm đã là điều không dễ, nữa là giải thích tại sao lại phải cắt bỏ nhiều như thế. Lãm đã sẵn sàng chuẩn bị cho tình huống tệ hại nhất.
Việc đầu tiên là làm sao gọi điện thoại được cho ông Lũy. Lãm không làm sao gọi được cũng như gặp được, căn hộ của ông Lũy khóa cửa suốt một tuần nay.
**
Lãm nín thở bước vào sảnh phòng đọc thư viện. Những cây cột cao đỡ vòm trần làm tăng thêm vẻ căng thẳng của không khí. Cô thủ thư mặt lầm lì, cầm cái thẻ của Lãm dí vào máy soi rồi trả anh. Đúng lúc chuông điện thoại của anh kêu. Cô thủ thư quắc mắt. Lãm vội mở cửa đi ra ngoài, anh nhanh chóng khép cái cửa lại nhẹ nhàng nhất có thể nhưng nó vẫn phát ra tiếng két từ cái bản lề khô dầu. Lãm rút điện thoại ra, mặt nóng bừng, cảm tưởng như cặp mắt dữ tợn của cô thủ thư đang khoan vào gáy. Sếp lại gọi, dặn trao đổi với ông Lũy cẩn thận, sao cho chỉ lưu lại những bằng cớ có lợi.
Lãm cẩn thận tắt tiếng điện thoại, khẽ đẩy cánh cửa, lần này nín thở hơn lần trước. Nhưng cô thủ thư không có vẻ còn nhớ sự ồn ào bất lịch sự khi nãy, đang thờ ơ đọc gì đó trên máy tính.
Sự căng thẳng của Lãm hóa ra thừa. Hóa ra mấy ngày nay nhà ông Lũy mất nước, ông đến ở nhà người em. Và thư viện gần như là chỗ ông ở cả ngày. Lãm mời ông ra quán cà phê ở đằng sau thư viện. Ông không gọi gì, rút trong túi ra cái bình tông nước, khẽ khàng đặt lên bàn trước sự ngỡ ngàng của cả Lãm lẫn cô phục vụ. Cô ta quay ngoắt người đi, ve vẩy tập phiếu ghi, cười nụ.
Ông Lũy gật gù nghe lời rào đón của anh rằng quá dài, cần gọt bớt, rồi vẫn nói bằng kiểu đúp hai câu một. “Vâng, anh cứ sửa. Sao cho gọn nhất. Sao cho gọn nhất. Là được”.
Lần này có ngắt ra một hai câu lẻ như nỗ lực biến đổi thông tin. Thái độ hợp tác dễ chịu đáng ngờ của ông già làm Lãm hơi đề phòng. “Thế này bác ạ, bên cháu định thêm vào phần đồ họa vẽ lại hành trình cuộc đời của ông Hoàng Phong. Như thế sẽ giúp cho độc giả trẻ tiếp cận nội dung của bác dễ dàng hơn. Cháu sẽ gửi bác xem bản nháp trước khi đưa vào”.
“Hay lắm. Hay lắm”.
Không lẽ ông này dễ tính vậy. Tiện đà, Lãm dấn thêm. “Bên cháu muốn bác làm danh mục sách tham khảo. Vì hẳn là bác cũng đã tham chiếu nhiều tài liệu lịch sử. Nhiều đoạn tương đồng với các sách đã có”.
“Không! Tôi không cần tham khảo gì cả. Tất cả trong đầu tôi rồi. Tích lũy mấy chục năm cả đấy”. Ông Lũy đổi sang giọng gay gắt như lên lớp.
À, thì ra chỉ nói đúp khi đồng tình thôi. Lãm cười thầm, “Dễ xử thôi”.
“Sách nghiên cứu có phần tham khảo thì cũng tốt bác ạ. Mình có những nguồn bằng cứ xác đáng uy tín, chỉ có lợi cho mình thôi. Ý kiến về biên tập của cháu là như vậy. Bác cứ suy nghĩ”. Lãm nói bằng cái giọng lạnh lẽo, cố gắng bắn tín hiệu cho ông già hiểu.
“Tôi, tôi là tôi không đồng ý với việc quy chụp của các anh…”
Quái thai đây. Lãm bồi cú chót. “Bên cháu có mời giáo sư Võ Trinh thẩm định và viết lời giới thiệu đấy bác ạ”.
Võ Trinh là học trò của Hoàng Phong, được xem như người kế tục sự nghiệp của danh nhân này. Câu nói của Lãm dường như có tác dụng. Mặt ông Lũy có vẻ giãn ra, môi dưới rung rung. Quả là không phải người bảo thủ kiểu dễ đoán. Ông ta có lẽ khá hiểu tình thế của mình nên lại mềm mỏng trả lời ngay: “À, anh Trinh à. Hay quá, hay quá. Vâng thế thì về sách là tôi nói trước thế. Nói trước thế. Còn thì tôi cũng biết là phải có sự biên tập. Biên tập là cần thiết. Cần thiết. Bà đỡ. Bà đỡ”.
Vậy là coi như hai bên thỏa thuận rằng tác giả sẽ tự sửa lại theo những chỗ đã biên tập rồi Lãm sẽ tiếp nhận sau. Khi ra về, Trần Lũy giơ tay nắm lấy tay Lãm, lắc lắc. Cái cảm giác lạnh như tử thi. Lãm thu tay về, ước mình đã bỏ cuộc.
(Hết phần 1)

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ