Thứ Tư, ngày 28 tháng 1 năm 2015

Sự thiên vị của hồn phố

Khoảng vài năm nay, trong cơn sốt bạn bè mua nhà mới, thường là căn hộ nào đó ở những khu đô thị mới ở vùng ven Hà Nội, tôi cũng bon chen đi tham quan. Xem xong, tôi thường phải nâng lên đặt xuống các tiêu chí. Một trong những điều khiến tôi cũng như nhiều người đang ở trong khu phố thuộc vùng nội thành cũ lăn tăn là những khu ấy mới quá, chẳng biết có không khí gì của phố xá không, chợ búa có gần, có cây xanh vườn hoa không… hoặc “tầm thường” như muốn đi ăn phở trong phố cổ thì mất bao lâu. Tóm lại mục đích vẫn là nơi mới cần tái tạo một không khí, một cái hồn tựa như vùng đô thị cũ tôi đã quen. Điều này tuy mơ hồ nhưng có cơ sở.

Dì tôi trước đây ở khu Ngã Tư Sở, khi nhà nước giải tỏa nhà để mở rộng lấy đường giao thông, cả vùng về khu tái định cư ở khu đô thị mới Định Công trong mấy tòa chung cư cao tầng. Nếu ai còn nhớ thì khu Ngã Tư Sở vốn là một cửa ngõ sầm uất phía Tây Nam của Hà Nội, nơi có hẳn bề dày về thương nghiệp, nơi có chợ Cầu Mới, đường tàu điện Hà Nội-Hà Đông chạy qua… Ngã Tư Sở như cái rốn của khu vực này, có lẽ sầm uất chỉ kém chợ Đồng Xuân-Bắc Qua một thời. Rồi Ngã Tư Sở mở rộng, cây cầu vượt chia đôi khu, cộng thêm các trung tâm thương mại khác ra đời gần đó. Những người từng quen buôn bán và sinh hoạt theo nếp sống ồn ào, giờ về sống trong khu đô thị mới nhiều cây xanh, chung cư thang máy và mọi sự khép kín, hàng xóm dân phố trước đây giờ vẫn là hàng xóm nhưng khác tầng, khác đơn nguyên. Rảnh rỗi, họ làm gì bây giờ? Tiền tiết kiệm ăn mãi cũng hết. Dĩ nhiên khu đô thị mới cũng có chợ, nhưng mấy khối nhà cao tầng nằm tách biệt hẳn ra, cư dân ba đời buôn bán mặt mũi ai nấy mệt mỏi, chán nản. Cuối cùng họ có sáng kiến là mở chợ ngay tại căn hộ. Có nhà bán hàng khô, có nhà bán đồ tươi sống, thậm chí mở cả phản thịt. Có tầng thành như một phố chợ mini. Ban đầu cũng rôm rả, nhộn nhịp lắm.

Việc họp chợ trong chung cư không mới, khu Trung Hòa-Nhân Chính đắt tiền hơn đã có, ở Sài Gòn cũng có. Nhưng rồi ban quản lý thấy rắc rối nên cũng sớm dẹp, thêm nữa là những người bán cũng thấy căn hộ thiết kế để ở không thể đáp ứng kiểu bày hàng như sạp ở chợ hay cửa hiệu ở mặt phố. Cùng lắm cũng chỉ như chợ xanh, chợ cóc, từ lấy hàng, cất trữ đến chuyên chở đều bất tiện. Mặc dù non sông thay đổi, bản tính khó dời, nhưng cái chi li chật hẹp đóng kín của căn hộ tái định cư, hành lang, cầu thang thiết kế chỉ có ngần ấy mét vuông để đi lại, không tiện lợi lâu dài cho việc dựng lại cái hồn phố như ngày nào. Cái bản tính, cái hồn quen thuộc đã đến lúc phải chọn một câu tự động viên khác: Ở đâu âu đấy.

Bây giờ, những người sống ở khu chung cư như vợ chồng dì tôi đã chấm dứt mong muốn tái nghề, họ rủ nhau đi tập thể dục ngày hai lần ở vườn hoa trong khu đô thị mới, nấu hai bữa cơm đợi con, chiều dắt xe đi đón cháu, chấp nhận ăn quà sáng ở những quán theo họ là kém xa khu phố cũ. Họ đã quên mình từng là dân phố chợ. Hồn phố mới bây giờ với họ là hàng cây đều tăm tắp dọc các con đường có độ rộng tiêu chuẩn 3,5m, là các vườn hoa be bé giữa các dãy nhà biệt thự hoặc nhà lô liên kế 4m chiều ngang, là cầu thang máy dán chi chít thông báo và quảng cáo dịch vụ giao hàng tận nhà.

Một người bạn của tôi vì công việc đã chuyển nhà từ Hà Nội vào Sài Gòn. Chị đón cả mẹ vào để tiện chăm sóc và cũng để bà gần cháu. Khỏi phải nói sự thay đổi lớn thế nào khi bà đang từ căn nhà bé tí một phòng 10m2 ở phố cổ Hà Nội vào ở một tòa nhà rộng mấy phòng ngủ nơi quận mới của Sài Gòn. Mỗi ngày của bà diễn ra cũng nhàn tản như của dì tôi ở căn hộ tái định cư. Nhưng cứ có khách ở Hà Nội vào thăm là bà kể chuyện giá cả, bao giờ rau ở Hà Nội cũng rẻ hơn, quà sáng ở đây nấu không ngon bằng ở phố cũ. Bà dạy cháu: “Nhà mình ở đâu? Hà Nội. Phố gì? Phố X. Số nhà bao nhiêu? 50.” Tức là với bà, nhà vẫn là căn nhà ở góc phố rêu xanh chật chội Hà Nội, ngồi ở cửa là chào không hết người quen, chứ không phải khu đô thị mới bên sông Sài Gòn, cả buổi mới có một hai người lai vãng. Có thể nửa năm nữa bà mới quen được không gian sống mới này, mới có những mối quan hệ bạn bè, nhưng bà là điển hình cho việc chưa tìm được cái hồn đô thị mới thay thế cho một phần hồn đã quen thuộc cả đời người.

Hồn phố như người ta đã chỉ ra, được tạo nên từ ký ức của mỗi người, mỗi thế hệ. Sự bảo thủ ở đây còn giúp cho việc duy trì một đường nét nhận dạng phần hồn ấy, như trường hợp mẹ bạn tôi. Sự thích ứng giúp cho họ chóng tạo lập một ký ức mới để có được một hồn phố thị mới, như trường hợp dì tôi. Không cần nói cũng hình dung chị bạn tôi điên tiết thế nào khi sống cùng một người thân suốt ngày “nhớ Hàng Bạc nhớ qua Hàng Đào”, “nhưng rau muống ở Hà Nội ăn ngọt hơn”, “sang năm mẹ phải về ăn Tết hết rằm”. Tuy nhiên, nếu chúng ta nhớ lại một chút thì những ký ức này hệt như những gì Vũ Bằng đã viết trong Thương nhớ mười hai lúc ông đã di cư vào Nam, để rồi người sau coi đấy là chân dung một hồn phố Hà Nội thực sự. Còn hôm nay, khi Tết về, trên Facebook nhiều người ở xa thốt lên câu nhớ Hà Nội, nhớ mưa phùn gió bấc. Có cái gió lạnh nào chỉ nghe tên gọi mà hình dung ra đường phố xao xác, ra áo len, ra khăn quàng, ra hoa đào, ra nước lá mùi thơm, ra nước chè nóng, ra những bài hát… những thứ khá rời rạc nhưng kết lại thành một hệ thống, gợi cái này dắt theo cái kia, như một sơ đồ tư duy. Sơ đồ này không chỉ người Hà Nội mới có, nhưng một khi họ đã thiên vị thì chẳng sơ đồ nào bằng. Một khi đã thiên vị thì gió rét cũng đáng yêu. Hồn phố của họ ở đấy chứ đâu?

Nguyễn Trương Quý

(Pháp Luật TPHCM Xuân 2015)

Thứ Bảy, ngày 24 tháng 1 năm 2015

Sự nhỏ bé của bản sắc

Cách đây hơn chục năm, khi chuẩn bị xuất bản một cuốn sách, một nhà xuất bản ở Việt Nam bao giờ cũng tính đến bán cho thị trường nào, Hà Nội hay Sài Gòn. Tình hình cũng tương tự với phim ảnh, ca nhạc, sân khấu. Một mặc định đưa ra là: Hà Nội khó tính hơn Sài Gòn, gu Sài Gòn thích thực dụng, thích hài hơn Hà Nội. Còn món ăn? Đừng hòng bán phở ăn với đĩa giá sống và rau húng ở Hà Nội. Không khéo mà bị người “sành mồm” Hà Nội chửi cho nát nước. Câu chuyện kinh điển là khách Sài Gòn ra Bắc bị chủ quán đuổi vì ăn phở hỏi giá đâu. Cùng để ngọt mồm, phở Bắc thì “tương” mì chính, phở Nam thì “nêm” đường. Lưu ý, tương và nêm là hai động từ đồng nghĩa, nhưng mỗi miền chỉ dùng một từ, đồng âm với những từ khác, dùng lẫn lộn là không ai hiểu. Đấy là một loại bản sắc.

Bây giờ tình hình đã khác. Phở 24 từ Sài Gòn ra đã trụ lại được cả mười năm nay. Ngay cả phở truyền thống thủ đô cũng đã ngọt vị đường. Giới trẻ Hà Nội tuy đón Starbucks, thương hiệu quán cà phê của Mỹ, muộn hơn Sài Gòn vài tháng nhưng cũng nô nức chẳng kém. Sách của nhà xuất bản Trẻ từ Sài Gòn ra bán tràn ngập phố sách Đinh Lễ ở Hà Nội. Nhã Nam thư quán ở Sài Gòn bán sách cũng rầm rộ không kém đại bản doanh phía Bắc. Trong khi đó, cuộc tranh cãi về bản sắc Hà Nội vẫn thu hút đám đông hăng hái, trên mạng và trên những phương tiện thông tin đại chúng khác.Trên một chương trình bình luận ca nhạc về Hà Nội trên tivi, một nữ phó giáo sư nghệ thuật học đã kiên quyết bắt hội đồng bình luận phải đồng ý với bà rằng “tiêu chuẩn đầu tiên để hát hay về Hà Nội là phải hát bằng giọng Hà Nội”. Nhưng trên các bảng xếp hạng bài hát yêu thích, giới trẻ miền nào cũng nghe một danh sách bài như thế, ca sĩ nào cũng hát bằng một giọng không cần biết vùng nào, thậm chí còn không rõ thanh dấu như người nước ngoài nói tiếng Việt. Bài hát của giới trẻ cũng chẳng ngại mà “tương” mà “nêm” vài câu tiếng Anh cho vui tai. Tính quốc tế thì có lẽ không, vì ngoài vài chục triệu thanh thiếu niên nước nhà ra, không thính giả ngoại quốc nào biết đến mấy bài hát này. Thế nhưng dư luận Việt Nam lại vô cùng bức xúc về đâu là bản sắc Việt khi cho rằng bài hát đình đám nhất hiện nay của một nhạc sĩ trẻ quê Thái Bình đạo nhạc Hàn Quốc. Khổ nỗi là những bài hát về Hà Nội thì tinh thần Hà Nội lắm, nhưng chúng không may mắn bằng các món ăn. Món ăn biến tấu được nhiều vẻ, còn bài hát về Hà Nội cứ biến tấu cách hát đi là ngang phè.

Tình hình cũng không sáng sủa khi người ta bất lực trong việc truy nguyên gốc tích món phở Hà Nội. Nó có đạo món mì của người Tàu hay món súp thịt bò của người Pháp không thì không ai chắc, nhưng sự thật là sau hai, ba chục năm xuất hiện mà phở đã được người Hà Nội xếp vào hàng quốc hồn quốc túy và đến giờ, phở đồng nghĩa với một giá trị văn hóa Hà Nội. Người ta đành chấp nhận rằng phở ra đời sau khi có một thành phố Hà Nội theo mô hình hiện đại do người Pháp quy hoạch nên. Nó là kết quả của sự lai tạo, vì thế cũng biến đổi theo gu mỗi thời. Cuộc tranh luận về ẩm thực lại xoay theo hướng khác.

Những cuộc tranh luận về ẩm thực Hà thành gần đây ngoài việc tìm xem đâu là tính nguyên bản của những món ăn, còn là sự lựa chọn giữa tiêu chuẩn “ngon” và “thái độ phục vụ”. Có người cho rằng “ngon” thì đích thị nguyên bản, là chuẩn Hà Nội. Có những người chấp nhận phở quát cháo chửi để ăn một món theo họ là ngon vì độ đậm đà của nước dùng, của bánh phở mềm mịn hay nước chấm thanh dịu. Có người phản đối, chưa biết ngon thế nào nhưng ngồi đợi cả tiếng mới có cái ăn trong khung cảnh bô nhếch, lại được khuyến mại bằng tiếng chao chát của người phục vụ thì chả hơi đâu đâm đầu vào. Và như thế, không thể chấp nhận là một tiêu chuẩn cho Hà Nội. Thà rằng ăn bánh KFC uống cà phê take away, tất cả xếp hàng trả tiền trước rồi lấy đồ, đồ ăn thức uống trăm nơi như một, bù lại thảnh thơi ngắm hồ Gươm còn có tinh thần Hà Nội hơn. Quả thực, đem hai tính chất “đẹp” và “ngon” để định giá cũng mơ hồ như gọi ra bản sắc. Người ta đã chuyển dịch mối quan tâm về bản sắc từ vật chất sang hành vi.

Gần đây, khi những cuốn sách như Hà Nội băm sáu phố phường của Thạch Lam hay Miếng ngon Hà Nội của Vũ Bằng được tái bản, có người đã cười nhạt: “Đúng là chỉ có ở ta viết về món ăn mà cũng thành danh tác!” Nghe thì có vẻ là điều không may cho văn học nước nhà, nhưng lại là điều may cho Hà Nội. Trong hệ thống “nhận diện thương hiệu” Hà Nội, món ăn đã nổi lên như một thứ trường cửu và không tầm thường như lối suy nghĩ cổ điển rằng nghĩ không vượt qua được cái dạ dày thì không làm nên chuyện. Trong khi những thành tựu trí tuệ của người Việt hiếm hoi lắm mới có mặt đây đó trên thế giới thì trong các cuốn menu đồ ăn châu Á trên đường du lịch, phở bò hay nem rán – hai món tủ của dân Hà Nội –  xuất hiện đỡ tủi thân hơn, ít ra là được ghi bằng tiếng Việt hẳn hoi.

Thời gian đã chứng tỏ sự khao khát đồng nhất bản sắc Hà Nội với cái đẹp, hay là Chân Thiện Mỹ thông qua những kênh “tầm thường” như ẩm thực, giọng nói, cách ứng xử ở phạm vi cá nhân. Nó là một phản ứng trước những sai lầm về xáo trộn sự ổn định các quan hệ giai tầng một thời và quy hoạch mang tính vĩ mô về xây dựng con người Hà Nội thanh lịch văn minh gần đây. Người ta đã nhận ra giá trị mang tính “danh tác” của những trang viết về ẩm thực Hà Nội, hay là những thứ nho nhỏ mang tính cá nhân của con người đô thị. Đã có một giai đoạn những nhà quản lý xóa bỏ hoặc xem thường những đặc điểm thị dân của Hà Nội, dẫn tới việc không dựng ra được một chân dung hay bản sắc của Hà Nội, hay chính xác hơn, giữa bản sắc mong muốn có được và hiện thực quá khác biệt. Những cuộc tranh cãi triền miên về sự thanh lịch của người Hà Nội hoặc thế nào là người Hà Nội gốc một mặt chứng tỏ nỗi khao khát tìm lại vẻ đẹp mẫu mực về một tiêu chuẩn cư dân đô thị văn minh, mặt khác thúc đẩy dư luận phục hưng các giá trị làm nên vẻ đẹp đó, tiến tới nhất thể chúng với định nghĩa bản sắc Hà Nội.

Hà Nội đã là một thành phố lai (hybrid) do kết quả của quá trình thuộc địa. Qua năm tháng, tính lai này vẫn là thứ tạo nên một phẩm chất đa diện hấp dẫn nhiều người tìm đến, cả khách du lịch lẫn giới sáng tác. Hà Nội có lẽ là một ví dụ đặc biệt để nói về đô thị hậu thực dân tái tạo bản sắc của mình. Những năm 1880, ở Hà Nội diễn ra cuộc đấu tranh giữa giữ lại những di tích bản địa và quy hoạch mới kiểu Pháp. Nhiều người Pháp đến Hà Nội muộn hơn đã tiếc nuối cho những di tích cổ bị phá để xây phố Tây. 130 năm sau, cuộc đấu tranh lặp lại, giữ lại những hình hài cũ hay là xây mới kiểu toàn cầu hóa. Và thật lạ là giữa khoảng thời gian ấy, chúng ta vẫn nhận ra món phở ngày nay giống với thứ Thạch Lam đã miêu tả như một nhận diện bản sắc Hà Nội. Trào lưu nơi nơi tranh cãi về bản sắc Hà Nội, đến độ tưởng như người Hà Nội quyết không đội trời chung với bọn nhà quê hay dân Sài Gòn “ăn phở trụng giá”, phải chăng chính là một bản sắc chỉ Hà Nội mới có?


Nguyễn Trương Quý
(Người lao động Xuân 2015)

Chủ Nhật, ngày 04 tháng 1 năm 2015

Khuôn mặt cười của phố

Lời giới thiệu cho tập tạp văn "Mặt của đàn ông", Nguyễn Việt Hà, NXB Trẻ 2015, tái bản có bổ sung.




Trong tạp văn của mình, Nguyễn Việt Hà nhận xét rằng đàn ông Việt hay tươi cười, vậy mà “Khi bàn về cười, đôi khi con người ta cũng phải mếu máo cay đắng đùa”. Đọc tạp văn của anh, người ta thấy rộn ràng dí dỏm những cú tỉa đọc lên thấy buồn cười. Làm thế nào để giữ được đẳng cấp hài hước như thế suốt năm này qua năm khác, khi trong sự riêng tư là đủ vị mệt mỏi chán chường của kiếp người, đặc biệt là người sống ở Hà Nội, nơi nhiều khi chỉ cần đi ngoài đường từ sáng đến tối là ngao ngán nhân tình. Người viết hướng ngoại như Nguyễn Việt Hà không ngao ngán mới là lạ.

Nhưng chính cái chốn dễ gây ngao ngán ấy lại nhiều khi mang đến cho anh những phần thưởng: “Trời thu Hà Nội thường rộng rãi, có lúc mây sẫm màu cồn cào thê thảm vần vũ, có lúc mênh mông típ tắp phóng khoáng cao xanh. Sao mà trời đất tự nhiên có ngày trăn trở phức tạp giống hệt như ngổn ngang lòng người, đang lâng lâng hào hứng hoan lạc chợt trầm xuống đột ngột nghẹn ngào bi tráng. Quả là một tiết mùa kì dị, thiên nhiên bỗng tương giao khăng khít vô cùng gần gũi đầy đẫm nhân tình” (Chơi vơi trăng thu). Cười đấy rồi lại trầm buồn đấy, tất cả làm nên sự gần gũi của những tạp văn Nguyễn Việt Hà viết về cuộc sống ở Hà Nội, dường như chỉ xoay quanh mấy từ khóa cơ bản – đàn ông, phố cũ, sách xưa, rượu ngon, người đẹp – mà đủ thứ chuyện. Có thể dùng chính những từ khóa đó để mô tả cuộc sống của đàn ông Việt Nam ngày nay, mà chúng cũng chính là những gì giới đàn ông có học thời trước bận tâm. Cuộc đời quả thực sẽ rất nghèo nàn và nhạt nhẽo nếu chỉ xoay quanh những vốn từ ngữ hạn hẹp chỉ dùng để định danh, nhưng qua bàn tay của những người viết, nó lung linh hẳn lên, sinh động tung tẩy như hình ảnh người đàn ông bán hàng ở chợ Đồng Xuân: “Anh ta đầu đội thúng, mồm và mông dẻo nguây nguẩy, nói tục như ranh. Bánh dày giò của Phương đồng cô tinh tế khó tả, một thứ quà tuyệt phẩm của chợ” (Đàn ông ngồi chợ).

Tạp văn của Nguyễn Việt Hà có một số lượng lớn xuất xứ từ chuyên mục viết về đàn ông, nên dễ hiểu là anh có điều kiện thâm canh mảng đề tài về nam giới thành thị. Nhưng ai đã từng giữ chuyên mục của các tạp chí thì đã biết nỗi vất vả của việc nuôi đề tài. Tuần tới, tháng tới sẽ viết gì, và làm sao lúc nào cũng vui như anh kép Tư Bền lên sân khấu, đấy là một áp lực kinh khủng. Không phải bài nào viết ra cũng tự thấy vừa ý, nhưng ngày nộp bài đã đến, lúc này phải cậy đến những chiêu thức viết nhà nghề để đảm bảo “phong độ nhất thời, đẳng cấp mãi mãi”. Nhờ vài chiêu thức ở phút cuối đó tựa như những bát bún thang hơi rối các thành phần, mỗi thứ đi lung tung một nẻo, gạt một thìa mắm tôm ngon vào bỗng hóa giải thành một thức quà thống nhất. Ở những bài viết tương đối thảnh thơi hơn, như viết về tác phẩm của một vài bạn văn nghệ như triển lãm tranh của Lê Thiết Cương, thơ của Nguyễn Quang Thiều, lục bát của Đồng Đức Bốn, văn của Đỗ Phấn, truyện thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh… hay về ngày xuân, về kỷ niệm tuổi nhỏ, giọng văn Nguyễn Việt Hà mênh mang, gợi mở như những phút thư giãn thống khoái của một người đang len lỏi giữa giăng mắc chợ búa nhà cửa chật chội bỗng gặp chiếc ghế đá trống ở vị trí đẹp nhất nhìn ra tháp Rùa giữa hồ Gươm.

Mỗi thành phố văn hóa luôn có những nhà văn của mình. Là một người kể chuyện đầy thú vị của Hà Nội, Nguyễn Việt Hà qua hơn hai thập niên đã dựng nên chân dung thành phố mình đang sống. Viết bằng giọng văn mà trước và sau không giống ai. Hà Nội của Nguyễn Việt Hà từ các tiểu thuyết Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn, Ba ngôi của người, các tạp văn Con giai phố cổ, Đàn bà uống rượu... mang hơi thở náo nhiệt đương đại nhưng cũng giữ những nét xưa cũ. Người Hà Nội là những ai, Nguyễn Việt Hà cố gắng nhận diện họ trong thời điểm xã hội đòi hỏi khẳng định bản sắc, đặc biệt ở thành phố này.

Trong khi Hà Nội biến đổi từng ngày, vấn đề bản sắc trở đi trở lại đến mức ám ảnh trong tâm lý của hệ thống truyền thông. Nguyễn Việt Hà nhấn mạnh rằng (điều đã nhấn mạnh hàng trăm lần) ký ức về những hành vi văn hóa của thị dân là thứ có khả năng truyền giữ lâu nhất. Những cảm xúc vàng mười không đổi được của những khám phá thế giới thuở hoa niên quanh những trang sách thánh thiện: “Bịt tranh đi đọc phần lời vẫn thấy náo nức xúc động, câu cú minh bạch trong sáng ăm ắp hào sảng, thật là kiểu văn chương chẳng thể để đời nhưng tuyệt vời dễ nhớ. Và lạ nhất là khi gấp cuốn truyện, cẩn thận giấu sâu vào dưới gối may tạm bằng bao bố thì bốn vách nghèo nàn của căn hộ tập thể bỗng ngập đầy tiếng gươm khua trống gõ. Bọn trẻ khao khát rừng rực ước muốn được giống như Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản. Mãi sau này khi đã có tuổi, nhiều người lớn mới ngộ ra rằng ‘trong sách có Thần’ là câu chẳng hề ngoa ngôn” (Khi trẻ con đọc). Thứ làm nên mẫu số chung của một nhân diện Hà Nội, theo Nguyễn Việt Hà là “Lưu manh Hà Nội tuy mất dạy, nhưng chưa thấy ai đi bắt nạt những thằng bé đang yêu chân thành ngồi khóc” (Có một mùa hè như thế) đến phong thái người phụ nữ thành thị ngồi xích lô qua chính lời kể tác giả về mẹ của mình.

Và viết tạp văn như thế này cũng là công việc lộ diện chính mình khá nhiều. Viết văn hư cấu dù ám chỉ đến đâu cũng còn đường núp vào “bảy phần hư”, trong khi ấy tạp văn của Nguyễn Việt Hà kể vanh vách chi tiết đời sống xung quanh mình, đến cả “cái hàm răng trên gia truyền từ họ ngoại luôn nhô ra giống như đang cười hớn hở” (Đàn ông tươi cười). Đàn ông tự soi được mặt mình, tự giễu hay tự yêu mình không rõ, nhưng không viết tạp văn khiến người ta hớn hở đọc mới là chuyện lạ.

Nguyễn Trương Quý



Thứ Bảy, ngày 20 tháng 12 năm 2014

"Big Brother" của không gian đô thị Hà Nội

Không phải đợi đến khi có định nghĩa về không gian công cộng theo các lý thuyết quy hoạch phương Tây thì Việt Nam mới có ý niệm này. Việt Nam là một xã hội có truyền thống sinh hoạt cộng đồng sâu đậm. Vì thế ở từng làng xã hay phường hội đều có không gian công cộng của mình. Theo thời gian, không gian công cộng tùy nơi mà phát huy tác dụng hoặc chỉ còn là khoảng trống hình thức. Tôi sẽ dùng những câu trong vốn ca dao hay quán ngữ dân gian để làm đề từ cho những ý phân tích về không gian sinh hoạt cộng đồng người Việt từ xưa đến giờ. Phạm vi của bài khảo sát quanh một số khu vực ở Hà Nội, tuy nhiên vẫn mang đậm dấu ấn làng xã. Từ đời sống sinh hoạt đến giao thương trong nhiều thế kỷ đã hòa chất làng xã này vào bản sắc của vùng đô thị “phố cổ” Hà Nội.

"Chợ Viềng năm có một phiên"

Người Việt Nam ưa tụ tập, thích hội hè. Theo thông báo mới nhất của cơ quan quản lý, nước ta có gần 8.000 lễ hội hàng năm (Tiền Phong, 25/10/2014). Các khu quần cư nông thôn luôn có đủ các thiết chế như không gian mở trước các công trình kiến trúc tín ngưỡng hay sân đình, nơi tiến hành các nghi lễ cộng đồng. Đến nay những hoạt động làng xã vẫn lấy những địa điểm này làm hạt nhân, có thêm các công trình như nhà văn hóa, sân bóng. Ngay cả những ngôi chợ cũng là một hình thức không gian giao lưu cộng đồng. Nhiều nơi, chợ họp ở sân chùa như chợ làng Chuông (Chương Mỹ, Hà Nội) hoặc trước cửa đình như chợ Đại Phùng (Đan Phượng, Hà Nội), gắn kết thành trung tâm giao lưu của làng, cho đến giờ vẫn là cặp bài trùng. Có khi là thành điểm giao lưu lễ hội như chợ Viềng gắn với Phủ Giầy (Vụ Bản, Nam Định) trong một vài đêm tháng Giêng âm lịch.



Áp phích quảng bá về Bắc Kỳ thời Pháp, với hình ảnh trung tâm sinh hoạt cộng đồng làng xã – đình làng.


Chợ Bưởi đầu thế kỷ 20.


Chợ họp ở sân đình Đại Phùng, 2008.

Hình thức của các không gian này thường tùy vào mặt bằng, đa phần ước lệ và lộ thiên, chỉ một số nơi có tường bao và mái che. Hình ảnh kinh điển “cây đa, bến nước, sân đình” – nơi tụ họp của cư dân đã thành biểu tượng tinh thần làng xã Việt Nam. Đáng lưu ý là ngày nay hình thức thực tế của các không gian này có thể biến đổi, nhiều dịch vụ hiện đại ở làng xã như gara sửa xe, khu giải trí như trò chơi điện tử, quán karaoke… vẫn bám lấy cái lõi này. Xét cho cùng, không phải việc đồng áng làm nên làng quê mà chính cái lõi sinh hoạt cộng đồng làm nên khu vực chiếm 2/3 dân số cả nước.


"Rủ nhau xem cảnh Kiếm hồ"

Liệu không gian công cộng có phải là cái lõi của đô thị Việt Nam hiện giờ không? Ngay từ dấu tích để lại, mặt bằng khu phố cổ Hà Nội không có một cái lõi trung tâm nào rõ rệt. Ngôi chợ lớn nhất là Đồng Xuân thực tế đã dịch chuyển nhiều lần quanh mạn Bắc khu phố cổ, và vị trí của nó thiên về việc bám lấy các bến cảng ven sông Hồng hơn là theo xu hướng “mọi ngả đường đều dẫn tới La Mã”. Các phố Hàng còn lại đều giống như các chợ con, mỗi phố bán một loại hàng càng làm đậm lên tính phân tán. Ở mỗi phố hoặc cụm phố này lại có một ngôi đình thờ tổ nghề do người làng từ các vùng xung quanh kinh thành ra làm ăn lập nên hoặc hội quán của Hoa kiều như Phúc Kiến ở phố Lãn Ông hoặc Quảng Đông ở Hàng Buồm. Những nơi này có dấu hiệu của không gian cộng đồng nhỏ nhưng không hẳn đã mở cho khách thập phương, hoặc nếu có thì nảy sinh từ lợi ích kinh tế. Ý niệm không gian nghệ thuật ở những nơi này cũng mờ, cho dù có thể có các gánh hát dân gian, các buổi diễn xướng cho đến các nghi lễ cúng bái dùng âm nhạc.



Chợ Đồng Xuân đầu TK 20.


Chợ Đồng Xuân 1954.

Dấu ấn phân tán cho đến nay vẫn rất rõ. Cho dù chính quyền thành phố Hà Nội đã xây dựng tuyến Hàng Đào – Đồng Xuân làm trục chính của tham quan, phố đi bộ - chợ đêm cuối tuần, và chợ Đồng Xuân làm điểm nhấn của khu phố cổ, thì các quảng trường hiếm hoi như trước cửa chợ Đồng Xuân hay chợ Hàng Da vẫn không có nhiều hoạt động cộng đồng vì tính chất giống các ngã tư giao lộ quá đậm nét. Thậm chí Nhà hát Tuồng nằm ngay ở rạp Hồng Hà nhìn ra quảng trường chợ Hàng Da cũng chưa khi nào khai thác được lợi thế này. Chợ Hàng Da từ khi được xây mới thành Trung tâm thương mại cũng không tận dụng được vị trí quá đẹp nơi đây, do bản thân việc kinh doanh khó khăn cũng vì quá đóng kín.

Trong khi đó, quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục với đài phun nước ở phía Bắc Hồ Gươm vẫn là mô hình không gian công cộng tương đối đúng nghĩa, nhờ có mặt thoáng của Hồ Gươm và các ngả phố từ khu phố cổ đổ về đây. Đã có những triển lãm ngoài trời của các nghệ sĩ nhiếp ảnh nước ngoài, sân khấu biểu diễn xiếc hoặc văn nghệ lưu động giữa quảng trường. Các quán cà phê và cửa hiệu xung quanh đều có xu hướng quay mặt tiền, ban công và sân trời nhìn ra quảng trường, tạo nên tính quần tụ đặc trưng cần có của không gian công cộng.



Đầu phố Cầu Gỗ thông ra Bờ Hồ khoảng 1940 – khu vực nay là quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục.


Ngã năm đầu phố Hàng Đào năm 1960 – nay là quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục.

"Hà Nội như động tiên sa"

Quảng trường là một dạng điển hình nhất của không gian công cộng, nghĩa gốc là khoảng [mặt bằng] rộng. Có nhiều loại gắn với công trình kiến trúc chính chế ngự không gian này: quảng trường thị chính, quảng trường thương nghiệp, quảng trường tín ngưỡng, quảng trường giao thông, quảng trường kỷ niệm, hoạt động văn hóa… Có thể thấy, quảng trường đã có trong các không gian kiến trúc truyền thống, nhưng chỉ đến thời người Pháp quy hoạch, vấn đề thẩm mỹ cảnh quan mới được đặt ra đối với các quảng trường, chẳng hạn như quảng trường Ba Đình lúc đầu gắn với tòa nhà Phủ Toàn quyền, nay là Phủ Chủ tịch, quảng trường Nhà hát Lớn với công trình hoành tráng nổi bật án ngữ. Tương tự, các không gian công cộng cũng đòi hỏi những thiết chế quy hoạch đi kèm: tượng đài, đài phun nước, vườn hoa, cây xanh, bậc cấp, các bình diện giới hạn khu vực theo các chiều khác nhau. Tinh thần chung là dọn sẵn những thứ phục vụ cho tính giao lưu giữa nhà nước với quần chúng và trong dân cư với nhau, thừa kế nguyên lý thiết kế của thành bang Hy Lạp cổ đại, mỗi quảng trường là một điểm nhấn của không gian đô thị, nơi tinh hoa trí tuệ của xã hội tụ họp. Nó có thể là điểm cuối những con đường, nghênh đón các luồng giao thông, tạo nên trạng thái trung tâm của đời sống.



Mít tinh thời Nhật chiếm đóng Đông Dương trước cửa tòa nhà tổ hợp thương mại (93 Đinh Tiên Hoàng ngày nay, đối diện Tràng Tiền Plaza).


Mít tinh Tuần lễ vàng tại quảng trường Nhà hát Lớn HN 16/9/1945. Tòa nhà phía sau nay là Trung tâm giao dịch chứng khoán HN.

Mít tinh ở quảng trường Nhà hát Lớn HN 7/1954. Có lẽ là buổi mít tinh cuối cùng do chính quyền thân Pháp tổ chức trước khi rút đi.


Một cuộc mít tinh khác của Việt Minh cùng thời điểm 7/1954 tại Ngã tư Sở.


Hệ thống không gian công cộng vài thập niên nửa sau thế kỷ 20 được tiếp nối bằng hình thức lõi “vườn hoa - nhà trẻ - trường học” của các khu tập thể. Tuy nhiên, hình thức này mau chóng mất tính cộng đồng khi các khu tập thể biến dạng. Cho đến giờ, đại đa số các vườn hoa lõi này đã biến mất, do sức ép không gian sinh tồn, sự quản lý yếu kém và độ kém hấp dẫn, đơn điệu của bản thân các mô hình khu tập thể. Và dễ nhận thấy hơn cả, chúng không là điểm nhấn của cảnh quan, lạc khỏi dòng chảy vận động của đô thị, lâu dần đánh mất vai trò trung tâm quần cư.


Vườn hoa trong khu tập thể Giảng Võ năm 1989. Ảnh của David Alan Harvey.

Hãy nhìn vào hiện tượng người dân Hà Nội đổ xô về khu vực Hồ Gươm hay quảng trường Nhà hát Lớn những ngày lễ. Bên cạnh một thói quen và sức hút của khu trung tâm, thì điều này chứng tỏ sự thiếu hụt trầm trọng các không gian công cộng mở hấp dẫn. Sự thiếu hụt này được bù đắp bằng các trung tâm thương mại lớn có kèm các hệ thống vui chơi giải trí trong nhà. Những nơi này đóng vai trò không gian công cộng ở khía cạnh thỏa mãn nhu cầu về sức chứa, song không thay được nhu cầu các hoạt động tập hợp đám đông, các sự kiện văn hóa quy mô quảng trường. Chúng chỉ thuần túy thỏa mãn nhu cầu của bản thân tòa nhà, chỉ là không gian chức năng của tòa nhà lớn: các đại sảnh thông tầng, các khoảng lưu thông mặt tiền. Ngay chính các tòa tháp Vincom, Royal City cũng mang tính giải pháp tình thế khi nằm ở các con đường không dành sẵn quy hoạch cho chúng. Có thể kết luận: các công trình lớn như thế chỉ là điểm nhấn về độ cao, khối tích mà không tạo ra điểm nhấn cảnh quan của không gian công cộng. Chúng quá mức “dương” khi chiếm hết khoảng không đô thị.

Tắc đường ngày Tết ở gần gò Đống Đa, đoạn nhìn sang Đại học Thủy Lợi, khoảng năm 1990. Ảnh của David Alan Harvey.

Giải pháp ở đây nhiều khi rất giản dị. Không gian công cộng cần những khoảng trống – những khoảng “âm” – tựa như một sân khấu mở, với những kiến trúc xung quanh quần tụ hướng tâm đóng vai trò các khán đài. Nó tái hiện lại nguyên tắc quảng trường cổ đại mà các quảng trường của các thành phố trên thế giới đi theo. Những không gian này cũng đòi hỏi các điều kiện mở về nghệ thuật cho các nghệ sĩ sáng tạo, trình diễn, tiện cho công chúng thưởng thức, gần gũi trao đổi thông tin với nhà quản lý, dễ dàng cho việc buôn bán, nghĩa là tính nhân văn của cộng đồng phải được đặt lên hàng đầu, bất luận quy mô nào. Một không gian công cộng đẹp sẽ mở đường cho các công trình kiến trúc đàn em đi theo.

Nguyễn Trương Quý

* Các câu ca dao được trích trong các bài sau:- Mồng một ăn Tết ở nhà
Mồng hai chơi điếm, mồng ba chơi đình
   Mồng bốn chơi chợ Quả Linh
Mồng năm chợ Trình, mồng sáu chợ Gôi
   Nghỉ ngày mồng bảy mà thôi
Ðến ngày mồng tám đi chơi chợ Viềng
   Chợ Viềng năm có một phiên
Cái nón em đội, cũng tiền anh mua.

- Rủ nhau xem cảnh Kiếm hồ
Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn
   Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn
Hỏi ai gây dựng nên non nước này?

- Hà Nội như động tiên sa
Sáu giờ tắt hết đèn xa đèn gần
   Vui nhất có chợ Đồng Xuân
Mùa nào thức nấy xa gần đến mua...
(bốn câu đầu trong bài hát xẩm "Vui nhất có chợ Đồng Xuân").

Thứ Hai, ngày 15 tháng 12 năm 2014

Hồ Gươm - nơi Đông Tây hội ngộ

(Tham luận tại Hội thảo về Quy hoạch Hồ Gươm 2014. Các phần rút gọn đã đăng trên tạp chí Kiến trúc và Tinh hoa Việt).

Hồ Gươm là một bài học quy hoạch hoàn chỉnh nhất trong vòng hơn trăm năm qua tại Hà Nội. Điều này chứng minh được không chỉ ở phạm vi trung tâm đô thị này, nơi Hồ Gươm được mặc định là hạt nhân của không gian thành phố. Cách thức quy hoạch lấy một mặt hồ có độ lớn vừa phải, hình dáng thường quy về tròn, có một vài kiến trúc nhỏ làm điểm nhấn, tận dụng hệ thống cây xanh và đường giao thông vòng quanh hồ, đã gây ảnh hưởng đến các quy hoạch những hồ nước trong đô thị về sau. Có lẽ ở khía cạnh ý tưởng, quy hoạch này không phải là đầu tiên trong lịch sử, mà có kế thừa mô hình của cả quy hoạch đình tạ Á Đông lẫn công viên Pháp, ảnh hưởng qua hai nền văn hóa giao thoa, và hơn thế là những người quy hoạch đã biết biểu tượng hóa các kiến trúc trong đó để thổi một cái hồn còn sức sống đến nay.

Hồ Gươm, ảnh Võ An Ninh.Hồ Gươm, ảnh Võ An Ninh.

Cái nền Á Đông sẵn có

Trước khi người Pháp tới, thì các danh sĩ Bắc Hà như Nguyễn Văn Siêu, Vũ Tông Phan… đã ghi dấu ấn bằng cách đặt vào những hình thái cảnh quan kiểu đình tạ ảnh hưởng từ lối quy hoạch truyền thống các nước ảnh hưởng nền văn hóa Trung Hoa. Đền Ngọc Sơn, tháp Bút, đài Nghiên, nối với nhau bằng cầu Thê Húc, là một cách các thế hệ nhà nho khoa bảng lẫn tài tử thế kỷ 19 thi triển những biểu tượng văn hiến Nho giáo. Bên cạnh hồ là một trái núi đá nhỏ, trên có ngọn tháp, thừa kế phong cách kinh điển của tương quan thiên-địa-nhân trong bố cục chiều cao – như các ngọn tháp trên các đỉnh hay sườn núi đã đi vào mô tả của Trương Hán Siêu hay Nguyễn Trãi về núi Dục Thúy với ngọn tháp được ví như “trâm ngọc” cài vào từ thế kỷ 14-15, và nhất thiết cả quần thể soi bóng bên một khúc sông hay mặt hồ - kích đại chiều sâu không gian.

Việc “cải tiến” nội dung tháp chạy đàn hay đặt xá lị của tín ngưỡng Phật giáo sang tháp kỷ niệm văn chương đã khiến cho tháp Bút có đặc điểm độc đáo (trên mặt có 3 chữ “Tả Thanh Thiên” – viết lên trời xanh), làm thành cặp biểu tượng với đài Nghiên – chiếc nghiên đá đặt trên cổng giữa vào đền Ngọc Sơn, cung cấp một nội dung sinh động cho cái vỏ kiến trúc vốn không nhiều đột biến. Cây cầu dẫn vào một hòn đảo, cùng với một phương đình kiểu thủy tạ là Trấn Ba Đình, thực tế là một mô phỏng các kiến trúc đình tạ - cầu kiều, nhưng đã thoát ly khỏi chốn cung đình quý tộc để xuất hiện ở nơi công cộng bình dân. Cũng phải nói rằng vào thế kỷ 19, Thăng Long đã trở thành Bắc Thành rồi Hà Nội, không còn là kinh đô và giới quý tộc triều cũ đã thất thế, vì vậy việc tái hiện một khung cảnh có tính cung đình ở hồ Gươm cung cấp một ánh xạ của các vườn ngự uyển trong cung vua hoặc phủ chúa.

Trong Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác, khi viết về phủ chúa Trịnh ở khu vực phía Tây Nam hồ Gươm ngày nay, tác giả viết: “Hành lang, lan can quanh co, tiếp nối song song..Vòng quanh ước chừng một dặm, nơi nào cũng lầu đài, đình, gác,… giữa đất bằng nhô lên ngọn núi cao, cây to bóng mát, nhịp cầu sơn vẽ bắc ngang lạch nước quanh co, lại có lan can toàn bằng đá màu”. Còn Tang thương ngẫu lục của Nguyễn Án bổ sung: “Đến ngày chúa ngự ra chơi Bắc cung, cung có cái ao gọi là Long Trì rộng nửa dặm. Trong ao trồng rất nhiều hoa sen, hoa súng. Ven ao đắp đất trồng đá làm núi, chỗ cao chỗ thấp, dàn đặt có hình thế. Có những chỗ khuỷu để cho nhạc công ngồi đàn sáo. Bờ ao trồng hàng mấy trăm cây phù dung, treo đèn ở trên. Sóng trăng rập rờn, trông xa tựa hàng vạn ngôi sao sáng...” 

Trong Ghi chép về vương quốc Đàng Ngoài, thời gian khoảng 1680, Samuel Barol đã ghi nhận: “Phủ Chúa nằm gần như ở giữa thành phố, rất rộng và có tường bao… Bên trong là các tòa nhà cao hai tầng, hầu hết mở thoáng. Ở phía sau có nhiều công viên, các khóm cây, lối đi dạo, lầu vọng cảnh, đầm cá và bất cứ thứ gì đất nước có thể dâng lên để cho Chúa giải trí, khi mà ông ta hiếm khi du ngoạn bên ngoài”. Trong cuốn sách ghi chép chi tiết về Thăng Long-Kẻ Chợ, Baron không đưa ra mối liên hệ nào về khu vực hồ Hoàn Kiếm hoặc các tên gọi trước đây. Có thể chắc chắn rằng, cho đến thế kỷ 17, hồ Hoàn Kiếm chưa hề xuất hiện như một trung tâm của đô thị. Tang thương ngẫu lục viết vào đầu thế kỷ 19 có một bài về hồ này, ghi nhận rằng hồ thông với sông Cái, và cũng thời gian này, trên tấm bản đồ tỉnh thành Hà Nội năm 1831 thời Minh Mạng, hình dáng cơ bản của hồ mới được xác định với cái tên Tả Vọng. 

Cùng với quần thể đền Ngọc Sơn, những kiến trúc khác như đền Bà Kiệu, chùa Báo Ân, tháp Rùa và những năm 1940 là nhà hàng Thủy Tạ, đều là những kết quả của ảnh hưởng bố cục không gian Á Đông. Chúng chú trọng tính mở của không gian. Nhược điểm của hệ thống này là sự tản mát của các hạng mục và không có trục rõ ràng. Chúng cũng thiếu một đường giao thông ven hồ nối với nhau, để như những gì ghi chép lại trong Hà Nội giai đoạn 1873-1888 mà André Masson đã dẫn lời một nhân chứng: “Hồ Gươm làm người ta buồn nôn vì đây là nơi nhận đủ thứ rác rưởi, nhà dân bản xứ vươn ra hồ trên những chiếc cọc… Các túp lều của dân bản xứ trên bờ hồ san sát nhau đến nỗi, để xuống được hồ, sau khi rời những con đường khá bẩn nhưng vẫn đi được, người ta phải len lỏi qua những ngõ ngách chật hẹp men theo hàng ngàn khúc quẹo… nhiều khi không sao tới được mép nước, nếu tới được cách mép hồ vài bước thì cũng chán không muốn gặp một cái phá độc hại ngay giữa Hà Nội cổ”. Bỏ qua nhận xét tiêu cực thì dễ hiểu là đến giữa những năm 1870, hồ Gươm vẫn có dáng dấp những ao hồ nông thôn. Đây cũng là phần ngoại vi khu 36 phố phường, mật độ dân cư thưa hơn, nhà cửa kém kiên cố hơn các khu phố cổ mạn trên hoặc khu người Hoa.

Bản đồ hiện trạng khu vực hồ Gươm 1885.Bản đồ hiện trạng khu vực hồ Gươm 1885.

Dấu ấn Pháp trong tiếp biến cảnh quan

Trong vòng bốn năm từ khi người Pháp bình định xong Bắc Kỳ, hồ Gươm trở thành trung tâm của công cuộc chỉnh trang thành phố Hà Nội, dẫn tới hai mốc quan trọng là thành phố Hà Nội hiện đại được thành lập năm 1888 và trở thành thủ đô của Liên bang Đông Dương vào năm 1902, theo quyết định của Tổng thống Pháp. Kết quả của cuộc chỉnh trang là con đường quanh hồ với độ rộng cho bốn làn xe, dẫn đến sự xóa bỏ chùa Báo Ân, cũng như ngọn tháp Hòa Phong còn lại của chùa này và tam quan đền Bà Kiệu ở mép hồ bên kia đường với các kiến trúc còn lại. Đan cài vào đó là việc mở ra các trục công viên hướng ra hồ, lấy tháp Rùa làm đích, hai bên trục này là các kiến trúc mới như tòa Đốc lý, nhà Bưu điện. Bố cục không gian của khu vực Hồ Gươm trở nên rõ ràng, mạch lạc khi khu vực phía Bắc là quảng trường rộng dẫn vào khu phố cổ bản địa thấp tầng ít cây xanh, tuyến cây xanh được tăng dần khi bắt đầu qua cụm đền Ngọc Sơn để vào khu phố Tây, và ở đây mới bắt đầu có những ngã tư giao thông có làn xe đúng nghĩa. “Đầu năm 1885, phố Hàng Khảm (tức trục Tràng Tiền-Hàng Khay-Tràng Thi ngày nay) trở thành một phố được trải đá dăm khá tốt, rộng từ 16 đến 18m, các cửa hàng hầu như của người châu Âu…” 1884, trú sứ Bonnal cho nhập 2 chiếc xe tay từ Nhật. 1885, có xe khách công cộng do ngựa kéo. 1886, có hai chiếc xe bốn bánh đầu tiên. 

Ở đây, người ta nhận thấy có một sự thăm dò hơi công thức trong việc quy hoạch các khu chức năng. Cách xếp đặt các công trình hành chính đô thị (tòa đốc lý, tức thị chính) cạnh các dịch vụ công (bưu điện), vườn hoa, công nghiệp phục vụ dân sinh (nhà máy điện), và khu cửa hàng, giải trí (quán rượu, hiệu thuốc) liền kề quanh một ngã tư Hàng Khay-Tràng Tiền-Bờ Hồ (Đinh Tiên Hoàng ngày nay) mang kiểu cách của một đô thị quy mô nhỏ có giao thông cơ giới không nhiều, vốn rất phổ biến cho những đô thị mới lập ở phương Tây. Tuy nhiên, sự có mặt của hồ Gươm đã làm cho đô thị này không giống các đô thị khuôn mẫu nhàm chán. Nó chứa những dấu ấn kiến trúc cảnh quan Á Đông như đã nói ở trước, có độ mở và tạo phần âm cho một khu vực có mật độ xây dựng khá dày. Việc cải tạo và lấy hồ Gươm làm lõi của khu trung tâm Hà Nội đã thành công khi đây còn là sự chuyển tiếp hợp lý giữa khu phố bản địa phía Bắc với khu phố Pháp phía Nam. Nó tránh được những sự giao thoa tương phản quá mức, và những kiến trúc đơn lập trên những hòn đảo như đền Ngọc Sơn, tháp Rùa… hoặc ngọn tháp Hòa Phong còn lại trên vỉa hè phía Đông Nam hồ trở thành sự cài cắm kéo yếu tố bản địa vào gần không gian kiến trúc mới. Như nhận xét của André Masson, “nó là cái gạch nối vui tươi giữa khu phố người bản xứ với khu phố Pháp”.

Tháp Rùa trở thành một loại cột kỷ niệm gần với phong cách quảng trường châu Âu (cột Obelisk), hoặc tháp chuông nhà thờ để mắt người đi quanh neo vào như một điểm nhấn. Điều thú vị là thay vì một quảng trường lát gạch đá mênh mông, ở đây là một “quảng trường” mặt nước. Một điểm đáng kể nữa là hình thức “lai” giữa tòa kiến trúc Á Đông (mái cong, đầu đao, trang trí rồng) với phân vị dọc bằng các gờ cột giả và cửa vòm nhọn kiểu Gothic châu Âu cũng phần nào tạo ấn tượng ngôi tháp cao hơn thực tế. Tháp Rùa có mặt bằng hình chữ nhật thay vì hình vuông để đồng dạng với đường bao hình ôvan của hồ cũng là một nét khá duy lý kiểu Tây phương. Có được một mặt bằng như thế và chiều cao vừa phải tạo thế vững chãi tương đối, nó khác với hình thức truyền thống hơn của tháp Bút hoặc tháp Hòa Phong. Vì thế nó lại có một vẻ riêng, cho dù từ khi nó ra đời đến này, không phải ai cũng đồng tình với cách pha trộn kiến trúc như vậy.

Một lý do tự nhiên nữa của việc lấy hồ Gươm làm trung tâm của thành phố Hà Nội mới là do vị trí nằm giữa khoảng cách từ khu nhượng địa ở bờ sông với tòa thành cũ của nhà Nguyễn. Vị trí chiến lược này khiến cho tất yếu các công trình trọng yếu của bộ máy hành chính thuộc địa thời kỳ đầu nằm quây quần quanh chu vi hồ, với tuyến đường Tràng Tiền-Hàng Khảm-Tràng Thi làm trục chính.

100 năm trước, hồ Gươm là trung tâm của đô thị Hà Nội.100 năm trước, hồ Gươm là trung tâm của đô thị Hà Nội.

Hồ Gươm nhìn từ trên máy bay, 1954.Hồ Gươm nhìn từ trên máy bay, 1954.

Nơi lắng đọng hai nền văn hóa

Qua thời gian, những hồ nhỏ khác ở trung tâm Hà Nội sau này cũng mang dấu ấn ảnh hưởng của hồ Gươm. Hồ Thiền Quang cũng tính đến việc tạo đảo nhỏ góc hồ có cầu dẫn, hồ Trúc Bạch có đảo Ngũ Xã, hồ Bảy Mẫu có đảo Hòa Bình, và cho đến những hồ Giảng Võ, Thủ Lệ… đều cố gắng tìm một điểm nhấn, hoặc về chiều cao như một khách sạn cao tầng ven hồ, hoặc về tính đặc trưng của kiến trúc như đền Voi Phục. Hồ Bảy Mẫu được quy hoạch vào cuối những năm 1950, tương đồng với hồ Gươm về cách tạo những kiến trúc vọng hồ như bến nước, dàn pergola, cầu cong kiểu Á Đông dẫn ra đảo... Tuy vậy, các hồ này đều có điểm khác với hồ Gươm là vị trí hoặc nằm trong một tiểu khu dân cư hay khu tập thể, hoặc ở một góc trục đường giao thông, chứ không phải có nét giống như một vòng xoay lớn để các hướng giao thông cũng như trục quy hoạch hướng vào – vốn là đặc trưng của Hồ Gươm. Vì thế tính chất trung tâm điểm của các hồ này không có. Ở đây chưa bàn đến yếu tố biểu tượng của các thành phần kiến trúc đền, chùa, tháp… vốn được bồi đắp thêm bằng các câu chuyện văn hóa đằng sau, chẳng hạn truyền thuyết lịch sử vua Lê trả gươm cho thần Kim Quy.

Bài học của hồ Gươm gợi ý cho người làm quy hoạch về một cách dùng mặt nước như quảng trường, nó làm tăng thêm tính hiệu quả của hình thức này trong các công viên vườn hoa, bên cạnh tính chất điều hòa vi khí hậu cũng như các ưu điểm về môi trường mà ngay từ khi quy hoạch, người Pháp đã nhấn mạnh. Hồ Gươm là một sản phẩm lai giữa tính mở của sông nước (bản thân nó vốn là nhánh phân thủy của sông Hồng) và tính đóng của các công trình kiến trúc nghi thức của đô thị, nên dễ thỏa mãn nhiều đầu bài cho một không gian công cộng. Tính chất quảng trường cũng dễ tạo nên bối cảnh cho các hoạt động cộng đồng của đô thị, tạo nên sức sống của thành phố một cách mềm mại, nhất là những thành phố thừa hưởng di sản của hai nền văn hóa Đông-Tây như Hà Nội. Bằng chứng là đến ngày nay, tính chất tụ hội của không gian công cộng Hồ Gươm vẫn chiếm vị trí nổi bật trong lựa chọn các hoạt động tầm thành phố hoặc thậm chí, quốc gia.

Nguyễn Trương Quý

Tham khảo:
Hà Nội giai đoạn 1873-1888, André Masson. Lưu Đình Tuân biên dịch, Nxb Hải Phòng, 2003.
Một số tư liệu quý về Hà Nội, Lưu Đình Tuân tuyển chọn và biên dịch, Nxb Trẻ, 2010.
Hà Nội - Chu kỳ của những đổi thay, Chủ biên Pierre Clément và Nathalie Lancret. Mạc Thu Hương, Trương Quốc Toàn dịch, Nxb Khoa học Kỹ thuật, 2003.
Nhớ và ghi về Hà Nội, Nguyễn Công Hoan, Nxb Trẻ, 2010.
Thượng kinh ký sự, Lê Hữu Trác. Phan Võ dịch, Nxb Trẻ & Nxb Hồng Bàng, 2012.
Tang thương ngẫu lục, Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án. Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch, Nxb Hồng Bàng, 2011.
A Description of Kingdom of Tonqueen, Samuel Baron, trong Views of Seventeenth-Century Vietnam, Olga Dror và K.W. Taylor giới thiệu, Cornell University, 2006.
Lịch sử Hà Nội, Phillippe Papin, Nhã Nam & Nxb Mỹ thuật, 2010.

Quán rượu đường bên Bờ Hồ, nay là phố Đinh Tiên Hoàng. Ảnh khoảng năm 1944. Ta đoán được là vì có áp phích bộ phim Le Grand Boum (The Big Noise) có cặp danh hài Laurel và Hardy đóng, ra đời năm 1944. Như vậy tòa nhà triển lãm 75 Đinh Tiên Hoàng khi đó là 1 tổ hợp có cả quán rượu, quán cà phê và rạp chiếu bóng.Quán rượu đường bên Bờ Hồ, nay là phố Đinh Tiên Hoàng. Ảnh khoảng năm 1944. Ta đoán được là vì có áp phích bộ phim Le Grand Boum (The Big Noise) có cặp danh hài Laurel và Hardy đóng, ra đời năm 1944. Như vậy tòa nhà triển lãm 75 Đinh Tiên Hoàng khi đó là 1 tổ hợp có cả quán rượu, quán cà phê và rạp chiếu bóng.

Thứ Bảy, ngày 13 tháng 12 năm 2014

Một vòng hoa giáp kiến trúc Hà Nội

Khi chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về tiếp quản Hà Nội năm 1954, thế giới đang ở cao trào của chủ nghĩa hiện đại, đặc biệt là trong ảnh hưởng của phong cách quốc tế. Trước đó một năm, tòa nhà phong cách chiết trung của đại học Moskva được khánh thành, những công trình của Le Corbusier ở Chandigarh (Ấn Độ) cho bản quy hoạch thành phố hiện đại lần lượt ra đời. Năm 1954, thành phố Stockholm hiện đại được quy hoạch xong và hai năm sau đó, thủ đô mới của Brasilia được tiến hành xây dựng. Trong nửa đầu thập niên 1950 đầy sôi động của nền kinh tế và xây dựng sau Thế chiến Hai của thế giới, Việt Nam và Hà Nội đang nằm trong vùng chiến sự. Điều này ảnh hưởng rõ rệt đến trạng thái kiến trúc của thành phố, thông qua những công trình còn lại đến ngày nay.

Những năm 1950 bản lề

Về mặt quy hoạch, một thập niên trước, bản quy hoạch cuối cùng của chính quyền Pháp ở Đông Dương đã có tham vọng triển khai một thành phố mô hình đô thị gồm nhiều trung tâm phân tán kiểu hình ngôi sao, nối nhau bằng các đại lộ. Theo bản quy hoạch năm 1943 này, Hà Nội được quy hoạch khá duy lý theo mô hình Paris hơn nửa thế kỷ trước, nó sẽ giải tán một số làng xã của khu vực đại lý Hoàn Long của tỉnh Hà Đông do hệ thống đường hình tia cắt qua các địa hình sông hồ tự nhiên. Tất nhiên nó không được thực hiện do chiến tranh và tình hình chính trị lúc bấy giờ, khi Nhật nắm quyền ở Đông Dương rất mau chóng sau đó. Tham vọng kiến thiết thủ đô mới của Đông Dương được đem vào Đà Lạt, trong khi Hà Nội còn những dấu vết dang dở của quy hoạch như khu phía sau ga Hàng Cỏ, khu vực hồ Bảy Mẫu, Bạch Mai. Khu vực đã ổn định  như khu phố cổ, khu phố Tây ngưng lại ở hình thái kiến trúc thành phố buôn bán Á Đông và thành phố vườn kiểu tỉnh lẻ Pháp.

Bản đồ quy hoạch HN 1943.
Bản đồ quy hoạch HN 1943.

Trong đợt tiêu thổ toàn quốc kháng chiến, Hà Nội trở thành trận địa giao tranh giữa những chiến sĩ của Trung đoàn Thủ đô và lính Pháp, nhiều công trình kiến trúc cũ ở khu phố cổ đã bị hủy hoại. Điều này dẫn đến một câu chuyện mà nhà văn Vũ Bằng đã ghi lại khi ông trở về thành năm 1950: “Ai hồi cư năm 1948-1949 có còn nhớ rằng suốt từ Bạch Mai về đến chợ Hôm, có hàng dãy phố bị phá không? Hàng Da, Hàng Thiếc, Hàng Đồng, chỉ còn trơ lại mấy cái nhà lỏng lẻo, mất cả trần, cả cửa. Có phố cỏ mọc ra cả đường đi. Nhiều cái ngõ hẻm bị nghẽn, không qua lại được, vì gạch ngói chất cao lên như núi. Bây giờ thành phố Hà Nội lại có một vẻ mặt mới rồi. Nhiều phố ngày xưa hẹp và khuất khúc, với những cái nhà lụp xụp, một tầng, trông vào tối tăm như một ngày mùa đông, nay đã có những căn nhà rộng, kiểu mới, cửa sổ bịt hoa sắt, đứng lên thay thế. Có khi đứng ở đầu phố mà nhìn về cuối phố, người ta thấy nhà cửa thẳng tăm tắp như vẽ trong bản đồ. Ấy là vì nhu cầu của văn minh đó. Xe nhiều, người lắm, có sửa sang như thế mới dễ bề giao thông. Người đi bộ đỡ chết, mà ông vặn lái ôtô cũng thích” (Miếng ngon Hà Nội).

Cái mới được Vũ Bằng tình cờ chỉ ra chính là sự thay đổi về bộ mặt kiến trúc, từ “hẹp và khuất khúc, nhà một tầng” sang “rộng, kiểu mới, cửa sổ bịt hoa sắt” và “thẳng tăm tắp”. Nó là một thành phố dù chiến tranh nhưng cũng trong quá trình hiện đại hóa để đáp ứng nhu cầu giao thông khi xe ôtô nhiều lên. Vào thời điểm những năm 1950, Hà Nội đã có những công trình mang phong cách quốc tế đương thời làm thành một dòng. Dòng này được khởi sự ngay từ những năm 1930, như câu lạc bộ sĩ quan (tức câu lạc bộ Ba Đình sau này, hiện đã nhường chỗ cho khu khai quật cạnh nhà Quốc hội mới) hay bưu điện quốc tế Bờ Hồ.

Rạp Kinh Đô, phố Cửa Nam, khoảng 1950.
Rạp Kinh Đô, phố Cửa Nam, khoảng 1950.


Bách hóa Tràng Tiền 1950.
Bách hóa Tràng Tiền 1950. 


Rạp Eden k.1950, thay thế rạp phong cách Tân Cổ điển Pháp theo hướng Beaux Arts (cuối TK 19 đầu TK 20). Nay là rạp Công Nhân với phong cách quay lại Tân Cổ điển.
Rạp Eden k.1950, thay thế rạp phong cách Tân Cổ điển Pháp theo hướng Beaux Arts (cuối TK 19 đầu TK 20). Nay là rạp Công Nhân với phong cách quay lại Tân Cổ điển.

Những kế hoạch 5 năm thử nghiệm

Trong nửa sau thập niên 1950 đến đầu thập niên 1960, Hà Nội có sự thay đổi về hình thái đô thị, chuyển từ đô thị tiêu thụ, buôn bán sang sản xuất công nghiệp tập trung, hàng hóa phân phối từ mậu dịch quốc doanh. Trên bình diện nếp sống, việc thay đổi cách tiêu dùng, giờ giấc sinh hoạt theo ca kíp, dẫn đến chức năng của các ngôi nhà kiêm cửa hàng ở khu phố cổ đã chỉ còn là những cái vỏ. Việc không giữ được nguyên trạng các căn nhà trong việc chia năm xẻ bảy với các hộ nhập cư, cũng như lối ứng xử đầy phân biệt với di sản “chế độ cũ”, đã khiến cho các không gian này chóng xuống cấp. Còn ở bình diện quy hoạch, các khu công nghiệp ở ngoại vi kéo theo các khu tập thể của công nhân, từ bước đầu rụt rè là 2 tầng, mái ngói, trần vôi rơm, hình thức đăng đối nặng ảnh hưởng chiết trung của thập niên trước như khu Văn Chương, đã dấn thêm thành 4 tầng, từ Nguyễn Công Trứ sang Kim Liên. Thẩm mỹ nhấn vào sự giản lược hình thức (không có trang trí, lát gạch lá nem một màu, lan can cầu thang đúc đặc) lẫn phân khu chức năng bỏ qua các tiện nghi cá nhân (nhà vệ sinh chung, bếp chung, căn hộ chỉ có một phòng ngủ ngăn chia nửa vời với phòng khách), thực ra là một biến thể tồi của trường phái công năng “nhà là cái máy để ở” của Le Corbusier của 2-3 thập niên trước. Các khu tập thể loại hai, đa phần là nhà một tầng cấp 4 – cấp thấp nhất trong xếp hạng công trình xây dựng, với vật liệu rẻ tiền (tường toocxi hay gạch, mái ngói hoặc thậm chí lợp giấy dầu), các đơn vị ở chia lô như chuồng ngựa, khu phụ đi chung hoặc tách riêng ở dãy khác, nhưng là nơi ở của gia đình những công nhân đông đúc, tạo nên một khu vực đô thị có thẩm mỹ kiến trúc thấp kém.

Điểm nhấn của thời kỳ này là một số công trình công sở lớn hay trường đại học được xây dựng, tuy nhiên ngôn ngữ chịu ảnh hưởng hình thức chiết trung và nhiều yếu tố kiến trúc kiểu lễ đài Trung Quốc. Có thể thấy đặc điểm này qua các công trình nhà Quốc hội cũ, Tổng cục Thống kê (ngã ba Hoàng Văn Thụ - Hoàng Diệu), Học viện Thủy lợi… Thẩm mỹ này tương đối hòa nhập với không gian kiến trúc cũ nhờ những nét đăng đối, những hệ thống cột, sảnh và phân vị ngang có gờ chỉ làm nổi lên tính hồi cố của chúng. Lúc này, những trào lưu kiến trúc hiện đại từ Đông Âu chưa gây được ảnh hưởng đến thẩm mỹ kiến trúc Hà Nội.

Một phương án thiết kế Hội trường Ba Đình (nhà quốc hội) khoảng trước 1963, mang ảnh hưởng của phong cách Đại lễ đường nhân dân Bắc Kinh.
Một phương án thiết kế Hội trường Ba Đình (nhà quốc hội) khoảng trước 1963, mang ảnh hưởng của phong cách Đại lễ đường nhân dân Bắc Kinh.


Trận địa của kiến trúc hiện đại

Thập niên chiến tranh tiếp theo đã ngưng trệ công việc xây dựng ở Hà Nội, trong khi tại Đông Âu và phần còn lại của thế giới, chủ nghĩa quốc tế trong kiến trúc đã hoàn tất sự ảnh hưởng bao trùm của nó, khi hình ảnh tiêu biểu các đô thị cả tư bản chủ nghĩa lẫn xã hội chủ nghĩa là các tòa tháp cao, kính thép vuông vức và các khu căn hộ nở rộ trong sự thịnh vượng của cách mạng công nghiệp lần thứ hai. Tinh thần của Le Corbusier và các KTS Bauhaus đã hiệu quả trong việc bình dân hóa lĩnh vực xây dựng, đạt được mục tiêu nhanh, nhiều và rẻ, nên dễ hiểu là rất hấp dẫn với các chính quyền non trẻ trong trào lưu giải phóng dân tộc những năm 1960. Các cuộc thi đấu thể thao Olympic, hệ thống hàng không phát triển đã thúc đẩy việc nở rộ các công trình sân vận động, nhà thi đấu và nhà ga hàng không. Hà Nội xa lạ với những sự vận động này suốt những năm tháng đó. Cùng khoảng thời gian Hiệp định Paris được ký kết để chấm dứt sự can thiệp của Mỹ tại Đông Dương, biểu tượng của nền kiến trúc quốc tế và thương mại toàn cầu – tòa tháp đôi Trung tâm thương mại thế giới WTC ở New York – được khánh thành.

Mặc dù có phần trễ tràng, Hà Nội sau ngày đất nước thống nhất đã hối hả đẩy mạnh trào lưu “hiện đại hóa, công nghiệp hóa”, cho ra đời những khu nhà ở lắp ghép mang phong cách công nghiệp của các vùng đô thị Đông Âu. Hơn một tá khu tập thể lớn ở Hà Nội được xây dựng trong vòng non 15 năm một mặt giải quyết chỗ ở của một bộ phận lớn dân cư, một mặt ghi nhận ảnh hưởng của kiến trúc công năng Xôviết, tách khỏi ảnh hưởng của kiến trúc Trung Quốc, kiến trúc Pháp cũ và kiến trúc truyền thống.

Song song với các khu tập thể, các công trình văn hóa cũng là điểm nổi bật, ví dụ Cung Văn hóa Hữu nghị Việt-Xô. Ở các công trình này, vật liệu mới là một sự khác biệt rõ ràng. Các công trình loại này được giải phóng khỏi các tường bao bằng gạch, các hàng cột ốp đá tương phản với kính thép, cùng những vật liệu hiếm và thời thượng như tấm nhôm, các gờ nẹp đồng, đá rửa… Một vài điểm nhấn khác về chiều cao như khách sạn Thăng Long cao 11 tầng bên hồ Giảng Võ cũng mang đậm dấu ấn quy hoạch và kiến trúc công năng. Trong khi đó, lĩnh vực xây dựng tư nhân gần như bế tắc do thiếu thốn vật liệu, hệ thống phân phối kém cỏi và tệ quan liệu sách nhiễu đã khiến người Hà Nội không có cơ sở đầu tư cho thẩm mỹ kiến trúc đến nơi đến chốn, các công trình đa phần chắp vá, manh mún và tạm bợ.

Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt-Xô. Ảnh sưu tầm.
Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt-Xô. Ảnh sưu tầm.
Trước đây, tại vị trí này là tòa nhà Đấu Xảo cũ đã bị máy bay Đồng Minh ném bom 1943.
Trước đây, tại vị trí này là tòa nhà Đấu Xảo cũ đã bị máy bay Đồng Minh ném bom 1943.
Đi một vòng lặp để tìm ra giá trị

Mười lăm năm từ khi mở cửa sau đó đã đẩy thẩm mỹ kiến trúc Hà Nội theo hai quá trình: một mặt bung ra để lột xác theo hướng toàn cầu hóa, một mặt bảo tồn các di sản của nửa thế kỷ trước, mà khi hội nhập, người ta càng thấy phải giữ để tìn ra bản sắc riêng của đô thị này. Ở đây, nhà quản lý bộc lộ sự lúng túng khi phải lựa chọn giữa sức ép của đầu tư – những khu đất vàng ở trung tâm hứa hẹn kinh doanh tốt cũng đồng thời là những khu lưu giữ nhiều di sản kiến trúc. Khu phố cổ được nhấn mạnh như trọng tâm khai thác du lịch đứng trước sự quá tải do sức hấp dẫn mưu sinh, vừa chịu mật độ dân số quá cao (823 người/ha), cộng thêm những ngôi nhà cũ xuống cấp do không được duy tu nhiều chục năm qua, trước những biến động về thị trường bán lẻ (chợ thay dần bằng siêu thị, hàng hóa được các tập đoàn phân phối thay vì nhỏ lẻ), nó đang đi vào xu hướng bảo tàng hóa. Những công trình của thời hiện đại chia sẻ đặc tính ngắn hạn của các trào lưu kiến trúc.

Có thể so sánh qua hai công trình tiêu biểu của quá trình mở cửa và toàn cầu hóa ở Hà Nội, chúng đứng cạnh nhau: trung tâm thương mại Daeha (hay được gọi là tòa nhà Daewoo) ra đời năm 1996 và tòa tháp Lotte vừa mới khánh thành năm 2014. Ra đời vào cao trào của đầu tư nước ngoài thời kỳ mở cửa, tòa nhà Daeha cao 18 tầng với 3 khối, án ngữ ngã tư quan trọng của cửa ngõ phía Tây Hà Nội, kiến trúc của nó phản ánh sự ngập ngừng giữa hình ảnh chiết trung một Hà Nội cũ (mái ngói, con sơn gỗ, trụ tường, vòm cuốn) và một hình thức hiện đại khi đó (mặt tiền mảng kính lớn) trong 3 khối nhà không nhiều kết nối về phong cách. Tuy nhiên, đến nay, tòa nhà này chỉ còn là một công trình trung bình về hình thức, nhường vị trí landmark cho Lotte ở ngay đối diện. Công trình mới cao 65 tầng, là tòa nhà cao thứ 2 Hà Nội và cao thứ 3 Việt Nam, được phủ hoàn toàn mặt ngoài bằng các tấm kính lớn, có thể xem như dấu ấn của phong cách đô thị toàn cầu – các tòa nhà khẳng định mình bằng chiều cao và sự lấn át của vật liệu trơn láng và hệ thống đèn chiếu sáng ban đêm. Nó dứt điểm không níu kéo những hình ảnh cũ của mảnh đất bản địa.

2 công trình tiêu biểu của 2 giai đoạn thu hút vốn đầu tư nước ngoài: KS Daewoo và TTTM Lotte.
2 công trình tiêu biểu của 2 giai đoạn thu hút vốn đầu tư nước ngoài: KS Daewoo và TTTM Lotte.

Có thể dự đoán gì về xu thế kiến trúc của Hà Nội trong một vòng hoa giáp (60 năm) mới? Những bài học về công nghệ nhiều thập niên trước hẳn là quá đủ để Hà Nội cần từ chối những khu công nghiệp có chỉ số kém về môi trường, cũng như sự lụn bại của mô hình kinh tế tập trung cũ. Rõ ràng là xây dựng một đô thị công nghệ đơn giản hơn nhiều so với có một đô thị văn hóa, du lịch và hơn thế nữa, một đô thị có bản sắc. Cùng với xu thế tiêu dùng mới, khung cảnh Hà Nội hẳn sẽ chuyển dịch về hướng bảo tàng hóa các hoạt động đặc thù ở khu phố cũ, song song với cơn sốt địa ốc ở các khu đô thị và trung tâm thương mại mới. Ở một nền kinh tế gia công và tiêu thụ như Việt Nam, Hà Nội có thể làm được một việc là sửa chữa, gỡ bỏ các khối u của những giai đoạn chắp vá, tìm lại những đường nét nguyên bản của 60 năm trước – thời có lẽ là lần thành công nhất của hình thái đô thị nơi này.

Nguyễn Trương Quý
(bài viết cho Kinh tế Đô thị)

Thứ Hai, ngày 20 tháng 10 năm 2014

Sự quyến rũ của thuyết âm mưu

Một cuốn sách có thể hay theo nhiều cách. Nhưng hay mà gây ngạc nhiên mới khó ở cái thời có lẽ chẳng còn gì là ngạc nhiên nổi. Ngạc nhiên từ cái tên trở đi, ngạc nhiên từ cách chắp nối các dữ kiện, cuốn sách của Jonas Jonasson - Cô gái mù chữ phá bom nguyên tử lấy quan hệ chính trị giữa các quốc gia trên thế giới để làm chất liệu.




Mặc dù truyền thông cứ mặc định rằng tiểu thuyết diễm tình, kỳ ảo hay trinh thám mới ăn khách, nhưng dòng sách có nội dung các sự kiện lịch sử - chính trị lại hay có bom tấn. Những cuốn hồi ký của vợ chồng Bill Clinton hay tổng thống đương nhiệm Mỹ Obama bán rất chạy. Ở đây, Cô gái mù chữ phá bom nguyên tử dựa trên những dữ kiện lịch sử có thật để hư cấu nên một không gian hấp dẫn, bởi nó đánh đúng vào... sự tò mò của công chúng. Họ muốn biết thâm cung bí sử, hậu trường của quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia, chuyện quan điểm của nhà nước Thụy Điển với Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, giữa các nước phương Tây với Nam Phi thời dưới chế độ Apartheid, hay giữa Israel và phần còn lại của thế giới... Chả thế mà vụ Wikileaks và Edward Snowden khiến truyền thông thế giới sôi sùng sục lên, dù có vẻ không mỹ nhân hay ngôi sao biểu diễn nào liên quan.

Tác giả Jonas Jonasson là người Thụy Điển, một xứ sở có lẽ cũng lạ lùng khi xếp loại hệ thống chính trị quốc gia này. Là nước dân chủ nhưng vẫn còn vương triều, là nước có lẽ chẳng có gì nổi bật ngoài tài nguyên là trí tuệ con người và giải Nobel. Đấy là ấn tượng hồ đồ thế, còn trong cuốn tiểu thuyết này cũng như cuốn sách đầu tiên của cùng tác giả, mang cái tên khá dài - Ông trăm tuổi trèo qua cửa sổ và biến mất, Thụy Điển là một đất nước của những người kỳ quặc, kỳ quặc có nguyên tắc và cũng rất đáng yêu. Ở đất nước nào nhà vua sẽ vui vẻ đi giết gà làm thịt và thủ tướng xắn quần nhổ khoai tây để làm bữa tối? Tác giả trả lời là Thụy Điển.

Độc giả đã đọc cuốn sách trước sẽ gần như duyệt lại lịch sử thế giới thế kỷ 20 qua cuộc đời của ông cụ Allan Karlsson, người mà vào lúc tròn trăm tuổi đã bỏ trốn khỏi nhà dưỡng lão, để cùng lúc nhắc nhở thiên hạ rằng những bóng ma quá khứ hãy còn sờ sờ ra đấy, rằng cụ ta - như một bằng chứng sống của lịch sử - còn dư sức làm loạn cái thế gian này. Cuốn sách mới này, đương đại hơn, với nhân vật chính bắt đầu cuộc phiêu lưu từ những năm 1960 ở Nam Phi. Nombeko, một cô gái da đen làm nghề nôm na là đổ thùng - dọn vệ sinh ở thành phố Johannesburg, đã bắt đầu hành trình can dự vào lịch sử một cách cũng đầy bất định: phục vụ cho một quan chức chủ trì dự án bom nguyên tử của nhà nước Nam Phi, có mối liên hệ với đặc vụ Israel, gặp Hồ Cẩm Đào khi ông ta hãy còn là một cán bộ cấp trung trưởng thành từ phong trào Đoàn thanh niên tỉnh Giang Tô đi công cán châu Phi... Rồi Nombeko gặp rắc rối khi phải xử lý quả bom nguyên tử bị gửi nhầm đến Thụy Điển. Đến đây câu chuyện mới thực sự là trận địa để tác giả tung hoành: hai anh em sinh đôi Holger thể hiện hai thế giới quan, hai cách phản ứng với trật tự xã hội Thụy Điển, một đeo đuổi những lý tưởng vĩ mô, một duy lý đến chi tiết. Nhân vật của chúng ta rồi sẽ phải đi với những mâu thuẫn của hai thế giới ấy, trong những xung đột tức cười đến phi lý không thể tưởng được. Những điều ta thấy phi lý lại là cách các nền chính trị ngoại giao thế giới vận hành, như cách quan niệm của tác giả ẩn ngầm bên dưới.

Cô gái mù chữ phá bom nguyên tử là một trò chơi của chủ nghĩa phi lý, những câu chuyện bịa giống như đầy rẫy những thuyết âm mưu trên các trang báo phân tích chính trị salon. Chắc gì có chuyện hãng Electrolux bán cho Chủ tịch Trung Quốc 68.742.000 cái ấm điện với giá rẻ để làm quà tặng cho toàn bộ các đảng viên trong khi ai cũng biết Trung Quốc sản xuất mặt hàng này đầy ra với giá rẻ không đâu cạnh tranh được. Hay chuyện chuyến bay chuyên cơ của ông Hồ Cẩm Đào sẽ mang theo quả bom nguyên tử bị thừa cùng chiếc xe Volvo tặng cho nguyên thủ Trung Quốc và con ngựa biếu phu nhân Lưu Vĩnh Thanh. Câu chuyện kết thúc xanh rờn với sự yên tâm rằng quả bom sẽ được dùng vào mục đích tốt đẹp.

Jonas Jonasson đã làm một việc mà như nhà phê bình văn học Roland Barthes đưa ra, đó là "đọc lại". Ông giúp chúng ta tiếp cận lịch sử, đọc lại những câu chuyện về thế giới thông qua cách viết cường điệu và giọng hài hước tràn ngập. Trên cơ sở những thông tin lịch sử đã có vẻ chắc chắn, Jonasson thạo những ngón nghề của truyền thông để như làm ảo thuật. Thấp thoáng một quan niệm hư vô chủ nghĩa trong cách tác giả nhìn thế giới. Cô gái da đen Nombeko tiếp bước ông già trăm tuổi Allan, gợi nhớ đến chàng khờ Forrest Gump, lưu lạc trong nhân gian này, để cho người đọc thấy những trò chơi chính trị có tuổi thọ mới ngắn ngủi làm sao. Xét cho cùng, thuyết âm mưu có bao giờ thôi quyến rũ người đọc?

Nguyễn Trương Quý
(http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/diem-sach/co-gai-mu-chu-pha-bom-nguyen-tu-su-quyen-ru-cua-thuyet-am-muu-3095918.html)

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ