Thứ Ba, ngày 22 tháng 7 năm 2014

Hai đứa con trai ra hồ Hale

Hihi, tất nhiên vẫn là "Ba ngôi của người", nhạc và lời Nguyễn Việt Hà nhé.

Chuyện dễ chịu nhất là nhìn trộm Hạnh tắm. Lúc ấy tôi đã hơn mười ba còn Hạnh thì gần mười tám. Sau lần tò mò sờ soạng, Hạnh không cho tôi vào ngủ cùng chăn nữa. Nàng ở dài nhà tôi để luyện thi vào trường Cao đẳng Nhạc Họa. Chị tôi bảo, nó nên thi vào trung cấp thì vừa lực hơn, tài chính hay ngân hàng là nhất, dễ xin việc. Nhưng Hạnh ham nghệ thuật. Nàng thích hát, biết vẽ, tự học may cắt quần áo rất khéo. Những năm tháng nghèo rớt mùng tơi của bọn dân đen, ăn chỉ cầu no, mặc chỉ đừng rách, Hạnh cặm cụi thức đêm sửa mấy cái quần “phăng” thải ra từ mẹ thằng Kun. Rồi chữa áo sơmi, liều lĩnh chữa cả blouson. Bất cứ bộ quần áo nào nàng đã tự sửa để mặc đều tinh tế dâm đãng rất thời trang. Tôi nhiều lần chứng kiến ở ngoài đường, hàng đàn bọn thiếu nữ phố cổ đạp xe “lơ” hay “mipha” đuổi theo Hạnh, hau háu hỏi là chị ơi chị may bộ này ở đâu đấy. Năm 1988, mẹ thằng Kun đi xuất khẩu lao động ở Nga, bỏ lại cho Hạnh cả một tủ quần áo. Nàng nhờ tôi giữ cho phẳng cái áo thụng valide cổ Đức, mềm mại lùa kéo khoét nó thành cổ tròn.

“Quang Anh quay mặt đi nào”.

Tôi ti hí nhìn nàng thử áo uốn éo trước gương. Đẹp vô cùng. Ở nhà, nàng không bao giờ mặc áo lót. Người tôi hầm hập như rang. Vải valide mỏng manh nhờ nhờ bầu vú tròn căng có đầu vú nổi sẫm đen. Tôi từng nhìn trộm nó không biết bao nhiêu lần. Kể cả về sau khi đã cực kỳ thập thành, tôi chưa bao giờ thấy đứa con gái nào có đầu vú đen đĩ thõa như thế. Tôi run run lại gần sờ sờ vào cổ áo, miệng lắp bắp là loại vải này lạ nhỉ. Hạnh quay lại, mũi lấm tấm mồ hôi, đôi mắt đen có đuôi dài ma mị. Chợt như bải hoải nàng vòng tay qua vai tôi, ép đầu tôi xuống, mê man mút lưỡi. Cái hôn đầu tiên trong đời hình như làm tôi xuất tinh. Đũng quần nàng cũng ướt đẫm. Và chúng tôi chỉ hôn nhau thôi.

          Sau nụ hôn đầu Hạnh trốn biệt, em tìm mọi cách lánh mặt tôi. Dì Tiết đã về lại dưới quê trông nom mấy sào vườn hoang. Mẹ tôi trượt chân đá hoa buồng tắm, tiền sử huyết áp làm bà tai biến nhẹ. Bố tôi đều đặn vào thư viện Quân Đội, loay hoay viết hồi ký, những lúc chán quá ông làm cả thơ. Năm rồi, tôi gom bản thảo lại in thành một tập mỏng để kỷ niệm, mua giấy phép của nhà xuất bản Hội Nhà Văn. Thơ ông, giống thơ của các đồng chí thế hệ ông, vừa ước lệ vừa sáo rỗng. Duy có bài khóc anh cả tôi thì giọng lạ, đầy ân hận xót xa. Nhà vắng hoe. Ngoài giờ đi làm loăng quăng, Hạnh trốn vào buồng khóa kỹ cửa. Tất nhiên đã đến nước ấy thì không có gì làm tôi có thể lùi. Tôi vừa thi xong học kỳ một lớp 12, bài vở cuối cấp chất cao như núi. Tôi đăng ký thi trường Ngoại Thương và luyện ở lò của thầy Toàn “ngố”, danh gia khét tiếng luyện thi đại học chỗ gần Ngã Tư Sở. Thầy Toàn khẳng định là dù chủ quan thì điểm thi của tôi cũng không thể dưới 24. Những năm ấy chỉ cần trên dưới hai mươi điểm là đỗ cao đại học. Đầu tôi lơ mơ trống rỗng, không một tối nào tôi không vật vờ trước cửa phòng Hạnh ở tầng hai, vốn là phòng cũ của chị tôi. Phòng bố mẹ tôi là ở tầng một, tôi cũng ở dưới kế đó. Chuông đồng hồ điểm mười một giờ, tôi cầm quyển sách, là Toán, là Lý, là New Concept, đếch biết, luẩn quẩn rừng rực đi lên đi xuống cầu thang rồi lò dò dọc theo hành lang. Qua cửa phòng Hạnh, tôi run run đứng, nghiến răng cầm chặt nắm đấm cửa nhè nhẹ xoay. Nó cứng ngắc, bị khoá bên trong. Tôi áp tai vào cánh cửa lim, có tiếng tim đập thùm thụp, không rõ là của tôi hay của Hạnh. Đã vài lần tôi gặp mẹ tôi ở đầu chân cầu thang, bà nhìn tôi lo lắng, bà sợ tôi học nhiều phát điên. Nhưng cứ hễ bà hỏi, con uống thêm sữa hay nước cam không là tôi bẳn. Trừ bố tôi, tôi sẵn sàng cáu với bất cứ ai. Mặt tôi hốc hác gầy rộc, chẳng đọc được chữ nào. Ở trường, cũng vô số thằng học cuối cấp mặt mũi trông giống hệt tôi, chẳng biết là do sức ép thi cử hay do yêu em họ.

          Hạnh xin phép bố mẹ tôi về quê với cớ là đi tìm việc, ở Hà Nội đi kiếm việc khó quá. Nàng đã tốt nghiệp được năm rưỡi, lăng nhăng chuyển chỗ làm qua hai ba cơ quan. Tôi biết em sẽ không lên nữa, tôi nấp sau rèm cửa sổ nhìn Hạnh kéo cái vali có bánh xe khuất dần. Tôi yêu em, tôi căm thù em, tôi sẽ giết em. Thế rồi, được một tuần, bố tôi gọi Hạnh lên. Ông xin cho Hạnh vào làm thử ở Bộ Thương Mại, một công việc sẽ rất hợp với cháu, kiểm tra mẫu mã hàng may mặc xuất khẩu của mấy tổng công ty Dệt. Tôi làm mặt lạnh không thèm nhìn em. Cơm chiều tôi lấy cớ mệt, bắt con Chiền “lùn” đem vào tận phòng. Mà tôi cũng chẳng thiết ăn gì, tôi nhai cơm như nhai rơm, hai hố mắt hõm xuống như hai hố lửa. Đêm tôi vẫn vật vờ cả tầng một lẫn tầng hai. Và cứ khoảng 5 giờ chiều tan tầm là tôi nóng ruột nôn nao. Tôi lấy xe Peugeot 104 phóng tới đầu ngã tư Ngô Quyền Hai Bà Trưng rình nàng tan làm. Có một lần Hạnh tan cùng một thằng cha cao gầy, nàng trông thấy tôi. Tôi quay vội xe, ngã sấp mặt xuống vỉa hè. Tôi chui vào phòng tôi, mơ hồ, như thấy ai nhè nhẹ gõ cửa. Tôi sẽ không mở bất kỳ cánh cửa nào nữa. Nước mắt tôi chứa chan ướt đẫm gối. May mà hồi ấy có thằng Kun, nó hay chập chững mò sang phòng tôi đòi ngủ cùng. Đêm muộn, tôi lấy hai tay siết Thái Dương, cố gắng học. Bã bời, tôi chập chờn ngủ liên miên mộng tinh. Với tình hình này để có điểm sàn 21 cũng là chuyện thiên nan vạn nan.

          Để quên hẳn Hạnh, tôi quyết định đến nhà thằng Hùng “dế” ở Hàng Bông học thêm. Thằng Hùng cao hơn tôi cả một cái đầu, lông ở chim nó rậm rạp dài. Mẹ nó buôn đồ điện tử và duy nhất có nó là con trai. Hai bà chị trên nó ế chồng, kén quá nên đang chổng mông gào, sợ nó hơn sợ cọp. Thằng Hùng thông minh kỳ lạ, nó học môn gì cũng dễ. Thế nhưng, với cái tính ham chơi chóng chán, nó chỉ xếp ở giừa giữa lớp. Hết tiểu học, tôi ngồi cùng bàn với nó từ lớp Sáu. Còn vào trung học phổ thông, nó học Việt Đức, tôi học Chu Văn An. Như thế kể cũng là thân. Thằng Hùng quen thói được chiều, nghĩ gì nói lấy nên bị các thầy cô ghét và nó cũng ghét các thầy các cô. Năm lớp Tám, thầy Chinh dạy Vật Lý giảng về lực ma sát. Thầy Chinh mồm hơi méo, còn thầy Hưng dạy Sinh Vật tay trái hơi bị khoèo. Thằng Hùng có làm bài tứ tuyệt vịnh hai thầy. Hưng “khoèo” Chinh “méo” đôi bạn thân. Nổi tiếng toàn trường dạy như thần. Chinh “méo” đi xe thì huýt sáo. Hưng “khoèo” ngồi sau rung tay chân. Bài thơ được nhiều đứa thuộc nhưng chỉ dám truyền mồm đọc thầm. Nó quyến rũ đến mức, khi cả bọn con trai rủ nhau lên Quảng Bá bơi. Tới giữa hồ, chợt như để xả ẩn ức, bỗng đồng thanh cùng đọc toáng lên. Hôm ấy thầy Chinh giải thích về tầm quan trọng của lực ma sát. Đại loại, nếu không có lực ma sát thì mọi vật cứ trôi tuồn tuột, kể cả đang mặc quần áo. Thằng Hùng mơ màng nghe, nó khát khao nhìn sang con Dung “đít to” ngồi bàn dưới, ngầm mong “em” Dung của nó thường xuyên rơi vào trường lực này. Rồi như mụ mị vô thức, nó giơ tay xin phát biểu. “Thưa thầy, thế các vật méo có trôi được không ạ”. Thầy Chinh suýt văng tục, nhưng cố kiềm chế quát. “Thằng Hùng ‘dế’, ngồi xuống, ba con không”. Mẹ thầy Chinh là bà Cả Đích đạo gốc, bán bún ốc nổi tiếng phố Nhà Chung. Bà cứ gặp ăn mày là cho một bát canh ốc cay xè khách để thừa, tú ụ trộn cơm nguội. Lúc thầy Chinh “méo” cáu nhất thường cho bọn học dốt liền tù tì ba con một. Thầy Chinh giống tính mẹ nên cũng thương học trò. Cuối học kỳ, thầy tự động ân xá xóa đi hai con. Tôi chẳng nhớ thằng Hùng có được giảm án hay không, chỉ biết tổng kết cuối năm, Lý của nó chừng sáu phẩy mấy.

          Mẹ thằng Hùng rất hãnh diện khi thấy nó chơi thân với tôi, vừa con quan lại vừa học giỏi. Mẹ nó làm con dâu phố cổ, đảm đang buôn bán, nấu ăn ngon tuyệt vời. Mẹ thằng Hùng tuy chưa học hết lớp Hai, nhưng biết trọng chữ, huy động tổng lực cả nhà yểm trợ cho nó thi đỗ vào Bách Khoa. Tôi với nó được dành riêng một phòng trên gác ba, có quạt Sony để hẹn giờ. Chúng tôi khóa chặt cửa buồng xem video “con heo”. Cả tôi và nó đều thích phim “xếch” Á. Tôi nghiến răng, cuồng loạn nghĩ tới Hạnh. Còn thằng Hùng, mắt nhắm tịt, vào đoạn cao trào nó trắng trợn tụt quần xóc lọ. Mồm nó chảy dãi rên ư ử. Và khi nó phọt ra thì bao giờ nó cũng phải tiện tay đập một cái gì đó. Hôm nó đập vỡ cái lọ lục bình thì hai chị nó đang trông hàng dưới tầng một hốt hoảng chạy lên, gõ cửa lo lắng đòi vào. Thằng Hùng tồng ngồng quấn chăn đơn, mồm sủi bọt miễn cuỡng phải mở cửa. Hôm sau, mẹ nó gọi chúng tôi xuống quầy. “Các con học nhiều quá, điên mất. Chẳng thi đỗ thì đừng chứ thế này mẹ sợ lắm”. Tất cả những bà mẹ hơi dư tiền ở phố cổ đều sợ con mình học nhiều bị thành dở hơi. Có lẽ đây là nguyên nhân chính làm cho đám Hà Nội gốc có rất ít giáo sư tiến sĩ. Thằng Hùng bảo, tao với mày phải đi kiếm một con “phò” rồi dẫn về nhà mày. Nhà mày vừa vắng vừa rộng đéo ai để ý. Chứ cứ thụt tay kiểu này tao tức bụng chết mất.

          Hóa ra hai thằng mới mười sáu tuổi đi kiếm phò ở cái thời chưa có internet là chuyện không hề đơn giản. Hôm đầu, bọn tôi lượn quanh hồ Hale. Thằng Hùng đèo tôi trên cái “cub” 50 mới cáu cạnh màu ốc bươu. Hồ Hale đầy khả nghi, nhan nhản bọn ma cô lưu manh, nhưng đám nghiện hút thì chưa đông như bây giờ. Sẽ rất nguy hiểm cho hai thằng nhóc công tử phẳng phiu, tôi và thằng Hùng “dế” đủ thông minh để biết mà “té” sớm. Cách đây vài tháng túng tiền, thằng Hùng rủ tôi ra chợ Giời bán quả Le vít mỏ đỏ, quà tặng sinh nhật từ chị nó. Bọn buôn quần bò vừa trả rẻ vừa trắng trợn trấn lột. Không những thế, thằng Hùng tiếc của giằng co còn suýt bị ăn cả cái cối Tầu vào mặt. Hôm sau, bọn tôi đạp chiếc “Thống Nhất” cọc cạnh, chầm chậm men dọc đường Nguyễn Du. Khác với lời đồn, suốt hai bên vỉa hè quanh hồ vắng sạch đĩ điếm. Mãi thì cũng thấy chỗ bóng sẫm cây to gần ra rạp xiếc Trung ương, nơi đèn đường bị cố tình ném vỡ, thấp thoáng một nàng. Thằng Hùng lượn sát vào, chợt nghe tiếng cằn nhằn. “Đã bảo rút ngay ra để người ta còn đi tiểu thì lại còn cố”. Rồi một “nàng” lộ nửa người từ sau bức tường xây dở bước hẳn ra. “Nàng” không thèm nhìn bọn tôi, sỗ sàng tụt quần tồ tồ đái bậy. Nản quá. Thằng Hùng vẫn không bỏ cuộc, nó quyết định đi bộ. Hai thằng phì phèo thuốc, mặt cố giữ vẻ nghênh ngang lạnh. Có một hàng nước chè rong sập sệ với cái đèn dầu lập loè nham hiểm. Chủ quán là một thiếu phụ răng vẩu mặt đanh quắt, ế khách ngồi một mình. Thằng Hùng gọi hai chè chén, đệm một câu rất tục để tăng độ côn đồ, rồi ngậm lệch điếu “ba số” sành sỏi hỏi.

“Có hàng mới không”.

Thiếu phụ trắng dã nhìn, ngấm ngầm định dạng hai thằng nhóc ở loại gì, liếc rất nhanh cái dây chuyền ba chỉ lủng lẳng ở cổ mà thằng Hùng quên cất ở nhà, rồi buông thõng, mồm thối không thể tả.

“Sắp mùng một tháng năm. Cớm quây nhiều, bọn nó dạt hết rồi”.

“Thế không còn hàng nào sót thật à”.

Câu hỏi với vát kiểu trẻ con làm thiếu phụ thay đổi thái độ, khẽ nhếch mép cười khẩy.

“Còn, vừa bán trinh tháng trước nhé, ngon hết sẩy”.

Thằng Hùng huýt sáo, lại văng tục. Thiếu phụ chìa gói “Héro” mời hai người hùng.

“Bao nhiêu”.

“Giá chát đấy. Đi dù thì hai sọi”.

Thằng Hùng làm vẻ cò kè, nó có biết giá nào vào giá nào đâu. Túi nó có một xấp tiền, hôm trước nó rút tủ trộm của mẹ nó tờ 50 đồng xanh cốm. Khi đi ngang Cửa Nam, nó cẩn thận mua một bao “555” để đổi tiền lẻ. Năm 1987, nhà thơ Tố Hữu lên phó thủ tướng, nghĩ ra “chiêu” bù giá vào lương, mặc dù sau một năm đổi tiền lạm phát phi mã nhưng tờ 50 đồng vẫn cao giá kinh khủng. Con mụ bán thuốc lá đầu đường, gần như vét hết “bỉm” mới đủ tiền trả lại. Thằng Hùng rít dài một hơi “Héro”, thuốc nặng, nó ứa nước mắt cố ghìm ho.

“Bọn tôi có vòm muốn đi qua đêm”.

“Thôi xin hai bố. Con sợ mấy bố sinh viên lắm. Đi mặc cả thì có hai. Lúc lôi con người ta về thì gầm giường nấp thêm một rổ”.

“Đi dù” là một thuật ngữ thắng lợi phẩm mang từ bọn ngụy miền Nam ra, còn miền Bắc gọi là “tàu nhanh”. Thằng Hùng ô kê. Không điện thoại di động, cũng không có giao liên, chẳng hiểu thiếu phụ xi nhan thế quái nào mà chừng năm phút sau, một con phò xuất hiện. Tôi rùng mình, “nàng” trông giống hệt như chị em song sinh với thiếu phụ, khi nhăn nhở cười thì có vẻ đanh hơn. Ở tuổi đấy mà tháng trước vừa bán trinh, thì đạo đức đàn bà ở ta quả đáng tôn trọng. Thằng Hùng ngần ngừ. Thiếu phụ lạnh lùng nhìn đe doạ xuống bao 'Héro”, không phải ngẫu nhiên có đồ khuyến mại. Ở phía bên kia đường chợt hầm hè mấy bóng đàn ông đi dạo mát. Thằng Hùng hành sự ngay sau cây sấu có lõng bõng những vũng nồng nặc mùi khai. Đêm hồ nhiều gió nhưng ruồi nhặng vẫn bay vù vù. Tôi rùng mình, vô thức liên tiếp uống cả hai chén trà mạn đặc sệt để rồi đến nửa tháng sau vẫn mất ngủ. Thằng Hùng lóp ngóp đi từ sau gốc cây ra, mặt thằng con giời nhập nhoạng dưới ánh điện muộn trông hoang mang như thơ siêu thực, thiếu phụ bán nước hất hàm.

“Đến lượt ông đấy”.

Tôi nghẹn ngào ngắc ngứ lắc đầu.

“Chê à, hay muốn đây”.

Phía sau gốc cây sấu nheo nhéo một giọng cầu tõm.

“Còn chú nào thì vào nốt đi không ruồi nó bu”.

Khốn nạn cho thằng Hùng, không đầy bốn ngày sau nó bị “nổ ống khói”. Tôi chở nó đi tìm chỗ tiêm lanh cô xin mà sống lưng nhớp nháp toát lạnh mồ hôi. Đúng là ngu thì chết chứ bệnh tật gì.

          Tất cả những cơn cuồng điên trẻ con ở thời gian ấy Hạnh đều biết. Em hơn tôi 5 tuổi cơ mà. Em hiểu những cái nhăn nhó ở tôi, bởi đơn giản em là một thiếu nữ khoẻ mạnh. Và có thể em thương tôi. Tất cả các thiếu nữ còn trinh đều dễ xúc động và đều trong trắng. Ẩn ức nhục dục ở họ, nếu bột phát thăng hoa, đều mù lòa không vụ lợi. Chỉ đến khi trưởng thành bị số phận tính toán đẩy đi làm điếm hay làm vợ thì bọn họ mới bị bẩn thỉu tha hóa. Cứt, làm đĩ là thứ điếm ngắn hạn, còn làm vợ là thứ điếm dài hạn. Tôi một lần đã suýt lấy vợ, một cô giáo dạy văn, nên tôi ghét hôn nhân. Kể cả sau này, những lúc phóng đãng nhất tôi cũng không thể ngửi được bọn đàn bà đã có chồng. Về bản chất, bọn họ luôn sẵn sàng ngoại tình nếu như có cơ hội.

          Thi xong học kỳ 2 thì tôi ốm vật, nửa như thèm khát đuối sức nửa như cồn cào tương tư. Tôi vật vã ngủ, hai tay ghì chặt chỗ giữa hai bẹn. Hạnh nhìn qua khe cửa mà mỗi khi thằng Kun vào phòng không bao giờ khép chặt, em thấy tất. Em có yêu tôi không, chẳng biết, nhưng chắc chắn em rất lo là tôi thi trượt. Có một nghĩa vụ nào đấy như là em phải trả ơn cho nhà tôi. Tôi không biết, cho đến giờ mọi chuyện về em đều là suy diễn. Rồi một buổi chiều muộn đi học thêm toán về tôi bị nước mưa. Hạnh tan làm sớm, ngong ngóng cầm ô đứng ngoài cổng có vẻ như chờ tôi. Tôi lầm lì chui vào phòng, giấu hết mọi người, sốt run bần bật. Hạnh cầm cốc nước cam vào cùng thằng Kun, em để bàn tay mát lạnh lên trán tôi nóng bỏng.

“Khổ thân ghê”.

Nàng sai thằng Kun lẫm chẫm về phòng nàng đi tìm cặp nhiệt độ. Nàng khép chặt cửa, quay nhanh lại, để một nụ hôn thật dài lên má tôi. Rồi một nụ hôn lên mắt tôi đang vờ vịt nhắm nghiền. Rồi liên miên khắp mặt tôi. Nước mắt của Hạnh không nóng, nó mằn mặn mát. Đêm hôm ấy gần 11 giờ, vẫn sốt 38 độ rưỡi tôi vào phòng Hạnh. Cửa không khóa trong. Chúng tôi quằn quại vào nhau cho đến sáng. Người Hạnh rừng rực lây nóng từ tôi. Thân nhiệt của nàng, lúc tôi ào ạt xuất, không dưới 40 độ.

          Cái tháng trước khi thi đại học năm ấy là một thời gian tuyệt vời hạnh phúc. Hạnh ở bên tôi suốt, chăm sóc từng miếng ăn cốc nước. Em chiều tôi từng tí một, dịu dàng vô ngần, chỉ bắt tôi hứa là phải đỗ thật cao. Không hiểu sao, môn nào tôi học cũng thuận. Thày Toàn “ngố” xem tôi giải đề toán của bọn chuyên, đề thi học sinh giỏi miền Bắc, ngạc nhiên mặt cứ đần thuỗn ra. Tiếng Anh, tôi bị vấp nhất đoạn dịch ngược, thì giờ đây bỗng rầm rập trôi chảy như thằng cung văn vào nhịp ba dồn phách. Chúng tôi sờ soạng nhau suốt ngày, đến cao trào thì Hạnh nồng nhiệt chủ động. Nhà mỗi người một phòng nên chẳng ai biết cả, hai đứa chỉ đột ngột giật mình là đôi lúc ngu ngơ xuất hiện của thằng Kun. Hạnh là tổ sư của những trò đánh lạc hướng. Em khúc khích bảo riêng với tôi, đấy là bản năng của bất cứ ai phải ăn miếng cơm nhà người. Nói xong, chợt nước mắt em ứa ra. Đôi vai trần nức nở trắng trong ánh sáng nhờ nhờ. Mẹ tôi thấy Hạnh chăm tôi thì bà vui lắm. Nếu bà biết sự thật, chắc bà chết mất.

          Người ta có được quyền ngủ với em họ hay anh họ của mình không. Mãi mãi sau này và ngay từ hồi ấy, Hạnh liên miên bị dằn vặt. Tôi chưa thấy bị bao giờ. Tất nhiên sẽ là vớt vát được đạo đức, nếu chúng tôi chỉ yêu nhau thôi, yêu nhau sạch sẽ không giường chiếu. Nếu ai đấy có biết thì người ta cũng chỉ cho là một thứ bệnh hoạn. Lễ giáo phương Tây đỡ tàn bạo hơn phương Đông. Thì như Eugénie Grandet với cậu em họ Charles chẳng hạn. Nhưng chúng tôi đã làm tình với nhau, bất kể mọi chỗ, bất kể mọi nơi. Có những lần điên dại trong toalét. Có những lần mụ mị ngay bên cạnh bàn thờ gia tộc. Tất tất sẽ đồng thanh kêu đấy là tội lỗi. Nietzsche từng bảo, Ki Tô giáo bại hoại là vì nó xác định “đấu tranh với tội lỗi”. Còn Phật giáo cao hơn, chính xác hơn khi tôn trọng đúng mức thực tại “phải đấu tranh chống lại đau khổ”. Hạnh hối hận lắm, thỉnh thoảng lại vật vã khóc thầm. Tôi in ít thôi. Mọi sự sẽ là đạo đức khi người ta đê tiện chỉ nghĩ. Và mọi sự sẽ là khốn nạn khi người ta trót thực sự sống. Một kiểu sống bất kể được hay bị. “Một đức hạnh tất phải là một phát minh riêng của chúng ta. Thiết yếu thể hiện nhân cách và đề kháng riêng của chúng ta”. Tôi đang ở mộtnơi , tứ bề bị vây hãm bằng thành kiến. Một nơi hẳn không tha thứ cho những người mang bệnh giang mai như Nietzsche.

          Mùa hè năm 1992, tôi đã học hết năm thứ ba. Tôi bắt đầu thấy chán mọi thứ, đặc biệt là cái trường Ngoại Thương tôi đang học. Dạo đó tôi và Hạnh rất dễ cãi nhau, nhất là sau một lần nàng nhỡ có bầu. Nàng giấu tôi, âm thầm đến viện phụ sản và vì vội vàng Hạnh bị sót rau. Tôi vô tình thấy cái đơn thuốc kê đầy kháng sinh nàng dúi ở dưới gối. Tôi gằn giọng.

“Tại sao không bảo”.

Hạnh khóc, chưa bao giờ và cũng chẳng bao giờ tôi thấy ai khóc như thế. Tôi cau có.

“Sợ đẻ ra đứa con có đuôi à”.

“Quang Anh làm ơn đi ra ngoài đi”. Hạnh nức lên.

Tôi sập rầm cửa. Cũng có thể tôi chẳng biết gì cả. Năm ấy tôi mới hai mươi tuổi.

          Hạnh kiên quyết tránh mặt tôi, và tôi cũng cóc cần. Tôi cũng đã có bạn gái, một con bé học nhạc viện mười tám tuổi. Bố nó thổi sáo, mẹ nó đánh đàn bầu ở dàn nhạc dân tộc, nên đi Tây biểu diễn suốt. Nhà nó ở khu tập thể, đủ vắng cho hai đứa chồm chồm lên nhau suốt giờ người lớn đi làm hành chính. Nó bấm tóc “hỉ nhi”, cuồng nhiệt thích nhảy đầm, thích mua hàng hiệu, thích ăn ngon, thích những đứa ca sĩ nổi tiếng. Rồi thích blowjob. Tức là đến năm nay, 2012, sau hơn hai mươi năm bọn con gái bây giờ cũng thích y như vậy. Một buổi chiều, Hạnh bảo tôi ra một quán cà phê, đấy là buổi chiều cuối cùng của chúng tôi. Tôi làm lành và nói chuyện tôi quyết định đi Mỹ học. Những năm đó Việt Nam đang cựa quậy đổi mới nhưng đi học đại học ở Mỹ thì vẫn là chuyện khủng khiếp. Rất ngạc nhiên đấy lại là ý tưởng của bố tôi, một ông già mang vẻ cộng sản đã 72 tuổi.

“Bao giờ thì Quang Anh đi”.

Hạnh xanh xao hút thuốc nhìn trời mưa. Cho dù đã suốt ba năm rưỡi có nhau, Hạnh xưng hô với tôi vẫn kiểu ngô nghê trẻ con như buổi đầu.

“Hay là bác biết chuyện gì về Quang Anh”.

“Không, ông ấy chẳng biết cái gì đâu”.

Rồi tôi nói dài, tôi bảo là tôi không hiểu tại sao thấy chán hết mọi sự. Tôi nói hoàn toàn thật lòng không một chút giả vờ. Hạnh vừa ho vừa châm điếu thuốc mới. Đây là lần đầu tiên tôi thấy Hạnh hút thuốc.

“Sang tháng sau thì Hạnh cũng đi xa, giấy tờ lo xong hết rồi”.

“Đi đâu”.

Hạnh cúi mặt khóc, đôi vai tròn nghèn nghẹn nức nở. Tôi định cầm tay Hạnh. Hạnh giật ra. Ở chỗ đông người chúng tôi chẳng bao giờ cầm tay nhau.

          Mười ba năm sau tôi có sang Đức đi tìm Hạnh. Tôi đã phải mất nhiều công sức để biết Hạnh ở đâu. Tôi thấy Hạnh thật già và thật buồn. Nàng không có con. Chồng nàng là một kiến trúc sư tỉnh lẻ, nửa Đức nửa Thụy Sỹ, mỗi khi ngậm tẩu rít thì trông đẹp và hiền. Chúng tôi ngồi uống ba lăng nhăng ở đầu hiên nhà, xung quanh hiu quạnh là cả một bìa rừng. Tôi hỏi chồng Hạnh là tên thị trấn này nghĩa là gì. Hạnh giới thiệu tôi là con bà bác ruột và khi chồng nàng quay vào lấy thêm bia thì Hạnh bảo tôi, Quang Anh nên đi đi.

          Tôi bắt taxi đi ra ga vào lúc tám rưỡi tối muộn. Từ đây tàu hoả chạy xuống Berlin sẽ mất cả đêm. Tôi ngồi trong quán ăn ở sân ga uống mấy ly whisky chờ tàu. Xa xa, những vệt núi đen sẫm, mỏm hình như trắng tuyết, lạnh lẽo chập chùng. Tôi vùi mặt vào balô, cố ngủ gật.

Thứ Sáu, ngày 18 tháng 7 năm 2014

Ba ngôi của người (trích)

Bắt đầu màn Who's Who. Dù câu chuyện đây đó ngoài đời có, nhưng đọc vẫn có cái thú vị. Trích "Ba ngôi của người", Nguyễn Việt Hà, NXB Trẻ, 2014. 




Tôi tuyệt không hề biết cái con bé tập tọng người mẫu trượt khỏi cuộc thi tuyển vai nữ dâm đãng trong cái phim chó chết ấy lại chính là người yêu của cháu tôi. Đây là bộ phim nhựa thứ hai mà công ty tôi đầu tư. Cái phim đầu “Trai sàn và thần chết” thành công tới mức chính tôi cũng choáng. Thằng bạn học từ hồi làm master bên Virginia gọi tôi chung vốn, lành nghề buôn phim Mỹ nhập, rủ rê. Rồi đây nó cũng rủ rê cướp mất người yêu của cháu tôi. Hôm chia lãi, nó đắc ý cười nhiều làm lưỡi bị chuột rút phải đi cấp cứu, rồi thành thằng nói ngọng. Trả lời phỏng vấn cho một tờ lá cải, tất nhiên không được đăng, nó bảo điện ảnh của nước ta như “nồn”. Phim lần trước tôi góp 50/50, còn lần này thì tôi cũng biết vài mánh rồi nên quyết định bỏ hai phần ba vốn. Kịch bản bám chặt thị trường, tạm có tên là “Hot girl nổi điên” do một thằng xuất thân tấu hài chấp bút. Thằng tấu hài cộng tác với một thiếu phụ sồn sồn, chuyên viết phóng sự hồi hộp gay cấn cờ bạc đĩ điếm vũ trường và một con bé gầy gò ế chồng sở trường phỏng vấn chọc ngoáy các ngôi sao showbiz. Cả hai con kền kền này đều khét tiếng là hung thần của giới kinh doanh giải trí vì tài năng thóc mách lôi chuyện kín của bọn ca sĩ diễn viên. Rồi đây một trong hai nàng bị đi tù, tội danh là “vu khống”, bởi chọc ngoáy đúng vào đời tư một nữ ca sĩ sắp thành con dâu của một ông tướng. Tôi ghê tởm khi phải đọc duyệt scenario nhưng biết sẽ là một thứ cực kỳ ăn khách. Nó có cái ồn ào vui tình huống của vỉa hè Sài Gòn, pha thêm rất nhiều những “xen” hung hăng đấm đá lẫn lộn quyến rũ cởi truồng. Đã thế, thằng tấu hài còn biết cách ăn cắp rất khéo vô vàn chi tiết đắt của các phim Hollywood. Về ăn cắp vặt thì người mình là tổ sư. Và quan trọng nhất nó xác định được rõ ràng đối tượng khán giả, đó là bọn “tin tin” nông nổi đầu đất của hôm nay. Bọn này hồi ỉa bô thì xem lăng nhăng hoạt hình, lớn hơn tí nữa thì cắm đầu vào truyện tranh. Tới khi hạ bộ lơ thơ lông thì há hốc mồm đần độn cười, say mê cặp danh hề Xuân Bắc Tự Long. Còn nghe Mr. Đàm nức nở, thì nước mắt nước mũi lã chã. Đại loại, ngu như một con milu.

          Tôi quyết định đổ vào phim đấy 12 tỷ, chiến dịch PR bắt đầu ngay từ vòng sơ loại rùm beng diễn viên. Hôm casting thế quái nào tôi lại đến. Cũng có thể mấy hôm trước tôi vô tình liếc qua cái đống CV có dán ảnh quá khổ 6x12 lộn xộn chất cao như núi, tôi nhang nhác thấy những nét chân chất nồng nàn nửa quê nửa tỉnh rất đặc trưng cho mối tình đầu của tôi. Hình như tôi vẫn chưa quên được Hạnh, tôi vẫn cồn cào thèm nhớ em. Mưa đầu mùa ở Hà Nội là thời gian bắt đầu chúng tôi yêu nhau, yêu nhau thật bằng xương bằng thịt. Em quyến rũ tôi hay tôi quyến rũ em, bởi lúc ấy tôi chỉ là thằng nhóc mười sáu tuổi. Hơn nữa, vào khoảng cữ này của hai mươi năm trước, Hạnh quyết định vĩnh viễn xa tôi.

          Căn phòng rộng chừng 70 mét vuông ở tầng ba, được thuê lại từ bọn cho thuê váy áo cưới được liều lĩnh gọi là studio, chật nghẹt đám nhóc mười tám đôi mươi. Tôi đến hơi trễ, lúc bất lực chen qua tầng một tôi đành phải gọi con bé Hiền giám đốc điều hành sản xuất trưởng ban tổ chức cuộc thi, nhân viên của tôi. Nó quá ngạc nhiên, lập tức cử hai thằng cao mét chín đồng phục loang lổ lính dù, một trước một sau mở đường cho tôi vào. Bọn trẻ bây giờ tồn tại bằng ồn ào truyền thông, nhất là đám hừng hực nhà quê đang tìm việc. Truyền hình quảng cáo chương trình thi tuyển diễn viên bằng clip 45 giây. Một Limousine Chrysler 300c chở đoàn sẽ là làm phim chạy ven bãi biển cỡ như Bali hay Phuket thẳng tiến tới bữa tiệc đầy hự tôm hùm. Con bé Hiền tinh quái còn tiếp thị trên báo giấy báo mạng mấy chiêu nhái kiểu bọn thi ca sĩ “ai đồ” và người mẫu “nếc tóp mo đồ”. Bọn trẻ phát điên kéo nhau xếp hàng đôi nộp lý lịch trích ngang. Một thế hệ rỗng tuếch vô đạo không lý tưởng, nhỏ dãi nhảy chồm chồm trước tiện nghi vật chất. Mà bình tĩnh sao được khi bọn nhà đài tưởng tượng hộ cho cái cảnh thiên đường. Hôm qua còn chân đất mắt toét nói ngọng, hôm sau đã nõn nà mặc đồ hiệu văng hê lô cưỡi du thuyền. Thằng đạo diễn tóc đuôi gà rất tự hào với nickname “khùng” hớn hở mời tôi ngồi vào chính giữa ban giám khảo. Tôi ừ, với điều kiện không được giới thiệu tôi là ai. Tôi nhấp một ngụm to nước lọc, tò mò muốn xem bọn thiếu nữ bây giờ “nổi điên” để thành “hot girl” như thế nào.

          Giám đốc điều hành phần phim phọt của công ty tôi đã hơn ba mươi tuổi xấu gái chưa chồng nên đương nhiên sẽ tốt nghiệp Harvard về. Nó thô bạo bảo tay diễn viên đẹp giai vào vai giám khảo là Sạcly Trần hay Nguyễn gì đó, ngồi dịch ra để lấy chỗ cho tôi. Tất cả những đứa học giỏi chưa chồng mà lại tên là Hiền thì đều đại ác. Thằng đẹp giai chắc tủi thân lắm nhưng đành miễn cưỡng nhấc mông, mặt cao đạo nhăn nhó như bọn đương quan chức bị báo chí phát hiện mua nhầm phải bằng giả. Con bé Hiền kệ mẹ nó, hỏi tôi có muốn làm một ly whisky không. Tôi giữ hòa khí, lắc đầu. Thằng Sạcly quay sang làu bàu, nhỏ to nửa như phân trần nửa như ca thán với nữ giám khảo bên cạnh. Nàng này thì tôi biết, đã có một thời là ngôi sao rực sáng của điện ảnh phía Bắc. Cũng như nền điện ảnh mậu dịch quốc doanh, đã bất tài lại còn cao đạo, nàng đang chìm dần chìm dần, cố bồng bềnh mặt bằng vài phim truyền hình xoen xoét những con dâu chửi nhau với mẹ chồng. Ngôi sao giờ đây không còn cánh, núc ních tròn xoe toàn mỡ đốt thuốc liên tục. Tôi cũng châm thuốc hút. Cả bốn đứa giám khảo đều xuất thân diễn viên, ngay cả thằng đạo diễn cũng xuất xứ là công nhân nói, vậy lấy đâu ra trí tuệ. Con bé Hiền liếc nhanh tôi, rồi ghé tai thì thầm.

  “Sếp phải thể tất chứ. Thì đây là casting diễn viên mà”.

  Tôi trả lương con bé Hiền một tháng tròm trèm ba nghìn đô Mỹ, nó thông minh đáng giá từng xu.

          Tôi chẳng buồn nhớ cũng như chẳng buồn kể về cái cuộc thi tuyển lố bịch xuẩn ngốc mà bọn trẻ bực tức đã giăng clip quay trộm lên đầy mạng, nếu như không có Mộc Miên. Em làm tôi khe khẽ choáng với vẻ ngoài cực kỳ trong trắng thiếu nữ nhưng lúc đi lúc đứng lại đẫm đầy nhục dục đàn bà. Áo sơ mi thụng bỏ lơi cúc phập phồng ngực, rất có gu với cái quần tất xanh đen bó chặt cặp đùi dài. Hồi Hạnh học năm cuối, vì chiều tôi hay cố tình khiêu khích tôi, cứ mặc đi mặc lại nhang nhác một kiểu này. Ngôi sao cụt cánh ra đề rất chi là ngu.

  “Em hãy tưởng tượng là em vừa mỏi mệt đi diễn về. Khi mở cửa buồng ngủ thì thấy chồng em đang nằm trên giường với một cô gái khác”.

Đúng là cái ám ảnh của đời thực đã khoét sâu vào bộ nhớ của minh tinh cánh cụt. Tôi đã đọc đâu đó một trang báo mạng mang tên là con sâu cái kiến hay là tằm là bướm gì đấy, có bài viết nửa kín nửa hở về đời tư của minh tinh. Thằng chồng hành nghề họa sĩ thiết kế cùng đoàn, bị bắt quả tang khi đang lõa lồ trong phòng ngủ với một nữ đồng nghiệp, bạn nối khố của nàng. Con khốn nạn kia cứ tưởng nối khố là phải chung khố. Khổ thân, thù dai như thế sao lúc ấy không cắt mẹ cái của nợ của thằng chó đi. Chỗ đấy có ưu điểm là rất thuận tiện cầm, và chưa kể, cái đấy bị cắt thì cũng không quá nguy hiểm. Báo chí tuần nào chẳng đăng tin. Các bác sĩ khả kính ở học viện quân y khẳng định, nối cái đấy dễ hơn nối khố. Đấy là chưa kể có đứa ngây thơ như thằng Đông quê “thái lọ” học cùng tôi. Năm thứ hai lúc vỡ tình, thằng Đông có nghẹn ngào lẩy “hai sắc hoa tigôn”. Nếu biết rằng mai em lấy chồng. Anh về cắt cặc thế là xong. Bọn cùng lớp thương thằng ngu ấy quá có họa thêm.Những tưởng ngày mai nó mọc lại. Ai ngờ chờ mãi cũng như không. Còn bây giờ, cuộc ly hôn đã gần sáu năm rồi mà minh tinh vẫn không quên. Freud tiên sinh dạy, ở những nghệ sĩ lớn, các đau đớn ám ảnh thường ẩn ức rồi bất chợt thăng hoa thành vấn nạn nghệ thuật. Hình như ẩn ức của nàng hôm nay đã xót xa thăng hoa.

          Mộc Miên diễn xuất rất tệ, có lẽ do xem quá nhiều phim Việt trên tivi. Em nghiến răng nhíu mày, vung chân vung tay đập phá. Trước em, đã có một con bé nói ngọng giọng Hải Dương vú quả mướp, hung hăng miêu tả nỗi đau bằng cách tự vả đôm đốp vào má mình. Em có vẻ còn nguy hiểm hơn. Tôi thật sự hoảng hốt khi Mộc Miên vớ ấm chè đang để trước mặt tôi. Thằng đạo diễn chánh chủ khảo rụng rời tóc đuôi gà hoa tay xì tốp, chắc nó đã tích lũy được nhiều thê thảm kinh nghiệm trên phim trường lúc bọn diễn viên được yêu cầu xuất thần hoá thân bỗng lên đồng tát cho vào mặt. Thiên hạ đồn rằng, đã là đạo diễn tài năng yêu nghề thì phải gẫy hết cả răng lẫn lợi. Không phải ngẫu nhiên mà tiền bảo hiểm thân thể cho đạo diễn ở ta giá suýt soát ngang bằng với võ sĩ đấm bốc. Tôi nhìn sâu vào mồm thằng đạo diễn nhân lúc nó mải giảng giải cho Mộc Miên về cách tiết chế cảm xúc, làm thế nào mà vừa bùng nổ như hỏa diệm sơn lại vẫn lạnh lẽo như núi băng Nam cực. Hai răng cửa thằng này đều sứt, chứng tỏ nó là một đạo diễn tâm huyết với nghề. Điện ảnh ở ta lụn bại chắc là do có quá nhiều những đạo diễn răng lợi đầy đủ.

          Đến lượt thằng Sạcly ra đề, đã đẹp giai lại còn mặc áo “bo đì” ngồn ngộn như thế, thể nào mà chẳng hỏi về đồng tính. Bỏ mẹ, nó hỏi thật.
“Em nồng nàn yêu một người con trai được gần ba năm. Bỗng một ngày em mỏi mệt đi làm về, thì thấy anh ấy đang ở trên giường với một người đàn ông khác. Hãy diễn tả tâm trạng lúc ấy của em”.

  Tất nhiên lại nghiến răng lại mím môi lại khóc lóc. Ra đề như vậy thì đến cỡ đại tổ sư Jodie Foster cũng phải câm lặng như cừu. Hai giám khảo còn lại không hẳn ngẫu nhiên đều chốc mép, cũng thăng hoa trên nỗi đau của riêng mình, tiếp tục hỏi tương tự như vậy. Thích thủ dâm đến thế nên bọn nghệ sĩ hay bị bệnh tay chân miệng. Tới lượt một nàng thành danh là biên kịch có biết làm thơ. Ngày xưa nàng là diễn viên Tuồng, còn ngày nay vừa hành nghề đầu nậu kịch bản truyền hình vừa kiêm cò đất, chuyên buôn đi bán lại mấy căn hộ chung cư cao cấp. Gần đây nàng cụt vốn vì liên tiếp bị ba trung tâm sàn giao dịch bất động sản lừa. Nàng the thé hỏi với ngữ điệu của người sắp chết đuối.

  “Em hãy tưởng tượng là mình luôn nhân văn tin người. Em đem hết vốn liếng đầu tư vào một căn nhà mặt tiền phố cổ. Thế nhưng người ta đã nói dối em, căn nhà hoàn toàn chưa có sổ đỏ đang bị tranh chấp dữ dội. Hãy diễn tả sự tuyệt vọng ở em”.

Mộc Miên đương nhiên bị trượt, tổng số điểm của em quá thấp. Nàng giám khảo “sổ đỏ” chân thành thở dài, cho em năm cộng trên thang mười. Cả bốn đứa giám khảo đều ngu ngốc bằng nhau, đều không nhận ra ở em có cái chất “điên” khao khát muốn được làm nghề. Cái phim sắp tới không cần lắm bọn có tài, chỉ cần sự nồng nhiệt. Đến giờ giải lao, tôi vẫy tay gọi giám đốc Hiền.

  “Anh chấm con bé thí sinh số 19”.

  “Sếp à, nó chỉ được hai mươi mốt điểm”. Giám đốc phim của tôi tủm tỉm. “Ngoài kia còn mấy con bé trong trắng xếch xi lắm”.

  “Anh về đây. Anh vẫn chấm nó. Cho nó số điện thoại cầm tay của anh”.

  Thằng tóc đuôi gà luẩn quẩn cạnh tôi hóng hớt nghe lỏm. Phim này là phim nhựa đầu tay của nó. Suốt từ hôm nó biết tôi chọn nó làm đạo diễn, nó thăng hoa bay bay như Tôn Ngộ Không đang cân đẩu vân. Tôi đã xem bộ phim truyền hình mười lăm tập nó làm. Trước đó, tôi xem một bộ phim ngắn giả nhựa nó tranh giải nhưng trượt. Nó rất “khùng” và có tài năng. Một thứ tài năng của thời này, không thích tuẫn tiết vì nghệ thuật và sẵn sàng bán mình, tất nhiên là giá phải cực cao. Cái kịch bản lần này như là được viết riêng cho nó. Tôi đã xem trộm những phần nó sửa trên kịch bản rồi tâm huyết thêm vào. Tuyệt vời là sáng tạo. Nó quần quật thức đêm ròng rã gần hai tháng. Cái đuôi gà của nó xác xơ hẳn đi, âm thầm lẫn vào đó là mấy sợi bạc. Chưa nói đến chót vót nghệ thuật, chỉ cần mới là giải trí trò chơi thì sáng tạo luôn là nguyên lý khởi thủy. Đã thế, phim ảnh cũng giống hệt như bóng đá, không có người xem là vô nghĩa. Đừng so với văn chương hay hội hoạ. Tính thể loại khác nhau thì feedback khác nhau. Mấy đạo diễn già nhạt hoét làm ra vẻ “gạo cội”, hồi xưa suýt đúp khi học ở Vờ Gích, bây giờ trịch thượng ra mặt khinh bỉ phim thương mại của những đạo diễn trẻ. Mấy tay ấy không thể hiểu một điều đơn giản rằng, ở sự phát triển lành mạnh, muốn chứng minh cái kia là dở thì cái của mình phải hay đã. Còn không, chỉ là sự đố kỵ bì tỵ đầy nhỏ mọn tiểu khí. Cái Hiền quay sang nói nhỏ với tóc đuôi gà và thằng đạo diễn cố tình nói to cho tôi đủ nghe.

  “Sếp của em tinh mắt thật. Thí sinh đó hoàn toàn hợp vai con Lan “cave”. Phụ thôi, nhưng so thời lượng với các vai phụ khác thì thế cũng là nhiều. Một vai diễn có thân phận”.

  Bố ông, ông láu lắm, điên đếch gì mày. Có điều thằng này nói đúng. Ở Việt Nam, các nữ diễn viên cả chuyên lẫn không chuyên khi vào vai cave đều “hạp”. Thằng Sạcly và minh tinh cụt cánh tự ái thực sự. Hai đứa làu bàu với nàng “sổ đỏ” những là trọc phú những là ngoại đạo lại thích tỏ vẻ chuyên môn. Tôi điếc, hy vọng thù lao phong bì sẽ giảm nhiệt mấy bầu máu nóng đang chính trực sôi sùng sục. Tôi đứng lên ra về, vẫn phải đi cùng hai thằng vệ sĩ mét chín. Đã gần ăn trưa mà đám nhóc càng ngày càng đông. Chỉ số hoang tưởng của bọn trẻ Việt chắc phải top 3 thế giới. Cái Hiền mồ hôi mồ kê đuổi theo phía sau, nó hổn hển.

  “Thí sinh số 19 muốn gặp anh bất cứ lúc nào. Sếp cho nó cái hẹn để nó phấn khởi”.

  “Được. Trưa mai, nhà hàng Nhật, Mai Hắc Đế”.

  Sáng ngày kia tôi phải bay Phú Quốc, thằng Thông con ông Thống bộ trưởng rủ tôi cùng làm thịt một cái ngân hàng nhỏ. Hai bố con nhà đó cùng ngành, nên có tốn kém cắn răng rửa tiền thì bắt buộc phải có người thứ ba. Còn sang tuần, tôi phải đi Mỹ bốn ngày, theo đoàn thương gia tháp tùng thủ tướng. Lịch của tôi tràn ngập bận.

        Mộc Miên đến đúng hẹn, đúng từng phút luôn. Phụ nữ khi đã ham muốn quyết liệt thì thường thăng hoa chính xác. Nàng mặc một cái đầm nhã, nhái hàng hiệu. Cổ khoét rộng lộ ngấn ngực vừa phải. Ở chỗ khe trũng mịn màng lộ một mặt dây chuyền vàng Tây đì zai chữ V&M rất tinh tế. Mãi mãi sau này tôi mới biết đấy là quà tặng của thằng Kun. Ôi, cháu tôi, cứt thật.

  “Em không biết ăn mấy món này đâu”.

  Một câu hơi quê nhưng giọng thì thật Hà Nội. Có lẽ nhà nàng ở ngoại thành, đại loại là quanh khu tập thể Thanh Xuân gần gần Hà Đông chẳng hạn.

  “Anh cũng ghét đồ uống Nhật nhưng chẳng biết chọn quán nào”.

  Bọn Nhật lùn bày biện thức ăn thì điệu đà chẳng kém gì người Huế. Sashimi xanh xanh đỏ đỏ xếp đầy một khay giả sơn mài hình dáng như cái thuyền. Tôi không uống sake, lấy một chai Ballantines 17, rót cho em ngang suất của tôi. Mộc Miên vô thức cầm chai whisky, vẻ buốt nhói chợt như nhớ về một cái gì đó. Đàn bà khi phải ân hận thì trông cũng rất dâm.

  “Em xem phim “Sắc, Giới” chưa”.

  “Em xem cả “Brokeback Mountain” rồi. Còn “Lust, Caution” thì em thích trường đoạn Thang Duy hát ở cái nhà hàng giống như thế này cho cái ông người tình”.

  “Thằng ấy là trùm cớm, còn anh là thằng trùm tội phạm”.
Nàng cười hồn nhiên, thông minh lắm. Tôi thích đàn bà dày trải nghiệm nhưng ghét bọn con gái thành thạo. Tôi cảm tình em, con gái thì phải thơ nhưng đừng ngây. Ngoài biết chuyện khoe ba vòng thì phải biết dịu dàng khoe kiến thức. Nàng rất giống Hạnh của tôi.

  “Em đã từng đóng phim chưa”.

“Em cũng thử vài lần. Có một lần em suýt được vai chính nhưng cuối cùng bọn em cãi nhau”.

  “Thằng già đó chắc là đạo diễn”.

  “Không, anh ấy là biên kịch, xuất thân nhà văn”.

  “Ừm. Anh ta có vợ già và hai đứa con lít nhít bé”.

  “Sao anh biết. Hai đứa con thì không bé lắm nhưng vợ thì bằng tuổi”.

  Nàng vừa trả lời vừa chân thành ngạc nhiên, không diễn. Đàn bà còn biết ngạc nhiên là còn trong trắng.

  “Rồi thằng già đó rủ em đi nhà nghỉ”.

  Nàng nhìn tôi. Có cái gì đấy bàng hoàng khi phải đối diện với trắng trợn.

  “Anh xin lỗi, anh không muốn tò mò vào chuyện riêng tư của em. Mà thôi, thực ra câu này cũng là câu cưa gái. Anh không cưa em. Anh gặp em vì thấy em hợp với cái phim của anh”.

  Tôi rút tập kịch bản đã được ép bìa giả da để lên mặt bàn, nàng háo hức nhìn. Tôi không hiểu tại sao bọn giám khảo hôm qua không cho đám dự thi diễn xuất thẳng từ những trích đoạn ở kịch bản này. Ngu thì cũng ngu vừa vừa thôi chứ.

  “Trước khi đến gặp anh, em có hỏi một vài người về anh”.

  “Bọn nó bảo sao”.

  “Tất cả đều nói là anh ghê gớm đến khủng khiếp”.

  “Có thể tất cả cái bọn em gặp đều đang nợ tiền anh. Em đừng có nghe đài địch”.

  Nàng cười, vẻ mặt đã bớt hồi hộp. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn không biết lúc ấy nàng đã biết thằng Trần Khôi Việt là cháu của tôi không. Thằng Kun khẳng định là không. Tôi và Mộc Miên song ẩm hết gần nửa già chai Ballantines 17. Chẳng có gì sau đấy cả, vì hôm ấy càng uống bỗng dưng tôi càng buồn. Lâu lắm rồi, tôi mới da diết dằn vặt nhiều như thế. Thằng Kun bảo nhiều lúc tôi cũng sến khủng khiếp. Nếu Mộc Miên không giống Hạnh, thì hôm ấy tôi đã rủ nàng về khách sạn của tôi. Sau Hạnh, không biết bao nhiêu lần tôi đã ngủ với bao nhiêu đàn bà. Hình như Mộc Miên cũng có ý quyến rũ tôi, ngấn ngực của nàng không vô tình lắm, lồ lộ. Mà tôi cũng đếch cần các nàng nghĩ ngợi gì, có điều, tôi chưa muốn thôi. Tôi tự hứa thầm với mình, sau chuyến đi Mỹ về tôi sẽ rủ bằng được Mộc Miên đi làm tình.

Thứ Ba, ngày 15 tháng 7 năm 2014

Ba ngôi của người: Không gian và thời gian của vô cùng Hà Nội

Lời giới thiệu cho tiểu thuyết Ba ngôi của người của Nguyễn Việt Hà, NXB Trẻ, 7-2014.

Nguyễn Trương Quý

1-Không gian nhị nguyên, thời gian đa chiều

Khi tìm hiểu về một nhà văn, tôi thường chú ý đến nguồn cội hay nơi cư trú của họ. Dù viết thể loại giả tưởng đi chăng nữa, cách họ quan sát và tái hiện không gian sống xung quanh vào tác phẩm vẫn bộc lộ xuất xứ của họ. Trong nhiều trường hợp, đây lại là mảng sinh động nhất, bộc lộ cách nhìn thế giới xung quanh của người viết. Vì thế, tôi không ngạc nhiên khi Nguyễn Việt Hà trở đi trở lại con phố Nhà Chung nơi anh ở trong các tác phẩm của mình, hoặc rộng hơn một chút là những phố cổ chật hẹp gắn với Hồ Gươm, từ các tiểu thuyết Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn hay các tập tản văn rất ăn khách gần đây – Con giai phố cổ, Đàn bà uống rượu, và cuốn tiểu thuyết mới nhất này – Ba ngôi của người. Phố xá, nhà cửa, cây cối và những không gian công cộng của Hà Nội quanh mấy khu vực này dường như là sân bóng của Nguyễn Việt Hà, để anh như một tiền đạo cắm sẽ ghi bàn vào những phút quan trọng. Hình dung được quang cảnh không gian tác giả hít thở sẽ hiểu cách anh ta cho nhân vật sinh tồn ra sao.

Phố Nhà Chung đi qua nền ngôi chùa Báo Thiên xa xưa có từ thời Lý, lại cũng là nơi Nhà thờ Lớn được dựng lên, và trong quy hoạch thời Pháp, nó là một con đường nối khu 36 phố phường của người Việt với khu phố Tây. Nó lại ngay gần Hồ Gươm, trung tâm của đô thị Hà Nội hơn trăm năm qua. Nó chứng kiến những va chạm giữa thần quyền và thế quyền, “phảng phất như là có đức tin” và “chẳng cần có cái đếch gì” (lời nhân vật trong Ba ngôi của người). Mang một vai trò nhị nguyên ở nhiều khía cạnh như thế, vùng phố xá Nguyễn Việt Hà rất thông thạo này đã ảnh hưởng lên không gian trang viết của anh. Một cuốn tiểu thuyết có không gian, có chiều sâu thời gian, luôn hứa hẹn là cuốn sách tầm cỡ. Ba ngôi của người, cuốn tiểu thuyết thứ ba của Nguyễn Việt Hà, trước hết là cuốn sách của không gian và thời gian vô cùng Hà Nội.


Ba ngôi của người, tiếp nối mạch chủ đề của Cơ hội của Chúa và Khải huyền muộn, một lần nữa bóc ra những lớp đan cài phức tạp của một Hà Nội dồn dập những “sóng lớp phế hưng” trong thời gian tồn tại. Không chỉ dừng ở một Hà Nội những năm gần đây, cuốn tiểu thuyết còn tham vọng trải thời gian trên cùng mảnh đất, ngược lên 600 năm trước, thông qua 10 kiếp “luân sinh” của nhân vật chính. Những kiếp đời này tựa như những mũi khoan thăm dò thời đại đã qua, bằng những chấm phá của lớp trầm tích khảo lên mà tác giả phác thảo một đôi nét đặc thù của thời ấy – cố nhiên là thủ pháp giả lịch sử, hư cấu quyện với những trích dẫn nằm trong mạch viết, chẳng hạn những ghi chép của Hoàng Lê nhất thống chí, tạo nên một không gian xa mà gần, rất đắc dụng để một nhân vật có lí lịch đi xuyên thời gian tung hoành. “Luân sinh” là chữ Nguyễn Việt Hà tạo ra trong tiểu thuyết này, nó cố gắng tránh chữ luân hồi trong Phật giáo và tránh áp một hàm nghĩa đạo đức nào. Các nhân vật của Nguyễn Việt Hà cũng vậy, không bám vào các thang giá trị đạo đức cứng nhắc, họ linh hoạt trong ứng xử, nhiều khi có tính bản năng và tỏ ra cực mạnh về trực giác. Bảo rằng họ tốt cũng không hẳn, mà cũng khó thể nói họ là người xấu. Ở mỗi kẻ có một lương tri riêng, tự nhiên và gắng gỏi tránh sự suy đồi dưới sức ép mặt trái xã hội.

Ba ngôi của người diễn tiến ở thì hiện tại theo quá trình đứa con có tên hay biệt danh là Kun sinh năm 1982 tìm lại cha mình – kẻ yếm thế trốn đời tên Tôi – chính là nhân vật đi xuyên thời gian đã nói. Người đàn ông sinh năm 1956 này có khả năng nhớ ngẫu nhiên những gì ở các kiếp luân sinh trước, đấy là một phép lạ nhưng cũng là một gánh nặng. Gần 30 năm trước, người vợ hai mươi tuổi vì một cơn ghen đã dứt khoát chia tay bằng việc nói dối rằng mình đã phá bỏ cái thai. Tất nhiên như kiểu Nguyễn Việt Hà nói, ba người trong cuộc đều là người tử tế nên cuộc đoàn viên sẽ diễn ra. Nhưng cũng tất nhiên như lối viết Nguyễn Việt Hà, cuộc đoàn viên ấy không có màn hân hoan dung tục trào nước mắt, nó tiếp theo bằng sự biến mất của người cha, kẻ chấm dứt kiếp luân sinh thứ 10 của hắn với niềm an ủi rằng đứa con trai mình là một kẻ tử tế và sẽ còn phải trải nhiều duyên nợ với đời.

2-Sự can dự thần bí của kẻ khác

Bên cạnh mối quan hệ tam giác đó là ngôi còn lại của “người” – tay tài phiệt trẻ Quang Anh, là em mẹ của Kun, sinh ra vào giữa cuộc chiến tranh khốc liệt năm 1972. Anh ta có phải là “Các Thánh Thần” bên cạnh “Cha-Con” không, điều này là một khả năng bỏ ngỏ, nhưng Quang Anh là kẻ sống với hiện tại. Khác với Tôi hay Kun, nếu có nhớ chuyện đã rồi, anh ta không dành thời gian để dằn vặt nhiều, cho dù là vô tình phát hiện ra mình ngủ với bạn gái của cháu hay sơ sẩy trong làm ăn để thành tay trắng. Điều này ít nhiều có liên quan đến xuất thân học vấn. “Tôi” hoàn toàn là một trí thức lỡ dở, tuổi xuân nằm gần trọn trong giai đoạn chiến tranh và bao cấp, không rõ làm nghề gì, mà như nhận xét của cậu con trai họa sĩ khi gặp cha lần đầu: “Đấy là một trung niên phong độ bình thường, mặt mũi cũng bình thường, nhưng nếu nhìn thật kỹ thì có nhiều nét lạ”, thì quả thực anh ta khó nắm bắt. Kun là một họa sĩ nhiều năng lực sáng tạo vẫn đang đi tìm một cái đích, mọi suy nghĩ đều xuất phát từ trực quan thiên phú. Còn Quang Anh sinh ra trong gia đình bố hàm Thứ trưởng, có những điều kiện lý tưởng nhất, du học Mỹ, làm việc toàn hợp đồng có vốn tài chính lớn, con đường dù có lúc gập ghềnh bất trắc nhưng anh ta luôn tự tin trí tuệ của mình đang cầm lái đúng hướng.

Quang Anh có thể xem như một mẫu hình đàn ông thời thượng, một người hùng kinh tế của xã hội hiện tại. Nhưng khác với Tâm của Cơ hội của Chúa bỏ vốn để lập công xưởng sản xuất, Quang Anh là một nhà đầu cơ tài chính, gần với hình ảnh giới văn phòng cổ trắng, có vẻ sạch sẽ và đẳng cấp. Anh ta kiếm tiền từ sự chênh lệch giá trị, từ sự bần cùng hóa của những người khác. Trong mắt người đời, anh ta có cái gì đó thần bí: “Giám đốc điều hành phần phim phọt của công ty tôi đã hơn ba mươi tuổi xấu gái chưa chồng nên đương nhiên sẽ tốt nghiệp Harvard về. Nó quá ngạc nhiên, lập tức cử hai thằng cao mét chín đồng phục loang lổ lính dù, một trước một sau mở đường cho tôi vào. Nó thô bạo bảo tay diễn viên đẹp giai vào vai giám khảo là Sạcly Trần hay Nguyễn gì đó, ngồi dịch ra để lấy chỗ cho tôi. Thằng đạo diễn tóc đuôi gà rất tự hào với nickname ‘khùng’ hớn hở mời tôi ngồi vào chính giữa ban giám khảo. Tôi ừ, với điều kiện không được giới thiệu tôi là ai”. Khó mà nói anh ta có làm gì lừa ai, cũng không thể nói là anh ta thật sự tử tế. Cho dù nhân vật này có bị sa lưới pháp luật, nhưng tác giả không tiết lộ cảm xúc của anh ta khi bị bắt. Nét thần bí ở nhân vật được bảo toàn đến phút chót.

3-Một Hà Nội là nó trong sự đổi thay

Quay trở lại với khung cảnh Hà Nội thập niên thứ hai của thế kỷ này. Bi kịch của các nhân vật chính là họ nhận ra quá trình cạn kiệt niềm đam mê trong mình, như tiềm thức họ vẫn biết Hồ Gươm nông chừng một mét nước, và họ hoang mang không biết mình có đủ can đảm để nhìn một cái hồ trơ đáy, như tâm hồn bị bóc trần thô bạo. Trong quá trình sáng tác, Nguyễn Việt Hà đã soi ra những gót chân Achilles của những người sống ở Hà Nội và nặng lòng với nơi này. Nó vừa là cái nhu cầu đưa ra một tấm căn cước nhận diện cư dân “người Hà Nội”, vừa tràn ngập tâm thế lạc loài, tha hương nơi phố lớn, thể hiện rõ nét qua khả năng nhớ về những kiếp luân sinh trước của nhân vật Tôi, từ đó toát lên tâm trạng hư vô. Dù Tôi là ông hàng thịt chó tình cờ chứng kiến lễ rửa tội đầu tiên trên đất Thăng Long đời Hậu Lê hay nhà tu hành lâm cảnh không nơi nương náu lúc quân Tây Sơn của Vũ Văn Nhậm tràn vào cướp phá Bắc Thành, nhân vật này cơ bản là yếm thế, nổi trôi theo dòng đời.

Ở đây, Nguyễn Việt Hà lại có đất để thể hiện khả năng dựng lại những đoạn lịch sử theo cách của anh.

Theo đuổi đề tài lịch sử là một sự ham thích của Nguyễn Việt Hà, điều này khá nhất quán trong các tác phẩm của anh, dù là tiểu thuyết hay tạp văn. Cách Nguyễn Việt Hà tạo “hồ sơ” cho nhân vật của mình trải qua 10 kiếp luân sinh là cái cớ để anh thi triển những hiểu biết của mình về lịch sử, cái thú của kẻ trước đèn xem truyện Tây Minh, những lối phiếm dụ mang nét “chưởng”, có khi hàm súc như “chí”, có lúc lại chấm phá những nét chân dung như “liệt truyện” hay “ngẫu lục”. Anh trở về thời mạt Trần với câu chuyện nhập thế-xuất thế của đồ đệ Thuận Thành chân nhân, qua thời Lê Trung Hưng với câu chuyện Thiên chúa giáo nhập vào dân gian ra sao, thời Pháp với Ký Con, với các đồng chí của Nguyễn Thái Học… Đấy là một tham vọng phải giải quyết bằng kho dữ liệu sách đồ sộ mà anh đã đọc. Nguyễn Việt Hà có vẻ ám ảnh mạnh về những giai đoạn giao thời, những hồi mạt của các triều đại. Những thời điểm này có chung một cảm thức với không khí của ngày phán xử cuối cùng, của Tận thế, của sách Khải huyền. Trong tăm tối hỗn mang, thường có những mầm sáng trỗi dậy hi vọng.

Tất cả những việc này khiến cho hậu cảnh của các tuyến truyện được chuẩn bị kỹ càng, tạo cảm giác bề bộn của thực tại đời sống. Các nhân vật của anh rồi sẽ phải đương đầu, chống chọi hoặc yên thuận trong sự bề bộn ấy. Sự bề bộn của một mảnh đất cày đi xới lại hàng bao nhiêu tầng vật chất và tầng nhân sinh quan. Sự bề bộn của một xã hội hiện đại đang chơi vòng xoáy ốc lặp lại những vòng hoa giáp cũ. Mối tương tác giữa con người đô thị Hà Nội với xã hội họ đang sống ở đây bàng bạc màu sắc hư vô. Nhưng họ không đổ lỗi cho sự phi lý, họ có đi tìm lời giải. Bởi vậy mà các nhân vật vẫn có những mục đích sống nào đó, vẫn nhen trong lòng một ngọn lửa, một sự khao khát mà nhiều khi họ không gọi tên được.

Đó chính là sức mạnh nội tại mà mạch văn Ba ngôi của người giữ chân người đọc đi suốt cuốn tiểu thuyết, làm cho câu chuyện kể đan xen ở ba giọng, ba điểm nhìn có sự mạch lạc và nhất quán. Cho dù ba giọng kể đều có chung nét đặc trưng của giọng Nguyễn Việt Hà ở tạp văn hay các tác phẩm trước đó, nỗi dằn vặt về sự tương tác của bản thân với đám đông nhầu nhĩ mới là sự chia sẻ lớn nhất của họ. Và dĩ nhiên điều này ở mỗi người một khác. Với trung niên Tôi, “trong nhiều lần mơ ở cái hồi vẫn chưa nhìn được quá khứ, trung niên luôn thấy có một thằng bé gào gọi tên mình. Lần nào cũng là đi trong một biển người câm lặng. Rồi trung niên bị xô đẩy, chìm nghỉm vào đám đông”. Dường như đồng mộng với người cha, Kun mơ thấy mình “bé tí ti, cùng với bố lẫm chẫm đi trong một biển người không thấy mặt. Rồi tôi thấy tôi bị tuột tay. Tôi nháo nhác ngoái tìm, bố tôi đang bị đám đông xô dạt, càng lúc càng chìm sâu vào một mớ hỗn độn có màu xanh lục. Tự nhiên tôi thấy rất sợ, vì cái biển người câm lặng kia toát ra một không khí lạnh tanh hung hãn”. Tráng niên Quang Anh, kẻ chịu ảnh hưởng Nietzsche đã thẳng thừng nói với đứa cháu: “Phong khí của thời đại nó khủng khiếp lắm, không kể đám tầm thường thì ngay cả những người xuất sắc bình thường cũng bị nó đè. Cả một đám đông rùng rùng chuyển theo một hướng. Ngày xưa là vì tổ quốc vì nhân loại vì lý tưởng, còn ngày nay là vì gái vì tiền vì cá nhân hưởng thụ. Bầy đàn thôi, độc đáo cái nỗi gì… Có ban tự do cho đám đông cũng chỉ dẫn đến hỗn loạn”.

Họ là những kẻ đóng nhiều vai: là thị dân của Hà Nội năm sáu chục năm trở lại, thời đô thị này xóa đi khuôn dạng cũ để rồi lại loay hoay đi tìm lại, nên họ có độ hoang mang, bơ vơ của những kẻ lạc loài, tha hương ngay trên chính nơi chôn rau cắt rốn. Họ là trí thức, là những kẻ đọc nhiều sách, thậm chí còn viết và vẽ, những thao tác đụng chạm đến đời sống tinh thần của đô thị. Họ còn là những người nam giới trong một xã hội vẫn đậm nét đực tính – nó vừa cho họ cái lá bùa kẻ mạnh lại vừa đòi hỏi ở họ một cái vỏ cứng rắn, quyết liệt. Nhưng kẻ duy nhất sử dụng toàn diện ưu thế này là Quang Anh rồi sẽ phải trả giá trong tình trường lẫn kinh doanh. Còn Tôi – kẻ bỏ cuộc, thoái vị người gia trưởng lẫn Kun – cậu trai thời mới đầy mẫn cảm nghệ sĩ, đều không tìm thấy hạnh phúc ở khung cảnh đó.

4-“Rồi tình ngoài hư hao”

Ở cuốn tiểu thuyết mới nhất này, tình yêu vẫn là sợi dây kết nối quan trọng, nhưng mang một cảm thức có khác so với những mối tình ở Cơ hội của Chúa được in cách đây 15 năm. Tình yêu lần này dường như tự do hơn, nhưng không còn cái nôn nao của những người trẻ tuổi Hoàng-Thủy của thời trong trắng đến tội nghiệp hay cái vẻ đặc trưng của những ông bố yếm thế “xúc động, cả bữa cơm đánh đổ chén rượu mấy lần” khi mừng con đi Tây về hay bà mẹ gốc gác sơn nữ“xởi lởi… đã mắng cả ngành di truyền học bằng cách đẻ cô con gái tuyệt sắc”. Tình yêu trong Ba ngôi của người là một tình yêu bị xen vào rất nhiều những hình ảnh tiện nghi và tiền bạc. Khi thì những nhãn rượu được nhắc đến nhiều lần như một kiểu quảng cáo trá hình đầy hài hước, khi thì các tình nhân nữ đều xuất hiện bên cạnh các chỉ dấu vật chất: túi xách hàng hiệu Louis Vuitton, xe hơi, thịt chó, đồ ăn… Dường như sự hư hao của tình yêu ở đây diễn ra nhanh hơn, không phải đợi đến suốt chiều dài cuốn tiểu thuyết như Hoàng và Thủy trong Cơ hội của Chúa mà chỉ cần một đôi chương đã đồng sàng dị mộng. Người yêu của Kun - cô người mẫu Mộc Miên - ngay từ được tác giả cho xuất hiện lần đầu đã bị Kun nhìn thấy “cái khát khao muốn ở trung tâm, cái vô thức muốn thật sự thành người Hà Nội thì nàng không hề giấu”. Người phụ nữ giàu tình yêu như mẹ của Kun hay Hạnh - chị họ của Quang Anh, người yêu đầu tiên của anh ta, đều mau chóng bất hạnh. Quang Anh cuối cùng cũng gặp lại Hạnh ở châu Âu, người đàn bà cho anh ta nếm vị trái cấm đầu đời, khi nàng đã “thật già và thật buồn”, sống cùng ông chồng kiến trúc sư Đức tỉnh lẻ. Tình yêu đã là kẻ chiến bại.

Phố xá cũng vậy, không còn những con phố ngân ngấn những vệt nước mưa hay Tháp Rùa ngơ ngác nhìn Hà Nội của cuốn tiểu thuyết đầu tiên. Nơi các nhân vật chính gặp nhau khi ấy thường là khá nên thơ và giàu cảm hứng cho họ. Còn trong Ba ngôi của người, hai cha con Tôi-Kun gặp nhau ở điểm hẹn trong một tòa nhà xấu xí nhìn thẳng ra Hồ Gươm. Và ở đấy, bao cái nham nhở cằn cỗi của đô thị phơi ra cả. Tâm trạng của các nhân vật theo đó cũng tiêu cực theo. Hà Nội của thập niên thứ hai thế kỷ này đã không còn nhiều chất thơ cho nhân vật của Nguyễn Việt Hà, hay là chất thơ ấy đã lên đường hóa thân vào một hình thái khác.

Nhân vật của Nguyễn Việt Hà đậm nét cá tính tác giả, kể cả những nhân vật chỉ được phác họa sơ qua. Những con người của phố phường Hà Nội, bải hoải trong nỗi bận rộn và ồn ã trong sự biếng lười. Văn anh cũng giống như bối cảnh chính trong truyện – không gì khác ngoài Hà Nội, có sự chông chênh giữa nét tinh tế nao nao với sự thô nhám chao chát của đời sống thị dân nơi này. Nỗi bi quan được phát ngôn từ nhân vật Tôi, “Hà Nội bây giờ thì buồn quá, nó không quá nghèo nhưng vô đạo và ít học”. Nguyên cái tên Tôi cũng là một trò chơi ngôn từ đánh lừa người đọc, cho phép tác giả sử dụng thế mạnh của lối viết tản văn thông qua suy nghĩ và lời nói của nhân vật. Nó tựa như sự cộng sinh của những con phố nhỏ chật chội cũ kỹ kiểu Nhà Chung với các đại lộ mới mở bị nhân vật chính chê là đậm chất tỉnh lẻ để làm nên chân dung Hà Nội. Sự cộng sinh thể loại lẫn chủ đề khiến tác phẩm có thể đọc được ở nhiều cách tiếp cận, vì thế tôi không nghi ngờ có những cách đọc khác, đó cũng là thành công của bất cứ tác phẩm nào.

HN hè 2014
N.T.Q

Thứ Bảy, ngày 07 tháng 6 năm 2014

Mặt đất và cao xanh

Đã có người hỏi tôi, in sách có dễ không? Câu trả lời đương nhiên là vừa dễ vừa khó kèm theo tiếng thở dài của kẻ biên tập. Ở tư cách biên tập viên, thao tác với sách là “làm”, nhiều phần mệt mỏi và dài dòng, lặp đi lặp lại các công đoạn. Nhưng nhìn từ số đông người đọc (có đông thật không?) thì việc số lượng sách in ra gần đây thật phong phú và sôi động. Nó rõ ràng là một hiện thực tốt cho ngành xuất bản, và rộng ra cho cả xã hội đang dưới vòng ảnh hưởng lấn lướt của truyền thông số, bao gồm mạng và truyền hình. Dĩ nhiên, trên mạng cũng có sách điện tử, nhưng sách điện tử vẫn là một phiên bản muộn của các ấn phẩm.

Không biết được số phận sách in có giống máy ảnh phim trong tương lai không, nhưng hiện tại danh hiệu nhà văn có vẻ vẫn hấp dẫn hơn nhiều so với nghệ sĩ nhiếp ảnh. Có điều sự dễ dàng của việc xuất bản các trang viết từ mạng cũng tương tự khả năng quá tiện lợi của các máy điện thoại thông minh trong việc “sáng tác ảnh”. Người ta dùng iPhone chụp ảnh bất cứ đâu và mọi thứ, bằng vài thủ thuật chỉnh sửa là có những bức ảnh đẹp mắt mang vẻ “nghệ thuật”. Văn chương hạ giới chưa đến mức rẻ như bèo như lời than của Tản Đà gần một thế kỷ trước nhưng nó đã phải đương đầu với sự Pop hóa. Nó không còn là tháp ngà hay đền thiêng nào đó nữa, nó đã giống một cái siêu thị. Trên quầy kệ, sách kinh điển gối đầu giường phải chen vai thích cánh với sách bán chạy đọc một lần rồi bỏ. Ai chạnh lòng ở đây nhỉ?

Tác giả cũng là brand-name

Hiện tượng quá nửa Top 10 sách bán chạy Hội sách TPHCM lần 8 – Hội sách lớn nhất Việt Nam diễn ra 2 năm một lần – thuộc dòng sách của các tác giả trẻ của dòng sách lãng mạn cho tuổi mới lớn, mà họ hiện diện tại hội sách như những ngôi sao Pop, ít nhiều gây tranh luận. Mà thực ra, mấy cái tên như Iris Cao hay Hamlet Trương cũng là ca sĩ nhạc trẻ hay hot girl, hot boy nhảy sang viết sách. Hiện tượng này thực ra chẳng mới. Vài năm trước, những hot girl như Gào hoặc ca sĩ như Lê Kiều Như cũng gây bão truyền thông với vài cuốn sách mang hơi hướng tự truyện. Thật khó mà kể lại nội dung những cuốn sách đó hoặc nhận diện bút pháp văn chương của chúng, mà chỉ đọng lại những cái tên được truyền thông nói đến. Tham vọng của họ cũng không phô bày nhiều ở các khía cạnh chữ nghĩa, mà rất cụ thể: muốn làm một ngôi sao của công chúng.

Các nhà sách khôn ngoan biết khai thác hướng này cũng có những thành công về thương mại. Có thể kể bài học trước đây của công ty Domino với Chuyện tình New York đã đưa tác giả Hà Kin thành một gương mặt sáng của dòng chick-lit. Hot girl Gào với số lượng bản in đáng kể cũng có sức hút về doanh thu. Một bên là câu chuyện li kì, có diễn tiến cổ điển của các sách văn học cho giới nữ với “niềm vui và nước mắt”, mang dáng vẻ hiện đại và bối cảnh nước Mỹ hấp dẫn, một bên là những câu chuyện tự sự của cô gái nổi loạn, rối rắm trong những dục vọng đàn-bà-vẫn-còn-trẻ-con, đều có người hâm mộ đông như nhau. Nói chung nếu không phải là bối cảnh nước ngoài, du học như một thành phố lớn New York hay đại học Oxford thì bút danh cũng phải nửa Tây nửa Ta. Hoặc tên sách phải thấp thoáng vị ngôn tình ảnh hưởng dòng văn trẻ Trung Quốc hay phim Hàn Quốc – dài như một câu châm ngôn hay lời yêu đương đường mật, có chút than thở: Anh sẽ cưới em lần nữa, Thương nhau để đó, Buồn làm sao buông, Người yêu cũ có người yêu mới… Luôn luôn phải có những động từ liên quan đến quan hệ tình cảm: thương, yêu, buồn, đợi…

Hãy nhìn hình ảnh tác giả trẻ Anh Khang xuất hiện ở các buổi giao lưu ký tặng sách. Anh có khuôn mặt điển trai kiểu babyface, làn da trăng trắng, răng đều, tóc vuốt keo, đeo kính gọng dày màu chói tương hợp quần áo màu phấn pastel… Cách cười nói cũng cởi mở vừa phải và có chút kín đáo như giấu gì đó, nghĩa là phải khó nắm bắt, từng trải mà vẫn ngây thơ như những nhân vật trên phim truyền hình Hàn Quốc.

Hình ảnh đấy không phải mới. Cùng thời gian qua, Nguyễn Nhật Ánh cũng có các buổi giao lưu thu hút hàng nghìn bạn đọc đến xin chữ ký. Anh là một nhà văn có sức bền đáng kinh ngạc với tần suất mỗi năm ít nhất một đầu sách ra đời, và cuốn nào cũng bán tốt. Về vị trí số một của người viết cho thiếu nhi trong nước hiện giờ không ai tranh được với Nguyễn Nhật Ánh. Tác phẩm của anh được cả bạn đọc đông đảo lẫn giới văn chương đánh giá cao, nhưng chính con người anh khi xuất hiện trước công chúng cũng là một cậu bé trong dáng vẻ người đàn ông thư sinh: luôn mặc áo kẻ carô, đeo kính cận, và nhất là luôn nở nụ cười dễ mến. Dáng vẻ này nhất quán với các nhân vật lạc quan và dễ thương trong các tác phẩm của anh. Đôi khi sức hút của tác giả cũng đến từ những khía cạnh cá nhân con người của họ như vậy. Nguyễn Việt Hà luôn mang theo bút máy Parker để viết, và mãi gần đây mới dùng máy tính để gõ lại các sáng tác viết tay - cũng là một câu chuyện nhận diện mà các độc giả đinh ninh.

Chường mặt: Sự cám dỗ nhiều mặc cảm

Có phải tác giả nào cũng thích giao lưu không? Danh tiếng và sự hâm mộ là một thứ khiến tác giả có động lực xuất hiện trước công chúng, nhưng là thứ mà không phải nhà văn nghiêm túc đeo đuổi văn chương nào cũng dám đánh cược. Để những buổi giao lưu thành công, cần rất nhiều khâu tác động. Có nhiều cấp độ giao lưu. Thường các hội sách đều có dăm bảy cuộc giao lưu để “tạo chiều sâu”, đơn giản thì ra mắt tác phẩm mới, cầu kỳ thì tọa đàm về giá trị nội dung hay văn chương của sách, sang trọng thì có các sao showbiz hay lãnh đạo ngành, lãnh đạo địa phương hoặc giới phê bình đến cho vài lời nhận xét. Cũng có kiểu đơn giản vô cùng là bày một cái bàn ra, tác giả đợi bạn đọc đến xin chữ ký, và ăn khách thì sẽ có hàng dài khách đứng đợi, sau đấy là chụp ảnh kỷ niệm. 

Bất cứ ai muốn ký tặng cũng được, bên cạnh các buổi đăng ký đủ lệ bộ với ban tổ chức thì nhiều khi đơn giản như hẹn một nhóm người hâm mộ hoặc bạn bè trên mạng, ngày đó giờ đó nhà văn X sẽ có buổi ký tặng ở Hội sách. Ở VN lâu nay quen với những buổi giao lưu rầm rộ, nên các tác giả cũng chưa có vẻ thích nghi với những buổi có vẻ sơ sài. Lắm khi tác giả thuộc lứa người cũ, bạn đọc cùng tầm tuổi thì đã chậm chạp, bọn trẻ thạo truyền thông mạng lại không đọc họ, rút cục buổi ký tặng rất êm ả như văn của khổ chủ.

Không phải nhà văn nào cũng thích giao lưu, và có giao lưu rồi mới biết là rơi vào tình thế no-win. Trước khi diễn ra sự kiện, nếu may nhờ nhà xuất bản giỏi truyền thông mời mọc khắp nơi, số người đăng ký dự nhộn nhịp, khiến tác giả cũng tự trấn an rằng sự xuất hiện của mình là hợp lý. Ngay với các tác giả ăn khách, nhà xuất bản vẫn hồi hộp đến phút chót: bao nhiêu nhà báo trong danh sách xuất hiện, sao đã quá 1 tiếng rồi mà cô Y ở báo T chưa đến? Sắp hết người xếp hàng rồi à, gọi ngay con em bà bạn làm giáo viên văn cấp 3 điều động cả lớp đến. Sếp lớn chắp tay sau đít, lừ lừ đi đi lại lại, hoặc hỉ hả vui mừng hoặc gườm gườm nhìn thằng/con phụ trách truyền thông. Tác giả vặn vẹo người, mỏi tay quá. Lập tức sếp lớn sếp bé lao đến, nào nước suối, nào cà phê, nào bánh ngọt tea-break, xin phép các bạn đọc cho tác giả giải lao tí chút. May mà được thế.

Còn lại thì cuộc giao lưu đa phần sượng sùng, tác giả ngồi vêu mặt cùng MC trên salon sau một cái bàn, cố gắng nghĩ những câu hỏi liên quan đến tác phẩm và cố gắng lái cử tọa vào tấn công nhân vật chính. Khổ nỗi các cú ném không mấy đủ mạnh, có lẽ vì văn của ông/bà nhà văn chưa đủ dồn các bạn đọc đến chân tường. Ừ thì cái từ "hit" là best-seller, bán chạy, khi ở thể động từ thì cũng là "đâm chém, tấn công" mà. Các nhà văn tựa như những võ sĩ hạng ruồi, ngồi chán nản muốn ù chạy ra khỏi khung cảnh này mà tự do làm gì đó. Hoặc muốn tự tử ngay lập tức khi biết văn mình chẳng gây được cú hích nào, hoặc lẩm nhẩm kiêu hãnh, ta viết cho ta thôi. Lần này là lần chót.

Ngôi đền vắng vẻ

Sách được làm nóng bằng truyền thông, bằng các màn giao lưu là vậy, nhưng các tác giả đeo đuổi văn chương vẫn mong đợi những bài điểm sách trên những trang báo hay các trang review uy tín. Bởi vì trong mỗi nhà văn, vẫn thấp thỏm một câu hỏi về giá trị của công việc họ đang đeo đuổi: viết thế nào, viết cho ai, viết để làm gì. Để thỏa mãn chính mình thì rõ rồi, nhưng còn đó một thế giới lúc nào cũng đầy thứ để viết và khổ nỗi, đã có bao người viết.

Chẳng đơn giản để những nhà điểm sách chuyên nghiệp có thời gian đọc hết ngần ấy sách in ra, và đôi khi phải có cơ duyên thì mắt của họ mới có màu xanh chứ không trắng dã trước các tác phẩm. Có những cái khó là đôi khi kẻ điểm sách thẳng cánh phang một cuốn sách, như thế đã đành, mà có lúc viết như thể buông một tiếng thở dài, viết để trả nợ bạn bè, mà rồi người ta đọc xong cũng chẳng biết là nên mua sách hay không. Người điểm sách nếu khen mạnh thì cũng phải có cái phao nào đấy, nhỡ tác giả tịt đường viết sau đấy thì hố, hoặc mang tiếng tâng bốc quá mức. Nhưng như thế còn hơn thời xưa, bài phê bình sau khi khen xoa đầu cũng phải thòng đôi câu chê thiếu tính Đảng hay tính giáo dục.

Không bàn tới các bài điểm sách trích lại từ thông cáo báo chí do các nhà xuất bản hay nhà sách tung ra, mà nhiều khi cũng loằng ngoằng câu chữ quá mức duyên dáng và phức tạp, thì điểm một cuốn sách cũng phụ thuộc độ hấp dẫn của nó. Người đọc Hà Nội có thể khắt khe hơn, nhưng thái độ của người đọc Sài Gòn ảnh hưởng mạnh hơn đến doanh thu sách. Vì thế, người điểm sách thuộc vùng văn hóa nào cũng quyết định đến số phận cuốn sách ít nhiều, vì rõ ràng anh ta đang nhắm đến đám người đọc trong vùng ấy. Khi báo Văn Nghệ Trẻ chấm dứt bản in để chuyển sang online và báo Văn Nghệ có tirage chỉ vài nghìn bản và chưa lên mạng, thì đất điểm sách trên báo giấy quá hẻo, ngoại trừ báo Tuổi Trẻ vẫn cố gắng duy trì công việc nhọc nhằn này. Tờ Sài Gòn Tiếp thị vốn ưu ái điểm sách cao cấp cũng đã chấm dứt phiên bản truyền thống, nhường sân cho các báo mạng và vài blog điểm sách quen biết. Ưu điểm là chúng sẵn, thoải mái và mang đậm tính cá nhân như cách viết của blog. Nhược điểm cũng chính là tính cá nhân của chúng, thường phụ thuộc gu của blogger – vốn cũng dễ sa vào nâng lên hay dìm xuống sách của tùy đối tượng.

Các salon văn hóa kết hợp với các trung tâm văn hóa nước ngoài, hay một vài quán cà phê sách cũng cố gắng lấp khoảng trống đó bằng các buổi nói chuyện chuyên đề. Quy mô mỗi buổi trên dưới 50 người dự đã nói lên sự hạn chế của chúng xét về sức phổ biến.

Thế còn các buổi đông nghịt người hâm mộ đến dự kia? Chẳng phải là Chuyện tình New York đã vô cùng đình đám hay Sợi xích của ca sĩ Lê Kiều Như có hẳn buổi ra mắt linh đình với khách mời toàn nhân vật showbiz đó sao? Sau cuốn tiểu thuyết đầu tay nguồn gốc từ các phần đăng trên mạng, Hà Kin cũng in đôi cuốn sách nữa, nhưng không thành công như mong đợi. Ngay cả việc cô tham gia truyền thông cũng không tiếp nối được việc biến cô thành ngôi sao. Còn cuốn tiểu thuyết mang cái áo “tình dục” của Lê Kiều Như gặp vô số rắc rối khi bị ngưng phát hành và sự nghiệp ca hát của cô hiện giờ cũng im ắng và chẳng liên quan gì đến thị trường sách vở, cho dù tuyên bố sẽ viết sách cho thiếu nhi.

Có nhiều người phản ứng với danh sách sách bán chạy của Hội sách TPHCM. Họ cho rằng tác phẩm ăn khách của tác giả trẻ quá hời hợt và vô can trước hiện thực phức tạp bề bộn của xã hội và đất nước. Nhưng có lẽ đó là một hiện thực hợp lý sau hai thập niên ảnh hưởng của Hallyu (Hàn lưu) của văn hóa giải trí Hàn Quốc, hay những dòng văn học giải trí láng giềng phía Bắc đã làm mưa làm gió từ đầu thế kỷ này. Chúng phát tán nhờ vào mạng xã hội, nơi những status và note ngăn ngắn đã đẩy tốc độ viết và việc “đẻ ra văn” giản tiện hơn rất nhiều thời trước. Có nên coi đấy là văn học – câu hỏi này đụng đến tự ái của những người đang canh đền văn học. Ở Hà Nội thực ra cũng có một ngôi đền văn chương là đền Ngọc Sơn, đừng nhầm với Văn Miếu là ngôi đền về học vấn. Trước đền có Tháp Bút và đài Nghiên, trên tháp có ba chữ Tả Thanh Thiên – viết lên trời xanh. Phải chăng vị trí của văn chương cao nhường ấy, trên cõi thăm thẳm ấy?


Nguyễn Trương Quý
(Đẹp số 6/2014)

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ