Thứ Bảy, 24 tháng 12, 2011

A Christmas Memory (Truman Capote)

(Truyện Ký ức Giáng sinh của Truman Capote, rút từ tập Bữa sáng ở Tiffany's - Phạm Hải Anh dịch)



Hãy hình dung một buổi sáng vào cuối tháng Mười một. Một sáng chớm đông hơn hai mươi năm trước. Hãy ngắm căn bếp một ngôi nhà cũ rộng rãi ở thị trấn. Nổi bật nhất là cái bếp lò to tướng, đen bóng, nhưng cũng có cả một chiếc bàn tròn lớn và một lò sưởi với hai chiếc ghế xích đu đặt phía trước. Hôm nay là ngày đầu tiên cái lò sưởi bắt đầu réo lên khúc mùa đông của nó.

Một người đàn bà với mái tóc bạc xén gọn đang đứng cạnh cửa sổ bếp. Bà đi một đôi giày tennis và mặc cái áo len lụng thụng màu xám trùm ra ngoài chiếc váy hoa sặc sỡ mùa hè. Bà nhỏ người nhưng hoạt bát, giống như một con gà mái ri[1], nhưng vì một trận ốm kéo dài hồi trẻ, hai vai bà khom lại một cách tội nghiệp. Gương mặt bà rất đặc biệt, hơi xương xẩu giống mặt Lincoln, sạm màu nắng gió, nhưng nó cũng rất thanh tú, có nét, mắt bà nâu vàng màu rượu sherry và bẽn lẽn. “Ôi chao,” bà thốt lên, hơi thở phà khói lên kính cửa sổ, “Trời này làm bánh trái cây được rồi đây!”

Bà đang nói với tôi. Tôi bảy tuổi, bà khoảng sáu mươi. Chúng tôi là chị em họ rất xa, nhưng sống cùng nhau – lâu như tôi có thể nhớ được. Chủ nhà là những người họ hàng khác, và dù họ có quyền đối với chúng tôi, thường xuyên làm chúng tôi phải khóc, nhưng chúng tôi không phải lúc nào cũng quan tâm đến họ. Chúng tôi là bạn thân nhất của nhau. Bà gọi tôi là Buddy, để tưởng nhớ người bạn thân nhất của mình trước kia. Ông Buddy đó chết khoảng năm 1880, khi bà vẫn còn là một đứa trẻ. Và bà vẫn là đứa trẻ.

“Chị biết ngay trước khi ra khỏi giường cơ,” bà nói, quay ra khỏi cửa sổ với vẻ phấn chấn đầy chủ ý trong mắt. “Cái chuông tòa án tiếng nghe rất lạnh và rõ. Chim chóc không hót nữa, chúng nó bay hết đến xứ ấm rồi, và quả nhiên vậy. Ồ, Buddy, đừng có nhồi nhét bánh bích quy nữa và kiếm cái xe đẩy của mình đi. Giúp chị tìm cái mũ. Mình phải nướng ba mươi cái bánh đấy.”

Năm nào cũng thế, vào một buổi sáng tháng Mười một, như thể chính thức mở màn mùa Giáng sinh trong năm, cái mùa náo nức khuấy động trí tưởng tượng và thổi bùng ngọn lửa trong tim, bà chị tôi lại cao giọng gọi “Trời này làm bánh trái cây được rồi! Kiếm cái xe đẩy của mình đi. Giúp chị tìm cái mũ.”

Đã tìm thấy mũ, một cái mũ rơm to như bánh xe cài những đóa hoa hồng bằng nhung đã bạc vì mưa nắng: trước kia nó là của một người họ hàng ăn diện hơn. Chúng tôi cùng mang xe, một cái xe nôi trẻ con sứt càng gãy gọng, ra ngoài vườn và đi vào khóm cây hồ đào. Cái xe nôi là của tôi; tức là nó được mua cho tôi lúc tôi mới đẻ. Nó được uốn bằng cây liễu gai, khá là xơ xác và các bánh xe loạng choạng như chân gã say sượu. Nhưng nó là một vật trung thành, mùa xuân, chúng tôi đẩy nó vào trong rừng và chất đầy lên đó nào hoa, thảo dược, dương xỉ dại để trồng vào những chậu cây trên hiên, mùa hè, chúng tôi chở một xe đồ đi picnic, những cần câu cá bằng mía và kéo xuống bờ sông, mùa đông nó cũng được việc: biến thành xe kéo củi đốt từ sân vào trong bếp, làm cái giường ấm áp cho Queenie, con chó săn chuột nhỏ xíu, dũng cảm, lông trắng pha vàng của chúng tôi, nó đã sống sót qua trận sốt ho virus và hai lần bị rắn chuông cắn. Giờ thì Queenie đang chạy lon ton bên cạnh xe.

Ba tiếng sau, chúng tôi trở lại bếp để bóc vỏ một xe đầy hồ đào rụng vì gió. Lưng chúng tôi ê ẩm vì nhặt hồ đào: chủ vườn đã rung cây thu hoạch và bán hết vụ, những quả còn sót lại thật khó kiếm, nằm lẫn trong đám lá che phủ và đám cỏ băng giá đến nản lòng. K-rắc! Âm thanh răng rắc vui tai như những mảnh vụn của một tiếng sét bé xíu khi lớp vỏ vỡ ra, nhón lấy cái hạt trắng ngà, béo ngậy, ngọt ngào và thả mẩu vàng ròng ấy vào bát thủy tinh đựng sữa. Queenie thèm thuồng liếm mép, thỉnh thoảng, bà chị lại lén quẳng cho nó một mẩu trong khi cứ khăng khăng là chúng ta không được phép ăn. “Mình thì không được, Buddy. Nếu mình bắt đầu thì không dừng được đâu. Và khiếp chưa. Những ba mươi cái bánh.” Gian bếp tối dần. Hoàng hôn biến cái cửa sổ thành một tấm gương: bóng hai chị em lẫn với vầng trăng đang nhô lên khi chúng tôi làm việc bên bếp lò trong ánh lửa. Cuối cùng, khi trăng lên khá cao, chúng tôi ném những cái vỏ cuối cùng vào lửa và thở phào sung sướng, nhìn nó bắt lửa bùng lên. Cái xe đẩy trống không, còn bát thì đầy ắp.

Chúng tôi ăn bữa tối (bánh quy lạnh, thịt lợn muối, mứt dâu) và bàn bạc chương trình ngày mai. Hôm sau bắt đầu công việc mà tôi khoái nhất: mua bán. Anh đào và chanh, gừng, vani và dứa hộp Hawaii, vỏ cây, nho khô, hạt dẻ và rượu whisky và ồ... cơ man nào là bột, bơ, trứng, gia vị và hương liệu các loại, đến mức chúng tôi phải thuê cả một con ngựa con kéo cái xe đẩy về nhà.

Nhưng trước khi mua bán thì phải có tiền. Cả hai chúng tôi chẳng ai có xu nào. Trừ vài khoản bủn xỉn mà mấy người ở nhà này xì ra cho (mười xu đã là ghê gớm lắm rồi), hoặc chúng tôi tự kiếm được nhờ làm mấy thứ như phụ bán hàng gây quỹ từ thiện, bán những giỏ dâu tự hái, những lọ mứt, mứt táo và đào nhà làm, kết vòng hoa cho đám ma và đám cưới. Một lần trong cuộc thi tìm hiểu về bóng đá toàn quốc, chúng tôi đoạt giải thứ bảy mươi chín, được năm đô la. Chẳng phải vì chúng tôi biết quái gì về bóng đá cả. Đơn giản là hai chị em cứ xông vào bất kỳ cuộc thi nào mà mình nghe nói đến: hiện giờ thì hi vọng của chúng tôi đặt hết cả vào Giải thưởng Lớn năm mươi ngàn đô để đặt tên cho một nhãn hiệu cà phê mới. (chúng tôi đề nghị là “Sáng”, và sau một lúc ngần ngừ, vì bà chị tôi nghĩ có lẽ nó hơi báng bổ, sửa thành khẩu hiệu “Sáng! Sáng danh Chúa!”). Thật ra mà nói, thương vụ thực sự hời nhất của chúng tôi là làm hướng dẫn cho Bảo tàng Ngộ và Quái trong cái lều chứa củi ở sân sau mùa hè hai năm trước. Ngộ là cái máy chiếu hình phóng đại những tấm ảnh Washington và New York mà một người họ hàng cho chúng tôi mượn (bà ta giận điên lên khi phát hiện ra vì sao chúng tôi mượn nó); Quái là con gà mái ba chân do gà nhà chúng tôi ấp nở ra. Ở đây ai cũng muốn xem con gà mái đó: chúng tôi lấy người lớn năm xu, trẻ con hai xu. Và chúng tôi kiếm được những hai mươi đô trước khi bảo tàng đóng cửa vì không còn người xem nữa.

Nhưng bằng cách này hay cách khác, hàng năm chúng tôi đều gom góp những khoản tiết kiệm Giáng sinh để gây Quỹ Bánh Trái Cây. Số tiền này chúng tôi giấu trong cái ví xưa cũ kết bằng hạt để dưới tấm ván sàn bị long dưới cái bô ở gầm giường bà chị tôi. Cái ví hiếm khi được lôi ra khỏi vị trí an toàn của nó trừ khi để bỏ tiền vào, hoặc vào mỗi thứ Bảy để rút tiền ra, vì thứ Bảy tôi được phép lấy mười xu đi xem phim. Bà chị tôi chẳng bao giờ đi đến đó, mà cũng không định đi: “Nghe em kể lại thích hơn, Buddy ạ. Như thế chị có thể tưởng tượng ra nhiều hơn. Hơn nữa, ở tuổi của chị chẳng nên phí mắt làm gì. Để khi Chúa đến, chị còn nhìn Người cho rõ.” Ngoài việc không bao giờ đi xem phim, bà còn không bao giờ: đi ăn nhà hàng, đi đâu cách nhà quá năm dặm, nhận hay gửi điện tín, đọc bất kỳ cái gì trừ mấy tờ báo hài hước và Kinh Thánh, trang điểm, nguyền rủa, muốn hại ai đó, cố tình nói dối, đuổi chó đói đi không cho ăn. Cũng có những thứ bà đã làm là: dùng cuốc giết chết một con rắn chuông lớn nhất từng thấy ở hạt này (có mười sáu con), hít thuốc lá (bí mật), quyến rũ chim ruồi (cố thử) đến khi nó đậu trên ngón tay, kể chuyện ma (hai chúng tôi đều tin ở ma) sợ đến lạnh người dù đang trong tháng Bảy, nói chuyện một mình, đi dạo trong mưa, trồng những cây hoa trà đẹp nhất thị trấn, biết công thức tất cả các bài thuốc cổ xưa của người da đỏ, kể cả cách xóa mụn cơm đầy ma thuật.

Giờ đây, sau khi ăn xong bữa tối, chúng tôi nghỉ ngơi trong căn phòng ở một phần rất xa của ngôi nhà, nơi bà chị tôi ngủ trên một chiếc giường sắt sơn màu hồng, màu bà yêu thích nhất, phủ tấm trải khâu bằng vải vụn. Khẽ khàng, đắm mình trong một âm mưu đầy hân hoan, chúng tôi lôi cái ví ra khỏi chỗ bí mật của nó và đổ các thứ bên trong ra tấm chăn phủ giường. Những tờ đô la quấn tròn lại và xanh ngắt như chồi cây tháng Năm. Những đồng năm mươi xu thẫm màu, đủ nặng để bỏ lên hốc mắt người chết. Sinh động nhất là những đồng mười xu đáng yêu, chúng thực sự kêu lanh canh. Đồng năm xu và hai nhăm xu mòn nhẵn như đá cuội trong lòng suối. Nhưng phần lớn là một đống đáng ghét những đồng một xu đượm mùi cay đắng. Mùa hè năm ngoái, những người khác sống trong nhà thỏa thuận trả một xu cho chúng tôi mỗi lần giết được hai mươi nhăm con ruồi muỗi. Ôi, tháng Tám mùa tàn sát: những con ruồi muỗi bay lên thiên đường! Đấy không phải là công việc mà chúng tôi lấy làm tự hào. Và khi ngồi đếm những đồng một xu, cứ như thể chúng tôi đang trở lại với bảng thống kê xác ruồi muỗi. Cả hai không ai biết tính; chúng tôi đếm rất chậm, quên mất, rồi tính lại từ đầu. Theo tính toán của bà thì chúng tôi có 12,73 đô. Theo tôi thì vừa tròn 13 đô. “Chị mong là em tính sai, Buddy ạ. Mình không thể ẩu với số 13 được đâu. Bánh sẽ bị rơi. Hoặc ai đó bị chết. Tại sao à, thậm chí chị sẽ chẳng mơ bước chân ra khỏi giường vào ngày thứ mười ba đâu.” Đúng thế thật: ngày mười ba bà luôn nằm tịt trong giường. Vì thế, để được an toàn, chúng tôi rút ra một penny và ném nó qua cửa sổ.

Trong số các nguyên liệu để làm bánh trái cây thì whisky là đắt nhất, mà cũng khó kiếm nhất: luật của bang cấm bán nó. Nhưng ai cũng biết có thể mua một chai ở chỗ ông Haha Jones. Và hôm sau, xong việc mua sắm những thứ bình thường hơn, chúng tôi tìm đến địa chỉ bán hàng của ông Haha, một quán “tội lỗi” (theo ý kiến quần chúng) bán cá rán, cà phê kiêm nhảy nhót ở hạ lưu sông. Chúng tôi đã từng đến đấy, với cùng một mục đích, nhưng những năm trước, chúng tôi mua bán với vợ của Haha, một bà người da đỏ đen sẫm như iốt với mái tóc nhuộm ôxy già màu đồng thau và tính khí thất thường mệt cả người. Thực ra chúng tôi chẳng bao giờ để mắt đến ông chồng, mặc dù nghe đồn là ông ta cũng người da đỏ. Một vết sẹo khổng lồ, cắt bằng dao cạo, chạy ngang mặt ông ra. Người ta gọi ông ta là Haha vì ông ta lúc nào cũng rầu rĩ, chẳng bao giờ cười. Chân chúng tôi bước chậm lại khi đến gần quán cà phê của ông ta (một cabin bằng gỗ rộng, từ trong ra ngoài kết hàng dây những bóng đèn trần trụi, màu sặc sỡ vui mắt, nó đứng bên mép sông đầy bùn, dưới bóng cây cành lá đầy rêu như bọc trong sương mù xám). Ngay cả Queenie cũng thôi nhảy dựng lên và đứng nép bên cạnh. Đã từng có người bị giết trong quán cà phê của Haha. Cắt thành nhiều mảnh. Tháng sau có một vụ được đưa ra tòa xử. Tất nhiên sự việc diễn ra vào đêm, khi ánh sáng màu hắt ra những hình thù điên rồ và cái máy hát Victrola rền rĩ. Còn ban ngày thì quán của Haha trông tồi tàn, quạnh quẽ. Tôi gõ cửa, Queenie sủa, còn bà chị thì gọi: “Bà Haha, bà ơi? Ai có nhà không?”

Tiếng bước chân. Cửa mở ra. Tim chúng tôi lộn ngược. Chính là ông Haha. Và ông ta là một gã khổng lồ, có sẹo, và không cười. Ôi không, ông ta nhìn chúng tôi trừng trừng bằng cặp mắt xếch của Satăng và vặn hỏi: “Các người muốn gì ở Haha?”

Trong khoảng khắc, chúng tôi tê liệt không nói nên lời. Mãi bà chị tôi mới lấy lại được nửa hơi, gắng sức thì thào: “Ông làm ơn, ông Haha, chúng tôi muốn mua một lít rượu whisky hảo hạng nhất của ông ạ.”

Mắt ông ta càng xếch ngược lên. Có thể tin nổi không? Haha đang cười. Cười phá lên nữa! “Ai ở đây là người uống đấy?”

“Là để làm bánh trái cây thưa ông Haha. Để nấu ạ.”

Điều này làm ông ta tỉnh trí lại. Ông ta cau có. “Không được phép phí phạm whisky ngon.” Dù sao, ông ta cũng rút vào bóng tối của quán càphê và vài giây sau quay lại, mang theo một chai rượu không nhãn mác, màu vàng hoa cúc. Ông ta chỉ vào những cái tăm của nó sủi lên trong ánh nắng rồi bảo: “Hai đô la.”

Chúng tôi trả ông ta bằng những đồng năm xu, mười xu và một xu. Đột nhiên, để những đồng xu lanh canh trong tay như một nắm xúc xắc, gương mặt ông ta dịu xuống: “Tôi bảo này,” ông ta đề nghị, trút lại số tiền vào trong cái ví kết bằng hạt của chúng tôi, “chỉ cần mang cho tôi một cái bánh trái cây là được.”

“Chà,” bà chị tôi nhận xét trên đường về nhà “ông ấy thật dễ mến quá. Mình sẽ cho thêm một cốc nho khô vào cái bánh của ông ấy.”

Cái bếp lò đen bóng đun củi và than rực rỡ như một quả bí ngô được thắp sáng. Cái đánh trứng quay như gió, thìa đánh tít mù trong bát bột và đường, mùi vani thơm ngào ngạt không trung, gừng cay cay, những mùi thơm điếc mũi thấm đẫm gian bếp, lan tỏa khắp nhà, cuốn theo khói lò sưởi tràn ra thế giới. Sau bốn ngày chúng tôi xong việc. ba mươi mốt cái bánh, tẩm whisky, phơi trên bệ cửa sổ và đầy các giá.

Chúng để cho ai?

Bạn bè. Không nhất thiết là bạn hàng xóm: quả thật phần lớn là để cho những người chúng tôi gặp có lẽ chỉ một lần, hay có khi chưa bao giờ gặp. Như tổng thống Roosevelt. Như Đức Cha và bà J.C. Lucey, những nhà truyền giáo Baptis[2] tới Borneo[3] mùa đông năm ngoái đã giảng đạo ở đây. Hay người thợ mài dao nhỏ nhắn một năm hai lần đi xuyên qua thị trấn. Hay Abner Packer, người lái xe bus chuyến sáu giờ từ Mobile, ngày nào cũng vẫy tay với chúng tôi khi lướt qua trong đám mây bụi phun mù mịt. Hay là cô cậu Wiston, cặp vợ chồng trẻ ở California, một buổi chiều bị hỏng xe trước nhà, đã tán chuyện một giờ đồng hồ với chúng tôi ngoài hiên (cậu Wiston đã chụp ảnh cho chúng tôi, bức ảnh duy nhất mà chúng tôi có). Có phải vì chị tôi ngượng ngùng với tất cả mọi người, chỉ trừ người lạ và những người xa lạ chỉ gặp một đôi lần này có vẻ là bạn thật sự của chúng tôi? Tôi nghĩ chắc thế. Và những cuốn sổ tay chúng tôi giữ thư cảm ơn được gửi từ tủ giấy tờ Nhà Trắng, đôi khi có thư từ California và Borneo, hay những tấm thiếp giá một xu của người thợ mài dao, khiến chúng tôi cảm thấy gắn bó với thế giới đầy ắp sự kiện bên ngoài căn bếp, với tầm nhìn xa đến tận chân trời.

Có một cành vả tháng Mười hai trần trụi đang cọ vào cửa sổ. Căn bếp rỗng không, bánh đã cho đi hết, hôm qua chúng tôi đã chở cái cuối cùng đến bưu điện và tiền tem làm ví chúng tôi cạn sạch. Chúng tôi nhẵn túi. Điều đó làm tôi thất vọng, nhưng bà chị khăng khăng phải ăn mừng – với chỗ rượu còn lại trong chai của Haha chừng hai đốt ngón tay. Queenie được một thìa đầy trong bát uống cà phê (nó thích cà phê đặc, có vị rễ rau diếp xoăn). Phần còn lại chúng tôi chia vào hai cái cốc đựng thạch. Chúng tôi đều sợ uống whisky không pha. Uống vào đâm biểu cảm lung tung và rùng mình muốn ói. Nhưng dần dần chúng tôi bắt đầu hát, hai chị em hát hò những bài hát khác nhau cùng một lúc. Tôi chẳng biết lời, cứ quanh quẩn: Đến đây nào, đến đây nào, trong thị trấn tối om, tiệc khiêu vũ kiêu sa đón chào. Nhưng tôi biết nhảy, bóng tôi nhảy nhót điên đảo trên tường, giọng chúng tôi làm những đồ sứ rung rinh, chúng tôi cười khúc khích, như thể bị những bàn tay vô hình cù. Queenie nằm lăn phơi bụng ra, móng quào lên không khí, cặp môi đen bóng của nó toét ra như cười. Tôi cảm thấy ấm áp trong người, bốc cháy như củi vụn, phóng túng như gió hú qua lò sưởi. Bà chị tôi nhảy valse quanh bếp lò, gấu cái váy hoa tồi tàn của bà kẹp giữa những ngón tay như thể nó là một chiếc đầm dạ hội: Chỉ cho em lối về nhà, bà hát, đôi giày tennis của bà cọt kẹt trên sàn. Chỉ cho em lối về nhà.

Hai người họ hàng xông vào. Rất giận dữ. Hằm hằm mắt nguyền rủa và lưỡi chì chiết. Phải nghe họ nói, từ ngữ cuốn vào nhau thành một thanh âm cuồng nộ: “Đứa trẻ bảy tuổi! Mồm đầy mùi whisky! Chị loạn óc rồi à? Cho một đứa bảy tuổi uống! Đúng là rồ dại! Xuống dốc không phanh! Có nhớ chị Kate không? Chú Charlie? Anh rể của chú Charlie nữa? Xấu hổ! Xì căng đan! Nhục nhã! Quỳ xuống, tụng kinh, cầu Chúa đi!”

Queenie len lén giấu mình dưới cái bếp lò. Bà chị tôi cắm mắt xuống đôi giày, cằm run lên, bà nâng chiếc váy, xỉ mũi và chạy bổ về phòng mình. Rất lâu sau khi thị trấn đã chìm trong rất ngủ, ngôi nhà yên tĩnh chỉ còn tiếng đồng hồ tích tắc và tiếng xèo xèo của đám lửa lụi dần, bà vẫn còn thổn thức trong chiếc gối giờ đã ướt đẫm như khăn tay góa phụ.

“Nín đi chị,” tôi nói, ngồi ở chân giường bà và rùng mình trong chiếc áo ngủ vải flannel vẫn còn mùi của sirô ho mùa đông năm ngoái, “nín đi nào,” tôi năn nỉ, nghịch ngón chân, cù bàn chân bà, “chị lớn rồi kia mà.”
“Là vì,” bà nấc lên, “Chị già quá rồi. Già và buồn cười.”

“Không buồn cười đâu. Vui chứ. Vui hơn tất cả mọi người. Nghe này, nếu chị không nín khóc thì ngày mai chị sẽ mệt đến nỗi chị em mình không đi đốn cây được.”

Bà ngồi thẳng người lên. Queenie nhảy tót lên giường (nơi nó bị cấm) để liếm má bà. “Chị biết chỗ mình có thể kiếm được những cái cây thật là đẹp, Buddy à. Và cây nhựa ruồi nữa. Cả những trái hồng dại to bằng mắt em ấy. Nó xa tít trong rừng. Mình chưa bao giờ đi xa đến thế đâu. Bố chị thường mang cây Nô-en từ đó về đấy: vác chúng trên vai nhé. Hồi đấy là năm mươi năm trước rồi. Chà, giờ thì chị không thể đợi nổi đến sáng mai.”

Buổi sáng. Sương muối đọng long lanh trên cỏ, mặt trời tròn như trái cam và chín vàng như trăng những ngày trời nóng nực, lơ lửng ở chân trời, làm sáng cả rừng cây mùa đông trắng bạc. Tiếng gà tây hoang dã gáy. Một con lợn lang thang ủn ỉn trong lùm cây lúp xúp. Chẳng bao lâu, chúng tôi phải bỏ lại cái xe đẩy bên bờ suối nước nông đến đầu gối nhưng chảy xiết. Queenie lội qua suối trước, vừa khỏa nước vừa sủa phàn nàn dòng nước xiết làm cho nó lạnh. Chúng tôi theo sau, cầm giày và các thứ dụng cụ (một cái rìu nhỏ, một cái túi vải bố) giơ cao trên đầu. Thêm một dặm nữa, tả tơi vì gai nhọn, các quả gai và cây tầm xuân bám đầy quần áo, phát cáu lên với những cái kim lá thông nổi lên giữa đám nấm sặc sỡ và lông chim rụng. Đây đó xẹt ngang qua, hay có tiếng đập cánh, một cơn hưng phấn đến rùng mình nhắc chúng tôi rằng không phải tất cả lũ chim đã bay về phương nam. Rồi cũng đến con đường mòn trải dài qua những đầm nước in bóng mặt trời màu vỏ chanh và những đường hầm chằng chịt dây leo. Lại băng qua một con suối nữa, một hạm đội cá hồi lốm đốm làm mặt nước sủi tăm xung quanh chúng tôi, và những con ếch to bằng cái đĩa tập nhảy bụng tòm tõm, mấy bác công nhân râu xồm đang xây đập. Ở bờ xa, Queenie lắc lắc người, run rẩy. Bà chị tôi cũng rùng mình, nhưng không phải vì lạnh mà vì phấn khích. Một bông hồng rách trên mũ bà thả cánh xuống khi bà nhấc mũ ra khỏi đầu để hít không khí sực nức mùi thông. “Mình gần đến nơi rồi, em có thể ngửi thấy nó không, Buddy?” bà nói, như thể chúng tôi sắp đến một đại dương.

Và, quả thực, nó cũng là một đại dương. Bạt ngàn hàng mẫu thơm nức những cây nhựa ruồi lá đầy gai. Trái hồng dại đỏ, sáng bóng như những quả chuông Trung Quốc. Quạ đen sà xuống mổ, kêu quàng quạc. Đã ních đầy cái túi vải bố đủ hoa lá xanh đỏ để kết vòng hoa cho cả tá cửa sổ, chúng tôi quyết định chọn cây. “Nó phải,” chị tôi trầm ngâm “cao gấp đôi một cậu bé. Để cậu bé không thể hái trộm sao được.” Cái cây chúng tôi chọn cao gấp đôi người tôi. Một con quái vật đẹp đẽ và dũng cảm đã chịu đựng ba mươi nhát rìu trước khi gục xuống trong tiếng than ken két đau đớn. Kéo lê chiến lợi phẩm, chúng tôi bắt đầu chuyến đi vất vả. Cứ vài mét chúng tôi lại bỏ đấy, ngồi xuống và thở hổn hển. Nhưng chúng tôi có sức mạnh của những người thợ săn trúng lớn, cộng thêm với mùi hương thông băng giá mạnh mẽ làm hồi sức, giục chúng tôi đi tiếp. Trở về lúc hoàng hôn, dọc con đường đất đỏ vào thị trấn, chúng tôi nhận được vô số lời khen, nhưng chị tôi ranh mãnh không chịu tiết lộ khi những người qua đường ca ngợi những thứ quý giá chất trên chiếc xe đẩy của chúng tôi: bà kiếm đâu ra cái cây đẹp quá? “Trên đường ấy mà,” bà lẩm bẩm một cách mơ hồ. Một lần một cái xe hơi dừng lại và bà vợ lười nhác của ông chủ nhà máy xay thò đầu ra léo nhéo: “Bán cái cây cỗi kia hai nhăm xu nhé.” Bình thường bà chị tôi rất sợ nói không, nhưng lần này bà dõng dạc lắc đầu: “Một đô chúng tôi cũng không bán.” Vợ ông chủ nhà máy xay vẫn nì nèo: “Một đô la, đắt như quỉ ấy! Năm mươi xu. Giá cuối cùng đấy. Trời đất, bà này, bà có thể kiếm cây khác mà.” Bà chị tôi nhẹ nhàng đáp lại: “Tôi không nghĩ thế đâu. Chẳng bao giờ có hai cái gì y hệt nhau.”

Về đến nhà: Queenie lăn ra cạnh đống lửa và ngủ đến tận ngày hôm sau, ngáy ầm ĩ như người.

Cái rương ở buồng kho chứa: một cái hộp giày đựng lông đuôi chồn (rời ra từ cái áo choàng của một quý bà lạ lùng đã từng thuê phòng trong ngôi nhà này), hàng cuộn dây kim tuyến tả tơi, lớp vàng đã tróc hết vì thời gian, một ngôi sao bạc, một chuỗi ngăn ngắn những bóng đèn trông như kẹo, rõ ràng là nguy hiểm vì đã hư nát. Những vật trang trí tuyệt hảo đến thế, nhưng vẫn chưa đủ, chị tôi muốn cái cây của chúng tôi phải tỏa sáng “như cửa sổ nhà Người Rửa Tội”, rủ xuống những đồ trang hoàng nặng trĩu tuyết. Nhưng chúng tôi chẳng đào đâu ra tiền để có các thứ lộng lẫy nhập từ Nhật Bản ở cửa hàng Năm và Mười xu. Vì thế, chúng tôi làm như mọi khi, ngồi cả ngày ở cái bàn bếp với kéo, bút chì màu và một đống giấy màu. Tôi vẽ còn bà chị thì cắt chúng ra: rất nhiều mèo, cá nữa (vì chúng dễ vẽ), mấy quả táo, dưa hấu, vài thiên thần có cánh chế ra từ những tấm giấy thiếc của thanh sôcôla Hershey mà chúng tôi dành dụm được. Chúng tôi dùng kim băng đính những tác phẩm đó lên cây; và cuối cùng, chúng tôi rắc lên các cành cây những chùm bông xé tơi (được nhặt từ tháng Tám để dùng vào việc này). Bà chị tôi, ngắm nghía kết quả, vỗ hai tay vào nhau: “Giờ thật lòng mà nói, Buddy. Trông nó có đẹp đến mức muốn ăn không?” Queenie thử chén một thiên thần.

Sau khi kết và thắt nơ cho những tràng hoa nhựa ruồi treo khắp các cửa sổ phía trước, công trình tiếp theo của chúng tôi là tạo kiểu cho các món quà gia đình. Khăn nhuộm màu cho phụ nữ, cho đàn ông thì là nước chanh có ga nhà làm và siro cam thảo trộn aspirin để uống “Khi có triệu chứng cảm lạnh đầu tiên và sau khi Đi Săn”. Nhưng đến khi làm quà cho nhau thì tôi và bà chị bí mật làm riêng. Tôi muốn mua tặng bà cái dao găm khảm ngọc trai, một cái radio, cả nửa cân anh đào bọc sôcôla (một lần chúng tôi được nếm vài quả, và bà luôn miệng thề: “Chị có thể sống bằng nó, Buddy ạ, Chúa ơi, chị có thể - và chị không gọi tên Người một cách vô ích đâu.” Thay vào đó, tôi làm cho bà một cái diều. Bà muốn tặng tôi cái xe đạp (Bà nói thế cả vài triệu lần: “Nếu mà chị có thể, Buddy ạ. Thật tồi tệ phải sống mà không có cái mình muốn, nhưng chết tiệt, thật trêu ngươi là chị không thể tặng ai đó cái mà chị muốn họ có. Ước gì một ngày kia chị sẽ, Buddy à, tặng em cái xe đạp. Đừng hỏi làm thế nào. Ăn trộm nó, có thể thế.”) Thay vào đó, tôi gần như chắc chắn là bà sẽ làm cho tôi một cái diều – y như năm ngoái và năm kia: năm trước đó thì chúng tôi tặng lẫn nhau súng cao su. Tất cả những thứ đó tôi đều thích. Vì chúng tôi là vô địch thả diều, biết đoán gió như thủy thủ; bà chị còn thiện nghệ hơn tôi, có thể khiến một con diều lên cao ngay khi không đủ gió để nâng một áng mây.

Chiều hôm Giáng sinh chúng tôi cùng vét được năm xu và đi đến hàng thịt để mua món quà truyền thống cho Queenie, một khúc xương bò thật ngon để gặm. Cái xương được bọc trong giấy gói ngộ nghĩnh, đặt cao tít trên cây gần ngôi sao bạc. Queenie biết quà ở đó. Nó ngồi chồm hỗm dưới gốc cây ngước lên thèm muốn đắm đuối: đến giờ đi ngủ nó vẫn không chịu nhúc nhích. Tôi cũng háo hức y như nó. Tôi đá chăn, lật gối như thể đang giữa đêm hè nóng như thiêu. Đâu đó có tiếng gà gáy: nhầm rồi, vì mặt trời vẫn còn ở phía bên kia quả đất.

“Buddy, em còn thức à?” Đấy là bà chị tôi, gọi từ phòng mình, ngay cạnh phòng tôi, và một lát sau, bà ngồi trên giường tôi, tay cầm ngọn nến. “Chà, chị không thể chợp mắt được,” bà tuyên bố. “Ý nghĩ chị cứ nhảy nhót như con thỏ bị săn ấy. Buddy, em có nghĩ là bà Roosevelt sẽ dọn bánh của mình ra trong bữa tối không?” Chúng tôi nằm rúc vào nhau trên giường, và bà bóp tay tôi Chị–yêu–em. “Hình như hồi trước tay em nhỏ hơn nhiều. Chị chắc là chị ghét nhìn em lớn lên. Khi nào em lớn, mình vẫn là bạn được chứ?” Tôi đáp mãi mãi chứ. “Nhưng chị buồn quá, Buddy ạ. Chị muốn tặng em chiếc xe đạp kinh khủng. Chị đã thử bán món đồ trang sức chạm đá mà bố cho chị. Buddy–” bà ngập ngừng, như xấu hổ. “Chị đã làm cho em một cái diều nữa.” Rồi tôi thú nhận là tôi cũng làm cho bà một cái, và chúng tôi cười phá lên. Cây nến đã cháy ngắn đến mức không cầm nổi nữa. Rồi nó tắt, những ánh sao trời sáng lên, những ngôi sao nhấp nhánh ngoài cửa sổ như tiếng ríu rít bằng mắt, chầm chậm, chầm chậm hé ra ngày mới trong im lặng. Hình như chúng tôi lơ mơ ngủ, nhưng những tia sáng bình minh đầu tiên tạt vào chúng tôi như nước lạnh, hai chị em choàng tỉnh, mắt mở to, đi thơ thẩn trong khi chờ những người khác thức dậy. Bà chị tôi gần như cố ý thả cái ấm xuống sàn bếp. Còn tôi nhảy điệu clacket trước những cánh cửa đóng kín. Từng người chủ nhà ló ra, trông như muốn giết cả hai chúng tôi, nhưng đang là Giáng sinh, vì thế họ không thể. Đầu tiên là một bữa sáng linh đình: mọi thứ mà ta có thể tưởng tượng ra – từ bánh rán và sóc quay đến cháo yến mạch ngô và mật ong còn nguyên tảng. Nó làm mọi người vui vẻ chỉ trừ hai chị em tôi. Nói thật là chúng tôi quá nôn nóng chờ lúc tặng quà đến nỗi không thể ăn nổi một miếng ra hồn.

Chà, tôi đã thất vọng. Ai mà không chứ? Với tất, áo mặc đi học ngày Chủ Nhật, vài cái khăn mùi xoa, một cái áo len trông chán chết và một năm báo của nhà thờ dành cho trẻ con. Em bé chăn cừu. Nó làm tôi cáu điên lên. Đúng là như thế.

Chị tôi vớ được một mẻ khá hơn. Một túi quất Nhật không hạt là món quà quý nhất của bà. Bà tự hào nhất với tấm khăn choàng bằng len trắng mà cô em gái đã lấy chồng đan cho. Nhưng bà nói món quà bà thích nhất là cái diều tôi làm cho bà. Và nó rất đẹp, dù không đẹp bằng cái bà làm cho tôi, màu xanh da trời có điểm những ngôi sao Hạnh kiểm Tốt vàng và xanh lá, lại còn có cả tên tôi sơn trên đó, “Buddy.”

“Buddy, gió đang thổi đấy.”

Gió đang thổi và chẳng có gì xảy ra đến khi chúng tôi chạy ra cánh đồng phía dưới ngôi nhà nơi Queenie đang lỉnh ra để chôn khúc xương của nó (nơi mà mùa đông năm sau Queenie cũng bị chôn). Ở đó, lao qua đám cỏ xanh tốt cao ngang thắt lưng, chúng tôi tháo cái diều, cảm thấy chúng giật giật trên dây như cá trời bơi theo gió. Mãn nguyện, ấm áp trong nắng, chúng tôi nằm ườn ra trong cỏ, bóc vỏ quất Nhật và ngắm những cánh diều của mình vẫy vùng hân hoan. Chẳng bao lâu, tôi quên biến đi đôi tất, cái áo len đáng chán. Tôi sung sướng như thể chúng tôi vừa trúng Giải thưởng Lớn năm mươi nghìn đô trong cuộc thi đặt tên hiệu cho cà phê đó.

“Ôi trời, chị thật ngu quá!” chị tôi kêu lên, đột nhiên hoảng hốt như một bà nhớ ra quá trễ rằng mình đã bỏ bánh qui trong lò. “Em có biết chị luôn luôn nghĩ thế nào không?” bà hỏi bằng một giọng đầy khám phá, và không cười với tôi mà với một điểm tít trên cao. “Chị luôn nghĩ là người thì phải ốm và chết dần trước khi nhìn thấy Chúa. Và chị cứ tưởng tượng rằng khi Người đến thì sẽ giống như nhìn qua cửa sổ nhà Người Rửa Tội: đẹp đẽ như kính màu được nắng chiếu qua, rực sáng đến nỗi mình không biết là trời đang tối đi. Và nó rất dễ chịu khi nghĩ rằng ánh sáng đó xua đi mọi cảm giác ma quỉ. Nhưng chị cá là chuyện đó không bao giờ xảy ra. Chị cá là vào lúc lâm chung người ta nhận ra là Chúa đã hiện. Những thứ như thế kia–” tay bà chỉ một vòng bao quát hết cả những đám mây, cánh diều, cỏ và Queenie đang cào đất phủ lên khúc xương, “những thứ mà họ thường xuyên nhìn thấy, chính là nhìn thấy Người. Chị thì chị có thể rời khỏi thế giới này với ngày hôm nay trong mắt chị.”

Đấy là Giáng sinh cuối cùng chúng tôi bên nhau.

Cuộc sống đã chia rẽ chúng tôi. Những Người Thông Thái quyết định là tôi phải vào trường quân đội. Và tiếp đó là một chuỗi những nhà tù với tiếng kèn hiệu lệnh, những trại hè đầy mệnh lệnh tàn ác. Tôi cũng có một cái nhà mới. Nhưng nó không tính. Nhà là nơi chị tôi ở, và tôi không bao giờ rời khỏi nó.

Và bà còn ở đó, lăng xăng trong bếp. Một mình với Queenie. Rồi đơn độc. (“Buddy thương yêu,” bà viết với nét chữ xiêu vẹo khó đọc, “hôm qua con ngựa của Jim Marcy đã đá Queenie rất ác. Nhờ trời nó không còn cảm thấy đau nữa. Chị đã bọc nó trong tấm khăn trải giường vải lanh đẹp nhất và đưa nó đi trong chiếc xe đẩy xuống cánh đồng nhà Simpson nơi nó có thể ở cùng với tất cả những khúc xương của nó...”). Vài tháng Mười một sau, bà vẫn tiếp tục nướng bánh trái cây một mình, không nhiều như trước, nhưng cũng vài cái: và tất nhiên, bà luôn gửi cho tôi “cái bánh ngon nhất mẻ.” Trong mỗi lá thư, bà còn thêm vào một đồng mười xu chèn trong giấy vệ sinh: “Đi xem phim và viết thư kể chuyện cho chị nhé.” Nhưng dần dần, những bức thư sau hình như bà cứ nhầm tôi với người bạn khác của bà là Buddy đã chết năm 1880; ngày càng nhiều những hôm không phải ngày mười ba mà bà vẫn nằm trong giường: rồi đến một buổi sáng tháng Mười một, buổi sáng mùa đông trụi lá, không chim chóc, bà không thể tự dậy để kêu lên: “Ôi chao, trời này làm bánh trái cây được rồi!”

Và khi chuyện đó xảy ra, tôi biết. Một bức thư xác nhận ngắn gọn mẩu tin mà lòng tôi đã thầm biết, cắt rời đi một phần không thể thay thế trong tôi, để nó mất đi như một cánh diều đứt dây. Đấy là lí do khi bước ngang qua sân trường trong buổi sáng tháng Mười hai đặc biệt này, tôi cứ tìm kiếm mãi trên bầu trời. Như thể tôi mong được thấy, hơi giống hình trái tim, một đôi diều lạc hối hả bay về hướng thiên đường.


[1]. Nguyên văn: gà mái Bantam, một giống gà từ Bantam, Indonesia, nhỏ con nhưng rất nhanh nhẹn, can trường, có khi được nuôi làm cảnh trong nhà.

[2]. Baptist: Người theo giáo phái Baptis chuyên rửa tội cho người lớn.

[3]. Borneo: Còn gọi là đảo Kilimantan, hòn đảo lớn thứ ba trên thế giới ở Đông Nam Á.

Thứ Tư, 21 tháng 12, 2011

Bữa sáng ở Tiffany's (Xmas most wanted book)

Hàng đã về... Sài Gòn :-) Cuốn sách nên đọc cho mùa Giáng sinh. Sách in tuyệt đẹp, gái thì nên mua cho mình mà trai thì nên mua tặng người yêu. Bản dịch rất đạt của Phạm Hải Anh, truyện hay hơn phim nhiều.

Dưới đây là lời giới thiệu:

CÁI LÕI SẮC CẠNH TRONG VỎ NGỌT NGÀO

Nếu phải chỉ ra mẫu nhân vật nữ nào gây ảnh hưởng về thời trang và lối sống nhất của thế kỷ 20 thì cần nói đến Holly Nhẹ Dạ trong truyện vừa Bữa sáng ở Tiffany’s, một trong những sáng tạo nổi tiếng nhất của Truman Capote và của văn học hiện đại Mỹ.

Trong tuyệt tác đầy cám dỗ và nuối tiếc này, Truman Capote đã sáng tạo nên một cô gái mà tên cô đã đi vào thành ngữ Mỹ và phong cách cô là một phần của diện mạo văn học. Holly Nhẹ Dạ 19 tuổi, từ miền quê lên New York để chen chân vào giới phù hoa. Cô lượn lờ tìm kiếm trong số những người đàn ông giàu có để kiếm nguồn vui tạm bợ. Giữa sự chộn rộn của thói phù phiếm thành thị với vẻ ngây thơ chết người, thật khó đoán đâu là con người thật của Holly. Holly Nhẹ Dạ biết rằng vĩnh viễn không điều gì xấu có thể xảy ra với mình ở tiệm Tiffany’s; sự cay đắng, hài hước, ngây thơ của cô vẫn cứ mê hoặc lòng người. Câu chuyện hài hước và sâu cay đã được dựng thành phim năm 1961 với ngôi sao Audrey Hepburn. Phim và truyện cho đến nay đã trở thành một cặp biểu tượng thời trang và văn hóa kinh điển.


Tuyển tập này có thêm 3 trong số những truyện ngắn nổi tiếng nhất của Capote, Nhà hoa,” “Cây đàn guitar kim cương,”Ký ức Giáng sinh – một trong những truyện ngắn cảm động nhất bằng tiếng Anh.” Đấy là câu chuyện về hai kẻ ngây thơ – một cậu bé và một bà già, bạn thân thiết nhất của cậu, hai kẻ mộng mơ giữa thế giới trần trụi.


Lối văn của cuốn sách đã khiến nhà văn Norman Mailer gọi Capote là “nhà văn hoàn hảo nhất của thế hệ tôi. Ông viết nên những câu văn hay nhất, đẹp đến từng con chữ, từng nhịp điệu.” Có thể nói, truyện của Capote giấu trong sự ngọt ngào cái lõi sắc cạnh và nghiệt ngã của hiện thực.

Truman Capote nói gì về Bữa sáng ở Tiffany's

Bữa sáng ở Tiffany’s là một bước ngoặt trong đời văn của Capote, như ông đã nói với Roy Newquist (Counterpoint, 1964):

Tôi nghĩ mình có hai sự nghiệp. Một là sự nghiệp nảy nở sớm, một kẻ trẻ người non dạ đã xuất bản một loạt sách khá là đáng chú ý. Tôi thậm chí vẫn có thể đọc lại ngay lúc này và đánh giá chúng đầy ưu ái, dẫu đó là việc của một người lạ… Sự nghiệp thứ hai của tôi, tôi nghĩ nó thực sự bắt đầu với Bữa sáng ở Tiffany’s. Nó hàm chứa một quan điểm khác, một lối viết khác ở một đẳng cấp khác. Thực tế thì, lối viết là một sự phát triển từ cách này sang cách khác – một sự cắt tỉa và thanh lược để thành một kiểu văn êm ả hơn, rõ ràng hơn. Tôi không thấy nó gợi liên tưởng, trong nhiều góc độ, bằng tác phẩm khác, hay thậm chí so với hồi đầu, mà giờ đây khó khăn hơn nhiều để làm được. Nhưng tôi chưa đạt tới được điều tôi muốn làm hay gần nơi tôi muốn tới. Có lẽ cuốn sách mới này gần đạt được với điều tôi muốn, ít nhất là về mặt định hướng.

Tiffany’s ở đây cụ thể là cửa hiệu của hãng kim hoàn và trang sức cao cấp hạng nhất nước Mỹ, nằm ở khu thượng lưu Manhattan, thành phố New York. Thực tế cửa hiệu sang trọng này không bán đồ ăn, nhưng qua cách nói của nhân vật Holly trong truyện của Truman Capote, ăn sáng ở Tiffany’s mang hàm nghĩa về một cuộc sống phù hoa, đẳng cấp. Mặt khác, khái niệm không có thực ấy cũng gói ý nghĩa về một ảo vọng hão huyền.

Sách phát hành: tháng 12/2011.
Dịch giả: Phạm Hải Anh.
Giá bìa: 66.000 VND.

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2011

Tất cả đều là con tôi hay là kịch "phe tả"

Thế nào mà đợt này đọc và xem nhiều thứ liên quan đến các kịch tác gia Mỹ hậu Thế chiến II: Bài giới thiệu sách của Tennessee Williams của Arthur Miller, cuốn Bữa sáng ở Tiffany's của Truman Capote sắp ra. Mấy truyện của Capote cũng chuyển thể thành kịch và phim nhiều nên cũng coi như có chung một mạch.


Arthur Miller và Marilyn Monroe

Hôm qua vừa đi xem vở Tất cả đều là con tôi (All My Sons, 1947) của Arthur Miller ở Nhà hát Tuổi Trẻ, đạo diễn Neil S. Fleckman, diễn viên chính: Sĩ Tiến, Lê Khanh, Thu Quỳnh, Quang Ánh. Trong lời phát biểu của ông tham tán văn hóa ĐSQ Mỹ cũng không quên gài chi tiết Miller là chồng Marilyn Monroe. À mà tuần này phim A Week with Marilyn cũng ra mắt, phim nói về thời cô đào này vừa lấy Miller, và dường như là ngang nhiên vui vẻ với trai lạ xứ Ăng Lê, dù đang đi tuần trăng mật với chồng :-)

Cảnh phim A Week with Marilyn, với Dougray Scott đóng Miller đứng đằng sau Michelle Williams, có vẻ là một vai rất mờ nhạt

All My Sons không phải là mới với khán giả VN, có diễn một đợt vào năm 1972, thời đang đánh nhau với Mỹ và việc quảng bá lúc ấy có lẽ mang dụng ý chính trị nữa. Phần vì tác giả là người thiên tả, thân Cộng, và quan điểm chống chủ nghĩa tư bản cũng như Giấc mơ Mỹ khá rõ ràng nên xem ra thích hợp hơn bao giờ hết khi diễn ở Hà Nội để cho thấy sự thối tha của XH Mỹ. Năm ấy hình như Jane Fonda khi sang VN cũng xem vở diễn này của đạo diễn Vũ Đình Phòng, có NS Lê Mai đóng vai Kate. Vậy là 39 năm sau, con của Lê Mai là Lê Khanh cũng đóng chính vai đó.


Cảnh trong vở Tất cả đều là con tôi của Nhà hát Tuổi Trẻ. Ảnh: nhahattuoitre.vn

Cảnh trong vở diễn trên sân khấu Nhà hát Tuổi Trẻ. Ảnh: nhahattuoitre.vn

Nhưng chừng ấy lần xuất hiện cũng chả ăn thua gì, thêm nữa là đã quá lâu, rồi vở diễn lại trong hoàn cảnh kịch nói HN đang tậm tịt, nhân dân thờ ơ, nhà nước hoang mang, giá cả đang án binh. Sao lại giá cả ở đây? À, vấn đề kinh tế có liên quan, nhất là vở kịch này như mọi sản phẩm phim ảnh kịch nghệ Mỹ, dù thân Cộng hay thân hữu, đều tỉnh táo khi nói về tiền bạc. Arthur Miller dù trong sự hăng hái nhất của lý tưởng, thì vẫn là một người Mỹ. Ông không phải dạng tác gia cánh tả chỉ chém gió, mà rành rẽ cơ chế xã hội, và diễn giải cơ chế ấy thông tuệ. Cái hay của Miller trong vở này là không buông tha cái ý niệm ấy, ém kỹ cho đến cao trào mới bung ra. Dù không thiếu cảm xúc, nhưng sự tỉnh và lạnh quyết định sự thành công của All My Sons.

[spoiled] Nội dung vở kịch thì đơn giản thôi: Ông bà Keller là chủ nhà máy sản xuất thiết bị cho máy bay quân sự trong Thế chiến II. Họ có cậu con thứ 2, Larry, hi sinh ở Viễn Đông. Chiến tranh kết thúc, bà Keller vẫn tin là Larry chưa chết, trong khi Chris, con cả, đem lòng yêu Ann, người yêu cũ của Larry. Ann là con gái đốc công cũ của Keller, ông này đã bị đi tù vì sản xuất thiết bị lỗi để cho 21 phi công thiệt mạng. Rồi hóa ra là kẻ có tội mới là ông Keller, kẻ đã đổ vấy cho bố của Ann. Hóa ra Larry tự tử vì biết nhà máy bố mình hại nước hại dân. Kết cục thì kẻ tự sát, người chia tay nhau, công lý (có vẻ) được lập lại...

Trong lời giới thiệu cho bản in Chuyến tàu mang tên Dục vọng (A Streetcar named Desire) của Tennessee Williams năm 2004, nghĩa là chỉ 1 năm trước khi mất, Arthur Miller đã nói một chút về đạo diễn Elia Kazan, người đã dựng vở All My Sons đầu tiên. Đó là thời của những sự bắt đầu khá hăm hở của những tác giả mới ngoài 30:
"Ký ức sau gần sáu mươi năm không còn đáng tin cậy nhưng vẫn còn đó vài sự kiện, những khuôn mặt, những hội ngộ và những chia ly đã neo chặt trong óc không suy xuyển. Một trong những điều như vậy là cái lần đầu tiên tôi xem Chuyến tàu mang tên Dục vọng. Nó không được khai diễn ở New York. Đạo diễn vở kịch, Elia Kazan, đã gọi điện mời tôi đến nhà hát Shubert ở New Haven xem nó. Kazan đã đạo diễn vở Tất cả đều là con tôi một năm trước và chúng tôi đã trở thành bạn bè thân thiết. Như thường lệ, khi ông có một vở kịch mới, ông tham khảo hầu khắp phản hồi của tất cả mọi người trước khi giới phê bình lao vào mổ xẻ trong niềm tin rằng một ý tưởng quan trọng có thể đôi khi bật ra từ một nguồn không ngờ nhất.

Cảnh trong vở diễn năm 1947 do Kazan đạo diễn, đã được giải Tony cho vở kịch hay nhất và đạo diễn xuất sắc nhất.

Tôi biết Tennessee chỉ rất tình cờ. Khoảng một thập niên trước đấy tôi đã giành được giải thưởng của tổ chức Nghiệp đoàn Sân khấu dành cho những vở kịch mới trị giá 1250 đôla, một gia tài nhỏ vào cái năm Đại Suy thoái đó. Giải thưởng này, vốn dành cho các sinh viên đại học trên cả nước, theo tôi biết thì là nỗ lực đơn lẻ của Nghiệp đoàn, một nhà sản xuất Broadway, nhằm khích lệ những nhà biên kịch bên ngoài địa phận Manhattan. Nhưng Nghiệp đoàn đã có một sự khởi đầu bất thường vài năm trước, khi những nhà lãnh đạo đã tham gia vào Nhà hát kịch Provincetown, nhà sản xuất các vở kịch đầu tiên của O’Neill, và một vài nhà lãnh đạo khác vẫn nuôi dưỡng niềm khao khát bất biến về một sự trở lại với nghệ thuật sân khấu hơn là tiếp tục chôn vùi mình trong tính thương mại. Cuối cùng, những thành viên của Nghiệp đoàn gồm Lee Strasberg, Harold Clurman và Cheryl Crawford đã tách ra để thành lập Group Theatre [Đoàn sân khấu], chính nơi này vào năm 1939 đã trao cho Williams số tiền thưởng 100 đôla cho ba vở kịch một hồi. Chủ tịch ủy ban giải thưởng này chính là vợ của Kazan, Molly Day Thacher. 

Tất cả những điều trên đã nhắc lại tôi nhớ rằng tôi đã biết đến sự vật lộn lâu dài của Williams, song song với của chính tôi, để chen vào được sân khấu Broadway, sân khấu duy nhất vào thuở đó, khi nhà hát ngoại-Broadway vẫn còn chưa ra đời."
Williams, Kazan và Miller năm 1967

Một sự gặp nhau của các tác giả và đạo diễn này là họ đều theo phe tả, và cả Miller và Kazan đều có liên quan đến thời kỳ ảnh hưởng của CNCS ở Mỹ, hay đúng hơn là những vấn đề về đấu tranh bình đẳng xã hội mà khá đông nghệ sĩ sân khấu điện ảnh tham gia. Sau này Kazan có tham gia tiết lộ thông tin về các văn nghệ sĩ thân Cộng trước HUAC - Uỷ ban điều tra các hoạt động chống Mỹ (do TNS McCarthy đề xuất), còn Arthur Miller đã từ chối tiết lộ khi ra điều trần. Tình bạn 2 người gián đoạn trong 10 năm sau đó. Đáng nói là Kazan đã khai ra một số nhân vật văn nghệ sĩ trong Group Theater. Còn trong giới điện ảnh, nhiều người thất bát về sự nghiệp, phải dùng tên giả (như Danton Trumbo viết kịch bản Kỳ nghỉ hè ở Roma, The Brave One) và một số di cư sang châu Âu (như Howard Koch, viết kịch bản CasablancaBức thư của người đàn bà không quen).
Tuy nhiên sau này Miller vẫn lên tiếng ủng hộ các tác phẩm của Kazan, và còn nói "don’t worry about what I’ll think. Whatever you do is okay with me, because I know that your heart is in the right place." Không phải ngẫu nhiên mà Miller đã dẫn khá dài về vai trò của Group Theater như bà đỡ đầu cho các vở kịch của ông và Williams cũng như trao vào tay đạo diễn của Kazan. Một sự nhắc nhở khá thâm thúy.

Nói về vở Chuyến tàu của Williams, Miller cũng gián tiếp nói đến phương pháp diễn xuất mà Group Theater đã mở ra cho sân khấu Mỹ những năm sau Thế chiến II:

"Tâm hồn một nhà văn, một tiếng nói đơn lẻ gần như bao trùm lấy sân khấu một cách kỳ diệu. Nhưng điều đáng kể là, thoại của mỗi nhân vật dường như cùng một lúc rất đỗi lạ kỳ, là của chính ông, chúng dường như tự do tuyên bố sự xung đột giữa chúng thay vì bị trói chặt vào những đòi hỏi của việc kể lại truyện kịch. Nhưng cùng lúc đó, câu chuyện cứ diễn tiến không ngừng, được thành hình như nó đã hiện lên dưới bàn tay của Kazan và một dàn diễn viên không có gì khác hơn là sự siêu hạng. Thực tế, vở diễn này là một thành quả viên mãn nhất của sự tìm tòi thấu đáo kéo dài cả thập niên về Phương pháp Stanislavski của đoàn Group Theatre nay đã biến mất; nó là một hình thức của chủ nghĩa hiện thực đã được cảm nhận sâu sắc đến độ được biết đến như một sự thể cách hóa. Thoại của Williams, nhiều màu sắc và hàm chứa biểu tượng, không bao giờ để cho câu chuyện mờ khỏi tầm nhìn mà tiếp tục đẩy nó đi tới."
Phương pháp Stanislavski, gọi tắt là The Method, vốn được Kazan khai thác mạnh ở Marlon Brando và James Dean, đã đưa những vở như All My Sons, Death of a Salesman và Chuyến tàu trở thành những vở diễn đầu tiên khởi sự cho The Method. Sau đó Kazan cũng là người làm phim, và đã đem lại một cách diễn mới đời sống hơn, thực hơn, so với cách diễn khá cường điệu và ước lệ của trước đó.
"Nói ngắn gọn, vở kịch này đã khiến cho nó dường như có thể diễn tả trên sân khấu bất cứ điều gì hay mọi điều và diễn tả một cách đẹp đẽ. Lần dàn dựng đầu tiên của Chuyến tàu đã làm được điều là cắm một ngọn cờ của cái đẹp trên dải đất của sân khấu thương mại. Tôi tin là khán giả bằng cách nào đó đã hiểu điều này và rung cảm trước bằng chứng thuyết phục dưới tác động của tính trí tuệ và tinh thần đầy nhiệt huyết của nó. Vở kịch này, hơn bất cứ một tác phẩm nào khác của Williams trước và sau đấy, đạt tới mẫu mực bi kịch và cái kết đen tối của nó đã giải quyết tất cả.

Cùng với Williams, sự phát hiện tuyệt vời khác của vở diễn dĩ nhiên chính là Brando, một con hổ sổng chuồng, một kẻ khủng bố tình dục. Chưa ai từng thấy một thứ gì giống như anh ta trước đó bởi vì cái cách tự do như thế trên sân khấu không hề tồn tại từ trước đến giờ. Anh ta gầm lên xúc cảm hoan ca của William về tình dục, sự chân thực khủng khiếp của nó và những phán xét không thể cưỡng lại của nó, và cũng thế với một quyền năng cuốn sạch mọi thứ phía trước nó. Brando là một kẻ man rợ nhưng anh ta chấp nhận sự thực."
Kazan và Marlon Brando trên trường quay phim On the Waterfront (1954) - một bộ phim được xem như câu trả lời của Kazan đối với việc ông liên quan tới Uỷ ban điều tra các hoạt động chống Mỹ (và đáp lại các thông điệp ngầm của Miller): Tôi ghét những kẻ cộng sản và đã ghét nhiều năm rồi, và tôi không cảm thấy đúng khi đi từ bỏ sự nghiệp của mình để bảo vệ họ. Tôi sẽ từ bỏ sự nghiệp điện ảnh nếu như nó cần thiết để bảo vệ những điều tôi tin tưởng, còn chuyện này thì không. On the Waterfront là câu chuyện về một chàng trai đầu gấu ở khu bến cảng đã từ chối bảo vệ cho đám tội phạm vốn là bạn bè, rồi hợp tác với cảnh sát để khai ra những kẻ liên quan.
Sở dĩ phương pháp diễn xuất ấy có được đất tung hoành là nhờ kịch bản được viết bằng những chất liệu đời sống nhiều khi dưới giọng văn khắc nghiệt, những câu thoại có vẻ chừng mực nhưng như tát vào mặt nhau, và sự tương phản giữa những cái đẹp mỏng manh, sự chơi vơi của lý tưởng sống với cái thực tế thô ráp. Điều đó có trong kịch của Miller và Williams, mức độ có khác nhau khi Williams đeo đuổi những ẩn dụ màu mè hơn, trong khi Miller có vẻ như là "đỏ rực". Hãy đọc đoạn sau thì không lấy làm ngạc nhiên khi một thời các vở kịch của Miller được xem như tố cáo chế độ TBCN! Nhưng đó là một cách giải mã sai lệch. Người ta dễ nghĩ Miller thích "làm trò" để gây nổi thay vì ông nhất quán với thiên chức đòi hỏi sự công bằng và trung thực trong xã hội - điều thực ra là thông điệp ở gần như 100% các bộ phim Mỹ.

"Chuyến tàu vào giờ khắc được sinh ra đã ngân lên định mệnh của kẻ ngoài lề trong xã hội Mỹ và dấy lên câu hỏi về sự bình đẳng. Nhưng nó đã làm được điều đó từ nội tại. Thực tế thì Williams đã viết sớm hơn nhiều những gì đã được dán nhãn mang tính xã hội những vở kịch đầy ý thức với một màu sắc Cánh Tả, mang chủ đề cá nhân bị tổn thương chống lại sự bất công của một xã hội tàn bạo. (Vở kịch về chủ đề nhà tù không được dàn dựng trước đó của ông, Not About Nightingales [Không phải về chim sơn ca], đã được Colin Redgrave dựng ở Broadway năm 1999 thành một vở diễn đầy mạnh mẽ.) Với Chuyến tàu và ở các nhân vật khác, nhiều âm điệu bí hiểm hơn như những nhân vật trong Bầy thú thủy tinh, cá nhân và đời sống nội tâm anh ta bày ra giữa trung tâm và các tình trạng xã hội được biểu tượng hóa, như ở Stanley Kowalski và người cha mất tích trong Bầy thú.
Williams nhà thơ không trung lập chính trị như nhiều người quả quyết, và một vài phần trong làn sóng mênh mông của sự ngưỡng mộ Chuyến tàu là sự xác nhận tính chân thực xã hội cũng như chất thơ riêng tư của nó. Và điều may mắn tốt đẹp của vở kịch và tác giả của nó là đã được dẫn dắt bởi Kazan, người hiểu rõ công chúng New York và giữ nguyên vẹn sự kết nối của vở kịch với truyền thống hiện thực chủ nghĩa quen thuộc trong khi cho phép ngôn ngữ của nó được diễn ra tự nhiên. Kazan vốn ít kiên nhẫn với chủ nghĩa biểu tượng và tính trừu tượng, thừa nhận sự không thoải mái của mình với ý tưởng đạo diễn kịch Shakespeare hay các tác phẩm cổ điển khác, và thực vậy đã thất bại một thập niên sau đó với một bản dựng xoàng xĩnh của vở The Changeling, cái xương sống của nó gãy vụn, có thể nói vậy, do nỗ lực cài cắm chủ nghĩa trữ tình vào trong giọng điệu chủ đạo của chủ nghĩa hiện thực đường phố. Tuy vậy, với Chuyến tàu, cái thực và cái trữ tình luôn đan cài uyển chuyển và hòa thành một giọng thống nhất."
Vợ chồng Miller cùng vợ chồng Sir Lawrence Olivier - Vivien Leigh, cặp đôi kịch nghệ và điện ảnh Anh
The Misfits (1961) - Bộ phim với kịch bản của Miller và là vai diễn cuối cùng của MM cũng như Clark Gable trước khi cả 2 qua đời.

Quay lại với vở kịch diễn ra trên sân khấu NH Tuổi Trẻ năm 2011, vì chẳng có vở nào khác để so sánh nên đành chấp nhận đó là một thành công. Phần đầu vở hơi bị dài đối với người xem hiện đại, chắc hẳn là do thiếu sự nhấn nhá trong thoại, cảm giác như bị rải đều ra đến nửa tiếng. Như có thể đoán được, vai Kate do Lê Khanh đóng là điểm nhấn cho vở kịch, dù xuất hiện chỉ phân nửa thời gian. Nếu quen xem phong cách đời sống, nửa đùa nửa thật đầy rẫy trên TV hay tiểu phẩm, thì có vẻ Lê Khanh đóng khá cứng và thêm nữa, cái giọng khô khô, đanh đanh không dễ nghe. Nhưng đó là một diễn xuất làm chủ được vai diễn, đáng được gọi là điểm sáng của vở. Sĩ Tiến đóng cũng rất thú vị, tuy anh chưa lột tả hết uy lực về cái xấu để gây nghẹt thở cho người xem, nên người xem chưa đủ sợ; có lẽ vì vai này rất khó. Kể ra anh hóa trang trông ra dáng ông chủ tư bản của một nhà máy sản xuất xilanh động cơ máy bay thì sẽ thuyết phục hơn. Nam diễn viên chính khá béo về hình thể, mặt mũi giống các bác xe ôm hơn là một giai phố Main Street của Mỹ (Phiên bản phim 1948 của Mỹ vai này do tài tử Burt Lancaster đóng). Nữ diễn viên Thu Quỳnh trong vai Ann có vóc dáng rất hoàn hảo, nhan sắc tựa như Thang Duy trong Sắc, Giới, đóng chưa hay lắm nhưng vẻ đẹp quả rất ăn đèn sân khấu.

Áp phích phim All My Sons 1948 với Burt Lancaster
Vở diễn ở Broadway với John Lithgow, Dianne Wiest, Patrick Wilson và Katie Holmes
Dù sao cũng rất vui khi được đi xem một vở kinh điển không mất tiền! Tôi cũng gặp lại được một Miller mà mình đã tưởng tượng. Tò mò rằng không biết đạo diễn Mỹ này có thay đổi gì so với format của các vở diễn tại Mỹ không, và từ thời Kazan đến giờ, đã thay đổi ra sao? Những vấn đề có vẻ cũng khá cũ, nếu xem ở vào vài chục năm trước thì câu chuyện về sự gian dối trên xương máu chiến sĩ, các ác của giới chủ tư bản... hẳn gây ấn tượng mạnh. Với tôi, hiện giờ thông điệp về sự trung thực và minh bạch trong vở kịch hiện lên đậm hơn.

Thứ Hai, 28 tháng 11, 2011

100 năm ngày sinh Tennessee Williams (RFI)

Tuấn Thảo
RFI, Thứ sáu 25 Tháng Mười Một 2011 (http://www.viet.rfi.fr/van-hoa/20111125-tennessee-williams-mot-doi-nguoi-ma-muon-kiep-song)

Nhà văn Tennessee Williams, chỉ một đời người mà muôn kiếp sống

Tennesse Williams
Nếu còn sống, năm nay Tennessee Williams sẽ tròn 100 tuổi. Nhân dịp kỷ niệm 100 ngày sinh của nhà văn người Mỹ, nhiều vở kịch của tác giả này được dựng lại trên sân khấu, trong đó có vở Un paradis sur terre (Thiên đường hạ giới). Một số tác phẩm như hồi ký, tiểu thuyết, truyện ngắn được tái bản hay lần đầu tiên được phát hành bằng tiếng Pháp.

Trong số các quyển sách vừa mới được dịch từ tiếng Anh sang tiếng Pháp, có hai tập đoản bút De vous à moi tập hợp nhiều bài viết ngắn, ít được phổ biến của chính tác giả. Thông qua những bài viết này, mà giới chuyên ngành thường gọi là văn xuôi nhưng không mang tính hư cấu (prose non fictionnelle), nhà văn Tennessee Williams chủ yếu đề cập đến công việc sáng tác của mình. Đó có thể là một lời mở đầu (không được đăng) cho một tựa sách, một bài phân tích mà ông thường viết cho các nguyệt san hay một lời chú thích tác phẩm mà ông gửi cho một diễn viên đang chuẩn bị đóng phim hay đóng kịch.

Một số nhà phê bình cho rằng những bài viết theo kiểu này không có nhiều giá trị văn học, nhưng ít ra nó cho thấy phần nào quá trình sáng tác cũng những ý tưởng mà nhà văn muốn gửi gấm qua tác phẩm. Các bài viết cũng cho thấy cá tính của nhà văn Tennessee Williams bởi vì một số đoản văn xuôi ở đây không có sự sàng lọc nào cả, do không nhằm mục đích phổ biến cho đại đa số độc giả.

Bên cạnh nhiều quyển tiểu sử đã được cho ra mắt, gần đây nhà xuất bản Baker Street cho phát hành quyển sách mang tựa đề Tennessee Williams, une vie (tạm dịch Tennessee Williams, một đời người). Tác giả của quyển tiểu sử này là cô Catherine Fruchon-Toussaint, nhà báo phụ trách chuyên mục Phê bình Văn học làm việc cho đài phát thanh quốc tế Pháp RFI. Catherine Fruchon-Toussaint giải thích vì sao cô đã chọn một tựa đề như vậy:

Quả thật là quyển tiểu sử này có thể được đặt tựa là Mille et une vies, cho thấy muôn mặt cuộc đời của Tennessee Williams. Kinh nghiệm sống của nhà văn Tennessee Williams dày không thể tưởng. Có thể nói là chỉ trong một đời người, ông đã sống nhiều kiếp khác nhau. Để phác họa lại cuộc đời của Tennessee Williams, tôi không kể theo trình tự thời gian, mà lại kể theo nhiều tuyến khác nhau : mỗi chương là một chủ đề. Chẳng hạn như có một chương đối chiếu hai khía cạnh của Tennessee Williams : nhân vật của công chúng và đời tư của tác giả. Một chương sách khác thì lại nói về những đỉnh cao sự nghiệp và thất bại cá nhân. Cuộc đời và nghiệp cầm bút của ông đa hình và phức hợp, nên theo tôi nghĩ, rất khó thể nào mà đi theo một tuyến duy nhất.

Lúc sinh tiền, Tennessee Williams nổi tiếng là một kịch tác gia, ông đã viết khoảng 30 vở kịch dài và 70 vở kịch ngắn. Đó là chưa kể đến 50 truyện ngắn, cộng thêm các tựa tiểu thuyết, hồi ký, tiểu luận, thơ mới, các kịch bản mà ông từng viết cho điện ảnh và truyền hình, bên cạnh một khối lượng thư từ đồ sộ mà ông đã trao đổi với giới văn nghệ sĩ cùng thời, mà mãi đến bây giờ ngành xuất bản Pháp mới bắt đầu cho chuyển dịch, một kho tàng quý báu đối với các nhà biên khảo nghiên cứu.


Những độc giả nào yêu chuộng Tennessee Williams đều không thể bỏ qua quyển Hồi ký của một con cá sấu (Mémoires d’un Crocodile - 1975) mà nhà văn đã viết vào năm 64 tuổi, tức là 8 năm trước khi ông qua đời (1983). Trong quyển hồi ký này, ông từng thú thật là văn chương đã cứu rỗi linh hồn của ông. Còn trong quyển tiểu sử vừa được phát hành Tennessee Williams, nhà báo Catherine Fruchon-Toussaint, đã dành nguyên một chương để nói về tầm quan trọng của chiếc máy đánh chữ, một món quà sinh nhật mà Tennessee Williams đã nhận được từ gia đình, năm mới lên 12 tuổi.

Đúng thật là như vậy. Đối với người khác, máy đánh chữ chỉ là một dụng cụ, đối với Tennessee Williams, nó tượng trưng cho cả một lẽ sống. Trong quyển hồi ký, nhà văn từng kể lại cái tuổi thơ bất hạnh của mình. Ông lớn lên trong một gia đình mà người cha là một người đàn ông nghiện rượu, vũ phu hay đánh đập vợ con. Mẹ ông, tuy thương con, tuy là một nạn nhân của các vụ bạo hành trong gia đình, nhưng lại không biết che chở cho con cái. Trong gia đình mình, nhà văn Tennessee Williams rất gần gũi với người chị ruột tên là Rose. Hai người cách nhau 16 tháng tuổi nhưng lớn lên như chị em sinh đôi. Rose mắc chứng bệnh tâm thần phân lập, nên sau đó cô bị nhốt vào bệnh viện. Nhà văn lúc đó còn quá nhỏ để cưỡng lại quyết định này của gia đình. Mãi đến sau này, khi ông thành đạt trên đường đời, ông mới có thể đưa người chị ruột về nhà để trông nom chăm sóc.

Thời còn nhỏ, nhà văn Tennessee Williams lâm bệnh nặng (LTS : bệnh bạch hầu – diphtérie), nên trong một thời gian dài ông không được đến trường lớp. Nhà văn Tennessee Williams được dạy học ở nhà, và theo lời khuyến khích của Rose, ông đọc sách và bắt đầu viết lách. Cũng nhờ vào người chị ruột, mà vào năm 12 tuổi, ông nhận được chiếc máy đánh chữ đầu tiên. Ông cho đăng truyện ngắn đầu tay vào năm 13 tuổi, nhưng sự nghiệp văn chương của nhà văn thật sự bắt đầu năm ông 17 tuổi, khi tác phẩm của ông (LTS : truyện ngắn The Vengeance of Nitocris – 1928) được một nhà xuất bản chính thức phát hành. Từ đó trở đi, Tennessee Williams sẽ không bao giờ rời xa chiếc máy đánh chữ. Cứ vào mỗi buổi sáng, ông luôn luôn ngồi vào bàn đánh máy ít nhất là ba tiếng đồng hồ. Cho dù có rượu chè qua đêm, ăn chơi trác táng từ khuya đến sáng, nhưng Tennessee Williams luôn dành thời gian sáng tác qua việc đánh máy. Có người cho là quan hệ giữa nhà văn với chiếc máy đánh chữ, không phải là một luồng dưỡng khí cần thiết cho sáng tác, mà lại giống như một chất thuốc kích thích, mà người nghiện ngập không thể nào cưỡng lại nổi.

Nhà văn Tennessee Williams từng nói rằng : ngoại trừ những lúc ông bị chứng trầm cảm, xuống tinh thần đến mức không thể nào sáng tác, thì ông cần viết hầu như là mỗi ngày vì bằng không ông sẽ hóa điên. Chiếc máy đánh chữ là vật dụng cụ thể gắn liền ông với thực tại và hóa giải những nỗi ám ảnh đeo đuổi ông suốt cuộc đời.

Thành danh vào năm 34 tuổi nhờ vào vở kịch The Glass Menagerie (tạm dịch là Bầy thú bằng thủy tinh), Tennessee Williams hai năm sau đó (1947) trở thành một tên tuổi lớn của làng văn học quốc tế nhờ vào vở kịch A Streetcar named Desire (Chuyến tàu mang tên Dục vọng). Cả hai tác phẩm này được dịch sang nhiều thứ tiếng cũng như được chuyển thể lên màn ảnh lớn với các ngôi sao nổi tiếng nhất màn bạc Hollywood thời bấy giờ. Đầu những năm 1950 là thời kỳ mà Tennessee Williams thường sang châu Âu để tham dự các buổi ra mắt công chúng các tác phẩm của ông. Mời quý thính giả nghe lại một đoạn trả lời phỏng vấn đài truyền hình Pháp của Tennessee Williams, qua đó nhà văn gợi lại những kỷ niệm của riêng mình với thủ đô Paris :

Lần đầu tiên tôi có dịp đến thăm Paris là vào năm 15 tuổi. Vào lúc đó, tôi đi cùng với ông nội của tôi, vì ông thường hay tổ chức các chuyến du lịch cho Hiệp hội các tín hữu đạo Tin Lành. Về sau này, tôi vẫn thường xuyên trở lại Paris để thăm viếng bạn hữu, hoặc để tham dự các buổi ra mắt sách, các buổi diễn đầu tiên các vở kịch của tôi trên sân khấu Paris. Mỗi lần đến Paris, tôi cố gắng tranh thủ thời gian để đi xem một số vở kịch bằng tiếng Pháp. Tác phẩm mà tôi được xem lần này là vở kịch Don Juan của Molière được diễn tại nhà hát Comédie Française. Tôi rất thích đi xem kịch ở Paris vì điều đó gợi nhiều cảm hứng cho tôi về mặt ý tưởng, cách dàn dựng, chỉ đạo diễn viên, cách dùng ánh sáng : tôi có thể ứng dụng những điều mà tôi học hỏi vào trong những vở kịch của mình. Hiện giờ, vở kịch A Streetcar named Desire (Chuyến tàu mang tên Dục vọng) đang rất thành công tại Mỹ, trên sân khấu Broadway của New York. Tôi hy vọng rằng tác phẩm này sẽ sớm được dịch sang tiếng Pháp, để có thể được dựng lên tại Paris trong thời gian tới.

Áp phích phim Chuyến tàu mang tên Dục vọng năm 1951

Vừa rồi là phát biểu của nhà văn Tennessee Williams nói về Paris. Trong quyển tiểu sử viết về nhà văn người Mỹ, nhà báo Catherine Fruchon-Toussaint dành nguyên một chương sách để nói lên cái quan hệ gắn bó của nhà văn người Mỹ với thủ đô Pháp. Ngoài việc lui tới với giới văn nghệ sĩ, những quan hệ với các đồng nghiệp, Tennessee Williams còn thích Paris ở chỗ hào nhoáng và nhất là cuộc sống về đêm.

Tennessee Williams nổi tiếng là một nhà văn, nhưng ông lại sống như một siêu sao nhạc rock : với tất cả sự lộng lẫy hào nhoáng của thời kỳ tột đỉnh vinh quang, cũng như những mặt trái và cạm bẫy thường thấy trong ngành công nghiệp giải trí là rượu chè và ma túy. Ta có thể so sánh Tennessee Williams với một tác giả cùng thời với ông là Arthur Miller. Vào thời mà Arthur Miller thành hôn với thần tượng điện ảnh Marilyn Monroe, thì tác giả này vẫn thể hiện cho một thành phần trí thức thiên tả, sống một cách kín đáo và ít phô trương. Còn Tennessee Williams thì hoàn toàn khác hẳn, ông sống trong thế giới hào nhoáng của các ngôi sao màn bạc, xuất hiện bên cạnh Liz Taylor, Montgomery Clift, Marlon Brando. Tại Luân Đôn, ông lui tới với cặp diễn viên Vivian Leigh và Lawrence Olivier. Tại Ý, ông ở nhà của đạo diễn Luscino Visconti. Tại Paris, ông có quan hệ khá gần gũi với nhiều văn nghệ sĩ trong đó có nhà văn nổi tiếng là bà Françoise Sagan, người đã dịch một số tác phẩm của ông sang tiếng Pháp. Ngoài ra còn có diễn viên Charlotte Rampling vào đầu những năm 1970. Cũng cần biết rằng Tennessee Williams từng được mời làm chủ tịch ban giám khảo liên hoan Cannes vào năm 1976. Giai thoại kể rằng hầu như nơi nào có lễ hội tiệc tùng, có ăn chơi thâu đêm Tennessee Williams đều có mặt, như thể ông muốn sống hết mình cho khoảnh khắc, bất kể tiệc vui chóng tàn, bất kể sự quá độ có ảnh hưởng đến sức khỏe của mình, như thể ông không cần biết rồi ngày mai sẽ ra sao. Nếu như về mặt tư tưởng, ông ngưỡng mộ các tác giả Pháp như Sartre, Genet, Giraudoux, thì ngoài đời, ông có một cuộc sống hoàn toàn không giống như các nhà văn cùng thời.

Đột ngột qua đời vào năm 1983, một cái chết mà cho tới nay vẫn chưa thật sự được làm sáng tỏ, nhà văn Tennessee Williams đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lĩnh vực kịch nghệ của Hoa Kỳ. Các tác phẩm của ông trong đó có The Glass Menagerie (1945), A streetcar named Desire (1947), Cat on hot tin roof (1955), The Night of the Iguana (1961) ... đoạt được nhiều giải thưởng lớn như Giải Pulitzer, Tony Awards hay Donaldson Awards của giới phê bình kịch nghệ. Trong cách xây dựng cá tính nhân vật, dường như chỉ có ngòi bút độc đáo của Tennessee Williams mới soi rọi thấu đáo những dồn nén dục vọng, lột tả trọn vẹn những ức chế nội tâm. Một khi được chuyển thể lên màn ảnh lớn, các nhân vật của Tennessee Williams lại càng nóng bỏng lửa tình, hừng hực tội lỗi.

Tập kịch bản Chuyến tàu mang tên Dục vọng của NXB Penguin

Tennessee Williams là một trong những nhà văn Mỹ đầu tiên sống công khai với định hướng giới tính của mình, nhưng ta không thể gán cho ông cái danh hiệu ‘‘hạn hẹp’’ của một nhà văn đồng tính. Xuyên qua các nhân vật khổ lụy, đọa đày muốn thoát mà vẫn không thoát ra khỏi vòng dục vọng, Tennessee Williams thật ra muốn nói lên nỗi cô đơn tột cùng của những tâm hồn vì khao khát yêu thương mà phải gánh chịu hay tự chuốc lấy nỗi đau khổ sâu xa. Nhưng Tennessee Williams lúc nào cũng có một cái nhìn hết sức trìu mến về những con người yếu đuối mong manh ấy. Dưới ngòi bút của Tennessee Williams, những vết gẫy tâm hồn lại lung linh huy hoàng, phút chốc ngời sáng. Định mệnh oan nghiệt càng vùi dập, đời người càng thăng hoa trong hạnh phúc, dù đó chỉ là những giây phút ngắn ngủi, chợt biến tan trong chớp mắt ngậm ngùi.

Thứ Tư, 23 tháng 11, 2011

"Tôi thấy tôi thương những chuyến tàu"

Một năm sắp cạn ngày. Tôi giật mình nghĩ đến chuyến đi châu Âu mới đầu năm mà giờ đã như năm nào. Chuyến đi ấy tôi có ghé qua Budapest trên con tàu tốc hành từ Viên sang, và xúi quẩy thế nào mà tôi chỉ ở thủ đô Hungary được có vài tiếng đồng hồ. Rồi mấy tháng sau, cảm xúc vẫn còn ăm ắp, tôi dự định viết một ký sự về chuyến tàu đi và về trong ngày đó, cái ngày trời lạnh giá đột ngột, khi ở Budapest dường như chỉ -10 độ C. Nhưng ký sự của tôi mới chỉ dừng ở nước Áo mà chưa viết đến phần nước Hung, cho dù đã nhắc đến ấn tượng về Ðế chế Áo - Hung và bà hoàng Sisi.

Căn nguyên là bận quá. Một trong những thứ làm tôi bận là lao vào thực hiện bộ sách Truyện và kịch bản phim nổi tiếng thế giới. Tình cờ mà trong loạt đầu tiên, có cuốn “Bức thư của người đàn bà không quen”. Cuốn ấy còn có cả “24 giờ trong đời một người đàn bà”, cả hai truyện của Stefan Zweig đều đã thành phim. Truyện đầu có bối cảnh Viên. Tôi lại gặp Viên lần nữa, thành phố tôi chỉ ở mấy ngày, thành phố quá nhiều lâu đài, nhà to nhưng lại quá ít người ở. Có đêm tôi dự định đi tàu điện vòng quanh thành phố, vì nhìn thấy bản đồ thành Viên có Ringstrasse – như kiểu đường vành đai hay vòng tròn, thực tế là đường trục đi qua các công trình lớn của đô thành – đường tàu điện chạy dọc tuyến này. Nhưng qua rất nhiều bến thì tới một chỗ chẳng biết là đâu, tàu dừng lại. Đoán chắc là bến cuối, nghĩ nửa đêm rồi dừng ở đây thì mình biết về lại chỗ cũ thế nào. Lò dò đi lên chỗ người lái tàu thì thấy một cậu có vết xăm ở cổ, bấm lỗ tai lỗ mũi trông rất dữ tướng. Tôi rụt rè hỏi có quay lại không thì hắn chỉ bảo đợi. Cả đoàn tàu có lẽ chỉ có mỗi tôi cũng nên. 15 phút sau tàu lộn lại theo đường ray bên kia chứ không đi vòng quanh thành phố nữa.

Tàu điện chạy tuyến Ringstrasse ở Viên

Stefan Zweig chắc cũng từng ngồi trên những chuyến xe thế này. Còn bao nhiêu người nữa, những Freud, Klimt và cả Hitler? Những chuyến tàu điện đi khoan thai giữa lòng thành phố đầy những tượng danh nhân và những tòa nhà cổ buồn xám trong trời mùa đông. Nhưng bây giờ còn ai đọc Zweig nữa nhỉ? Có đồng nghiệp của tôi đọc ông xong, kêu sao mà sến quá. Ơ hay, có bao giờ sến lại tắt, đuốc Olympic còn chẳng tắt nữa là.

Chuyến tàu chở tôi từ Viên sang Budapest đi mất 3 tiếng khá vắng khách. Thì ra những chuyến tàu xuyên lục địa này đều vắng cả. Giá vé khứ hồi hóa ra còn rẻ hơn cả vé một chiều, chẳng hiểu vì sao? Gặp anh Hoàng Linh ở Budapest rồi, lúc về mua vé cho tôi, anh mới giải thích là họ khuyến khích người đi du lịch sử dụng vé khứ hồi. Nghe vậy thì biết vậy và hơi hậm hực vì chuyến tàu của mình gặp quá nhiều điều lẩm cẩm, chủ yếu là tại tôi: trễ chuyến, rồi chủ quan này nọ... Nhưng chuyện đó cũng nhỏ so với việc đã biết một đất nước trong thoáng chốc. Tàu đi qua biên giới, cũng có người kiểm tra vé và hộ chiếu, cảnh sắc hai nước cũng không mấy khác biệt, cũng những đồng quê đang phủ băng mùa đông. Ranh giới phe XHCN và TBCN một thời đây sao? Bao nhiêu cuộc chiến tranh đã cày xới những vồng đất ngoài kia?

Nhưng xuống ga Keleti (3) ở Budapest thì thấy khác. Nhà ga xây từ cuối thế kỷ 19, với phong cách kết hợp cổ điển và Nouveau Art, khung kèo sắt uốn cầu kỳ, nhưng màu sơn vàng và vẻ cũ kỹ của nó làm tôi nhớ ngay đến ga Hàng Cỏ ở Hà Nội! Trong khi ga Wien Sudbahnhof hay Wien Meidling bên Viên sáng choang và hiện đại thì Keleti cứ xâm xẩm tôi tối vàng vọt. Điều thứ nhất tôi học được là dân Hung chưa dùng đồng Euro cho dù đã gia nhập hệ thống tiền tệ chung châu Âu rồi. Điều thứ hai là điện thoại công cộng chạy bằng xu ở đây rất lởm khởm. Tôi đã mất cả đống xu (tính ra cũng mấy trăm nghìn tiền Việt) mà không gọi được cú điện nào thành công. Người Hung thì lại chả mấy ai nói tiếng Anh. Nhưng rồi cũng gặp được người cần gặp. Và ngắm được thành phố một thoáng. Budapest có phần ngoạn mục hơn Viên, các đại lộ trung tâm rộng hơn nhưng các công trình không được chăm chút bằng. Đại để là câu chuyện lịch sử của thành phố này, đất nước này đủ sức chinh phục bất cứ nhà văn nào...

Nhà ga Keleti - ga phía Đông Budapest
Quay lại với các nhà văn và những cuốn sách. Chuyến tàu tôi đi là tàu tốc hành, ngày nay đã chạy bằng điện chứ không còn là diezel nữa. Cuốn “Chuyến tàu mang tên Dục vọng” ấy, là nói về tàu điện chạy trên phố như tàu ở Viên mà tôi đã đi. Nhưng tiếng Anh gọi là streetcar để chỉ tàu điện ở New Orleans, trong khi gọi tàu điện Viên là tram. Nhưng thôi, bỏ qua đi, tôi đã gặp những chuyến tàu ấy như một chuỗi liên quan. Chuyến tàu điện ở Hà Nội hồi nhỏ tôi đi giờ chẳng nhớ có số hiệu gì, tuyến Vọng – Cửa Nam hay Chợ Mơ – Bờ Hồ, ai còn nhớ số hiệu không? Tàu điện ở Viên tôi thấy họ tô các tuyến màu xanh, da cam hay đỏ trên bản đồ, còn tàu ở ngoài cũng màu đỏ như tàu điện Hà Nội ngày xưa. Tàu điện Viên cái nào cũng mới và sạch sẽ, người lên xuống thoải mái, có mắt đọc thẻ lên tàu nhưng chẳng ai dí thẻ cả. Tôi mua Vienna Card cho khách du lịch (thẻ này cung cấp dịch vụ giao thông hoàn toàn miễn phí), mới đầu cũng dí, sau thử không dí xem thế nào, thì chẳng thấy ai nhắc gì. Thậm chí ở ga tàu điện ngầm, các cửa chắn cũng chẳng chặn lại. Ở thành phố này, dường như quá yên bình để mà một cái thẻ có tầm quan trọng. Thế là tôi tự do tung hoành đi lại khắp Viên nhờ vào hệ thống giao thông công cộng tuyệt vời ấy.


Rachel Weisz trong một vở diễn Chuyến tàu mang tên Dục vọng ở London, 2009


Tôi nghĩ, nói một cách màu mè thì chuyến tàu điện của tôi ở Viên có lẽ mang tên Khát vọng, cũng dịch từ Desire ra. Chuyến tàu “Dục vọng” của Tennesse Williams đưa Blanche DuBois đi qua khu nhà tên là Nghĩa trang (Cemetary) để đến Miền Thiên đàng (Elysian Fields) là nơi cô em gái Stella ở trọ. Williams đã sử dụng những cái tên có tính ký hiệu học để làm nên một tác phẩm biểu tượng của văn học hiện đại Mỹ sau Thế chiến Hai. Khi tôi còn nhỏ, mang ấn tượng của những bài viết về các minh tinh hay ngôi sao màn bạc Hollywood trên các tờ tạp chí Điện ảnh, tôi tưởng những bộ phim thời trước đều chỉ toàn là diễm tình hoặc sử thi. Vì vậy tôi khá bất ngờ khi xem “Chuyến tàu mang tên Dục vọng” của đạo diễn Elia Kazan với Marlon Brando và Vivien Leigh. Đó là một chuyến du hành căng thẳng và ức chế, nhưng bùng nổ với sự thăng hoa trong diễn xuất của các diễn viên. Marlon đẹp trai đầy hoang dại trong khi Vivien hóa ra rất xuống mã so với hồi đóng “Cuốn theo chiều gió”. Nhưng họ làm người xem quên được ngoại hình – điều mà các phim Mỹ thời đó hay tô điểm quá trau chuốt – để chinh phục người xem bằng diễn xuất bạo liệt. Cuốn sách này ngẫu nhiên mà tôi thành người dịch, nhưng tôi không lạ lẫm gì, vì phim đã xem, và những vở kịch giàu tính biểu tượng vẫn là niềm yêu thích của tôi.



Lại nhớ trước khi sang Áo, tôi đã đặt vé đi xem kịch ở nhà hát Hofburg. Đấy hóa ra không phải nhà hát lớn nhất Viên. Nhà hát lớn nhất là Nhà hát Thành phố, nhưng kiến trúc bên ngoài không duyên dáng bằng nhà hát Hofburg. Có điều tôi định xem opera hay nhạc kịch, nhưng những ngày tôi ở Viên thì lại không có vở nào. Thôi thì đành xem một vở của Shakespeare, “Đêm thứ mười hai”. Hi vọng là có cái để xem. Nhà hát Hofburg quy mô cũng tương đương Nhà hát Lớn Hà Nội, đối diện Tòa Thị chính Viên, trông ra một cái sân trượt băng công cộng, chiếu đèn rực rỡ rất vui mắt. Ở cửa nhà hát có bích chương vở “Đợi chờ Godot” (4) nữa nhưng là tuần sau. Ở sảnh nhà hát có những bức phác họa của Klimt, và không có những trang trí mạ vàng hay thần tiên gì lộng lẫy cả. Nội thất toàn ốp đá màu vàng xám nghiêm nghị. Tôi bất ngờ vì cả nhà hát kín chỗ, và dân tình xem say mê, cười rần rần. Vở kịch này họ dựng theo bối cảnh hiện đại. Tất nhiên là nói bằng tiếng Đức nên với tôi nó chẳng gợi một cảm giác gì về Shakespeare cả!




Nhà hát Hofburg và nội thất

Nhà hát thành phố Viên

Nhà hát thành phố Budapest

Tôi nhớ lần đi xem “Bà tỉ phú về thăm quê” của Durenmatt ở rạp Hồng Hà do Viện Goethe tổ chức. Chắc đó là buổi diễn đã được chỉnh sửa nhiều lần nên có vẻ các khâu khá nhịp nhàng và xem khá hay, nếu như so với những lời chê của một hai năm trước đó mà tôi đã bỏ lỡ những suất diễn đầu. Xem một vở kịch hay bộ phim như thế, với những câu chuyện đầy ám ảnh về số phận con người, đến giờ vẫn là thú vui của tôi. Vui ngang với xem phim hài.

Cũng những con người như trong kịch và phim “Chuyến tàu mang tên Dục vọng”, hay ở Viên trong truyện Zweig, hay ở Hà Nội, mỗi nơi hưởng ứng nghệ thuật một kiểu khác. Bộ sách mà tôi đang thực hiện, thật ra cũng chẳng hi vọng là bán chạy. Bây giờ ai đọc kịch bản hay truyện gốc của những bộ phim trong khi có thể đi xem phim cho rồi? Nhưng đọc câu chữ trong sách lên, dường như không gian mà bộ phim đã có đột nhiên hiện lên rực rỡ hơn, ám ảnh hơn, có chiều sâu hơn. Những chuyến tàu điện trên khắp thế giới, ở Hà Nội tôi đi thuở nhỏ, hay ở Viên mà tôi được lên trong vài ngày, và ở thành phố New Orleans đầy tiếng dương cầm thở than trong kịch của Williams kia, bỗng dưng thành một mạng lưới kết nối với nhau. Cuộc sống của những kiếp người, người lái tàu ở Viên có vui không, những đứa trẻ mặt mày lấc láo tụ tập hút thuốc lá ở cái ngõ cạnh ga Keleti mà tôi lo lắng khi đi qua nghĩ chúng có phải là bọn mất dạy không, hay những ngôi sao như Vivien Leigh “phát điên vì vai diễn” có thật muốn sống cuộc sống đó không, tôi phỏng đoán là nhờ kinh nghiệm sách vở mà thôi. Thế cũng hay, sách vở đã đưa tôi đến với những trải nghiệm đó.

Vậy thì, hãy mua sách.

(*) Tựa đề bài viết là thơ Tế Hanh trong bài “Vu vơ” (1939).

N.T.Q

Thứ Ba, 22 tháng 11, 2011

BCHN 66 & 67 (sông Hồng và mùa đông)

BCHN số 66 - Về nghe gió sông Hồng thổi
"Hà Nội là thành phố xây dựng trên nền phù sa của sông Hồng, điều đó hầu như chúng ta đều biết. Nhưng điều sâu xa hơn, là cái nét tính cách bến bãi, bồi lắng từ tạm thời mà cố định thành nền tảng vững chắc trong lối nghĩ đã tác động đến cung cách sống của dân Hà Nội. Về phương diện không gian, sông Hồng là một mặt thoáng của Hà Nội. Bước chân ra khỏi những phố phường chật hẹp, dòng sông phù sa như một sự giải tỏa, một nét khoáng đạt bên cạnh sự tủn mủn của ngóc ngách nhà cửa bề bộn..."



BCHN số 67 - Nghe tiếng rao bồi hồi nỗi nhớ
"Với chị So là con sông Hồng với bờ đê hút gió, với những buổi chiều đông đi kiếm củi để có chất đốt đun nấu cho gia đình. Thời trước, khi tem phiếu chất đốt khá hạn chế, mỗi nhà có một cái bếp dầu lom đom lửa, thi thoảng có nguồn than tổ ong hay than cám thì đun nấu thoải mái. Lũ trẻ con thường tranh thủ gom nhặt củi khô hay thậm chí lá khô để chất trong bếp. Và dĩ nhiên, thời xưa khi chưa có nồi cơm điện, cơm phải nấu bếp lửa. Trong những chiều lạnh, quây quần bên bếp lửa nấu cơm cũng là một cái thú. Những đứa trẻ HN mộng mơ, nhìn bếp lửa chờn vờn mà nghĩ đủ điều…"



Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2011

Bài Ca Hà Nội 44 & 56 (cho ngày 20-11)

Chúc mừng các thầy cô giáo - mời các bạn nghe Bài Ca Hà Nội số 44 - Ước mơ xanh, chủ đề thầy cô giáo HN:



Bài Ca Hà Nội số 56 - Những mùa hoa bỏ lại.

Thứ Hai, 14 tháng 11, 2011

Hợp âm phố phường của Hồ Anh Thái

Đến giờ, người ta đã quen với việc Hồ Anh Thái đều đặn ra sách. Sách dày dặn, trên dưới 300 trang, và nhiều phần trong số đó thuộc thể loại đang hiếm hoi thành quả trong văn học Việt Nam: tiểu thuyết. Có một ý thức về lao động viết nơi nhà văn này, cho dù ông ở đâu, như một tham vọng khám phá lật qua lật lại các sự biến của xã hội dưới một giọng văn tỉnh táo, nhiều “mảng miếng”.

Cuốn sách mới nhất của Hồ Anh Thái có cái tên mang phong cách “tên dài” khá là phổ biến hiện nay trên thế giới: SBC là săn bắt chuột (SBC). Thật ra 5 từ là vừa phải, nhưng 7 âm tiết khi đọc lên thì thành dài, như tương ứng với tên các chương trong sách: “Ai quá lứa lỡ thì đừng đọc chương này, Ai sợ bãi tha ma đừng đọc chương này”… Đây có vẻ là một dụng công để hô ứng với cách viết những câu chuyện móc xích vào nhau, những chi tiết ăm ắp cái này xô cái kia mà chạy.

Kỹ thuật này Hồ Anh Thái đã sử dụng từ những cuốn văn xuôi nhiều năm trước như Người Ấn hay Cõi người rung chuông tận thế. Mỗi nhà văn có một bút pháp để ghi dấu ấn, và Hồ Anh Thái có vẻ như đặt hẳn hai chân vào lối viết này. Ngay cả dòng truyện có cảm xúc tự sự hơn như những truyện về cuộc đời Đức Phật hay Sông cạn gần đây, cũng vẫn nắm lấy kỹ thuật đan cài chồng ý, tùy lúc mà đẩy lên bề mặt ngôn từ hay nhòe mờ đi.

Điều đáng quan tâm là việc khai thác chất liệu từ những “sự biến” đời sống gần cận ta, mang tính thời sự cao độ vì ai chăm theo dõi báo chí là rõ cả. Các mẫu nhân vật của Hồ Anh Thái dù đổi tên thành cô Báo, chú Thơ, ông Cốp, Luật Sư, Đại Gia… thì cái chân dung người thực ngoài đời ấy vẫn lồ lộ, điều này vẫn có vẻ hiếm hoi vì đa phần nhà văn Việt Nam ưa phiếm chỉ và không tạo cho nhân vật những lý lịch sinh động đến thế.

Đó là cái rắn tay của tác giả SBC. Trong một xã hội ưa nói ngọt, hay tung hỏa mù bằng những nỉ non đạo đức trên các phương tiện truyền thông để che đậy những sự thật băng hoại, thì những liều “tính sổ” này xem ra cần thiết. Có điều, việc bào chế của thầy thuốc Hồ Anh Thái không phải lúc nào cũng tỏ ra hiệu nghiệm. Sự tỉnh táo chăm chút cho các bài thuốc này lại khiến nhiều chỗ văn kém duyên. Sự động não của người đọc không quyết định người ta thích cuốn sách hay không. Thuốc kháng sinh thì ai cũng biết, uống dền dền là nhờn.

SBC xét về mặt tác phẩm là một cuốn ghi nhận sự tiến triển về bút pháp của Hồ Anh Thái, tăng cường sự phức hợp của các dữ kiện làm nên hệ thống nhân vật. Bản thân nội dung là một tuyến truyện với nhiều ngõ ngách đổ về, nhưng cũng có thể coi đây là một khung cảnh đời sống hiện nay với cả chục hồ sơ nhân vật. Nó tựa như một ngã tư Hà Nội, xe cộ đi lại mất trật tự, nhưng người nào, xe nào cũng tìm được cái đích của mình. Nó có độ vang của hợp âm phố phường, sự bề bộn lộn xộn với người này là nỗi tra tấn, với người khác lại có sức mê hoặc khó cưỡng. Hồ Anh Thái dường như không che giấu mình thuộc về nhóm người thứ hai.

SBC mặc dù có vẻ hài hước, nhưng đọc cũng không dễ mà cười. Bắt chước tác giả, người viết bài này cũng kết bằng một câu dài: “Ai thích tấu hài thì đừng đọc sách này”.

(Báo Thanh Niên)

Thứ Hai, 7 tháng 11, 2011

Mộng giữa bình thường (DFS 9)


Năm nay mình không đi xem Đẹp Fashion Show, vì thế không review được gì. DFS là một cái show cũng chẳng xác định được rõ ranh giới, nhưng nó là show có cái để xem thật sự mà không diễn lần 2. Ờ thì có thể ai chăm đi xem thời trang thì thuộc cách Hà Anh giơ tay lên khoe nách hay Tiến Đoàn vạch thắt lưng sao mà giống cái ảnh vạch sịp... Nhưng đi xem thì ngồi cũng xa xa, với lại âm thanh ánh sáng rồi người mẫu đi rầm rập, thấy thì thấy chứ cũng chẳng phản cảm gì :-) Tóm lại, người xưa bảo giai nhân nan tái đắc, cứ đi xem show này thì nhìn thấy họ dền dền. Biết chị X sẽ đá chân kiểu ấy, anh Y sẽ nhe răng ra cười đố biết cười với đại gia nào trên các hàng VIP hay là kịch bản bắt thế.

Đăng lại bài năm ngoái, nhân xem VN's Next Top Model :-). Hãy nghiêm túc với mọi thứ, phù phiếm có ở mọi nơi, ngay cả những trò ngoại giao hay luật thi ca. Ai bảo các nghị sĩ không mộng tưởng? Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng :-)) (cảm ơn Chế Lan Viên). À mà cái tên bài này lấy ra nhân dịp con bác Huy Cận đáo tụng đình, vì HC viết mấy chữ ấy trong bài Ngậm ngùi mà ai cũng biết. Trích dẫn cũng là một sự phù phiếm... ^^

MỘNG GIỮA BÌNH THƯỜNG

Hà Nội mùa thu năm 2010 là một thời điểm sau này sẽ còn khiến mọi người nhớ. Nhớ những ngày đại lễ kỷ niệm 1000 năm đông đúc đến buồn cười. Hà Nội chợt lộn xộn, nhịp sống bình thường xáo động lên bởi những sửa sang, chăng đèn kết hoa, vài sự cố trong việc kỷ niệm. Nhưng mùa thu năm nay đẹp và kéo dài, điều chưa chắc ta đã nhớ. Rút cục thì cái đẹp của Hà Nội là những gì bền bỉ năm nay qua năm khác, những thứ đi vào nhịp sống như gió heo may đến hẹn lại về. Ta sẽ quên khi cái rét tái tê trở lại, và chỉ nhớ đến khi đã hưởng trọn mùa hè bức bối.

Mùa thu đến thì người ta nhớ đến việc phải mặc ấm hơn. Đi qua đường Phan Đình Phùng, những chiếc lá sấu vàng rơi ràn rạt. Những cô gái lâm vào cảnh trên đông dưới hè: cổ vắt chiếc khăn hững hờ trên chiếc áo sợi dệt bó sát, dưới là váy ngắn khoe đùi dài, chân ra sức dận trên đôi bốt da cao gót. Thế là mùa mốt đã về. Đường phố Hà Nội lại thành catwalk Thu-Đông rồi.

Người ta cũng nhớ tới một sự kiện thường niên có tên là Đẹp Fashion show vào lúc trời se lạnh như thế. Gần mười năm rồi, chương trình này đã thành ra như kiểu Tuần Thời trang hay những event trứ danh ở New York, Paris, Milan. Hà Nội vẫn hồn nhiên sống với các loại mốt, và nơi này thật đắc địa cho mốt vì thời tiết đỏng đảnh. Mùa hè nóng đến mức thiếu điều chị em mặc bikini phóng xe máy ra đường (sợ nắng cháy da thì khoác poncho kiểu Mexico – ý tôi muốn chỉ những loại áo chống nắng chống bụi tùm hụp, vật bất ly thân của chị em thành thị chưa có điều kiện sắm xe hơi). Mùa đông rét mướt đến mức khoác cả áo lông chống tuyết vẫn chưa đủ ấm. Cũng dọc những phố phường Hà Nội, hai loại cửa hiệu phổ biến nhất là quán ăn và hiệu quần áo. Người ta sẽ thắc mắc: bán lắm quần áo thế thì mặc để đi đâu? – Đi dự Đẹp Fashion show chẳng hạn.

Có đến cái show ấy lần thứ 9 ở một nơi xa như Garden Mall Mỹ Đình mới thấy thiên hạ mê thời trang. Cho dù kinh tế năm nay rất khó khăn, ngày nào thông tin giá vàng giá đô cũng quần đảo các trang tin, giá hàng tiêu dùng tăng rền rền hàng tuần, vẫn còn đó một không gian cho lụa là, trang sức, son phấn. Cái tên chương trình là “Dreaming” (Mơ) ngẫu nhiên mà lại thể hiện một điều dường như đang ngự trị tâm lý chung. Xem một show thời trang có tính sắp đặt thế này cũng là một cách người ta mơ mộng, đắm chìm trong một tối lộng lẫy, tạm rời khỏi một thực tại bụi bặm đến ngột ngạt.

Garden Mall đông nghẹt những người đẹp cần nơi để cho người khác ngưỡng mộ (có khi chủ yếu là toàn cánh phó nháy), những doanh nhân cần chỗ để giao lưu vài chuyện bâng quơ có khả năng dắt mối làm ăn lớn (có khi kết quả chỉ là những số liên lạc của các người đẹp!). Thật khéo không có sự kiện nào lại đông tay máy ảnh như ở đây. Hai mươi năm trước, nhà thơ nổi bật giữa đám đông. Mười năm trước, nhà văn đi đâu cũng dễ bị nhận diện. Bây giờ, là thời của nhiếp ảnh gia. Không có họ thì không có sự kiện. Báo chí chết trước, các nhà tổ chức chết theo sau. Vì thế, các nhiếp ảnh gia ghi dấu ấn không chỉ ở thảm đỏ đại sảnh, ở cái phông chi chít logo nhà tài trợ, nơi họ điên cuồng bấm máy chộp các gương mặt người nổi tiếng, mà họ còn ghi dấu ở chương trình. Những hậu cảnh chiếu lên trong chương trình mang đậm tính nhiếp ảnh. Những bộ trang phục dù thì gì cũng tựa như những bức ảnh được phóng lên ba chiều.

Dường như để phá vỡ tính chất dẹt của hình ảnh thời trang đó, đạo diễn Lê Vũ Long đã dùng hình thức xử lý chiều thứ ba mới: từ trên cao xuống. Những diễn viên nhào lộn đu mình trên dây thả từ trên khoảng thông tầng của không gian biểu diễn. Tất nhiên những “mã” ý tưởng không khó luận ra: những con người quằn quại, mê đắm, thức giấc từ những cái kén trắng. Khán giả ngửa cổ nhìn những hình nhân như bay liệng trên đầu mình, hồi hộp chờ điều gì trong “mơ”. Cái hay của mơ là không ai dự tính được, và cũng không cố mơ được theo ý muốn. Có cố lúc bắt đầu nhắm mắt thì lại đi nẻo nào mất lúc về sau.

Vẻ cổ điển là nét nổi bật của ĐFS lần này. Tính chỉn chu và tinh tế nhiều hơn là sự phá cách và trình diễn. Dường như ở vào một lúc khác, một nơi khác, như vậy có vẻ quá an toàn. Nhưng đặc điểm ấy chứng tỏ một sự tự tin, một sự trưởng thành. Từ bộ sưu tập “Mơ” của Hoàng Ngân, với gam màu xanh và ôliu lịch lãm, như một dẫn nhập từ tốn, đến bộ sưu tập “Thế giới siêu tưởng” của Kelly Bùi, với gam màu đen và dát vàng dữ dội trong tiếng trống thúc như vó ngựa hoang, là một cuộc chu du đầy bất ngờ. Giống như khi ta mơ, ta bị rượt đuổi, chạy mãi và chỉ dừng lại khi hụt chân. Tỉnh dậy ta thấy mình hóa ra đạp mất gối chăn. “Thế giới siêu tưởng” với những đôi giầy đế cao không gót mô phỏng vó ngựa, những chiếc áo dạng đua môtô, quần phồng túm ở dưới như những tay thảo khấu sa mạc, cùng những mái tóc kỳ dị như bờm ngựa, có khi còn lắc lư thêm cái đuôi, vừa giống những nữ chiến binh cổ đại, vừa giống những sinh vật kỳ dị chỉ có trong mơ, thực là một cú đạp trong cơn mơ khiến ta sực tỉnh, tỉnh rồi vẫn ngơ ngác và tiếc nuối vì đã hết. 

Những “con ma ngủ” (chữ trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến) lại xuất hiện: những hình nhân từ trên không trung lại nhào lộn, tiếng nhạc âm u của Trí Minh như dọn dường cho cơn mơ tiếp tục. “Câu chuyện kể” của Lưu Anh Tuấn với những kiều nữ tóc cột dựng như cọc khiến họ cao hẳn lên, những chiếc váy ngắn có cổ Tàu cùng những hoa văn hình rồng, mây nước, trên nền gấm, tơ sồi, da thuộc, len với những màu sắc cổ điển: xanh lam, đen, đỏ, tím, vàng son, lục. Tôi còn nhớ ấn tượng về những bộ tiểu thuyết Trung Hoa, những câu chữ vừa ước lệ mà lại chi tiết đến nỗi xem những bộ phim làm theo mà hay thì à lên sao mà giống hình dung vậy. Những câu chuyện kể được hiển thị bằng hình ảnh bằng thời trang thì giống mà cũng lại phải có khoảng mở. Cái hay của nghệ thuật lấy ảnh hưởng chất liệu cổ là vậy: vừa là nó mà lại không thể dừng ở mức y sì như nó – những nguyên mẫu đã thành bảo tàng.

"Du mục" là chủ đề bộ sưu tập của nhà thiết kế người Đức Julianne Kunze được lấy cảm hứng từ hình ảnh người Digan, vũ công Flamenco và đấu sĩ bò tót. Những hình ảnh mà chúng ta vẫn quen thuộc về họ thực ra toàn như kiểu postcard, những bức ảnh dẹt. Làm sao để những hình ảnh ấy thực sự có cuộc tái hiện gợi nhớ mà bay bổng, cũng như chúng ta mơ bao giờ cũng muốn mơ khác thường. Chứ mơ mà như cuộc sống thường nhật tẻ nhạt thì buồn. Trốn cái thường để rồi gặp nó, thì gặp ác mộng có khi còn thú hơn. Bộ sưu tập lịch lãm, có tính ứng dụng cao, mang một cảm giác tươi mát của thảo nguyên, của bụi bặm giang hồ, của màu đỏ man dại trên chiếc quần ngắn ống, trên đôi môi mọng của Hà Anh, của chiếc váy màu tím phớt rất lạ kiểu Flamenco mà Hoàng Yến mặc, và những bông hoa đầy vẻ hippy như lời bát hát xưa: Nếu bạn tới San Francisco, hãy nhớ cài vài bông hoa lên mái tóc…

Bonus vào giờ chót của ĐFS 9 là bộ sưu tập “Mây” của Đỗ Mạnh Cường. Màn trình diễn cho “Mây” có vẻ trở về phong cách cầu kỳ quen thuộc của những kỳ ĐFS trước: một màn ngã, một màn lăn tròn trên đường diễn. Những cái vươn tay ngạo nghễ, những điệu bộ đầy tính kịch, tương phản với vẻ bồng bềnh nhẹ nhõm của màu trắng trên những chất liệu mỏng, nhẹ, những lớp vải may xếp lớp như bung ra. Khi đã ở mức “thể hiện” thì đã tỉnh táo lắm rồi. Cơn mơ đã hết.

Mơ mộng là một khía cạnh của lãng mạn. Ở một thành phố ngày càng ít vẻ lãng mạn như Hà Nội, không có cách nào khác là phải tạo sinh những giấc mộng mới. Giữa cái khô queo của đời thường, người ta vẫn đổ xô đi xem phim kỳ ảo, vẫn sắm sanh quần áo đẹp. Hà Nội bụi bặm nham nhở vẫn còn những ngày thu đẹp đẽ.  Còn ta, mỗi ngày vẫn có 8 tiếng để ngủ, và nếu may mắn, thì ta có thể có giấc mơ đẹp mà khác thường. 

N.T.Q
(TT&VH Đàn Ông 11.2010)

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ