Thứ Tư, ngày 03 tháng 2 năm 2016

Kiến tạo căn cước Hà Nội qua những bài ca trên sóng

Những bài ca tuyên truyền đã tạo nên một Hà Nội thế nào?

Đây là một bài tập, dĩ nhiên nhiều khiếm khuyết. Mục đích chính là phân tích diễn ngôn về Hà Nội thông qua ca từ những bài hát về chủ đề Hà Nội. Do khuôn khổ có hạn nên bài viết chỉ khảo sát những bài hát giai đoạn sau 1954 đến thời điểm đầu TK21, tập trung vào giai đoạn chiến tranh và bao cấp. Nhiều nội dung vẫn để lại ảnh hưởng đến hiện tại. Hi vọng sau này có thời gian và có thêm tư liệu cũng như kiến thức sẽ khảo sát diện rộng hơn. Vì bài viết gốc viết tiếng Anh - một thứ tiếng Anh học trò nên việc tự dịch ra tiếng Việt cũng sẽ phải chỉnh sửa thêm. Cảm ơn các thầy giáo trợ giảng đã hỗ trợ cho việc sửa chữa các lỗi diễn đạt và logic.


Bìa bản nhạc Hà Nội niềm tin và hy vọng - Phan Nhân, do Nxb Âm nhạc Giải Phóng phát hành năm 1976.

Hà Nội là trường hợp hiếm có của một thành phố có một bộ sưu tập dồi dào những bài hát được phát thanh trên làn sóng điện mà người Việt Nam thường gọi là các bài “địa phương ca” – những bài hát ca ngợi một tỉnh, một thành phố hay một vùng đất. Thuật ngữ này được sinh ra từ sau khi Hiệp định Geneve năm 1954, hiệp định chấm dứt cuộc chiến chín năm giữa quân đội Pháp và Việt Minh, với kết quả Việt Nam chia cắt tạm thời làm hai miền tại vĩ tuyến 17. Ở miền Bắc, những người cộng sản chiến thắng tiếp tục xây dựng chính thể Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Hà Nội, thủ đô của nhà nước quốc gia (nation-state) này, trở thành biểu tượng của một quá trình xây dựng một đất nước xã hội chủ nghĩa mới chống lại đối thủ đồng minh của Mỹ ở miền Nam.

Cơ quan truyền thanh độc quyền ở miền Bắc – Đài Tiếng nói Việt Nam (từ đây gọi tắt VOV), trong cả nhiệm vụ xã hội theo hình thái Xôviết lẫn ý thức hệ của mình, đã phát thanh hàng ngàn bài hát ngợi ca vị trí tiền tiêu của Hà Nội, đặc biệt dưới sự vây hãm của bom Mỹ trong chiến tranh Việt Nam và cả trong thời hậu chiến. Là một chương trình có đường lối tuyên truyền, các bài hát được sử dụng như những “bản tin bằng giai điệu” với câu chữ được cấu trúc công phu. Lời ca của chúng khắc họa cả khía cạnh hiện thực lẫn chất thơ của đời sống đô thị Hà Nội qua ba thập niên. Giai đoạn này cũng là thời hoàng kim của VOV khi đài phát thanh nhà nước này trở thành công cụ truyền thông đại chúng quan trọng nhất và phương tiện chính để truyền tải âm nhạc đến công chúng. Truyền hình ở Hà Nội rất sơ khai và chưa phát triển cho đến khi Việt Nam thống nhất năm 1975. Trong bài tiểu luận này, tôi sẽ phân tích nội dung các bài hát như một diễn ngôn về Hà Nội theo hai phương diện: 1) bối cảnh của truyền thông nơi các bài hát được sản xuất ra, và 2) chất liệu của các biểu tượng trong ca từ như tiếu tượng học hay sự mô tả bằng hình ảnh [iconography] của Hà Nội. Các trích dẫn của tôi tập trung vào những bài hát nổi bật nhất được phát sóng nhiều nhất và được lưu trữ trong dữ liệu trên trang mạng của VOV và diễn đàn nhạc cách mạng [baicadicungnamthang.net].


BỐI CẢNH TRUYỀN THÔNG SINH RA NHỮNG BÀI CA CHỦ ĐỀ HÀ NỘI

Âm nhạc như một kênh tuyên truyền chính trị

Nhiều nhà nghiên cứu trong lĩnh vực phân tích nội dung truyền thông đã nhấn mạnh vai trò tối quan trọng của bối cảnh trong bất cứ quy trình truyền thông nào (Krippendorff, 1980; van Dijk, 1988, 2001, Fairclough, 2003; Rosengren, 2006: 182). Trong khi Krippendorff đề cập bối cảnh chính trị-xã hội, van Dijk đề xuất khái niệm “các mẫu bối cảnh”: “Bối cảnh được định nghĩa như một cấu trúc đại diện có tính tinh thần của những đặc tính về tình hình xã hội có liên quan đến việc sản xuất hay sự lĩnh hội diễn ngôn.” (van Dijk 2001: 356). Khi xét đến chất liệu của những bài ca tuyên truyền được dùng như những bản tin chiến sự, đáng lưu ý rằng “khi các diễn ngôn được định nghĩa như những đơn vị của tương tác bằng lời nói hay như những sự kiện giao tiếp truyền thông, quy trình thực tế của chúng hoặc những cách thức sử dụng trong các bối cảnh xã hội và truyền thông cũng nên được tính đến trong sự tiếp cận tích hợp.” (van Dijk, 1988: 9)

Chỉ một tuần sau khi nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa được tuyên bố ra đời ngày 2 tháng 9 năm 1945, Đài Tiếng nói Việt Nam đã phát sóng buổi đầu tiên với tuyên bố mở đầu của mình xác nhận rằng “Đây là Tiếng nói Việt Nam, phát thanh từ Hà Nội, thủ đô nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.” Lời tuyên bố hiển nhiên đã nhấn mạnh vai trò của Hà Nội như thủ đô chính thức của một quốc gia chính thể cộng hòa mới ra đời, thay vì Huế, kinh đô của triều đại phong kiến cuối cùng. Khi những người cộng sản chiến thắng bắt đầu thực hiện kế hoạch dài hạn đầu tiên tái kiến thiết đất nước theo mô hình Xôviết, Hà Nội mau chóng trở thành đề tài đặc biệt của nhiều nhạc sĩ Việt Nam trong việc sáng tác những bài ca anh hùng theo chủ nghĩa yêu nước.

Hiệp định Geneve 1954 đã kêu gọi tổng tuyển cử sau 2 năm để thống nhất đất nước. Giới tuyến tạm thời tại vĩ tuyến 17 đã lấy sông Bến Hải và cầu Hiền Lương làm biên giới địa lý. Mục tiêu đầu tiên của các ca khúc là kêu gọi thống nhất. Đoàn Chuẩn, một trong số những nhạc sĩ nổi tiếng hàng đầu trước đó trong việc viết những bài hát chủ đề mùa thu lãng mạn trong thời Pháp tạm chiếm Hà Nội, giờ đây chuyển sang viết một bài hát chủ đề mùa xuân mang niềm hi vọng tích cực trong hình thức một lá thư gửi một người tình đã di cư vào Nam (xem Box 1).

Box 1 - Gửi người em gái miền Nam – Đoàn Chuẩn & Từ Linh, 1956-1957

Rồi ngày thống nhất đến rất nhanh không ai ngờ
Cầu chia giới tuyến đến mai đây san đất bằng
Nụ cười trong gió sớm, anh đến tìm em giữa cầu Hiền Lương.
Em tôi đi, màu son lên đôi môi
Khăn san bay, lả lơi bên vai ai
Trời thắm gió trăng hiền
Hà Nội thêm bóng dáng nàng tiên.
Em! Tháp Rùa yêu dấu!
Còn đó trơ trơ, lớp người đổi mới khác xưa
Thu đã qua những chiều song ý thơ rất nhiều
Ca tình yêu!


Trong lời ca, Hà Nội được thể hiện như một điểm hẹn thần tiên phản chiếu thời quá khứ diễm ảo trong cảnh đoàn tụ lãng mạn giữa người kể chuyện và người đẹp. Tháp Rùa ở hồ Hoàn Kiếm, một địa danh biểu tượng của Hà Nội, cũng được đặt trong trung tâm của câu chuyện. Sau khi được phát sóng, bài ca bị phê bình về “tư tưởng tiểu tư sản”, ví dụ nội dung quá lãng mạn cá nhân khi so với “tinh thần tranh đấu” của những bài hát dòng chính thống vốn nhấn mạnh các khía cạnh “chủ nghĩa cách mạng và lãng mạn tập thể”. Bài ca vì thế bị ngừng không được hát ở miền Bắc trong nhiều thập niên cho đến cuối những năm 1980, trong khi khá phổ biến ở miền Nam với phiên bản lời cắt xén và chỉnh sửa. Cuộc tổng tuyển cử thống nhất cũng đã bị hủy bỏ cho đến khi cuộc chiến tranh kết thúc và hai miền được thống nhất 19 năm sau.


Âm nhạc như một vũ khí tinh thần

Tình trạng chiến tranh đã ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của đời sống đô thị Hà Nội, đặc biệt khi không lực Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam vào năm 1965-1968 và 1972. Mang chức năng tuyên truyền, những bài hát được phát sóng cổ vũ người dân Hà Nội sống và làm việc như những người lính. Mặt khác, chúng là những thông điệp bằng giai điệu gửi tới kẻ thù rằng Hà Nội là một trận chiến sẽ giống như Điện Biên Phủ đầu những năm 1950. Trận chiến lịch sử này từng được xem như dấu ấn cáo chung của hệ thống thuộc địa kiểu cũ trên thế giới và là nguyên nhân chính tác động đến vòng đám phán Hiệp định Geneve 1954 về Đông Dương. Hầu hết các bài ca về Hà Nội thời chiến đều khích lệ tinh thần yêu nước và đặc biệt là tình yêu dành cho công cuộc bảo vệ thủ đô. Cao điểm của cuộc kháng cự những trận ném bom tập kích là việc 34 máy bay B-52 của Không lực Mỹ bị bắn rơi trong cuộc ném bom Giáng sinh (tức “12 ngày đêm” như cách gọi của người Việt) tháng Chạp năm 1972. Tên của những bài ca được liệt kê ở box bên dưới đây đều cho thấy nội dung chiến thắng và tự hào. Lời ca đã kết nối giai đoạn hiện tại của cuộc kháng chiến với lịch sử lâu dài của đất nước với nhiều chiến thắng chống lại quân xâm lược phong kiến Trung Quốc cả ngàn năm trước và chống thực dân Pháp gần đây. Hệ quả là chúng đã nuôi dưỡng một sự nhận diện về một thành phố linh thiêng (xem Box 2).


Box 2 – Những bài ca chủ đề Hà Nội có đề tài bắn rơi máy bay Mỹ

Phi đội ta xuất kích – Tường Vi, 1965
Bài ca Hà Nội – Vũ Thanh, 1966
Hành khúc ngày và đêm – Phan Huỳnh Điểu, thơ Bùi Công Minh, 1968
Tên lửa ta đánh rất hay – Huy Thục, 1972
Hà Nội những đêm không ngủ – Phạm Tuyên, 1972
Hà Nội trên tầm cao chiến thắng – Tân Huyền, 1972
Hà Nội Điện Biên Phủ – Phạm Tuyên, 1972
Hà Nội niềm tin và hy vọng – Phan Nhân, 1972


Âm nhạc trợ giúp tái kiến thiết đất nước

Bên cạnh chủ đề chiến đấu, trong và sau chiến tranh, Hà Nội cũng là một “mảnh đất thử nghiệm” để triển khai ý thức hệ và mô hình quy hoạch đô thị Xôviết. Trong khi đẩy mạnh chương trình xây dựng của mình tại Hà Nội, chính quyền đã cho phát sóng một số lớn những bài ca mà trong đó các nhân vật trung tâm là các công nhân xây dựng và công nghiệp. Họ cho thấy tham vọng của Hà Nội khi dẫn dắt thành phố theo hướng một trung tâm công nghiệp nặng dưới mô hình đã được ứng dụng ở Liên Xô và Trung Quốc. Mọi người sống trong một hệ thống bao cấp, và hầu hết các ngành nghề trong xã hội đều có riêng mình những bài ca được gọi là “ngành ca” (“job anthem”) (xem Box 3).

Box 3 – Những bài ca về người công nhân Hà Nội

Em là thợ quét vôi – Đỗ Nhuận, 1958: Nữ công nhân xây dựng
Cô thợ nề thủ đô – Lưu Bách Thụ, 1960: Nữ công nhân xây dựng
Cô thợ hàn – Thịnh Trường, 1960s: Nữ công nhân công nghiệp nặng
Những ánh sao đêm – Phan Huỳnh Điểu, 1962: Công nhân xây dựng
Khi thành phố lên đèn – Thái Cơ, 1965: Công nhân chiếu sáng đô thị
Em đứng giữa giảng đường hôm nay – Tân Huyền, 1966: Nữ giảng viên đại học
Hà Nội những công trình – Quốc Trường, 1970: Công nhân xây dựng
Từ một ngã tư đường phố – Phạm Tuyên, 1971: Cảnh sát giao thông
Cô thợ xây còn nhớ – Văn Chung, 1975: Nữ công nhân xây dựng
Trên công trường rộn rã tiếng ca – Ngô Quốc Tính, 1976: cựu chiến binh, cặp đôi công nhân xây dựng
Khúc hát người Hà Nội – Trần Hoàn, 1983: Công nhân công nghiệp nặng và nông dân ngoại thành

Hệ thống các bài hát cung cấp cho người nghe một bức chân dung về một xã hội đô thị nơi ai cũng cố gắng hết sức mình để “xây dựng chủ nghĩa xã hội và đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Lao động nữ được khuyến khích đảm nhiệm những công việc nặng như công nhân xây dựng và thợ hàn. Một trong những công trình biểu tượng nhất lúc bấy giờ là việc xây dựng một cây cầu mới bắc qua sông Hồng trên địa phận Hà Nội vào năm 1984 với sự viện trợ của Liên Xô, sau hơn 80 năm kể từ cây đầu đầu tiên và độc đạo do người Pháp xây. Một cách tự nhiên, nhiều bài ca đã ngưỡng mộ cây cầu mới về tinh thần hợp tác hữu nghị giữa Liên Xô và Việt Nam. Vào lúc đó, đây là câu cầu 2 tầng dài nhất Việt Nam bắc qua con sông biểu tượng của Hà Nội. Các ca từ đã đưa cây cầu này trở thành một tượng đài trong khung cảnh Hà Nội: “Cho xanh mãi bầu trời xanh Hà Nội. Cầu Thăng Long soi bóng nước sông Hồng” (Trời Hà Nội xanh - Văn Ký, 1984); “Chúng tôi bắc cây cầu thế kỷ, trên dòng sông mênh mang” (Chúng tôi bắc cầu – Hồng Đăng, lyric Hương Trầm, 1984).

[Ngoài ra còn các bài hát như Mùa xuân qua cầu Thăng Long (Hồ Bắc, 1984); Hà Nội của tôi (Thái Cơ, 1984); Hà Nội mến yêu ơi (Trần Nhơn, 1984)].

Thời điểm sáng tác của những bài ca này vào khoảng năm 1984, năm kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng Thủ đô (10/10/1954). Nó chứng tỏ một nhu cầu trong đất nước cộng sản nơi những dịp kỷ niệm thường được xem như “một hiện thân của lý tưởng ái quốc và dân tộc chủ nghĩa” (Bodnar, dẫn theo Gibbs, 2008: 118). Những bài ca kỷ niệm là những công cụ hữu hiệu để chính quyền dùng để nhấn mạnh những thành tựu ấn tượng của chủ nghĩa xã hội cần được nhận thấy toàn diện khắp đất nước. Trên thực tế, những cuộc chiến không bao giờ chấm dứt. Sau khi thống nhất, Việt Nam đối diện với một tình trạng vô cùng khó khăn. Hệ thống kinh tế bao cấp thất bại trong việc đảm bảo mức sống đã đề ra cho nhân dân. Nhiều người Việt đã tìm cách vượt biên. Viện trợ từ các đồng minh XHCN như Liên Xô và khối Đông Âu chấm dứt, trong khi hai láng giềng phía Bắc và Tây Nam – Trung Quốc và Campuchia của Khơme Đỏ - gây xung đột diện rộng với Việt Nam (Marr, 1995). Những bài ca đã xưng tụng Hà Nội như một ngọn hải đăng cổ vũ nhân dân xây dựng lại đất nước, phát triển kinh tế và tạo ra “con người mới” cho một viễn cảnh XHCN cũng như giữ vững tư tưởng Mácxit (xem Box 4).

Box 4 – Hà Nội mùa thu – Vũ Thanh, 1981


“Em nghe chăng, trong lắng sâu nơi hồng trái tim mình
Hà Nội mùa thu, ôi xao xuyến trong lòng ta
...Thu đi dài năm tháng
Vinh quang và duyên dáng
Cho ta khuôn mặt sáng ngời
Dáng vóc của Thủ đô
Ôi sao yêu quý, Hà Nội ơi!
Em bên anh, ta bước đi nghe lòng nghĩ suy gì
Hà Nội, tim ta đó
Dặm dài trong gian khó
Vẫn ngát xanh, xanh mùa thu.”


Những bài hát đóng một vai trò trong việc đóng góp kiến thức giúp người nghe chia sẻ một cảm hứng tập thể về một ngày mai tươi sáng hơn. Điều này phù hợp với nhận định của McQuail rằng “cho phép chúng ta làm nên ý nghĩa cho những trải nghiệm của mình trong thế giới xã hội… Thông tin, hình ảnh và ý tưởng được truyền thông làm cho thích dụng có thể là nguồn nhận thức chính đối với hầu hết mọi người về thời quá khứ được sẻ chia (tức lịch sử) và cả chỗ đứng trong xã hội hiện tại.” (McQuail, 2005: 81). Theo McQuail, kiến thức này là “một kho lưu trữ ký ức và là một bản đồ những nơi chúng ta ở và chúng ta là ai (nhận diện) và cũng cung cấp chất liệu cho việc định hướng tương lai.” (McQuail, 2005: 81). Trong trường hợp của mình, Hà Nội cung cấp một bộ sưu tập khổng lồ cả ngàn bài ca khiến cư dân thành phố ý thức về nơi họ sống cũng như giúp các nhà nghiên cứu muốn phân tích những bài hát này như những diễn ngôn độc đáo về niềm tự hào về thành phố hoặc xa hơn thế, là lòng ái quốc. Được xem như một phương tiện đặc biệt, những bài ca Hà Nội thể hiện cách cả truyền thông nhà nước lẫn truyền thông xã hội kiến tạo và thay đổi nhận diện của chủ đề chúng viết về. Sự tiếp cận trong phần tiếp theo trong nghiên cứu của tôi sẽ xem xét chất liệu của biểu tượng trong ca từ như một loại tiếu tượng học về Hà Nội.


CHẤT LIỆU CỦA CÁC BIỂU TƯỢNG DIỄN HÌNH VỀ HÀ NỘI

Ngay từ rất sớm, các nhà lãnh đạo cách mạng đã khuyến khích đặt lời mới cho những giai điệu của các bài dân ca nổi tiếng để lôi cuốn sự chú ý của quần chúng, như các bài ca binh vận hay cổ động chính sách. Như đã thảo luận ở phần đầu, đài tiếng nói nhà nước cũng chuộng những bài hát có ca từ tạo nên hiệu ứng nơi thính giả. Những lời ca được khai thác thuộc về loại “truyền thông sử dụng những biểu tượng, dù là văn nói, văn viết hay hình ảnh. Ngữ nghĩa của những biểu tượng này khác biệt với từng cá nhân và với từng nền văn hóa theo các mức độ.” (Riffe và nhiều tác giả, 2005: 28). Một mục tiêu quan trọng của phân tích nội dung mà Riffe nêu lên là tạo nên các nội hàm về ngữ nghĩa của việc nội suy từ truyền thông, bối cảnh của nó trong việc sản sinh ra lẫn tiêu thụ.

Những biểu tượng lãng mạn

Bài hát của Đoàn Chuẩn và Từ Linh ở Box 1 cũng bị coi là một trong bài hát “trái chiều”, mặc dù mang một nội dung tuyên truyền thời sự. Nó thuộc về một số những bài ca cùng loại từng bị dùng để dán nhãn và hạn chế dòng nhạc này cho đến cuối thập niên 1980 khi chính quyền bắt đầu chương trình đổi mới, cho phép mọi người được đón nhận chúng trở lại. Như đã trình bày trong trích đoạn lời, tác giả đã dùng những từ như “màu son,” “đôi môi,” “khăn san” (“châle,” từ tiếng Pháp trong nguyên bản), “lả lơi,” và “nàng tiên,” những từ bị xem như tàn dư của chế độ cũ cũng như của tiểu tư sản. Tuy vậy, khi những bài hát lãng mạn này được phép hát lại, chúng trở thành những biểu tượng của người phụ nữ Hà Nội lý tưởng, song song với “áo dài”, một loại trang phục được xem như truyền thống của phụ nữ Việt Nam mặc dù mới chỉ được tạo ra gần đây từ đầu những năm 1930 dưới thời thuộc Pháp.

Công cuộc Đổi mới từ năm 1986 đã mở ra một cánh cửa dẫn dắt các nhạc sĩ viết những bài ca về Hà Nội trong đề tài đời sống đô thị hòa bình thay vì chủ đề đấu tranh đã lạc thời. Chúng cũng thường xuyên được phát sóng và được đón nhận rộng rãi. Một số thậm chí còn trở thành bài hát ăn khách (hit) và còn lọt vào Top Ten Làn Sóng Xanh, bảng xếp hạng âm nhạc đầu tiên của Việt Nam được thiết lập năm 1997 của Đài Tiếng nói nhân dân TP.HCM. Năm 2010, để kỷ niệm sự kiện 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, chính quyền đã sản xuất một bộ 2 đĩa DVD gồm 32 bài hát chủ đề Hà Nội. Trong khi đĩa thứ nhất gồm những bài ca chủ yếu trong thời chiến tranh trong đó có một số bài đã kể tới ở phần đầu, đĩa thứ hai gồm những bài hát gần đây hơn. Danh sách này có thể xem như một “Billboard bài ca Hà Nội” chính thức của truyền thông nhà nước. Bằng việc lọc ra 16 bài hát chủ đề Hà Nội mới nhất từ hai bảng xếp hạng trên, tôi sẽ chọn ra một loạt những từ khóa mà hệ thống ca từ đóng góp vào việc xây dựng nên một nhận diện của Hà Nội như bảng bên dưới (xem Box 5). Những từ được chọn đóng vai trò của năng biểu vốn xây dựng nên ngữ nghĩa thông qua một quy chế có tính cấu trúc, hay là các mã hiệu (Berger, 1991: 8). Khi tiếp nhận những từ ngữ có vẻ ngoài tầm thường này, người nghe sẽ hình dung về không gian Hà Nội của họ theo một cách khác biệt, như thuộc về một cộng đồng tưởng tượng, khái niệm nổi tiếng được tạo ra bởi Benedict Anderson (1983).

Box 5: Những từ ngữ và cụm nghĩa được biểu tượng hóa trong ca từ các bài ca Hà Nội

Thời tiết tuyệt vời Mùa thu với lá vàng, heo may lành lạnh, nắng nhẹ nhàng
Mùa xuân/Ngày Tết với mưa phùn ấn tượng
Mùa đông lạnh giá nhưng độc đáo
Các cô gái đẹp Trang phục đẹp/ áo dài/ khăn/ son phấn/ tóc xõa vai mềm
Giá trị đạo đức Thanh lịch/ lịch sự/ nhã nhặn/ tinh tế/ có giáo dục/ đại học/ vinh quang và duyên dáng/ linh thiêng/ hùng thiêng/ phong tục và truyền thống văn hiến/ hoài nhớ/ ký ức/ kỷ niệm/ tuổi thơ
Đời sống đô thị Đông vui/ rộn rã sắc màu/ cười vui/ bình yên/ hòa bình/ dễ gần/ mộc mạc/ hát ca/ nên thơ
Phong cảnh ngoạn mục Di sản/ Thành cũ/ Phố cổ/ Nhà xưa/ Nhà mới xây (kiến trúc hiện đại)/ Cây cầu/ Tàu điện/ sông Hồng/ Hồ Hoàn Kiếm/ Hồ Gươm/ Hồ Tây/ công viên vừa mới xây/ đường rợp bóng cây xanh/ hoa nở/ hoa đào khoe sắc/ hương hoa sữa/ hương ngọc lan/ sấu rụng ngoài ngõ vắng
Món ăn và thức uống ngon Trà nóng/ món ăn đường phố (cốm)/ cà phê

Danh sách các bài ca (theo ABC): 1. Chị tôi; 2. Có phải em… mùa thu Hà Nội; 3. Cửa ô nhịp phố; 4. Em ơi Hà Nội phố; 5. Hà Nội của tôi; 6. Hà Nội đêm trở gió; 7. Hà Nội linh thiêng hào hoa; 8. Hà Nội mùa vắng những cơn mưa; 9. Hà Nội tình yêu tôi; 10. Hương ngọc lan; 11. Mãi vẫn là tuổi thơ tôi Hà Nội; 12. Một thoáng Hồ Tây; 13. Ngẫu hứng sông Hồng; 14. Nhớ mùa thu Hà Nội; 15. Nhớ về Hà Nội; 16. Truyền thuyết Hồ Gươm.


Người nghe có thể thấy rằng hầu hết các chủ đề trong box trên cũng giống với một Hà Nội trước năm 1954 với những tính từ tốt đẹp. Những gì rút ra được có thể giải thích bằng nghiên cứu của Benedict Anderson khi ông chứng minh rằng “các cuộc cách mạng thành công cũng thừa kế những dường dây của triều đại cũ” (2006: 160). Hệ thống những biểu tượng này đã xây dựng nên những đặc trưng hay kiểu cách của Hà Nội, rồi ăn sâu vào tâm trí tập thể. Theo Fairclough (2003: 159), những kiểu cách là “khía cạnh diễn ngôn của cách thức thể hiện hay là những căn tính”. Mặc dù sự nghịch lý của việc mến chuộng một Hà Nội thuộc địa, nhà chức trách cũng hài lòng với định nghĩa mang tính tân cổ điển và bảo thủ này về nhận diện của thủ đô của họ. Đồng thời, truyền thông đại chúng ở Việt Nam cũng đang kiếm tìm một chân dung hài hòa của Hà Nội, thậm chí là phục cổ, thay vì hiện thực bề bộn và bụi bặm.


Sự thay đổi của công chúng mục tiêu

Liên quan tới phê bình phân tích diễn ngôn, cả hai cách tiếp cận được biết nhiều nhất của van Dijk (“nhận thức-xã hội”, 1988) và Fairclough (liên hệ giữa văn bản tới thể loại, diễn ngôn và các tiếng nói xã hội bên ngoài, 1995) đều tính đến đối tượng tiếp nhận. Những ai là đối tượng tiếp nhận chính của những bài ca phổ thông? McQuail (2005) đã giải thích rằng từ khi có sự trỗi dậy của nền công nghiệp lấy giới trẻ làm nền tảng vào thập niên 1960, âm nhạc phổ thông được sử dụng đại chúng được kết nối với các lý tưởng của tuổi trẻ và bận tâm chính trị. Chúng từng đóng vai trò quan trọng trong những phong trào độc lập dân tộc chủ nghĩa gần đây như ở Ireland hay Estonia năm 1991 dẫn tới độc lập khỏi Liên Xô. Ông nhấn mạnh thế hệ trẻ là công chúng chính, đặc biệt trong thời đại Internet.

Thập niên thứ hai của thế kỷ 21 chứng kiến một sự xuống dốc đáng kể của cả việc sáng tác lẫn phát sóng các bài ca chủ đề Hà Nội. Vấn đề chính nằm ở độ tuổi của người tiếp nhận. Những người già từng sống trong thời thuộc địa nay đã quá già nếu như còn sống. Những người trung niên đã từng là công chúng trực tiếp của những bài ca này nay không phải là nhóm khán giả mục tiêu của âm nhạc thời trang. Trong khi đó, những người tiêu thụ chính của âm nhạc phổ thông đương thời là những người dưới 25 tuổi. Họ quá trẻ để chia sẻ ký ức của diễn ngôn kinh điển về Hà Nội với những người già.

Thuộc về thế hệ toàn cầu hóa và bùng nổ Internet, họ có những cách thức khác để nghe nhạc. Các show truyền hình đã cướp mất công chúng của các chương trình âm nhạc tuyên truyền của đài phát thanh. Những bài ca chủ đề Hà Nội của quá khứ không còn nằm trong số những chương trình yêu thích của ngành phát thanh truyền hình Việt Nam. Hiện tượng này có thể xem như một sự giải trung tâm của không gian công cộng. Trên thực tế, các bài ca tuyên truyền vẫn còn được sáng tác nhưng có lẽ đã đánh mất ảnh hưởng của chúng đối với cộng đồng như trước. Trong khi đó, những bài hát dòng indie/underground của giới trẻ lại phát triển. Đời sống đô thị Hà Nội được khắc họa qua câu chuyện của một cậu bé bán những tờ báo lá cải đăng tin giật gân (Thật bất ngờ, Mew Amazing, 2015), hay cái tôi không tự xác định được của một cậu trai khi người yêu rời xa (Em của ngày hôm qua, Sơn Tùng M-TP, 2014). Chúng đã sáng tạo và thiết lập một hình tượng Hà Nội mới và những diễn ngôn mới của thành phố này.


KẾT LUẬN

Có một quá khứ cả nghìn năm, không nghi ngờ rằng Hà Nội chứa đựng một diễn ngôn nhiều tầng lớp đổi thay theo thời gian. Kể từ rất sớm, nguồn ca từ của những bài hát đã trở thành một trong những cách tiếp cận hữu hiệu nhất mà các nhà chức trách sử dụng để tuyên truyền hóa diễn ngôn này sâu rộng trong tâm thức đại chúng. Cho dù mục đích ban đầu của những bài hát chủ đề Hà Nội là để tuyên truyền cổ động, những bài ca đã chạm vào cảm xúc của nhiều thế hệ nhờ một hệ thống trang nhã các ký hiệu và biểu tượng trong ca từ của chúng. Những ca từ này thừa hưởng một truyền thống yêu thơ ca của người Việt và của việc sinh ra những bài hát phổ thông Việt Nam theo hướng phương Tây được gọi là nhạc cải cách hay tân nhạc từ những năm 1930 ở Hà Nội.

Hơn thế nữa, khi những bài “địa phương ca” vốn rất phổ biến trên truyền thông đại chúng Việt Nam nhiều thập niên, phân tích diễn ngôn nên lưu ý đến phạm vi lớn hơn của những bài ca yêu nước vốn dùng để nhận diện quốc gia-nhà nước mà Eric Hobsbawn (1983) đã gọi là “sự chế tạo truyền thống” hay “sản phẩm đại chúng của truyền thống”: tái kiến thiết những biểu tượng quốc gia và diễn hình những truyền thống dân tộc, chẳng hạn như những bài quốc ca. Nhìn bề ngoài, những bài ca chủ đề Hà Nội đã trở thành một phần của văn hóa pop. Ngay cả những lời ca tuyên truyền cũ kỹ cũng có thể trở thành chất liệu cho các hoạt động sáng tạo và giải trí. Nhiều nghệ sĩ giải trí thuần túy – các thần tượng pop tuổi teen, các nhóm hát rap hư vô chủ nghĩa hay các ca sĩ nhạc rock – có lẽ sẽ quan tâm đến việc hát những bài ngợi ca này trên TV hay đài phát thanh nếu như chúng đem lại lợi nhuận cho họ. Dẫu sao thì họ cũng là những người đóng góp lớn cho việc tạo ra và tái tạo một định nghĩa mới cho Hà Nội.

© Nguyễn Trương Quý

Tài liệu tham khảo

Anderson, Benedict (1991). Imagined Communities: Reflections on the Origin and Spread of Nationalism. New York: Verso.

Berger, Arthur A. (1991). Media Analysis Techniques. London: Sage.

Dân Huyền (2010), Âm vang những bài ca Hà Nội. The Voice of Vietnam online (http://vov.vn/van-hoa/am-nhac/am-va...).

van Dijk, Teun A. (1988). News Analysis: Case Studies of International and National News in the Press. NJ: LEA.

       (2001). “Critical Discourse Analysis,” The Handbook of Discourse Analysis, p. 352-371. Schiffrin, Deborah, Deborah Tannen, and Heidi E. Hamilton, eds. Oxford: Blackwell.

Gibbs, Jason (2008). “Nhạc vàng hóa vàng,” Rock Hà Nội và Rumba Cửu Long. Nguyễn Trương Quý trans. Hanoi: Tri Thức Publishing House: 82. English original version: Yellow Music Turning Golden, Conference of the Popular Culture Association, San Diego, California, March 2005.

         (2008). “Bài ca không quên,” Rock Hà Nội và Rumba Cửu Long. English original version: An Unforgotten Song: Representations of the American War in Vietnamese Song after 1975, Conference Thirty Years After: Literature and Film of the Vietnam War, University of Hawaii, 9th November, 2005.

Hosbawn, Eric (1983). “Mass-producing traditions: Europe, 1870-1914”, The Invention of Tradition. Hobsbawm, Eric and Terence Ranger, eds. Cambridge: Cambridge University Press: 263-308.

Fairclough, Norman (1995). Media Discourse. London: Arnold.

         (2003). Analysing Discourse: Textual Analysis for Social Research. London: Routledge.

Krippendorff, K (1980). Content Analysis. London: Sage.

P.T.T.T (2011), 1997 - Một năm “lịch sử” của nhạc Việt [1997 - A “historical” year of Vietnamese music]. Thể thao & Văn hóa (online version: http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-giai-tri/1997-mot-nam-lich-su-cua-nhac-viet-n20110726152238170.htm), repost in the Lan Song Xanh official website (http://www.lansongxanh.vn/NewDetail.aspx?idNew=318).

Marr, David G. (1995). Vietnam 1945: The Quest for Power. Berkeley: University of California Press.

McQuail, Dennis (1992). Media Performance. London: Sage.

         (2005). McQuail’s Mass Communication Theory. Firth Edition. London: Sage.

Riffe, D, Lacy, S & Fico, FG (2005). Analyzing Media Messages: Using Quantitative Content Analysis in Research. Second Edition. NJ: LEA.

Rosengren, Karl Erik (2006). Communication as an Introduction. London: Sage.

* Những bài hát chủ đề Hà Nội cũ được phát trên VOV có thể nghe tại:
http://baicadicungnamthang.net/bai-hat?letter=H&page=2

Top Ten Làn Sóng Xanh 1997-1998: https://chiasenhac.tk/http/search.chiasenhac.com/search.php?mode=album&s=L%C3%A0n+S%C3%B3ng+Xanh+Vol.1

DVD Hanoi songs – Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội:

https://www.youtube.com/playlist?list=PLLKl6x1q9rG4LWIHZtS0w_HTW6IKCWK_4
http://diendan.vietgiaitri.com/chu-de/bai-ca-ha-noi-1464092.vgt

Thứ Năm, ngày 14 tháng 1 năm 2016

Bóng mây của niềm bâng khuâng




Lời nói đầu cho cuốn "Buổi chiều ngồi hát" - tập truyện ngắn của Nguyễn Việt Hà, Nxb Trẻ, 2016.

Truyện ngắn liệu có thể là bài tập cho tiểu thuyết? Nhìn câu chữ bề ngoài và theo chính tác giả nói, nhiều tứ trong các truyện ngắn trong tập này là khởi thủy cho những trang tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà. Nhưng về cấu trúc nội tại, những truyện ngắn này có đời sống độc lập. Chúng có độ gọn gàng chặt chẽ cần có, và chúng cũng có những độ mở, những “đầu chờ” khiến người đọc có được sự bâng khuâng. Truyện ngắn tạo được cảm giác bâng khuâng ngơ ngẩn khiến người ta nghĩ tiếp. Dư âm của nó tựa như lúc nhân vật của Nguyễn Việt Hà bỏ đi, trời Hà Nội “lãng đãng nhiều sương mù và sau đám dày sương sớm ưng ửng vài vệt nắng nhẹ”.

Vẫn là lối kể ấy, không thể khác biệt hơn, truyện ngắn Nguyễn Việt Hà là sự pha trộn những mảng miếng nhẩn nha của tạp văn và sự ăm ắp cồn cào của tiểu thuyết. Trong hơn 20 năm, mỗi năm chỉ chừng một vài truyện, có lẽ là quá kiệm chữ so với sức viết tạp văn (vốn đã có đến hàng trăm bài và nửa tá cuốn ăn khách), cho thấy sự kỹ tính và còn là cầu kỳ của tác giả. Vẫn viết về Hà Nội, một Hà Nội rất đặc trưng, rối bời lộn xộn trong cả sự bình lặng, đến nỗi bâng khuâng cũng không đủ dài hơi, như đám mây trắng đương “kỳ vĩ hắt vài vệt hoàng hôn xuống mặt nước xanh” đã thoắt “bớt trắng hình thù nham nhở đứng im”. Nhân vật nữ - một cô gái Hà Nội sành sỏi và hão huyền, hệt như thành phố của cô ta - từ chối nhìn màu mây, cũng là từ chối nhìn thấy hiện thực bẽ bàng phô bày khi cái vẻ đẹp tráng men kia tan biến.

Chớp bắt được những khoảnh khắc ấy, những khoảnh khắc chỉ bật lên ở thể loại truyện ngắn, Nguyễn Việt Hà ý thức rất rõ đang bếp núc ở một lĩnh vực đòi hỏi công phu không kém tiểu thuyết. Những khoảng bâng khuâng “lửng lơ ốm” ấy sẽ chìm nghỉm trong dày đặc chữ lý sự của tiểu thuyết, hoặc rất bơ vơ lạc lõng trong cà kê chua cay của tạp văn. Ở đây, truyện ngắn là cái áo vừa vặn của những nỗi bâng khuâng. Tâm lý của con người đô thị trong các truyện ngắn đầy nỗi nhớ nhung một kỷ niệm đã vơi cạn, thăm thẳm buồn trong sự tha hóa không cưỡng được: những gã đàn ông vùi mình trong men cay, toan tính bỏ đi mong tìm chân lý, tìm sự thoát ngộ, hoặc mãi không thoát khỏi bóng mối tình đầu, đều “mãi không tới núi” hoặc cái có được “vẫn chỉ là mây trắng” như những tên truyện nhiều ám dụ.

Nói về cách viết, trước đây đã có nhiều cuộc tranh luận về “truyện có truyện” và “truyện không có truyện”. Đến giờ, có thể nhờ vào những phân tích của lý thuyết văn bản học hoặc diễn ngôn, người ta đi đến một nhận thức rằng cho dù tác giả không chủ đích kể một câu chuyện “cổ điển ba hồi” thì nó vẫn gợi ra một câu chuyện nội tại. Ngay cả cách đọc, giờ đây cũng khác. Nếu tóm tắt hay kể lại cốt truyện của Nguyễn Việt Hà thì chẳng thể làm được, mặc dù giọng điệu có vẻ như đang giãi bày chuyện một anh công chức cố nhoi lên chức phó phòng tép riu hay một cái quán karaoke đèn mờ đủ thứ vật vã. Giữ chân người đọc, hẳn là cái gì đó xa hơn cốt truyện.

Như tên một truyện ngắn trong tập, giữa“Trùng trùng điệp điệp” những điều muộn phiền vây bủa quanh đời, làm thế nào để thoát khỏi chúng, Nguyễn Việt Hà hình như vẫn không giấu một chút gì khắc khoải, mơ mộng. Nó cũng như đời sống ở một thành phố bụi bặm đến nhem nhuốc cả tình yêu, từ trời rơi xuống đôi mặt hồ in bóng mây của niềm bâng khuâng.


Nguyễn Trương Quý

Thứ Sáu, ngày 11 tháng 12 năm 2015

Quần là cháy ly

Ngay tên gọi nôm na là “quần Âu” cũng đã thấy rõ phần trang phục này không phải của ta, và hơn thế, rõ cả châu lục xuất xứ. Cái quần Âu, tức là cái quần dài, thông qua người Pháp, nhanh chóng chiếm vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa Việt Nam chỉ sau vài thập niên Âu hóa, và giờ đây là món đồ không thể thiếu của bất kỳ người nam giới nào, thậm chí ngay từ khi thôi nôi.

Tất nhiên phụ nữ cũng đã có cuộc cách mạng khi Coco Chanel mặc bộ đồ lễ phục kiểu nam giới để trở thành một phân khúc thời trang hấp dẫn, nhưng những sự phóng túng phá cách càng làm nổi lên tính chất kinh điển của chiếc quần dài nam giới. Ít nhất mỗi người đàn ông đều phải có trong tủ quần áo một đôi chiếc quần âu cùng áo sơmi để đi làm việc, đi dự những buổi họp hay muốn xuất hiện trước đám đông một cách nghiêm ngắn, với một thông điệp đại loại như “tôi là người sẵn sàng làm việc”. Chiếc quần dài, vì vậy, là một chỉ dấu của người trưởng thành trong xã hội.

Quần dài nam giới xét cho cùng, ít để lại ấn tượng đặc biệt nào về thời trang, nhưng lại phản ánh nếp sống của chủ nhân. Những thước phim câm nổi tiếng của danh hài Charlie Chaplin làm người ta nhớ trước hết là vì trang phục kỳ khôi của nhân vật chính tương hợp với điệu bộ lũn cũn, tất tả. Anh chàng Tramp người lang thang luôn mặc một bộ suit rất đủ lệ bộ, không quên một cây gậy quý phái, nhưng những thứ này gây tức cười bởi nó nhàu nhĩ, lấm lem, và cái quần dài luôn quá khổ so với thân hình gầy gò ốm đói, chỉ chực tụt ra khỏi đôi chân. Bởi vì Tramp là người nghèo cùng khổ, lấy đâu ra thời gian để quần là áo lượt, nên sự đói khổ in dấu lên trang phục rất rõ, dù là bộ Âu phục đường bệ. Chiếc quần quá khổ khiến cho thân hình của anh hề trở nên bé nhỏ, đáng thương. Anh ta nghèo nên không thể có bộ quần áo thứ hai để thay đổi, và cũng nghèo nên không có điều kiện giặt là cho phẳng phiu “quần có ly” như đúng quy cách lịch duyệt. Nhưng cũng có thể thấy trong những bộ phim của hề Charlot, anh ta nghèo mà vẫn cố giữ cho mình một cái vẻ ngoài “người hữu ích cho xã hội” cũng như cố giữ cho mình một thiên lương.

Thời chiến tranh và bao cấp ở Việt Nam, có lúc việc đánh răng, là quần áo (ở miền Nam gọi là ủi đồ) bị coi là dấu vết của thói tiểu tư sản cần phải dẹp. Vì thế, những cái quần âu thẳng nếp thì hiếm mà nhăn như lò xo lại nhiều. Đã vậy chất vải lại kém, chẳng mấy ai có nhiều chiếc quần để thay đổi. Hà Nội như thể toàn những chàng Charlot đạp xe kẽo kẹt trên những nẻo đường sơ tán hay xếp hàng mua gạo ngoài phố. Chẳng biết có nhiều chàng Charlot ấy giữ cho mình sự cố gắng chải chuốt cần có không, như một thái độ của việc ý thức về cá nhân. Những chiếc quần Âu đã có lúc thay thế bằng những cái quần xanh cỏ úa của bộ đội, những cái quần mặc ở hậu phương lam lũ đến mức có thành ngữ “quần xắn móng lợn” át hẳn hình ảnh những cái quần lá tọa, quần chân què ở nông thôn xưa kia. Có cái quần Âu tươm tất đã khó, huống hồ những phụ kiện như thắt lưng. Ai mặc quần lên gấu lơvê hẳn là những cụ ông luyến tiếc thời đi giày hai màu nện gót trên vỉa hè Bờ Hồ, nghe nhạc phát ra từ máy quay đĩa 78 vòng. Tôi nhớ lần đầu đến một sàn nhảy cổ điển ở phố Lý Nam Đế cách đây đã gần hai chục năm, vẫn còn những vũ sư dân chơi từ thời Pháp thuộc, các cụ mặc quần ống rộng, giày đế cao, túi áo vét không quên gài khăn mùi xoa trắng. Với các cụ, sàn nhảy là chỗ thiêng liêng hào hoa, cái quần dài lúc nào cũng có ly thẳng tắp, giống như cách các cụ ưỡn ngực thẳng lưng bước đi trong tiếng nhạc tango réo rắt. May mà Đổi mới không đến quá muộn để các cụ lúc ấy còn đủ hơi dận gót dìu các học viên nữ.

Thời trang là sự thay đổi, vì thế quần Âu cũng hết ống đứng đến ống loe, loe chán thì sang ống thụng và ống côn, chưa kể đến sự cạnh tranh của các loại quần kaki hay jeans, nhiều khi đã lấn lướt ý niệm “quần dài” vốn độc tôn cho loại quần được tách từ bộ comple. Đã có thời quần loe bị cấm, và đã có lúc quần loe làm mưa làm gió trên sân khấu như những chiếc quần ống vẩy dát kim tuyến của ban nhạc ABBA.

Chúng ta không thể tìm kiếm một chiếc quần Âu chung thích hợp cho mọi người đàn ông, nhưng chúng ta có thể tìm được chiếc quần thể hiện nhu cầu tôn vinh cơ thể mình, thay vì mua tranh bán cướp một chiếc quần phân phối bằng tem phiếu ngày xưa. Và chúng ta cũng chẳng còn là những kẻ ham rẻ đến độ mùa khuyến mại nào cũng nhặt những chiếc quần giảm giá tối đa nhưng có size lệch với mình cả cây số vòng eo. Quần 1000 đôla giảm giá chỉ còn 2 triệu đồng ư? Rẻ quá. Size XXL? Có thể bóp eo bóp mông không nhỉ? Ý tưởng này làm tôi nhớ đến thời nhỏ, người cậu đi công tác nước ngoài về cho một cái quần vải cực tốt, pha nylon gì đó khiến không nóng mà không bị nhàu, kiểu dáng lại lịch sự, màu nhã nhặn. Tất nhiên mẹ tôi phải chữa lại vì nó quá to. Kết quả tôi có một cái quần dài mới và một cái quần soóc. Nhưng đi đến đâu mẹ tôi cũng phải chỉ vào những cái quần đó và bảo “quần này chữa lại từ quần mang từ Tây về đấy!” Nếu không thế, ai mà biết tôi đang mặc một cái quần Tây! Chỉ còn thiếu nước tôi cầm hai bên quần đi tới đi lui giống hề Charlot.

Tôi đã nhìn lại mấy tấm ảnh ấy. Cái quần trứ danh có đến hai hay ba ly, khiến tôi như mặc quần của một ông già sáu mươi tuổi. Nó được bóp eo cho vừa cái bụng lép nhưng ống vẫn rộng nên ở hai bên hông đột ngột phồng ra rất tức cười. Hơi hơi giống quần của các vũ sư.

Dù sao thì cái quần đó mẹ tôi cũng đã làm một việc lớn: là (ủi) đến “cháy ly” – tôi mặc mấy năm vẫn thẳng thớm. Dĩ nhiên, tôi lấy đâu ra cái quần dài thứ hai giống thế để được coi là con nhà tiểu tư sản! Mà những năm tháng trước Đổi mới ấy, những ông vũ sư con nhà ăn chơi cố cựu mặc quần gì?

N.T.Q

Thứ Ba, ngày 24 tháng 11 năm 2015

Bay đi tìm nhau



… Một vùng mây trắng bay đi tìm nhau …

Khi đọc đến giữa truyện thứ hai trong tập Người lính kèn về làng của Trần Quốc Huấn, tôi khóc. Máy bay vẫn đang trong giai đoạn cất cánh nên tôi không hạ tấm che cửa sổ được, vì thế nắng miền Nam tháng Mười một vẫn chói chang rọi vào chỗ ngồi. Tôi cố quay ra cửa sổ, tránh khỏi làm phiền người phụ nữ da trắng bên cạnh. Ngoài cửa sổ mây trắng xóa. Bảo Ninh cũng từng có truyện Ngàn năm mây trắng, viết về một bà mẹ lần đầu đi máy bay vào Nam, khi lên trời ngang vĩ tuyến 17, bà bày lên bàn ăn một tấm ảnh, vài món đồ cúng và thắp hương. Dĩ nhiên công cuộc của bà gây phiền hà. Bà phân trần: “Non ba chục năm tôi mới lên được miền cháu khuất”. “Tấm ảnh được cắt ra từ một mảnh báo, đã cũ xưa, nhưng người phi công trong ảnh còn rất trẻ”. Tôi nhớ mang máng cái phim truyền hình dựa theo truyện khá là cải lương. Chắc cảnh tôi sụt sịt lã chã cũng cải lương lắm.

Truyện mà tôi vừa đọc lúc nãy là Mùa trái rụng nhiều. Viết không cầu kỳ, mộc mạc, nhưng nó đủ chi tiết đắt của thời chiến tranh, ở một không gian tù đọng như một cái làng Macônđô nào đấy, vừa hồ nghi duy lý vừa thành tâm dân gian. Một anh đàn ông hỏng một mắt, gọi thô là chột, không được đi bộ đội, nhưng học nghề cắt tóc rồi ngẫu nhiên thành họa sĩ truyền thần. Truyền thần là một cái nghề thịnh hành ở Việt Nam (hay chắc chủ yếu ở miền Bắc) thời việc chụp ảnh vẫn là xa xỉ, và đối tượng được truyền thần – tức vẽ và phóng ra hình lớn từ những bức ảnh nhỏ cỡ bao thuốc hay bao diêm – lại cũng oái oăm là những người đã chết. Những ông già bà cả đã khuất núi, và dĩ nhiên ở thời chiến tranh là những người lính đã ngã xuống. Chi tiết cây bàng rụng nhiều quả báo hiệu nhiều người chết để thân nhân ùn ùn mang ảnh đến cho Thịnh chột vẽ mặc dù hơi sáo, nhưng về mặt tâm trạng dân gian người Việt, nó có gốc rễ cảm xúc. Tình tiết người phụ nữ chỉ còn tấm ảnh tập thể lớp Ba gồm những đứa bé 7, 8 tuổi mà cái mặt anh chồng chỉ bé bằng hạt đậu, chính là cái gốc rễ khiến tôi khóc.

Có thể vì bố tôi mất cách đây mấy tháng. Có thể vì tác giả Trần Quốc Huấn mất mới đầy năm. Vì những người miền Bắc đã sống qua thời nhiều khổ đau trong chiến tranh chia sẻ chung những gốc rễ làng xóm cộng đồng vừa tù hãm vừa giằng díu những yêu thương trong sự tù hãm đó. Tôi đọc thấy đời bố tôi, mẹ tôi, những người thế hệ trước, chạy tới chạy lui trong cái khung vừa xộc xệch vừa đậm đặc sự chu toàn đắp đổi đó.

Tôi nhớ đến cái làng quê ngoại tôi, nơi cũng đã có những khung cảnh như truyện Trần Quốc Huấn. Bác tôi bị lòa sau khi biết tin người con cả hi sinh ở Tây Ninh năm 1972, cả cuộc đời dài dặc còn lại ông sống trong bóng tối. Nhưng bóng tối của ông lúc nào cũng có vẻ như ăm ắp các rường mối, như thể những hệ xà nhà đan cài khin khít trên mái những ngôi nhà xưa cũ. Với ông, những vị khách Hà Nội như bố mẹ tôi, chị em tôi lúc nào cũng là thượng khách. Với ông, cái làng Ngọc Trục ven sông Nhuệ mãi mãi mẫu mực cho một cộng đồng trong ấm ngoài êm, tắt lửa tối đèn có nhau. Nhưng lúc ông mất, không ai ngờ là ông không có một tấm ảnh nào! Mà có phải thời chiến tranh đói kém đâu, năm 2010! Và làng Ngọc Trục có xa gì, cách những hiệu ảnh Bờ Hồ chỉ mười cây số. Vậy mà lúc ông còn sống, con cháu quên mất việc chụp ảnh cho ông, dù chỉ là một bức cả gia đình. Bởi vì ông bị mù quá lâu, nên có khi ông không còn nhớ đến việc trên đời có thứ gọi là nhiếp ảnh. Người mù nào còn quan tâm được mình trông ra sao.

Vậy làm thế nào có ảnh thờ bây giờ.

Một chi tiết đắt giá của truyện ngắn đã xảy ra. Con cháu đè người đã chết ra chụp. Tôi biết chi tiết này quá ư đau lòng, và phũ phàng khi kể ra. Nhưng đọc đến truyện của anh Huấn, tôi không kìm được nước mắt. Tôi nhớ đến khuôn mặt xám lạnh ấy, dĩ nhiên mắt đã nhắm. Thế rồi một hai tiếng sau, người con chạy từ hiệu ảnh ở thị xã Hà Đông về, với bức ảnh hình như được vẽ vào hai con mắt đen láy. Bức ảnh vẫn là ảnh của người chết với đôi môi hơi há ra.

Tôi đã biết cảnh bác tôi cứ ngồi đó hóng khách đến chơi, ai đến cũng nắm tay nắm chân như muốn níu rịt lấy. Cảnh những người ốm nhiều năm, cứ loanh quanh đợi một cái kết nào đấy. Không biết khi anh Huấn ốm, và chắc là anh có nhiều khát vọng thì chúng có làm khổ anh không. Trần Quốc Huấn từng đoạt giải Nhất cuộc thi truyện ngắn tạp chí Văn nghệ quân đội năm 1987, sau lại đi làm phim với những phim có cái tên thật ám ảnh vận vào người: Phần đời không muốn nhớ, Người lính kèn về làng... Anh tham gia biên kịch và đạo diễn cả những phim đình đám như Đêm hội Long Trì, Kiếp phù du, Đồng đội.

Tôi buồn bã nghĩ đến cuộc sống thời bao cấp ấy bởi anh biên tập viên vốn người miền Nam, nói với vợ anh Huấn rằng không hình dung ra người miền Bắc lại khổ thế. Tôi buồn vì đáng lẽ năm nay tôi sẽ gửi một truyện ngắn đăng báo Tết về cái đề tài vùng miền như thế, nhưng tôi cứ chán ngán khi mở facebook ra là nhan nhản những status và comment thành kiến về người Bắc. Tôi không còn hào hứng. Tôi không muốn nhập thêm mình vào cái bể sùng sục ngầu bọt ấy.

Quay lại với tập Người lính kèn về làng. Không phải cả 8 truyện trong tập tôi đều thích cả. Nhưng bỏ qua những lớp ngôn từ hay lớp nghĩa bề mặt đã bị thời gian khai thác cùn mòn, có những lớp ngôn từ và nghĩa ẩn tàng nằm trong cội rễ cảm xúc. Người viết không thấy có phút nào đứng cao hơn nhân vật, hay có dấu vết thời thượng kiểu nghiêng mình nhìn xuống những người bé mọn. Tác giả cứ thủng thẳng kể, kể một cách giản dị, mà rất tỉ mỉ. Mặc dù là những câu chuyện đã thuộc về thời đã cũ: anh lính phục viên đứng ra nhận làm cha cho đứa con của cô gái lỡ làng – một môtip thuộc loại “kinh điển” của phim ảnh truyền hình Việt Nam những năm 90, rồi những người trí thức “nghèo nhưng mà tốt” ở những cơ quan xí nghiệp thời tiền đổi mới… Nhưng ở đấy còn là những “vùng biển thẳm” (chính là tên truyện đầu tiên của tập, một truyện nhiều chất thơ), là những khoảng sực tỉnh của những người bị quá khứ quấy rầy, không yên hàn được với thực tại.

Tôi đọc xong tập truyện trên máy bay, cũng đủ nguôi ngoai nỗi niềm khi máy bay hạ cánh. Trên màn hình ở khoang hành khách, người ta chiếu cảnh đường băng. Những ánh phản chiếu của mốc đường băng dần tắt bớt, nhường chỗ cho những vệt đen của bánh cao su miết trên nền bê tông. Chúng đậm dần, đậm dần đến lúc chỉ còn là một dải đen chiếm trọn màn hình.

NTQ

Chủ Nhật, ngày 27 tháng 9 năm 2015

Đèn Trung thu của bố

Bố tôi là một người rất khéo tay. Ông gói bánh chưng giỏi có tiếng, viết chữ đẹp (luôn được khu phố cử ra viết khẩu hiệu!), làm cả những việc nặng nhọc với tinh thần tài hoa đáng ngạc nhiên: đóng gạch xỉ viên nào cũng chặt và vuông thành sắc cạnh, hiếm khi bị nứt vỡ. Ngôi nhà tôi hồi bé được xây bằng chính những viên gạch ấy.
Dĩ nhiên ông làm các món đồ thủ công rất thiện nghệ. Món quà thời thơ ấu nổi bật nhất của tôi là một cái đèn trung thu ông sao, bố tôi vót tre và lắp. Nó không phải loại đèn ông sao dán giấy bóng kính đỏ rừng rực mà ọp ẹp bán ở Hàng Mã bây giờ. Nó chắc chắn và quan trọng là rất to, phải gấp đôi cái đèn bán ở chợ (mà người ta thường gọi là “đồ hàng mã” để chỉ sự rẻ tiền và dùng xong một lần là bỏ). Cái đèn ông sao ấy là món đồ chơi của tôi suốt nhiều năm. Mỗi năm đến mùa Trung thu, tôi lại lấy cái đèn xuống, giữ nguyên khung ghép bằng nan tre bề thế đó và tự tay cắt giấy màu thay vào lớp giấy cũ đã bạc. Lòng cây đèn đủ rộng để tôi thắp được loại nến to hơn nến bé bằng đầu đũa bọn trẻ con dùng ở những cây đèn bình thường. Với tôi cây đèn này là sáng nhất. Nó luôn nổi bật khi được giương ở đám rước khu phố. Tất nhiên là tôi rất hãnh diện. Đứa nào trong xóm cũng trầm trồ với cái đèn to xứng đáng đi đầu.
Trung thu tưởng chừng cứ mãi đơn giản thế. Nhưng rồi càng lớn, càng ít đứa cùng tuổi thích đi rước đèn. Và tôi cũng thấy vô duyên khi cầm cái đèn to đùng đi như những năm trước, đằng sau là đám trẻ con lít nhít. Tôi cất cái đèn lên gác.
Một lần có đứa em họ tới chơi. Nó thích cái đèn. Tôi hơi tiếc nhưng cũng cho nó. Tôi không nhớ cảm giác lúc ấy, chắc tôi không biết được những ngày thơ ấu của mình đã chấm dứt vào hôm tôi cất cái đèn đi. Sau này, tôi đã sửng sốt khi xem cảnh cuối phim hoạt hình Câu chuyện đồ chơi, cậu bé Alex vào đại học và tặng lại thùng đồ chơi cho bé Bonnie hàng xóm. Sao giống cảnh của tôi vậy? Những năm tháng sau khi không còn đi rước đèn, Trung thu với tôi mất hẳn mục đích, chỉ là nhấm nháp bánh nướng, bánh dẻo hoặc đến chơi nhà bạn. Trăng trên trời sáng đến mấy cũng không ấn tượng, cùng lắm thốt lên: “Trăng tròn quá nhỉ!”.
Trung thu chỉ trở lại một cách “phức tạp” khi tôi đọc Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng, có lẽ là vào cuối cấp ba. Lúc này ý nghĩa trọn vẹn của tiết Trung thu cổ truyền mới được tôi đón nhận. Tiết Trung thu được tôi điểm lại qua những dòng văn miên man của Vũ Bằng, với “Mùa hồng lúc này đã rộ, bưởi cũng đã nhiều, nhưng thơm ngọt ngào mùi đất nước quê hương, đó có cái gì sánh được với cốm Vòng ăn với chuối trứng cuốc ngon lừ”. Vũ Bằng như những nhà văn khác, và giống bố tôi, đã dựng nên cái khung chắc chắn của cây đèn Trung thu từ những mảnh ký ức rời rạc của người đọc là tôi, để chờ tôi dán những miếng giấy màu lên đó.
Tôi gặp lại tâm trạng của mình mười năm trước: “Nhà tôi bán đầu sư tử: ai mà bảo sư tử của nhà khác cùng phố lớn hơn, đẹp hơn thì tôi tưởng có thể sanh sự liền; đèn kéo quân nhà tôi bán cũng là đèn đẹp nhất; còn cỗ tháng Tám thì khỏi phải nói, bao giờ tôi cũng thấy cỗ nhà tôi hách nhất và to nhất, không cỗ nhà ai sánh kịp… Cứ từ mười hai tháng tám là ngày bày cỗ, tôi sướng như điên, có đêm thao thức đến một hai giờ khuya không ngủ được”. Tôi đọc được về tích Trung thu bên Trung Quốc, về tục hát trống quân, về phố phường Hà Nội những thập niên đầu thế kỷ trước, những phố hàng náo nhiệt đồ chơi dân gian, đều qua Thương nhớ mười hai, và cả Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân nữa.
Trung Thu lúc này mới là câu chuyện văn hóa. Cái nguồn cội thăm thẳm nào đấy chảy vào lòng tôi rất tự nhiên, nhờ những dòng tùy bút hay truyện ngắn đẹp đẽ kia. Nhờ những trang viết, bài ca một thời, tôi có cảm xúc hơn với cái mùa phức tạp nhất ở Hà Nội này.
Bố tôi cũng không còn cơ hội làm những món đồ thủ công cho tôi nữa, hoặc là tôi đã không còn cần đến bàn tay khéo léo của ông trong thời buổi cái gì cũng sẵn ngoài chợ. Bánh chưng thì nhà tôi đặt bốn cái là đủ cả Tết. Xe đạp, rồi xe máy hỏng là dắt ra hiệu. Bàn ghế thì đã sẵn xưởng sẵn thợ đóng cho. Những nét chữ đẹp của ông không còn cần cho những bảng hiệu băng rôn của tổ dân phố. Giờ máy vi tính đã làm thay hết. Trung thu ở Hà Nội vẫn náo nhiệt, đồ chơi sản xuất kiểu công nghiệp áp đảo các sản phẩm thủ công.
Trung thu năm nay là Trung thu đầu tiên tôi vắng bố. Ông đã ra đi vào một ngày mùa hạ nóng đến khắc nghiệt. Trước khi diễn ra đám tang, tôi được các cụ hội người cao tuổi đọc bản nháp điếu văn, trong đó điểm lại quá trình công tác của ông. Tôi có nhiều thắc mắc. Vì sao một người hiền lành và nhiều tài lẻ như ông lại vất vả chuyển việc nhiều thế, và vì sao ông về hưu ở cái tuổi còn trẻ hơn cả tôi bây giờ? Dường như ông khéo tay bởi vì hoàn cảnh quá vất vả đã buộc ông phải biết làm đủ thứ. Tôi không đủ sức đọc lại tập giấy tờ vì quá buồn. Cái khung nào đó sẽ cần tôi dán lại những khoảng trống.
Nhìn những cái đèn mùa Trung thu mới, tôi vẫn còn nhớ đến cái khung đèn vững chãi bố làm, được chằng buộc bằng những sợi chỉ chắc chắn, trên đấy tôi dán những giấy màu, những bông hoa trang trí tuổi nhỏ, và thắp lên ngọn nến sáng của mình.
Nguyễn Trương Quý

Thứ Hai, ngày 21 tháng 9 năm 2015

Đọc Phạm Duy và Lê Vân: Tư duy về nam và nữ giới


ĐỌC PHẠM DUY VÀ LÊ VÂN, TƯ DUY VỀ NAM VÀ NỮ GIỚI
Tác giả: John C. Schafer
Người dịch: Cao Thị Như Quỳnh, Nguyễn Trương Quý
Đại học Hoa Sen và Nhà xuất bản Hồng Đức phát hành, 2015
Giá bìa: 85.000 VNĐ
Từ lâu, các quan niệm về vai trò giới và định kiến giới đã tồn tại ở Việt Nam. Những quan niệm và định kiến ấy không chỉ thể hiện qua lời nói, hành động nhất thời, mà còn ăn sâu vào tiềm thức, gây ảnh hưởng đến quyết định cuộc đời của nhiều người Việt. Trong Đọc Phạm Duy và Lê Vân: Tư duy về nam và nữ giới, tác giả John C. Schafer đã nêu lên các phát hiện của mình về ý thức giới ở Việt Nam thông qua hai hồi kí của hai nghệ sĩ nổi tiếng thời bấy giờ: Phạm Duy và Lê Vân. 
Tuy chính tác giả cũng thừa nhận Phạm Duy và Lê Vân đều không tiêu biểu cho đàn ông và đàn bà ở Việt Nam, tác giả cho rằng hai nhân vật này đã cung cấp minh chứng để phân tích và trả lời câu hỏi của Lê Thị Nhâm Tuyết: “Tại sao đàn ông cứ bình thản là đàn ông, trong khi phụ nữ lúc nào cũng là nạn nhân của mọi thứ định kiến, đồng thời là đối tượng được nâng niu trân trọng trong vai trò của ngọn nguồn sáng tạo văn học nghệ thuật?” 
Nghiên cứu đã để lại cho người đọc nhiều băn khoăn, trăn trở khi đã chỉ ra bất bình đẳng giới vẫn còn sâu sắc đối với người Việt ở nhiều thế hệ, hoàn cảnh chính trị – xã hội. Đồng thời, nghiên cứu cũng khuyến khích việc “đọc lại”, nhằm “giải mã những thông điệp nằm dưới tầng sâu tác phẩm văn học, kể cả nằm ngoài ý thức người kể” để rồi tạo điều kiện cho “một cuộc đối thoại mới về văn hóa truyền thống”.

Thứ Tư, ngày 05 tháng 8 năm 2015

Biến mất khỏi bản đồ

(trích cuốn Mỗi góc phố một người đang sống)

Bản đồ Hà Nội 1963.Bản đồ Hà Nội 1963.

Đối diện với một thành phố ở khía cạnh không gian sống, “người phiêu lưu hiện đại” thường phải có một kiến thức về hình học, thiết bị điện tử cầm tay, những thứ có chứa một sản phẩm rất cổ xưa: bản đồ.

Thiết bị điện tử đã làm tối tân hóa bản đồ, tạo ra nhiều lớp chỉ dẫn động, thay vì một tờ giấy phẳng bẹt quen thuộc. Sự ra đời của ứng dụng bản đồ với các loại thông số về khách sạn, quán ăn, nhà hát, điểm tham quan… có cả điểm đánh giá, là sự thích ứng của quá trình đô thị hóa hậu hiện đại. Quá trình này được các nhà nghiên cứu định nghĩa như một sự mô tả tổng hợp về những thay đổi chính xảy ra ở các thành phố trong 25 năm cuối của thế kỷ XX.

Hà Nội cũng nằm trong tiến trình số hóa dữ liệu của mình rất nhanh. Cơ sở dữ liệu đồ sộ về hình ảnh và tin tức nhiều ngôn ngữ được cập nhật thường xuyên. Song song với quá trình ấy là cuộc xây dựng thành phố trong bối cảnh hậu thuộc địa vẫn còn bao trùm, nhất là khi hơn 3/4 nhân loại ngày nay có cuộc đời bị định hình bởi trải nghiệm về chủ nghĩa thuộc địa. Những tác phẩm nghiên cứu về đề tài hậu thuộc địa đã đi đến nhận định: “Sản phẩm văn hóa của họ mang ảnh hưởng trong và sau thời kỳ thuộc địa hóa của thực dân châu Âu”.

Từ một Hà Nội thông tin hành chính dàn mỏng trên những tấm bản đồ cũ, đơn thuần kẻ đường và tên phố, cùng vài địa danh có tính cột mốc, hoặc nếu có đa sắc thì có tính hoa mỹ trang trí, các bản đồ thế hệ mới đã tiến tới hiển thị sát thực tế. Bản đồ Google Map và các loại không ảnh độ phân giải cao đã phơi bày hiện trạng của các ngôi nhà, con đường hay diện tích các mặt hồ. Không còn ngóc ngách “bí ẩn” như trước, hình dạng Hà Nội đã rõ ràng hơn với các khu vực khác nhau, thay vì tùy vào việc các nhà làm bản đồ tô màu. Lúc này những sự lập lờ vốn diễn ra trên các bản đồ quy hoạch như khu công viên – vườn hoa – trường học – khu dịch vụ công cộng không còn được tô xanh cả khối mát mắt nữa mà rõ hẳn ra ngần nào là cây, ngần nào là nhà hàng (có khả năng rất cao là chạy máy lạnh). Tóm lại Hà Nội phân biệt rõ ra bốn khu: phố cổ xúm xít trong các ô phố tứ giác xộc xệch tuy vẫn theo các tuyến mạch lạc; phố Pháp vuông bàn cờ điểm xuyết các đường chéo dẫn lối hội tụ về các quảng trường, phố xôi đỗ khu tập thể và ngõ ngách của thời bao cấp – một ma trận chứ chẳng chơi, phố mới ở ngoài đường vành đai 2 – cố gắng tái hiện các ô bàn cờ. Bốn khu này gần như tương ứng với bốn vòng tròn đồng tâm, và xen kẹt giữa chúng cũng như ra xa hơn nữa là thành phố bên rìa.

Sơ đồ phân vùng trên bản đồ HN hiện nay.Sơ đồ phân vùng trên bản đồ HN hiện nay.

Từ tấm bản đồ mới này, soi vào không gian thực địa Hà Nội trên diện đứng, lại không dễ mà phân biệt. Phố xá Hà Nội thời đầu thế kỷ 21 gần như không có khối mà chỉ có những diện. Nghĩa là các dãy nhà chỉ có một mặt đứng. Hình thức kiến trúc tân cổ điển được đa số lựa chọn đã khiến cho bộ mặt chung na ná nhau. Ngay tại các khu phố Pháp vốn gồm các dinh thự và biệt thự cũng xảy ra tình trạng cơi nới, phá hàng rào mở kios, đẩy khối tích các công trình ra sát vỉa hè, góp thêm vào các mặt tiền trải dài như những mặt nạ bẹt.

Trên mỗi khu phố đã bị xô lệch trên bản đồ ấy, cái gì còn lại sau khi đã biến mất, cái gì đã chuyển đổi, bằng những nghiên cứu khảo cổ, người ta có thể so sánh được. Tuy nhiên, không khó để xác định xu thế hướng tâm của mạng lưới đường chính của Hà Nội, với trung tâm quen  thuộc là Hồ Gươm và phiên bản lớn hơn của nó là Hồ Tây. Các đường vành đai và hệ thống cầu vượt sông Hồng mọc lên đã bao trọn lấy Hồ Tây, dần biến mặt hồ 500 hecta này thành một trung tâm mới của Hà Nội sau nhiều lần mở rộng về phía Tây lẫn phía Bắc và Đông, tức bên kia sông Hồng.

Ở những trung tâm này, đã tự nhiên hình thành nên hai cái hồ vàng của Hà Nội. Cái tên Kim Ngưu trâu vàng của thời cổ xưa đã quá đúng với trị giá những mét vuông quanh Hồ Tây (tuy nhiên một dòng sông cũng tên Kim Ngưu thì ngắc ngoải do ô nhiễm, dù giá đất nhìn ra sông cũng không rẻ). Còn Hồ Gươm và khu phụ cận của nó, có giá đắt để không thể tưởng tượng được ai đó mua nổi. Một mét vuông nhà ở phố Hàng Đào theo mức giá đền bù của UBND thành phố Hà Nội ban hành ngày 25/12/2013 được xem là cao nhất Hà Nội – và có thể là Việt Nam – là 81 triệu đồng/m2. Đấy là lý thuyết. Cây đời có màu vàng bốn con chín, gấp hơn 10 lần thế. Khu đất 22-24 Hàng Bài cạnh ngã tư Hai Bà Trưng, trông sang Tràng Tiền Plaza, đền bù đầu 2011 lên đến 1 tỷ đồng/m2. Quanh Hồ Gươm, giá đất chẳng bao giờ hạ như thể chứng minh vua Lê Lợi là vua Midas phiên bản Việt. Hơn mét vuông ở đây có thể mua được một căn hộ nhỏ ở Long Biên hoặc xa xa trong Hà Đông, tất nhiên cách Bờ Hồ vài dặm, nghĩa là nằm ở những vành đai xa hẳn. Một cây kiếm ném xuống hồ của vua Lê như cái búng tay của Midas biến mọi thứ xung quanh hóa vàng.

***

Những lớp vật chất ra đời trên bản đồ những thập niên qua: đường mới mở, khu đô thị mới, những cây cầu. Những gì mới xuất hiện thường kéo theo sự tăng giá của bất động sản quanh đấy. Cái mới ở Hà Nội đã trở thành thứ kích cầu hoặc giá trị gia tăng cho các gói hàng nhà đất, gần như một đối trọng với giá trị gia tăng của “gần Bờ Hồ, trung tâm phố cổ, v.v…”. Tuy nhiên, nếu các món đồ cổ thường đã rõ ràng giá trị thì các sản phẩm đô thị mới vẫn còn gây tâm lý rất hồi hộp.

Đã có thứ ra đời mới thì cũng có những thứ biến mất: nhiều ao hồ, các thửa ruộng và những con ngõ: vẫn còn trên thực địa nhưng không thấy được ghi tên trên bản đồ nữa.

Bản đồ HN khoảng 1930, thể hiện 1 số tuyến đường tàu điện.Bản đồ HN khoảng 1930, thể hiện 1 số tuyến đường tàu điện.

Bản đồ Hà Nội năm 1986 ghi tên gần như đầy đủ các ngõ Hà Nội. Những lần phát hành sau đó, tên các ngõ dần ít được ghi, nhiều đoạn ngõ để trống, chỉ còn những đường trắng nhỏ hoặc bị lược bớt. Lý do là Hà Nội mở rộng địa giới hành chính, tờ bản đồ một mặt vừa to ra, một mặt thu tỉ lệ lại, có vẻ không còn chỗ để ghi chi chít ngõ nữa. Nhưng một lý do nữa, ngõ đã không còn quan trọng trong việc thể hiện mạng lưới giao thông bản đồ khi đã có nhiều đường lớn mở rộng, những cây số dài thườn thượt đi ra ngoại thành.

Đấy là trên bản đồ. Trên thực địa, ngõ lại chiếm ưu thế khi diện tích những căn nhà Hà Nội bé nhỏ, không đủ lớn để chiếm một phần tư ô bàn cờ tạo nên bởi hai đường phố. Những miếng đất nhỏ đủ để dựng những ngôi nhà hình ống tựa như những tinh thể muối đứng san sát bên nhau. Chúng rời rạc mà lại đông đặc một khối.

Ngõ hiếm khi là đường thẳng mà nhiều khi khúc khuỷu, cong queo, ngoằn ngoèo. Sự so le, khấp khểnh tạo ra một bố cục dễ gây cảm hứng cho nhiếp ảnh hay mỹ thuật. Bùi Xuân Phái vẽ những mái nhà không đều nhau là nghệ sĩ của một đô thị như thế. Sẽ là một Phái khác nếu ở một thành phố mà các dãy nhà đều tăm tắp như mạ cấy chăng dây. Cho đến giờ, những nhà chồng diêm, những phố Hàng Bạc, những ngõ Phất Lộc, vẫn còn được nhớ là nhờ tranh Phái cùng nhiều hậu duệ vẽ đi vẽ lại, cho dù đến nay hình hài phố cổ đã biến dạng. Như thế cũng là còn may mắn hơn những khu tập thể thời bao cấp cũng đã biến dạng và xuống cấp mà chẳng có nhà họa sĩ nào của nó vẽ lại vào danh tác cho đời sau. Ở các khu tập thể trước đây không tồn tại khái niệm ngõ, nhưng giờ đây dưới áp lực của dân sinh, của sự quản lý lỏng lẻo, chúng đã trở thành nhà ống biến hình từ căn hộ, chồng chất lên nhau và chia sẻ những lối đi ngoắt ngoéo hệt những con ngõ truyền thống.

Những con ngõ Hà Nội thực tế là sản phẩm để lại của đời sống đơn vị làng xã xưa kia, khi sinh hoạt dựa trên cơ sở sản xuất nông nghiệp hay thủ công, giao thông cơ bản là đi bộ, kết hợp với xe súc vật kéo hỗ trợ cho chở nông sản thu hoạch hay sản phẩm thủ công tại nhà. Chi phí để làm đường đi lại hoàn toàn dựa trên đóng góp của cư dân, vì vậy trong điều kiện vật chất hạn chế, hầu hết các con ngõ có một cữ bề rộng tối đa vừa một chiếc xe trâu. Những ngôi làng ban đầu gồm những gia đình có thửa đất sở hữu được tính theo đơn vị sào Bắc Bộ (360m2), qua thời gian, những sào đất ở và thậm chí đất vườn, ao được chia xẻ cho các con hay bán cho người ngoài. Những miếng đất không còn vuông vắn, chúng so le nhau để chừa lại những ngõ hẹp cho những miếng trong cùng có lối đi. Khi những ngôi làng được đô thị hóa, những miếng đất chỉ là nơi ở, và các con ngõ vốn dành cho cuộc sống làng xã đối diện với những mâu thuẫn của đời sống tiện nghi vật chất đô thị như xe cộ, đồ đạc – những thứ có kích thước cồng kềnh và chóng đổi mốt hơn nhiều so với những chiếc xe trâu hay những sập gụ, tủ chè hàng trăm năm không suy xuyển. Các ngôi nhà ba gian hai chái truyền thống trên các mảnh đất đủ rộng đã trở thành nhà ống ken nhau trong ngõ ngách.

Có thể thấy, vai trò của ngõ là dành cho một đời sống ít biến động, nặng tính cổ truyền. Sự biến đổi mau lẹ của quá trình đô thị hóa khiến cho hệ thống ngõ gặp nhiều bế tắc trong phát triển. Ở những đô thị cổ châu Âu, chẳng hạn Venice – nơi cũng tồn tại rất nhiều ngõ ngách, thì hình thái cư trú đã ổn định từ hàng trăm năm, lượng xe máy gần như không có, phương tiện giao thông trong ngõ duy nhất là các xe đẩy hàng. Thêm nữa, những nơi này thuộc về khu vực di sản kiến trúc và lịch sử, khác với hệ thống ngõ Hà Nội thường bị bỏ mặc trong quá trình bảo tồn và quy hoạch. Có một không gian rộng lớn của đô thị Hà Nội đặt ra vấn đề giải phóng quỹ đất và cơ cấu lại hình thái cư trú, kết hợp với tính toán giao thông, để chúng có thể tạo ra sức hấp dẫn cảnh quan, thay vì đang là những khu vực cằn cỗi nhất của thành phố.

Ngay các ngõ kiểu Pháp như Hà Hồi, Hội Vũ, Tức Mạc, vốn được người Pháp gọi là các “cité” cũng không còn được ghi tên bản đồ nữa, và trên thực địa, chúng cũng mất dần tính chất “xóm thượng lưu” khi các mảnh vườn bị lấn chiếm, các ngôi nhà xây dựng kín đất, và các biệt thự trở thành nhà ống. Mô hình thành phố vườn từng có ở Hà Nội (Trong thành phố có một vườn cây mát… Nơi thu sang mây trắng vẫn bay về -  Lưu Quang Vũ) đã không đủ sức hấp dẫn để các chủ nhân giữ lại so với sức hút của nền kinh tế nhà đất.

***
Việc phức tạp trong cải tạo đô thị cũ đã khiến cho việc thúc đẩy “thành phố mới” dọc các đường vành đai Hà Nội. Đầu tiên phải kể đến sự ra đời ngày một nhiều các trung tâm mua sắm dọc các đường này. Hệ thống chuỗi đô thị mới Vincom dọc đường vành đai 2, án ngữ các cửa ngõ, cùng các hệ thống siêu thị lớn tạo ra một vành đai cư dân trung lưu, tách ra khỏi khu vực lộn xộn của thành phố cũ (nhưng không đủ giá trị cổ như cái lõi trung tâm). Nó không phải là đặc sản của Hà Nội thời này, mà lặp lại đúng các diễn tiến đã được các nhà nghiên cứu phân loại từ thế kỷ trước. Một khu đô thị như vậy như Times City vốn xây từ khu đất giải tỏa của nhà máy dệt 8-3, đã khiến cho phường Vĩnh Tuy có số dân lên tới 6 vạn, gấp 3 lần một phường bình thường.

Các khu đô thị này mặc dù lặp lại công việc thiết lập khu dân cư mới, song khác với thiết lập đô thị của người Pháp hay xây dựng các khu tập thể trước đây với nguồn vốn của nhà nước, thì các khu đô thị mới do các công ty tư nhân đầu tư. Điều này quan trọng bởi hình thức kiến trúc và quy mô các đơn vị nhà ở được “may đo” theo phong cách và chỉ tiêu vừa ý khách hàng nhất. Dễ nhận thấy xu hướng kiến trúc tân cổ điển là trội bật, khuếch trương các giá trị của đời sống trung và thượng lưu, hoặc một phong cách “quốc tế”, từ các biệt thự cho đến các chung cư cao tầng. Đây chính là bộ mặt sôi động của đô thị hiện nay, phản ánh thị trường nhà đất không chỉ là vấn đề tích lũy tài sản cố định của người dân mà còn là mối quan tâm đến không gian sống theo nhu cầu. Cách thức hàng vạn người có chung tiến trình góp vốn mua căn hộ với mức giá họ chấp nhận được dần hút cư dân về ở theo giai tầng xã hội.

Sự biến mất dù là trên bản đồ của hệ thống các ngõ ngách kém quan trọng trong thị trường bất động sản Hà Nội để nhường chỗ cho các chỉ dẫn về các khu đô thị mới tạo nên một thành phố được “lọc”. Ngõ Văn Chỉ đã được mở rộng thành đường Lê Thanh Nghị, và dấu tích văn chỉ Thọ Xương chỉ còn nằm trong một ngôi nhà cũ trong ngõ bên cạnh thông ra phố Bạch Mai. Cư dân khu vực gần như không biết ý nghĩa của tên gọi con ngõ cũ. Trong khi đó, bản đồ quy hoạch năm 1943 của người Pháp đã từng nối đê Tô Hoàng với ngõ Cột Cờ thành một đường chéo từ Ô Cầu Dền tới cửa bệnh viện Bạch Mai, tạo thành một hệ đường hình tia ngôi sao theo kiểu Paris, tương ứng là một số đường khác đối xứng, nhưng đã không thực hiện được. Bây giờ hai con ngõ vẫn còn, nhưng chúng không hề gây ấn tượng đấy là dấu vết của một quy hoạch có tính “sang trọng”.

Có rất nhiều thứ đã biến mất khỏi các bản đồ quá khứ: đường tàu điện, các khu công nghiệp trong nội thành, những mặt nước, thậm chí một khúc sông Tô Lịch. Có những thứ hiện hữu trên mặt đất nhưng vẫn không có trên bản đồ như công trình lăng Hoàng Cao Khải gắn liền với cái tên Thái Hà Ấp. Có những vùng mênh mông nhà cửa nhưng thưa vắng chỉ dẫn như dải đất ngoài đê sông Hồng. Trong các cuốn sách hướng dẫn du lịch, họ có vẽ những walking tour (lộ trình đi bộ) hay biking tour (đi xe đạp) quanh các khu vực nhiều điểm tham quan nhất. Một bản đồ hấp dẫn có thể mời gọi du khách đi được nhiều không gian đa dạng nhất trong bán kính cho phép. Tôi đã từng đi theo dấu 6 tuyến xe điện xưa để tìm kiếm một vết tích nào của thứ đã đi vào ký ức tập thể người Hà Nội. Nhưng không còn gì, một đoạn đường ray - không, một cột điện treo dây – không, thậm chí công ty xe điện ở phố Thụy Khuê cũng nói rằng họ không còn giữ một đầu máy hay toa tàu nào cả. Những con đường cũ giờ trải nhựa nhẵn thín không có vẻ gì đã từng có những chuyến tàu điện chầm chậm, thứ trong đầu luôn đẹp đẽ hơn thực tế. Chỉ còn lại đôi ba người lái tàu kể cho chúng tôi nghe về nghề nghiệp cũ của họ. Hình như có một thứ bản đồ tồn tại dai dẳng trong trí óc con người, thay cho những tấm bản đồ bạc màu và thông tin không bao giờ là đủ.

Cùng ông Nguyễn Sơn Giang, người lái tàu điện có số hiệu 56 những năm 70-80. Ông là con của nhà tư sản Nguyễn Sơn Hà, đại biểu QH khóa I.Cùng ông Nguyễn Sơn Giang, người lái tàu điện có số hiệu 56 những năm 70-80. Ông là con của nhà tư sản Nguyễn Sơn Hà, đại biểu QH khóa I.

Nguyễn Trương Quý

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ