Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2013

Hà Nội luôn là đề tài phải bận tâm

(HNM) - Bước từ tản văn sang truyện ngắn là một câu chuyện đáng bàn đối với tác giả nói riêng và với văn chương nói chung. Kiến trúc sư, nhà văn Nguyễn Trương Quý trò chuyện với Báo Hànộimới về điều này.

- Ra một loạt tản văn đậm đà "phong vị" Hà Nội, sau cả chục năm giờ mới có tập truyện ngắn đầu tay "Dưới cột đèn rót một ấm trà" (NXB Trẻ). Có vẻ như hành trình viết của anh hơi ngược so với thông thường?

- Cũng hơi ngược một chút thật. Nhưng chính xác là giờ tôi mới thấy có đủ thời gian, đủ trưởng thành về nhận thức thể loại để tự tin ra một tập truyện ngắn. Bắt đầu từ quãng năm 2008, khi tôi tham gia học lớp sáng tác kịch bản của Trung tâm Hỗ trợ phát triển tài năng điện ảnh (Hội Điện ảnh Việt Nam), tôi có viết hai kịch bản. Từ chất liệu này tôi đã phát triển thành hai truyện ngắn, đăng trên tờ Tuổi Trẻ cuối tuần và nhận được phản hồi tích cực. Lúc ấy, tôi bắt đầu nghĩ đến việc tập hợp, hoàn thiện những tác phẩm đã viết để ra sách. Nhưng năm 2011, truyện chưa kịp ra thì tản văn "Xe máy tiếu ngạo" lại ra trước. Cuối cùng, gần cuối năm 2013, "Dưới cột đèn rót một ấm trà" mới được công bố. Quá nửa truyện trong tập này đã từng in trên nhiều báo.

Nhà văn Nguyễn Việt Hà từng nói với tôi: Nhà văn thì phải viết truyện ngắn, tiểu thuyết chứ tản văn thì chỉ là một thú chơi thôi, cũng như ai đó đã so sánh tiểu thuyết giống như "phở" của Hà Nội, truyện ngắn thì như các món "bún" và tản văn thì như các thức quà khác… Tôi không cực đoan đến mức ấy, nhưng việc thử sức với các thể loại cơ bản của văn xuôi là điều cần thiết đối với mọi người viết.

- Là tác giả thì muốn trải nghiệm, thử sức với các thể loại của văn xuôi như truyện ngắn, tiểu thuyết, nhưng dưới con mắt biên tập viên thì câu chuyện thể loại và nhu cầu bạn đọc có điều gì khác biệt, theo anh?

- Bây giờ là thời của viết ngắn, các tập tản văn thu hút người đọc nhiều hơn, bán cũng chạy hơn. Còn viết truyện ngắn, tiểu thuyết nhiều khi như một trò chơi "vô tăm tích". Các cuốn tản văn gần với nhịp độ đời sống đang diễn ra nên tính báo chí cao, người đọc mau chóng nắm bắt. Truyện ngắn, tiểu thuyết đòi hỏi cả người viết lẫn người đọc nhiều thứ hơn. Xác suất có một bản thảo tản văn đọc được cao hơn nhiều so với hai thể loại kia. Lâu lâu mới có một tập truyện hay tiểu thuyết để lại dấu ấn.

- Nhưng viết truyện ngắn so với viết tản văn có gì thú vị?

- Truyện cho phép tôi tự do tưởng tượng, dẫn dắt các nhân vật của mình, nghĩa là nó thoải mái hơn trong thể hiện; nhưng ngược lại, nó đòi hỏi sự dụng công về cấu trúc thể loại. Mình không lộ diện để trình bày quan niệm, mà gửi gắm thông điệp kín đáo hơn.

- Sự mông lung về tình yêu, hôn nhân trong "Dòng chữ", nỗi ám ảnh về giá trị đời sống trong "Buổi họp lớp", thậm chí là góc nhìn cuộc đời có hơi hướng "huyền ảo" trong "Câu chuyện bắt đầu từ tầng 10". Rồi là các vấn đề xã hội như đồng tính, đổ vỡ gia đình… Vẻ như tập truyện này mang "tâm sự ngổn ngang" của thế hệ trẻ trong một xã hội có nhiều biến động, thưa anh?

- Đó là những góc khuất, những bộn bề trong đời sống của thế hệ trẻ hôm nay, một trạng thái tâm lý mà như tôi đã nói trong một truyện ngắn là "thừa tinh tế mà thiếu can đảm". Những trải nghiệm, mất mát, trả giá và nỗ lực vượt thoát đó của người trẻ được chính họ nhìn nhận, đối diện… Tôi không dùng những đoạn trữ tình để miêu tả nhân vật, mà chủ tâm dồn nén xúc cảm, tâm tư, cá tính của họ trong mỗi hành động, mỗi lời thoại, trong tình tiết của câu chuyện.

- Dấu ấn kiến trúc sư của tác giả hình như hiển hiện khá rõ nét trong tập sách này. Ngoài những trang "đá đưa" kiến trúc đô thị như trong "Rừng mái rừng mơ" hay "Câu chuyện bắt đầu từ tầng 10"… thì giọng điệu, lối "phiêu phiêu, giàu tưởng tượng" cũng bộc lộ rõ trong nhiều trang viết. Đây là sự ảnh hưởng tự nhiên hay là sự chủ định nhằm tạo nét riêng cho tác phẩm của anh?

- Đúng là tôi có quan tâm đến phương diện tâm lý định hình bởi khung cảnh kiến trúc, tư duy không gian. Tôi muốn chuẩn bị kỹ bối cảnh cho nhân vật bước ra từ đó. Họ sống trong ngõ hẹp, trên căn hộ tầng cao hay mặt phố, họ sẽ mang tính cách của người sống ở nơi đó. Mối bận tâm về không gian sống, về chỗ định cư vẫn chiếm nhiều trí lực của người Việt Nam hiện nay.

- Hà Nội một thuở trong "Gió thu" thật ám ảnh. Sinh ra và lớn lên ở Thủ đô, điều gì trong "thân phận đô thị" thôi thúc anh tiếp tục khai thác trong những dự định sắp tới của mình?

- Hà Nội là vùng đất nhiều chồng lớp văn hóa, nhưng lại thiếu ổn định và đang chịu nhiều ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa… Tất cả đều tác động tới ứng xử của con người trong thành phố, từ tư duy tiêu dùng, lối sống công nghệ, văn hóa "giật" status… Tôi không muốn nói tới những điều bi quan nhưng cũng khó mà không đề cập tới sự tha hóa. Có thể chăng là sẽ sử dụng lối viết giả tưởng để phản ánh những câu chuyện đô thị Hà Nội hôm qua và hôm nay, những con người của mảnh đất này đã, đang cung cấp cho thành phố một năng lượng sống khổng lồ. Và, chỉ biết rằng càng đọc, càng viết, tôi càng cảm nhận rõ Hà Nội vẫn luôn là một đề tài khiến người ta phải không ngừng bận tâm, khiến bản thân tôi thấy cần phải tiếp tục khai thác.

- Xin cảm ơn anh!
Thi Thi thực hiện


Vào lúc 9h00 ngày Chủ nhật 15/12/2013, tôi có cuộc giao lưu giới thiệu tác phẩm do ĐH Hoa Sen tổ chức tại Thư viện trường, P808, số 8 Nguyễn Văn Tráng, Q.1, TP.HCM. Dẫn chương trình là chị Hậu Khảo Cổ, và các bạn bè quen biết cùng các bạn sinh viên trường Hoa Sen.

Thứ Sáu, 29 tháng 11, 2013

Như sóng trào biển Đông

Đọc Yersin: dịch hạch & thổ tả

Một vài huyền thoại tồn tại nhờ những thứ khá bình dị. Này cô em Bắc Kỳ nho nhỏ… một bài thơ, bài hát tiếng Việt những năm 70 về một mối tình Việt đã có một nguồn cảm hứng từ một bài hát tiếng Pháp năm 1908 cùng tên – La Petite Tonkinoise (Cô Bắc Kỳ nho nhỏ). Lời gốc tiếng Pháp không mấy liên quan đến đời sống xứ Bắc Kỳ, ngoại trừ địa danh đầy chất hương xa, vang lên đầy nhục cảm và lả lơi qua tiếng hát danh ca bốc lửa Josephine Baker những năm 30.

Không phải tự nhiên mà có ngay hình ảnh truyền kỳ suốt nhiều thập niên ấy. Từ hai thập niên cuối thế kỷ 19, chậm hơn so với Sài Gòn, người Pháp đã quyết định xây dựng Hà Nội thành một thành phố hiện đại kiểu Tây, và hơn thế nữa, biến nó thành thủ phủ Đông Dương vào năm 1902. Cũng năm này, năm Tổng thống Pháp ra quyết định số phận của Hà Nội thì cũng là năm Yersin nhận lời mời của toàn quyền Paul Doumer ra Hà Nội làm hiệu trưởng trường Y, giám đốc bệnh viện và Viện Vệ sinh dịch tễ Đông Dương.

Tiểu thuyết Yersin: dịch hạch & thổ tả của Patrick Deville đã phác đôi nét khung cảnh “thành phố xanh um và mờ sương… một thành phố như Proust tả, cùng nỗi nhớ nhung Cabourg và Dauville vẫn hiện diện đâu đây”. Hà Nội trước đó như trong Hà Nội giai đoạn 1873-1888 mà André Masson đã dẫn lời một nhân chứng: “Hồ Gươm làm người ta buồn nôn vì đây là nơi nhận đủ thứ rác rưởi, nhà dân bản xứ vươn ra hồ trên những chiếc cọc”.

Vậy mà “trong vòng hai mươi năm, cứ như thể đã nhiều thế kỷ trôi qua, với sự tự tin, quyết liệt và mù quáng của người La Mã lạc lối ở xứ Gaule, họ đã xây dựng khách sạn Métropole và tòa nhà Puginier, để tự trấn an mình, mở trường đua ngựa và các khu chợ, nạo vét và cải tạo hai cái hồ. Thành phố đã có đến bảy mươi nghìn dân”.

Cuốn sách đã chinh phục tôi trước hết từ những câu chuyện đó. Những câu chuyện mà Yersin đã can dự, nhiều khi là không chủ động, đã góp phần tạo nên bộ mặt một nước Việt Nam hiện đại. Thành phố tôi đang sống có bóng dáng của người đàn ông kỳ lạ này, kẻ hay rẽ ngang, từ bỏ địa vị đầy hứa hẹn ở Viện Pasteur Paris để phiêu lưu Viễn Đông, và chỉ dừng lại ở Nha Trang, biến nơi đây thành một địa điểm hải ngoại quan trọng của hệ thống y tế văn minh – “một tiền đồn của sự tiến bộ”.




Yersin là người của nhiều thứ đầu tiên ở Việt Nam: người đầu tiên trồng và khai thác mủ cao su, cây canhkina chữa sốt rét, người ham mê các tiện nghi hiện đại nên cũng là người đem chiếc ôtô đầu tiên vào Hà Nội. Ông cũng là người khởi xướng việc mở đường xuyên Tây Nguyên sang Campuchia và Lào. Và như chúng ta đều biết, năm nay đánh dấu mốc 120 năm hình thành Đà Lạt, đô thị châu Âu nhất Việt Nam do Yersin có công tạo lập.

Nếu như Nha Trang giờ là một thành phố hoàn toàn mới kiểu những đô thị nghỉ mát bên bờ những biển nóng nhìn ra Thái Bình Dương, chỉ còn đôi chút dấu tích của Yersin, thì Hà Nội dường như vẫn đủ cũ để giữ lại dấu vết của thời ông đến nơi này. Trong hai trang sách, Patrick Deville như ông tự gọi mình là “bóng ma của tương lai” theo chân Yersin vừa đủng đỉnh vừa lướt qua một Hà Nội với “những khu phố đẹp này là những khu phố đầu tiên ở châu Á có điện, nước sạch và đèn công cộng. Lác đác dọc những phố tĩnh lặng, các biệt thự có hàng cột và gồ tường, sơn trắng hay vàng nâu, ở sâu trong những khu vườn xén tỉa kỹ càng dọc những lối đi sạch sẽ tinh tươm. Cả các dinh thự có cốt gỗ, đằng sau dãy hàng rào sắt là những đầu hồi nhọn hoắt chĩa lên trời, bên dưới là cây cối sum suê u tối”. Nó đầy tính cách ngoại lai, tương phản với “những chiếc xích lô dạt sang một bên nhường đường... Những người đánh xe siết lại những mảnh vải che mắt ngựa. Những cô bán hàng đội nón, đòn gánh trên vai, ngó cái máy quá lớn so với mạng lưới chằng chịt những ngõ phố nhỏ của khu buôn bán”.

Nhưng cuốn sách không theo đuổi việc tả chân những quang cảnh cũ, ngay cả việc Yersin đã làm những gì, cũng rất chấm phá: Với ngôi trường Y xây mất một triệu rưỡi franc, bằng tiền xây nhà hát Sài Gòn, “Yersin chịu trách nhiệm điều hành khu vệ sinh, tuyển nhân viên và nhận thí sinh theo học bác sĩ và y tá. Anh lên chương trình học theo mẫu bên Pháp, sáng khám bệnh nhân ở bệnh viện, chiều thì lý thuyết. Anh đích thân đứng lớp các giờ vật lý, hóa học và giải phẫu.” Ngược lại, Patrick Deville đã dày công khảo cứu những gì Yersin đã nghĩ: “Học sinh ngành Y của bọn con rất chăm học, có những người xuất sắc ngang với những sinh viên giỏi nhất bên Pháp. Điều thú vị là ngay những người thông minh cũng học rất chăm. Gần như có thể nói rằng không có ai lười biếng”.

Đến đây, người ta dễ nghĩ đến một tương lai của người lãnh đạo dành cho Yersin ở xứ Đông Dương, nhưng “cuộc sống ở Hà Nội của anh chỉ là một dấu ngoặc đơn, trong khi người khác thì lại tưởng đây là khởi đầu một sự nghiệp về bệnh viện, một tương lai ông thầy lớn trong áo blu trắng”. Yersin chỉ dành ba trong số năm mươi năm sống ở Việt Nam để có mặt ở Hà Nội. Ông đã không chọn Paris hay Berlin, thì ông cũng không chọn một đô thị nào khác như Manila, Sài Gòn hay Hà Nội, những nơi ông dễ bề có địa vị cao với hạ tầng cơ sở sẵn sàng. Ông cũng không chọn Đà Lạt, nơi ông đã gợi ý việc xây dựng một thị trấn nghỉ dưỡng. Ông chọn một làng chài ven bờ biển, những địa danh chân quê như Xóm Cồn, Hòn Bà, Suối Dầu… và sống gần gũi những người dân bản địa, những người gọi ông là bác sĩ Năm, một cái tên xuất phát từ một chức danh mang tính quân sự trên tàu biển khi đi theo các công ty vận tải.

Vì đâu một nhà khoa học đa năng lại chọn dừng chân ở một nơi chỉ có thể đi bằng tàu biển từ Sài Gòn ra Hải Phòng, dù rằng đấy là con vịnh tuyệt đẹp và thiên nhiên sống động đặc trưng cho xứ nhiệt đới. Một nơi vô danh, cũng như trực khuẩn dịch hạch, làm sao để phát hiện ra, nếu như không nhờ trực giác thiên tài? Cả Nha Trang năm 1890 lẫn trực khuẩn dịch hạch năm 1894 ở Hồng Kông là phát hiện của Yersin. Niềm đam mê phiêu lưu lẫn sự say mê khoa học của Yersin đã làm nên câu chuyện cuộc đời ông. Patrick Deville đã chọn lấy những đặc điểm lớn nhất của cuộc đời con người bí ẩn này để viết nên một cuốn tiểu thuyết bằng giọng văn đặc biệt cô đọng và kỳ bí.




Thật dễ dàng để viết cho đã, để làm một cuốn tiểu thuyết nhân vật mang tính tiểu sử đồ sộ như trong trường hợp Alexandre Yersin. Quá nhiều dữ liệu để khai thác, trải khắp nơi từ Âu sang Á, lại song chiếu những số phận của các danh nhân khác cùng thời, những cuộc Thế chiến và vô vàn xung đột y học toàn cầu, nhưng cuốn sách của Patrick Deville chỉ gói trong 220 trang tiếng Pháp (bản dịch tiếng Việt là 260 trang phần tiểu thuyết). Ở đây chiều sâu của nền tảng triết lý và dụng công ngôn từ đã giúp cho mỗi chương đến mỗi đoạn của Yersin: dịch hạch & thổ tả là một vấn đề được tung ra, một cuộc song thoại giữa bản thể Yersin và những bản thể khác. Song thoại trong thực tế lẫn song thoại trong tâm tưởng Deville. Yersin và Pasteur – người thầy, vị giáo chủ tinh thần. Yersin và Rimbaud – hai kẻ phiêu lưu. Yersin và Roux – người đồng nghiệp kế tục Pasteur. Yersin và Livingstone – hình mẫu của Yersin. Hoặc cuộc đối đầu giữa hệ thống y học của Pasteur và Koch – hai nhà bác học lừng danh ở hai phía chiến tuyến.

Chọn lấy những chủ đề, những phát hiện y học, những điểm đến, loại cây, con vật, tất thảy liên quan đến sự nghiệp của Yersin, Patrick Deville đã bổ dọc cuộc đời gần 80 năm này của ông, thoải mái tạt qua lại từ thời gian này về quá khứ hoặc đồng hiện các giai đoạn cuộc đời Yersin, để làm nổi bật lên đối tượng văn chương Yersin – mang dấu ấn chủ quan của nhà viết tiểu thuyết chứ không làm công việc giảng bài về một niên biểu. Người đọc được tắm mình trong miên man những trường thơ hậu Thi Sơn, thời khởi sự những gì hiện đại của văn chương, của khoa học, những gì đã quyến rũ những con người tài năng của nhân loại. Và hơn thế, được nhập vai người chứng kiến những quan hệ, những xung đột giữa các nhân tài ấy. Ngót một thế kỷ đầy ắp các phát minh, các cuộc cách mạng và chiến tranh, Yersin đã ngẫu nhiên sống với tư cách người ở “đường biên”. Qua những trang văn mà Deville đã bỏ công khai thác từ thư của Yersin gửi cho mẹ, chị và những đồng sự ở viện Pasteur Paris, người đọc cảm được tinh thần “phải tuyệt đối hiện đại” của nhà khoa học này, và thái độ “đời mà không đi thì còn gì là đời” của con người khắc kỷ Yersin.

Vì sao chúng ta vẫn ưa dùng cụm từ “huyền thoại” để dành cho nhiều nhân vật có thực? Như đôi câu thơ đề từ cuốn tiểu thuyết này, “À vâng, trở thành huyền thoại/ Ở ngưỡng những thế kỷ bịp bợm”, huyền thoại có vẻ như một món trang sức. Chúng ta – những người đọc, vẫn có sự hướng thiện về những giá trị phi phàm, những con người có sức mạnh dẫn đường, những nguồn cảm hứng. Lý lẽ giản dị của chúng ta khi gọi Yersin chẳng hạn là một huyền thoại, là ước vọng khai sáng của ông đã truyền đến con người Việt Nam những năm tháng này, năm tháng đầy hoài nghi và thất vọng.

Yersin có thể đã không may mắn khi không được giải Nobel ngó ngàng tới, khi người Pháp và giới truyền thông toàn cầu chẳng mấy nói đến, nhưng nguồn cảm hứng nhân văn và tinh thần phụng sự khoa học vì con người của Yersin, bất chấp màu da, bất chấp địa lý, bất chấp địa vị, vẫn còn có cơ hội và đầy tính thời sự ở mảnh đất ông nằm lại này. Cuốn tiểu thuyết khép lại ở giây phút Yersin ngồi bên thềm nhà lắng nghe tiếng sóng biển Đông cuộn trào ngoài khơi và nhắm mắt yên nghỉ. Nó không hề là một phút lâm chung huyền bí nào cả. Nó như một tích tắc cầu chì đứt. Nhưng nó mở ra một câu hỏi cho người đọc. Chúng ta tưởng như đã biết nhiều về Yersin, tưởng như Việt Nam đã tôn vinh đủ ông, nhưng quả tình, cuốn tiểu thuyết hơn hai trăm trang vẫn ngầm trao gửi một câu hỏi: chúng ta đã biết gì về huyền thoại ấy?

Nguyễn Trương Quý

YERSIN: DỊCH HẠCH & THỔ TẢ
Người dịch: Đặng Thế Linh
Hiệu đính: Đoàn Cầm Thi - Hồ Thanh Vân
Lời tựa của ĐS Pháp tại VN Jean – Noël Poirier & Lời bạt của TS, dịch giả Đoàn Cầm Thi

Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2013

Đỗ Phấn: Viết về một đứt gãy

Đỗ Phấn là một họa sĩ nhưng có gia tài văn học đáng nể dù mới chính thức viết chưa đầy 10 năm. Hai tập sách mới nhất của anh đều viết về Hà Nội. Một Hà Nội của thuở nhỏ, những năm tháng trước và trong chiến tranh dưới bom đạn Mỹ, đầy ắp những xúc cảm trong veo trong truyện dài Dằng dặc triền sông mưa. Một Hà Nội bộn bề trăm thứ ngổn ngang của thời nay trong tập tản văn Hà Nội thì không có tuyết. Anh đã có cuộc trao đổi dành cho Tuổi Trẻ Cuối Tuần về niềm đam mê viết về Hà Nội của mình.
Đến giờ, anh đã ra 13 tập sách trong vòng 8 năm. Một con số đáng kinh ngạc. Nhưng vì sao không phải là trước đó mà là những năm này, khi chuyện văn chương sách vở đang khá yếu thế so với các phương tiện nghe nhìn?

Đỗ Phấn: Khi 50 tuổi tôi mới in cuốn sách đầu tiên và hay nói đùa với bạn bè rằng mình đã nhịn viết trong vòng năm chục năm. Thực ra niềm khao khát chữ nghĩa luôn thường trực trong tôi suốt những tháng năm tuổi trẻ. Giờ mới có điều kiện thực hiện ước mơ ấy. Đó là một may mắn rất lớn khi mà bề dày trải nghiệm của tôi đã kha khá. Hơn nữa, văn học bây giờ đã bớt đi được khá nhiều húy kị ấu trĩ và đã cởi mở hơn. Thử tưởng tượng nếu như chính tôi viết ra ngần ấy cuốn sách vào khoảng 20 năm trước, chắc có nhiều cuốn sẽ bị biên tập cắt bỏ… cả quyển.



Cả hai cuốn sách, truyện dài Dằng dặc triền sông mưa và tản văn Hà Nội thì không có tuyết đều nặng nỗi “tương tư” những cảnh trí Hà Nội nhiều chất đồng quê, khá đối ngược với không gian sống của một gã trai “đẻ ra đã rửa chân nước Hồ Gươm”. Anh có nhắc đến nhà cổ, phố cổ nhưng không đậm đặc bằng. Trong khi bây giờ, hầu như ai cũng hoài vọng về những phố cổ mái ngói thâm nâu như trong tranh Bùi Xuân Phái. Có phải vì chúng ta mất hẳn những thứ đó rồi thì mới thấy là quý?

Đỗ Phấn: Đúng thế. Là người cầm bút vẽ trong vòng 40 năm, tôi được chứng kiến những thay đổi thần tốc của Hà Nội về mặt hình ảnh không chỉ riêng kiến trúc. Một Hà Nội cũ của Bùi Xuân Phái vì sao lại làm ta rung động đến thế? Hà Nội ngói nâu tường cũ trong một tổng thể cây cối êm đềm, nề nếp sinh hoạt chậm rãi khác xa với vun vút người đi và thô lỗ sắc màu như bây giờ. Ngay thời ông Phái còn sống thì những thứ ông vẽ ra phần lớn cũng gắn với kí ức của mình là chính. Ông Phái đã vẽ ra nỗi mất mát của vẻ đẹp Hà Nội trong chính ông. Nếu ông còn sống chắc cũng không biết cất bớt những khẩu hiệu và biển quảng cáo vào đâu khi vẽ phố bây giờ.

Cái ngột ngạt sinh hoạt khu phố cổ bắt đầu biến dạng thời tôi còn nhỏ chính là ấn tượng phản cảm: Đường xá nhếch nhác phơi phóng, toilet không có nên đi qua những con phố ấy luôn phải tuyệt đối đề phòng dẫm lên những thứ không tiện nêu tên. Tôi thường thích ngắm phố cổ khi đi trên cầu Long Biên hoặc từ trên những nóc cao, và may mắn được ngồi uống rượu xem tranh nhiều lần với ông Phái. Những ngói nâu tường rêu vĩnh viễn không mất đi đâu cả. Ít nhất là trong tranh ông Phái. Cuối cùng thì nghệ thuật của ông đã “cứu chuộc” một Hà Nội xưa.


Trong Dằng dặc triền sông mưa, tôi chú ý đến tình bạn vong niên của cậu bé An với bác lái tàu điện. Cậu bé say mê tàu điện như say mê một hình ảnh của sự tiến bộ, và say mê hình ảnh người lái tàu như một người thuyền trưởng đang dẫn cậu đi đến những bến bờ xa lạ, dù đây chỉ là mấy phố phường nhỏ bé. Ở đây có một nỗi ám ảnh về cái tài hoa truyền kỳ qua các thế hệ Hà Nội. Sự tài hoa hấp dẫn bọn trẻ là vì họ biết chia sẻ và quảng đại. Điều này hình như vắng bóng thời nay, nó tạo nên sự đứt gãy về căn cốt Hà Nội. Anh có nghĩ như vậy không?

Đỗ Phấn: Nỗi tiếc nuối của tôi về một hình ảnh Hà Nội đẹp đẽ êm đềm sang trọng chưa bao giờ lớn hơn niềm tiếc nuối về một văn hóa ứng xử của người Hà Nội. Một đứt gãy vĩnh viễn không thể hàn gắn lại được nữa khi mà dân số tăng vọt với cuộc nhập cư ào ạt như bây giờ. Ngày trước những người nhập cư ít hơn thì Hà Nội còn có đủ người để giữ gìn cái căn cốt thị dân của mình và phần nào ngăn chặn được những biểu hiện du nhập lệch lạc. Điều đó bây giờ là không thể.

Thời của cậu bé An trong truyện Dằng dặc triền sông mưa sẽ không quay lại nữa. Sẽ chẳng bao giờ có những bác lái tàu điện vui tính dù trẻ con bây giờ vẫn có niềm ham mê như thế. Và quan trọng nhất là tìm đâu ra một ông bố bà mẹ nào đủ can đảm để cho đứa trẻ lên sáu tuổi bây giờ đi xa nhà quá 200 mét? Người Hà Nội ngày ấy dù rằng có làm những công việc nặng nhọc chân tay thì cũng đầy lòng tự trọng và hãnh diện với công việc của mình. Họ là tấm gương tốt cho lũ trẻ, nhiều khi còn có thể thay mặt gia đình mà dạy dỗ bọn trẻ ở ngoài đường.

Người Hà Nội bây giờ lãnh đạm hơn nhiều. Tưởng rằng hoạt náo tươi vui nhưng kì thực ra đầy ngờ vực và phòng thủ. Có một nỗi sợ hãi mơ hồ nào đó trong giao tiếp khiến cho họ khó lòng có thể trò chuyện được với người lạ kể cả trẻ con. Đi trên phố rất đông người mà cảm giác như chẳng có ai là thế.

Trong Hà Nội thì không có tuyết, anh có vẻ là một con người nhẫn nại với phố phường, có vẻ không biết chán cái đô thị đã “lạ phố, lạc phố” này. Nhiều khi tôi cũng ngán ngẩm nghĩ, giá được sống nơi khác. Anh cũng viết trong tập sách về một vài chuyến đi nước ngoài, những đô thành lộng lẫy Paris hay Barcelona. Anh có nghĩ Hà Nội “không đáng xách dép” cho những nơi đó như cách nói suồng sã của thị dân Hà Nội không?

Đỗ Phấn: Đi vài chục thành phố trên thế giới, điều mà tôi thích nhất là cái quy củ có phần cứng nhắc của họ. Và ao ước Hà Nội của mình cũng được như thế. Hà Nội của chúng ta đang thiếu một thứ hết sức quan trọng của đô thị hiện đại. Đó là những quy định nghiêm khắc có thưởng phạt hẳn hoi. Nhiều bạn bè của tôi đến Hà Nội có cảm giác như đến một ngôi nhà vô chủ. Một quán trọ nhôm nhoam bừa bãi.

Vì sinh ra và lớn lên ở đây, nên quả tình là tôi không có quê hương thứ hai nào để yêu quý nữa. Tôi hình như cũng cảm thấy không có quyền yêu Hà Tây nếu như nó chưa nhập về Hà Nội. Nói ra điều này chắc bạn buồn cười, tôi yêu Hà Nội vì những gì nhôm nhoam vô lối của nó. Không có những nhôm nhoam ấy e rằng tôi cũng mất luôn hai cảm giác phẫn nộ và xót xa.

Có khá nhiều thứ ngộ nghĩnh ra đời trên phố vài năm nay khiến cho những thị dân xế chiều như tôi phải bật cười. Và như thế thì không thể nói rằng Hà Nội không vui. Vài tấm bảng tròn to như cái nong treo trên cột đèn dọc đường Lê Hồng Phong lắp đèn màu thành hình Khuê Văn Các hay trống đồng gì đó chẳng hạn. Hay là cái bể nuôi rùa xanh lét thả trên Hồ Hoàn Kiếm vài năm nay. Không còn một triền đê đầy gió và cỏ…

Hình như anh lúc nào cũng có sẵn bản thảo để in sách. Vậy anh có dự kiến gì cho từng cuốn sách để tạo ra sự khác nhau, khi cuốn nào cũng có bối cảnh Hà Nội? Cảm hứng thường được anh nuôi thế nào để viết những cuốn tiểu thuyết hay truyện dài vài trăm trang?

Đỗ Phấn: Dự kiến thì nhiều nhưng sức của mình chỉ làm được đến thế. Có thể gọi tôi là người chỉ viết một cuốn sách về Hà Nội thôi cũng được. Những vùng đất Hà Nội cũ, cả nội ngoại thành cũng đủ rộng cho bối cảnh những câu chuyện khác nhau của tôi. Bạn bè cùng thời truyền cho tôi rất nhiều cảm hứng và những gợi ý hay ho hàng ngày. Kí ức đậm đặc của hơn 50 năm không viết chắc sẽ còn giúp tôi viết được vài cuốn nữa. Tôi tự rèn thói quen làm việc độc lập đã một phần tư thế kỉ nên hình như cảm hứng không đóng vai trò quan trọng lắm trong công việc hàng ngày của mình.

Cảm ơn anh và chờ đợi những cuốn sách tiếp theo của anh!

N.T.Quý thực hiện
(TTCT số 44, 17-11-2013)

Chủ Nhật, 27 tháng 10, 2013

Tuyết của Đỗ Phấn

Đỗ Phấn lúc nào cũng có chuyện để kể. Trong khi chờ đọc xong Dằng dặc triền sông mưa (truyện dài) thì giới thiệu trước tập tản văn Hà Nội thì không có tuyết. Dằng dặc triền sông mưa là truyện dài kể ở ngôi thứ ba nhưng xưng "cậu" - quãng đời của một cậu bé Hà Nội đi sơ tán về quê, gọi là quê nhưng là vùng Yên Hòa, Cầu Giấy hay cạnh sông Đuống bên Gia Lâm, hồi ấy mới tách từ Bắc Ninh để sáp nhập vào Hà Nội... bây giờ những triền sông mưa ấy đã thành đất nội thành hoặc khu đô thị mới cả rồi. Truyện đọc trong trẻo và nhiều hình ảnh Hà Nội được ghi lại rất thú vị. Họa sĩ đã kịp vẽ bằng chữ, không bị sa vào thổn thức tuyên truyền kiểu Văn Linh, có gì đó gần Vũ Tú Nam, và song song với Phan Thị Thanh Nhàn, Xuân Quỳnh, Dương Thu Hương ở những Xóm đê ngày ấy, Hành trình ngày thơ ấu...

Hà Nội thì không có tuyết là rất nhiều ghi chép kiểu Vũ trung tùy bút hay Tang thương ngẫu lục, vô vàn những mẩu chuyện HN. Nhiều chỗ cũng lan man, tuy thế đọc có không khí. Dưới đây là lời giới thiệu cho tập sách.

Bìa do Kim Duẩn vẽ

TUYẾT CỦA ĐỖ PHẤN

Đỗ Phấn khi viết văn vẫn có cái nhìn của một họa sĩ, tinh tế và kỹ lưỡng trong quan sát. Anh đặc biệt mạnh về chi tiết, những nhấm nhót đời thường, tất cả được vẽ bằng chữ nghĩa giàu màu sắc và đường nét, về một Hà Nội gồ ghề, xù xì, đắm đuối, trằn trọc… đủ mọi cung bậc cảm xúc. Anh day dứt về một Hà Nội xưa đã phôi pha những vẻ đẹp uyên áo, và cũng chấp nhận cái bộn bề của Hà Nội thời ẩm ương đầu thế kỷ này. Tập tạp văn Hà Nội thì không có tuyết vì thế khó nói là lạc quan hay bi quan, nó là điều ai nấy phải chịu. Điều quan trọng là cách nhìn và cách lên tiếng của họ, mà ở đây với vai trò một người nghệ sĩ pha chất kẻ sĩ, Đỗ Phấn không dửng dưng trùm chăn.

Số lượng hơn 90 bài tạp văn của anh trải theo chủ đề bốn mùa “Xuân - Hạ - Thu - Đông” cho thấy sức viết đáng kinh ngạc của một họa sĩ, người đã chọn nghiệp viết như một công việc chuyên môn, góp vào bên cạnh những cuốn tiểu thuyết hay truyện ngắn một giọng điệu nhất quán, chừng mực mà nhiều năng lượng sống. Chất dân gian phố phường của Đỗ Phấn đặc biệt thích hợp trong những đề tài về những cái nhôm nhoam của Hà Nội. Nó là thứ giữ chân người đọc với Đỗ Phấn, cũng như những cuốn sách đã in dồn dập gần đây của anh.

Nói về Tết – đại diện của Xuân, Đỗ Phấn chẳng ngại mà phang “họa sĩ đương đại rất ít người vẽ về không khí tết cổ truyền ở thành phố. Hoặc có thì cũng ‘hồi cố; vẽ lại những cảnh hội hè tết nhất nông thôn với hình ảnh cây nêu, cờ, phướn, đánh đu, chọi gà. Giả và gượng gạo.” (Tranh cho ngày Tết). Mùa Hạ, thật chẳng có gì hợp lý hơn là nói về những giải bóng đá, nhưng Đỗ Phấn cười buồn mà kể: “Euro 2004 là lần cuối cùng chúng tôi tụ tập ở nhà một người bạn bên Hồ Tây xem trận chung kết. Năm thằng ngả ngốn trên bộ ghế xa lông bọc da khổng lồ. Màn hình 45 inch phẳng lì sắc nét. Rượu whisky Ballantines 17. Nồi cháo gà ti tỉ reo trên bếp điện. Máy lạnh rù rì chạy... Uống. Và chờ. Kết quả là sáng hôm sau tỉnh dậy hỏi nhau, Bồ Đào Nha hay Hi Lạp vô địch?” (Bóng đá một mình). Hình như không có gì xuôi chiều, không có gì toàn hảo – một nỗi niềm vô vọng.

Và viết về Hà Nội một thuở, thực Đỗ Phấn là một giám khảo thú vị khi anh thấy “Tháp Rùa tồn tại bởi lí do thẩm mĩ là chính. Vẻ đẹp của nó rất khó gọi tên. Không phải thứ thẩm mĩ rạch ròi Đông Tây Kim Cổ của kiến trúc. Cũng không phải vì kích thước áp đảo của một tòa cao ốc. Lại càng không phải di tích lịch sử gắn liền với những chiến công hiển hách của tiền nhân. Đơn giản, nó chỉ như một nét chấm phá tuyệt diệu vào đúng cái nơi cần có trong khung cảnh mênh mang nước Hồ Lục Thủy.” Nói về một cột mốc “thẳm sâu và vợi cao” của Hà Nội, anh nhớ “hai chiếc ống khói của nhà máy gạch Đại La ở cuối đường Cát Linh. Một biểu tượng hiền hòa chất phác và kiêu hãnh của nền văn minh gạch máy đầu thế kỉ trước.”

Những câu văn lướt êm như không có gì mà lại gợi lên những từ “chuẩn”. Tuyết dĩ nhiên làm gì có ở Hà Nội, nhưng vẫn còn đó loại nhung tuyết mà Đỗ Phấn bỏ công níu giữ. Những bài tản văn nho nhỏ như những nét chấm phá ký họa, lúc lại như những vệt bút màu còn ướt sơn. Nhiều khi cái lãng đãng cũng làm người đọc sốt ruột, nhưng mà “Hà Nội không vội được đâu”, phải không nhỉ?

Nguyễn Trương Quý



Trích tập sách Hà Nội thì không có tuyết:

Minh họa của Đỗ Phấn

THƯƠNG NHỚ VỈA HÈ

Dĩ nhiên là bất cứ cái gì sinh ra trên đời rồi cũng có ngày biến mất. “Nương dâu bãi bể”, “Vật đổi sao dời”. May lắm thì kiếp người cũng chỉ được “Một đời ta muôn vàn đời nó” so với cái tăm. Cụ thể là khoảng bảy vạn chiếc tăm nếu như mỗi ngày dùng hai chiếc cho đến trăm tuổi với điều kiện răng chỉ mọc thêm chứ không rụng đi cái nào. Duy nhà Phật cho rằng có “kiếp” và có “chuyển kiếp”, còn lại không có thứ gì muôn năm cả. Đến như vỉa hè thành phố tưởng chừng là thứ bất biến thì cũng không phải thế. Còn đấy mà không phải.

Những năm 60 của thế kỉ trước, vỉa hè Hà Nội được chia ra làm ba loại rõ ràng. Những tuyến phố cũ trước hòa bình lát gạch chỉ khía vạch chéo chống trơn đỏ au sau mỗi trận mưa rào. Bờ hè được cạp bằng đá xanh. Những viên đá cắt chéo hạ dốc xuống bằng mặt đường nhựa ngay ngắn gọn gàng ở lối xe lên. Phố Thợ Nhuộm còn có những đoạn đường nhựa lẹm sâu vào vỉa hè làm chỗ tránh cho xe cộ. Hà Nội chỉ vài phố như thế và trên cầu Long Biên là có chỗ tránh. Đó là chỉ dấu đầu tiên báo hiệu cho những người đi bộ trong thành phố nhận biết vị trí khiêm nhường của mình. Những tuyến phố được lát gạch vỉa hè sau hòa bình không nhiều. Đa số nằm trên những con đường lớn kéo dài từ trong trung tâm mà ra. Gạch xi măng vuông ba mươi phân xám xịt một màu lổn nhổn những viên sỏi trắng. Xi măng lúc ấy quí hơn gạo và dầu thắp đèn bởi không có phiếu nào mua được. Xin đâu đó một cân bỏ vào vỏ hộp sơn đậy điệm kĩ càng. Thỉnh thoảng mang ra pha loãng để quét chống thấm cho chiếc thùng phuy đựng nước nhà nào cũng có. Và thùng phuy nào thì cũng rò rỉ.

Phần hè phố còn lại của Hà Nội là nền đất bó vỉa bằng bê tông không cốt sắt đúc sẵn theo hình vỉa đá. Khá nhiều. Lác đác gánh gồng và người đi bộ. Không phải nhàn tâm thư thái ngắm nghía phố phường mà chỉ vì không có xe đạp. Đẳng cấp vỉa hè không còn cái sang trọng như thời cụ “Tú men” Nguyễn Văn Tố cầm ô “men” theo những con phố khu chợ Hàng Da. Đó còn là thiên đường trò chơi của lũ trẻ. Tập xe đạp. Trèo me trèo sấu. Đá bóng, đá cầu, nhảy dây. Đánh bài, đánh ô ăn quan. Đánh khăng, đánh xèng, đánh bi, đánh đáo...và đánh nhau. Người lớn có thể xem đít quần của bọn trẻ mà biết chúng vừa chơi trò gì ở phố nào về. Nhìn chung là an toàn. Không cần cấm mà cũng chẳng quản.

Những năm chiến tranh phá hoại, vỉa hè Hà Nội bâng khuâng vắng. Lại một lần nữa “Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội/ Những phố dài xao xác hơi may” (Đất nước-Nguyễn Đình Thi). Nhưng lần này thì chẳng có nổi một câu thơ nào hay đến thế. Thực ra lúc ấy Hà Nội cũng không đủ người để đi bộ trên vỉa hè. Người lớn sơ tán theo các cơ quan nhà máy. Đám trẻ sơ tán thỉnh thoảng được bố mẹ cho về thăm nhà ngơ ngác không nhận ra những vỉa hè sôi động trò chơi và bạn bè. Nhiều đứa vừa về đã nằng nặc đòi đi sơ tán tiếp. Mãi đến năm 1969, khi Mỹ chính thức ngừng ném bom đợt đầu học sinh mới được quay về những vỉa hè thân thương của mình. Nhiều đứa đã lớn phổng. Có thể mượn xe đạp người lớn dạo quanh Bờ Hồ xuôi xuống Hàng Bài, phố Huế tán gái. Đám con gái cũng vừa ở nơi sơ tán về đang ra sức tập tành lại tác phong yểu điệu phố phường. Bắt đầu bằng chiếc áo phin nõn cổ cánh bèo mập mờ gợi những đường cong. Quần “phăng” khuy cạnh bó sát như “Chị Nhung” trong phim.

Số còn lại dĩ nhiên vỉa hè. Năm năm sơ tán đã có nhiều đứa được sinh ra và lớn lên. Giờ ra chơi trước cổng trường đông nghịt. Tranh giành nhau từng ô đất trống bày trò. Chen lẫn những hàng rong ô mai, lạc rang, táo dầm, bánh gối, chín tầng mây, kẹo kéo và bi don don. Trẻ trai nhễ nhại đá cầu đá bóng. Trẻ gái nhảy dây chơi chuyền và mài những quả nhót đỏ lựng lên đầu gối cho hết vảy phấn. Vỉa hè trở nên chật chội không chỉ ở cổng trường. Vài chục mét lại một quán nước chè năm xu ngồi la liệt ghế gỗ con thấp tè sát đất. Thuốc lá cuốn giấy Con gà bó chục đựng trong những lọ thủy tinh rộng miệng. Chiếc điếu cày hút thuốc lào thửa mãi trong Ngọc Trạo, Thanh Hóa phát ra tiếng kêu giòn tinh gọi khách. Góc ngã tư nào cũng có một vài bác thợ sửa xe đạp án ngữ treo những chiếc lốp hỏng lên thân cây làm biển hiệu. Vá săm lốp, lau dầu, lộn xích, cân vành. Vài đứa trẻ thôi học cũng ra đường bơm xe. Ăn nhau ở chỗ đứa nào có cái bơm Nga nhãn hiệu Molotova mới đắt khách. Chúng nghĩ ra cách nhún bơm nhịp nhàng không mất sức và cũng là phù hợp với cân nặng trẻ con. Cái nắp chụp trên đầu bơm phải thay sáu tháng một lần vì bị cần bơm mài mòn rộng ngoác. Thế nhưng cũng có những đứa sớm tập nhiễm thói lừa đảo lăn lóc vỉa hè. Chúng cúi mặt chúm miệng xì hơi giả như tiếng van giun bị hỏng. Nhanh tay tháo đầu giun ra xiết mạnh vào miệng van. Giun thủng thật. Khách hàng phải thay. Đoạn ống chun làm giun van có giá bằng bốn lần bơm xe đạp.


Minh họa của Đỗ Phấn

Tối mùa hè cắt điện oi bức trải chiếu ra ngoài vỉa hè. Muộn hơn có thể mắc màn chống muỗi ngủ ngay tại chỗ. Vài ông tẩm quất mù cắp chiếu lang thang khắp thành phố cũng dùng vỉa hè làm tiệm massage không mái che của mình. Khách cởi quần áo dài làm gối nằm ườn trên những chiếc chiếu thâm sịt mồ hôi. Cũng xoa bóp, bẻ, vặn, “kiến bò”, “cò mổ” bì bạch không khác gì trong tiệm.

Mới đấy mà đã như xa lắc. Hình hài cái vỉa hè đã muôn phần đổi khác. Không còn được chia ra làm ba loại như trước. Tất cả đều đã được lát gạch nhiều kiểu dáng màu sắc. Rất tùy hứng. Khát vọng tự do hình như dân phố đạt được đầu tiên là ở vỉa hè. Dân giàu có chọn gạch cho vỉa hè trước cửa nhà mình chẳng giống ai. Lại hứng chí bày thêm hai chậu cây lộc vừng tổ bố giữa lối đi. Thành phố cho lát đá xanh thí điểm vài con phố xám xì thấp gần sát mặt đường nhựa. Khổ nhất các cụ già “lỡ bước sang ngang”. Ngật ngưỡng giật mình loạng choạng. Độ cao vỉa hè và độ nhám của gạch lát đã ăn sâu trong trí nhớ các cụ gần hết cuộc đời nay chẳng dùng vào việc đi đứng được nữa.

Vỉa hè Hà Nội bây giờ rất hiếm trẻ con chơi đùa. Một phần do trẻ con ít đi và phần lớn do không còn chỗ nào đủ trống cho chúng chạy nhảy. Trường học khóa cổng im ỉm suốt trong giờ học sinh ở trường. Hàng quán lè phè đuổi đâu chạy đấy nhưng thật lạ vẫn ngày càng nhiều lên. Xe máy ngổn ngang chiếm trọn vỉa hè những phố không cấm. Tang ma cưới xin tự do dựng rạp căng lều như ở làng. Khai trương khánh thành hàng quán nhà cửa còn có cả ban nhạc sống và các vũ nữ cầm quả bông ngoáy mông loạn xạ giữa thanh thiên bạch nhật vỉa hè.

Sợ nhất cái phát minh vĩ đại mang tầm thế kỉ là chiếc biển sắt ba chân sơn đỏ dựng trên vỉa hè đề dòng chữ “Vỉa hè dành cho người đi bộ”. Nó ngang nhiên chiếm chỗ trên vỉa hè và cũng cản trở ít nhất hai người nắm tay nhau đi bộ?

7-2012

Thứ Năm, 24 tháng 10, 2013

Rừng mái rừng mơ (phần kết)


xii

Nửa năm sau khi trở lại Hà Nội, Long nhận được điện thoại của Amy. Giọng bà như reo lên trong điện thoại. Amy muốn mời Long và Xuân đi ăn bún bò Nam Bộ ở phố Hàng Điếu. Bà đã nói được cả số nhà lẫn tên phố rành rọt bằng tiếng Việt. Long xấu hổ khi nghĩ nửa năm qua mình chẳng tiến bộ được gì về khoản ngoại ngữ.

Tại sao Amy không rủ thẳng Xuân – người quen trực tiếp của bà – mà lại thông qua Long? Long bỗng thấy khó nói với Xuân. Không hiểu cô có phiền không nhỉ? Ba tháng trước, nhân dịp sinh nhật, Xuân mời Long cùng mấy người bạn đi ăn. Một tiếng trước giờ hẹn, mưa như trút nước. Mỗi lần mưa to là một dịp những con đường đi qua những khu trũng của Hà Nội có thể ngập tới cả mét. Khó khăn lắm Long mới đến được chỗ Xuân hẹn. Không có ai. Long nhìn đồng hồ, cậu muộn 5 phút. Long gọi điện cho Xuân. Xuân không trả lời. Một phút sau có tin nhắn. “Chị rất bực mình. Em về đi, đừng đến nữa.”

Sau này Long mới biết, chỉ có một người bạn của Xuân đến sớm và kịp đi trên đường khi chưa ngập sâu. Mọi người cố gắng gọi cho Xuân để tổ chức lại nhưng cô không trả lời bất cứ ai. Mọi người không lấy làm lạ trước thái độ ấy, Xuân vốn nóng lạnh bất thường. Nhưng ai nấy mang cảm giác nặng nề. Còn Long, trên đường về, cậu vứt bó hoa vào một thùng rác ven đường. Bó hoa rơi hụt ra ngoài, bị dòng nước cuốn đi xuống rãnh. Những bông hoa lềnh bềnh lẫn với những bao ni lông rác. Tại sao hôm ấy trời mưa thế mà cậu vẫn nhất định mua hoa nhỉ?

Long quyết định nhắn tin cho Xuân thông báo cái hẹn của Amy. Xuân bất ngờ gọi lại. Giọng cô tỏ ra dịu dàng, “ừ, chị có nhận mail của Amy mấy tháng trước. Bà ấy khen em lắm. Khen dễ thương mà rất ga lăng. Chị nói thật đấy, vì em đúng là vậy.”

“Hay là em làm phi công lái máy bay siêu già nhỉ?”

Xuân cười khô khan. Lâu rồi chẳng có chuyện gì vui. Cô thì già đi, Long thì lần nào cũng chỉ có mỗi chuyện than vãn về cuộc sống không tìm được ai tử tế trong giới. Cũng dễ đến ba tháng rồi hai đứa không gặp nhau. Từ cái hôm sinh nhật vớ vẩn ấy. Thật may cả hai đã làm lành, nhất là cô không phải kiểm điểm lại cơn bốc đồng của mình.

Cuộc gặp gỡ vui vẻ hơn mong đợi. Amy sôi nổi khoe với hai đứa là bà đã bắt tay vào dự án mới, và mới in sách ở nhà xuất bản Thế Giới. Amy mời cả hai đến dự buổi nói chuyện ra mắt sách của bà ở một câu lạc bộ cuối tuần này.

Long nhận trách nhiệm đèo Amy về khách sạn. Amy vẫn trong trạng thái hào hứng, đột nhiên đặt tay lên eo Long. “Ồ, hình như em hơi béo lên thì phải.”

Long bỗng ngượng nghịu và xấu hổ. Cậu không nói gì cho đến lúc đưa Amy về đến cửa khách sạn. Long chỉ nói chào rồi phóng xe đi. Long bỗng thấy chán nản. Không phải vì sự vô tình bất ngờ của Amy, mà nửa năm qua, cậu đã để thời gian trôi vô ích.

Tối hôm Amy nói chuyện, Long đi một mình. Xuân nói cô không hâm mộ mấy thứ sách vở, rồi lại gặp sếp hoặc đối tác ở đấy, gặp nhau công việc đã đủ ớn rồi. Long mua một bó hoa ở Cửa Nam. Lúc lấy ra khỏi túi nilon đựng, cậu sơ ý làm một bông bị gãy. May sao, bông này chưa bị rời khỏi cuống, cậu ngần ngừ rồi ấn nó xuống sâu một chút. Có còn hơn không.

Hóa ra cậu là người duy nhất tặng hoa cho bà. Amy có vẻ xúc động thật sự khi nhận hoa. Cử tọa độ hai chục người, đại bộ phận là người phương Tây. Vài người phụ nữ trung niên nhìn Long ngưỡng mộ. Bó hoa để bên cái bàn rất trang trọng, cạnh mấy cuốn sách.

Amy giới thiệu một gã trai, có lẽ hơn Long vài tuổi. Hơi khó đoán quan hệ của hai người. Amy nói đây là người quản lý của câu lạc bộ. Gã đàn ông ăn mặc bóng bảy, kiểu bóng bảy của những gã trai chuyên nghề phục vụ. Bàn tay giơ ra bắt mềm mềm. Không chắc là bóngnhưng cũng không nam tính cho lắm. Long bỗng dưng thấy ghen chẳng hiểu vì đâu.

Kết thúc buổi nói chuyện, Amy đứng lại nói chuyện với Long. Bỗng dưng bà hỏi, “chừng nào em lập gia đình?” Long hoàn toàn không chờ đợi một câu hỏi thế này. Cậu vẫn nghĩ người Tây luôn né tránh việc hỏi han gia cảnh và hôn nhân. Long lúng túng, em còn muốn tập trung vào sự nghiệp và đi học.

Amy đột nhiên nhìn đăm đắm vào mắt Long. “Tôi chỉ muốn em hạnh phúc.”

Long nghĩ là mắt bà hơi rơm rớm. Mái đầu bạc rung rung dưới ánh đèn compact nhờ nhờ. Long cúi xuống, nén cảm giác ngùi ngùi mà cậu không muốn có.




xiii

Đã năm ngày nay, mẹ Xuân đi lễ với bản hội cô Liễu chưa về. Sau một tuần cả nhà chỉ nhận được hai cú điện thoại của bà gọi chớp nhoáng báo rằng đi thích lắm, tuần sau sẽ về. “Đợt này lễ gì mà nhiều thế hả mẹ?” “Lễ quan Tam Phủ, nhưng lần này cô Liễu khao to. Cô Liễu mới lấy được bằng quản trị kinh doanh của Mỹ hẳn hoi. Giỏi thế.” Xuân không hiểu làm thế nào mà cô này có bằng Mỹ trong khi cô đi du lịch có đúng mấy tuần, mà đi chơi khắp các thành phố lớn, lại còn hầu đồng cho Việt kiều bên ấy. Tín ngưỡng dân gian muôn năm, hòa giải được cả người Việt hai bờ vĩ tuyến. Mẹ Xuân kể nguyên hành lý của cô bốn vali thì hai cái đã chở khăn áo để hầu rồi. Nghe Xuân kể lại, Long cười. “Trên mạng nó quảng cáo mấy trường vớ vẩn, chả phải qua Mỹ cũng có bằng hẳn hoi luôn.”

“Em chấm dứt với Mạnh rồi à?”

“Ừ. Chán thật. Em nghĩ Mạnh không phải người xấu. Nên em cũng tiếc.”

“Chị nghĩ Mạnh không phải người đủ tốt cho em. Đừng tiếc.”

Long ngần ngừ một lúc. Nên kể cho Xuân nghe không, chuyện cậu đã đi vào một sauna cho nam giới và thấy Mạnh trong ấy để quan hệ tình dục với những thanh niên lạ mặt. Rồi chuyện cậu đã ngu ngốc cãi cọ với Mạnh. Cậu cũng vào đấy với ý đồ tìm bạn mà, cậu không thể trách cứ Mạnh đã phản bội được. Rõ ràng là hai đứa trước đó coi như chia tay nhau rồi. Chuyện có vậy thôi nhưng vẫn rất đau.


**

Gần hai tuần trôi qua, vẫn chưa thấy mẹ về. Cả nhà Xuân phát hoảng. Bố Xuân thở ngắn than dài, chỉ biết rên rỉ và cắm cảu nhắc đến mẹ. Chị Thu thì tự trách mình đã không đi cùng mẹ.  Xuân quyết định đi tìm, có Long làm bạn đồng hành. Hai đứa đi xe máy lên vùng Phà Lũng, nơi có đền quan Tam Phủ.

Đền này vài năm nay cồn lên phong trào phát ấn. Một vị chúa Trịnh thời Lê Mạc phân tranh khi tạm lánh về đây đã tìm cách thu phục nhân sĩ bằng cách đóng ấn triện vào những thẻ bài để họ lấy đó làm giấy thông hành tìm về phò minh chủ. Ba thế kỷ không ai nhắc đến, bỗng một ngày khi ngôi đền nâng tầm quốc gia, ban quản lý tìm ra được một dòng trongToàn thư nhắc đến việc đóng ấn. Thế là thần thiêng nhờ bộ hạ, cơn cuồng say thần thánh tiếp sức cho một hành vi được vật thể hóa, lôi kéo quan chức và quần chúng xa gần. Cô Liễu có vẻ như đã “đỗ đạt”, nên chắc đợi lấy được mảnh bùa đóng ấn này cũng không có gì lạ.

Con đường khúc khuỷu, gồ ghề, có chỗ là đường đất, không có gì hứa hẹn tiện nghi, quả thực đáng ngạc nhiên cho một nghi lễ tín ngưỡng đang thời thượng. Hai bên toàn những đồi trồng keo trông hoang vu rợn người, màu xanh tối tăm không chút niềm nở.

Cả hai đứa bất ngờ khi xe ngoặt qua một khúc quanh. Bên một cái dốc, cả một khu đất trống nhộn nhịp xe hơi. Một cái biển xi măng kẻ sơn thô kệch, màu rờ rợ mấy chữ “Dốc Cô Tây”. Cái tên kỳ lạ. Phía trong là một cái miếu nghi ngút khói hương, tiếng nhạc chầu văn í éo. Xuân và Long rẽ vào quán nước ngồi nghỉ.

Tám năm trước, một đoàn khách Tây ba lô đi leo núi qua đây. Ngọn núi cao nhất nhì Đông Dương, chỉ kém Phansipan hay Tây Côn Lĩnh, nằm trong một khu bảo tồn thiên nhiên. Khi quay về, một cô gái hình như người Canada đã trượt chân ngã xuống vực. Tổ chức cứu hộ phải đưa trực thăng lên quần thảo hai ngày trời nhưng không tìm thấy xác. Dân tình một đồn mười, mười đồn trăm, ai cũng nói chết trẻ là thiêng, thế là mọc lên cái miếu và cái tên Dốc Cô Tây. Bây giờ dốc được làm đường rộng ra chứ không còn cheo leo như ngày xưa. “Bọn Tây có đứa nào nghiên cứu vụ này chưa nhỉ?” Xuân lên xe, ngoái nhìn cái miếu như cái chuồng gà, màu đỏ rờ rợ đi cùng màu xanh mơn mởn của lá rừng gây cảm giác man dại.

Đến đền chính, Xuân và Long ngỡ ngàng với quy mô của lễ hội. Đến người có “thâm niên” như Long cũng không thể tưởng tượng được. Xe hơi đậu nườm nượp trong bãi. Những cái xe sang cạnh những xe mười sáu chỗ của các bản hội đồng cốt, xe nào cũng treo cờ xí xanh đỏ. Có cả xe biển số xanh. Hai đứa đi len lỏi trong những đám xem hầu, tiếng nhạc inh ỏi khắp nơi. Đông đến nỗi người ta còn mở cả cung ở ngoài sân. Những người đàn ông bệ vệ mặc váy áo mắt lúng liếng, nhảy chồm chồm trong giá chầu Bé, cô Bé hay uốn éo chèo đò, múa quạt. Những người đàn bà khệnh khạng khăn đóng áo dài quan đệ Ngũ, ông hoàng Mười, phì phèo thuốc lá, múa gươm ầm ĩ. Đám đông ngất ngư say hương mê mị.

Đúng mười hai giờ đêm, lễ phát ấn mới bắt đầu. Khác với ấn đền Trần nặng về quan tước, ấn ở đây được giải thích là của vị chúa cùng thời Liễu Hạnh, nên có tính nữ, thuận cho buôn bán.

Tiếng cồng báo hiệu vừa dứt, những người quản lý cố gắng ép đám đông thành hàng, nhưng vô phương. Đám đông cuồn cuộn như len vào nhau, như mê sảng, ai nấy hướng đến dãy bàn có ông thủ từ đội khăn đỏ đang ra sức đóng một con dấu lên những mảnh giấy mỏng như tờ sớ màu vàng có những họa tiết đỏ. Có ông nào đó đắc thắng giơ tờ sớ đã được đóng dấu lên, len qua hàng người ngược ra ngoài. “Xoạt!” Một bàn tay đã giật lấy nó. Hai bàn tay khác thừa cơ nhao lên. Cảnh tượng hỗn loạn. Tiếng chửi bới, tiếng gào thét lanh lảnh trên cái nền âm thanh váng óc. Đám đông cuồng nộ vì sự chờ đợi, vì khao khát thỏa mãn cơn say công quả của mình đang cộng hưởng với hàng nghìn người xung quanh. Xuân kinh hãi không biết mẹ mình có chết bẹp trong đám người mênh mông kia không.

Xuân và Long lách qua những hàng người kiên nhẫn đứng đợi ở vòng ngoài. Một gã đàn ông miệng hôi rình, mắt đỏ đòng đọc, giật tay áo Long. “Hai em có mua ấn không? Anh để lại, giá hữu nghị.” Hai đứa lắc đầu, gạt ra. Một người đàn bà trung niên vẻ dân thành thị mắng xơi xơi một ông có lẽ là chồng. “Trời ạ, đây là ấn rởm rồi. Ông mua ở ngoài kia chứ gì? Tổ sư bố nhà nó, tám trăm nghìn, nó cầm tiền của người ta thế á, rồi quan Tam Phủ sẽ vật cả lò nhà nó, con nó, cháu nó, ba đời nhà nó mãn kiếp cũng không ngoi ngóc lên được.” Ông chồng xấu hổ, gàn vợ. “Thôi thôi, mấy trăm bạc có bằng một lần mình đi ăn đâu. Người ta phải làm thế thì cũng đã là khổ lắm rồi.” Mụ đàn bà vẫn chưa chịu thôi, vỗ phạch cái vào mông. “Khổ, khổ cái…” Chừng như thấy mình quá lố, bà ta im bặt, quay ngoắt đi.

Tìm mãi, cuối cùng hai giờ sáng Xuân và Long mới đến được một cái đền ở tít sâu trong núi, nơi mẹ Xuân đang đắm đuối xem lễ, tay giữ khư khư tờ sớ đã được đóng dấu. Xuân lúi húi chen vào giữa những người đàn bà đang mê muội vì hưng phấn và cả vì buồn ngủ, lấy tay giật vai áo mẹ. “Ơ, con! Mày đi thế nào mà quan Tam Phủ chỉ lối hả con?” Xuân nghiến răng. “Mẹ ra đây!” Cô vội bước ra sân trước khi kịp gây chú ý cho đám con nhang đệ tử.
Xuân đưa mẹ ra một cái lán nghỉ. Mẹ Xuân mắt cứ sáng như sao, gần như chỉ nói những điều đồng bóng, nhiều khi như trong trạng thái mê sảng. “Tí nữa vào xin lộc giá cô Chín để còn lấy chồng con ạ.” Đột nhiên mẹ Xuân ngất đi. Có vẻ như bà bị hạ đường huyết. Xuân sợ mất vía, vội nhờ chủ quán pha cho cốc nước chè đường nóng. “Để bác nghỉ rồi sáng ra hãy về chị ạ.” Long thận trọng đề nghị.

“Không. Phải về luôn. Không thể ở chỗ bờ bụi này được.”

Long ra taxi, đòi đưa về thẳng Hà Nội. Gã tài xế nhìn thấy cảnh tượng mẹ Xuân mềm oặt, sợ xúi quẩy, không chịu chở. Xuân gọi cho Minh. Sau hai hồi chuông, Minh trả lời. Minh đang ở Sài Gòn, nhưng sẽ nhờ đứa bạn. Xuân từ chối, nói thôi em lo được rồi.

Long liều bấm số gọi Mạnh nhưng số điện thoại không liên lạc được. Long không thể giấu được ý nghĩ là thấy nhẹ cả người. Có thể Mạnh đã đi Úc.

Mẹ Xuân đã tỉnh lại nhưng vẫn rũ rượi, cái sớ đã nát nhũn ra vì mồ hôi. Xuân bấn loạn, ra sức xoa dầu vào thái dương mẹ. Cô tuyệt vọng nhìn quanh tìm cách xem ai có khả năng cho đi nhờ. Long chợt nhìn thấy cậu Ngọ. Long lùi bước đứng khuất sau cái cột. Ông ta chắc đang lên xe về, vẻ mặt điềm tĩnh như thoát tục, rảo bước tránh những người đang nằm ngồi vạ vật dọc lối đi. Ba bốn đệ tử khệ nệ mang vác đồ lễ theo sau. Có hai cậu trai trẻ tóc nhuộm theo sau, ăn mặc đỏm dáng, đeo túi da Gucci, dáng vẻ quàu quạu đành hanh như hai cô gái già, vẻ như mệt mỏi uể oải vì thiếu ngủ.

Những đám người giàu có kênh kiệu giữ chặt những đôi giày da và túi xách đựng đầy tiền mới cứng để dâng lễ và phát lộc. Họ dè chừng đám dân nghèo xung quanh đổ xô đến quanh các chiếu hầu, những người này nhặt nhạnh những đồng tiền lẻ của các giá hầu tán lộc thập phương. Đa phần là bà già và trẻ con. Những bà già ngồi xổm hai bên các cung hầu, họ mỗi lúc áp sát hơn. Chốc chốc, các đồng thầy hay đám phụ hầu lại quầy quậy đuổi họ giãn ra. “Cứ đứng ám hết cả vào thì còn làm ăn gì. Toàn những mùi hôi hám, uế tạp. Đứng ra đằng kia, rồi ai cũng có lộc cả.” Mỗi lần vào giá tung tiền lộc, các ông bà đồng lắc lư chán, cầm những tập tiền hai nghìn hay năm nghìn dứ dứ múa may rồi tung lên. Mạnh ai nấy lao vào nhặt nhạnh. Bà chủ quán chép miệng. “Hai nghìn là về mua được mấy bìa đậu rồi.”

Trời tang tảng sáng, những đám hầu đã vãn bớt. Ở chỗ phát ấn đêm qua, cảnh tượng như sau cơn bão. Nền gạch đây đó bị xới tung lên. Những viên ngói vỡ lỏng chỏng ở hai tòa giải vũ tả hữu. Những người đàn bà còng lưng nhặt nhạnh tìm tòi chút gì sót lại, những đồng tiền lẻ giắt ở kẽ những cánh cửa bức bàn hay bờ tường. Bọn trẻ con nhà quê mắt đờ đẫn nhìn những túi đồ lễ đang khuân kìn kìn theo các đám hầu đã xong. Vài người vứt cho bọn trẻ mấy túi hoa quả hay bánh kẹo, cả đám xông vào giành giật. Một người đàn ông có tuổi mặc áo bộ đội, mặt thành kính, khẽ trải tờ sớ đã đóng dấu ở bậc thềm tòa đại bái, phủ phục vái lạy. Gió lay lay những cái cờ, không khí tê buốt từ dưới thung lũng thốc lên. Những bóng người lủi thủi đi lại như những hồn ma.

Cuối cùng Xuân và Long cũng nhờ được một nhà đi lễ có xe về Hà Nội. Những chiếc xe lặng lẽ nối đuôi nhau trong màn sương trắng đục của núi rừng. Khung cảnh càng về xuôi càng rõ nét và trần tục hơn.

Chiếc xe về đến thành phố lúc ban trưa, nắng chói chang trên những rặng cây và những mái nhà chật chội. Xe bật máy lạnh mà Xuân vẫn thấy oi bức. Mọi người đã sốt ruột nhấp nhổm chuẩn bị đồ đạc sẵn xuống xe sau một ngày đêm vạ vật xa nhà. Người lái xe vặn to tiếng đài FM. Tiếng phát thanh viên dự báo chiều nay bão sẽ về./.

Thứ Hai, 21 tháng 10, 2013

Đằng sau những câu hát về Hà Nội

PL. TPHCM - Một cách nói chuyện sâu sắc về Hà Nội qua những bài hát, cuốn sách kể về những người đẹp với những mối tình đã trở thành tình khúc, về thời tiết, thiên nhiên và cả những biến đổi thời cuộc của Hà Nội trong các nhạc phẩm quen thuộc.

Sau bốn cuốn tản văn về Hà Nội, tác giả Nguyễn Trương Quý lại tiếp tục suy ngẫm về Hà Nội bằng góc nhìn âm nhạc với cuốn sách Còn ai hát về Hà Nội.

Một Hà Nội diễm lệ và kỳ ảo

Phóng viên: Hà Nội trong các ca khúc có gì thú vị và mới mẻ so với Hà Nội hiện thực, thưa anh?

+ Tác giả Nguyễn Trương Quý: Hà Nội hiện lên diễm lệ và kỳ ảo hơn trong ca khúc. Cũng có thể nói là ca khúc đã “make up” kỹ lưỡng cho hình ảnh Hà Nội. Dù thực tế, Hà Nội có bụi bặm, thời tiết khắc nghiệt: mùa hè thì nóng nực nhưng khi vào bài hát thì: Áo màu tung gió chơi vơi… Nước hồ là ánh gương soi, nắng hè tô thắm lên môi… (Hướng về Hà Nội - Hoàng Dương). Hoặc ta cũng thấy hình ảnh một dãy phố nghèo nhưng nên thơ với các hình ảnh đẹp: mái ngói buồn nâu, nhà ga cũ, cà phê đắng trong Phố nghèo (Trần Tiến). Những bài hát với một hệ thống tính từ hoa mỹ đã làm nên một Hà Nội đẹp hơn, lung linh hơn.

Tuy nhiên, vẫn có thể thấy được những phản ánh hiện thực của đời sống Hà Nội suốt trăm năm qua, từ khi những bài hát đầu tiên ra đời ở thể hát nói, dân ca, cho đến tân nhạc. Ví dụ: Phản ánh việc đánh bạc: Tiếng hô tiếng nhắng um tùm. Lên lầu xem điếm, tổ tôm đánh bài… (Chầu văn Hà Thành 36 phố phường).

Đến thời chủ nghĩa hiện thực XHCN chi phối nghệ thuật thì ca khúc vẫn khoác lên mình tà áo đẹp của văn chương, của biểu tượng thẩm mỹ. Ví dụ: Đèn đỏ đèn xanh với ánh nắng nhảy múa như ngàn hoa… Chào cuộc sống mới từ nơi ngã tư này. Hình ảnh của quê hương vươn mình đấu tranh dựng xây … (Từ một ngã tư đường phố - Phạm Tuyên).

Bìa bản nhạc Cô hàng hoa, một trong những phụ bản màu của cuốn sách Còn ai hát về Hà Nội. (Ảnh do nhân vật cung cấp)

Tô đậm vẻ lịch lãm, duyên dáng của người Hà Nội

. Cuốn sách giải thích các ca khúc theo thời gian của từng thời. Và không khí của Hà Nội từng thời đó trong âm nhạc thì như thế nào?

+ Chẳng hạn thời Thăng Long, Kẻ Chợ thì chúng ta chỉ biết qua những ca khúc sau này, như một sự tái hiện những câu chuyện lịch sử (trừ một số bài chầu văn hay ca trù của thời cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 viết về hiện thực đương thời). Tuy nhiên, có thể thấy sự đa dạng của một đô thị hiện đại trong các ca khúc ngay từ thời đầu tân nhạc. Nghe ca khúc, có thể hình dung về cách ăn mặc của phụ nữ thời đó: Với Văn Cao là: “Tà áo em rung theo gió nhẹ thẹn thùng ngoài bến xuân”; với Tô Vũ: “Tà áo hương nồng, mắt huyền trìu mến sưởi ấm lòng anh”; với Hoàng Dương là: “Áo màu tung gió chơi vơi”… Qua ca khúc ta cũng có thể thấy thời tiết, tình ái, sự biến động thời cuộc… Đặc biệt là vẻ lịch lãm, duyên dáng trong ứng xử, tình cảm và thái độ sống của người Hà Nội được tô đậm trong các thời đã qua. Những điều đó thể hiện qua nhiều nhạc phẩm như Cô láng giềng, Tà áo xanh, Dư âm

. Trong thời kỳ âm nhạc nào không khí Hà Nội là đặc trưng nhất, thưa anh?

+ Mỗi thời kỳ có cái hay riêng. Thời tiền chiến thì phong phú về câu chuyện, vì các ca khúc khi ấy nặng tính tự sự, kể lể, tựa như những tản văn hay truyện ngắn: Buồn tàn thu, Trương Chi, Cô hàng cà phê. Thời chiến tranh lại có cái vẻ bi tráng, rắn rỏi, nhiều sáng tạo vừa ngẫu hứng vừa chỉn chu. Thời sau thì có tiết tấu mới mẻ hơn, phiêu diêu hơn.

Tôi thích không khí Hà Nội của những năm 80. Bây giờ nghe lại về thời của những thay đổi ban đầu sau những năm tháng dài chiến tranh và nghèo khó, con người cựa quậy, không gian Hà Nội cựa quậy. Nó bỡ ngỡ mà mê đắm. Cũng có thể vì tôi đã cùng lớn lên với những không khí ấy.

Nhạc sĩ Hà Nội: Lãng mạn đến chết

. Đằng sau những giai phẩm lãng mạn chắc hẳn anh khám phá nhiều bí mật về mối tình của các nhạc sĩ? 

+ Một trong những nhạc sĩ có nhiều bí mật về những cuộc tình là Đoàn Chuẩn. Những năm 1950, ông có mối tình với một nữ ca sĩ. Nàng là nguồn cảm hứng để ông viết một tình khúc đặc biệt nhưng ít được phổ biến. Ca khúc ban đầu có tên Vàng phai mấy lá, được nhạc sĩ viết tặng riêng cho người đẹp vào năm 1955. Nhưng cả hai người đều đã có gia đình. Người đẹp ấy đã từ chối và xé bản nhạc ấy đi. Bài hát sau đó còn có tên Bài ca bị xé hoặc Vĩnh biệt. Đoàn Chuẩn từng có ý định khi chết thì đắp bản nhạc ấy lên mặt. Cho đến khi về già, ông vẫn giữ được sự mê đắm, lãng mạn trong tình cảm.

Một lần gặp nhạc sĩ Đoàn Chuẩn, khi đó ông đã yếu và không nói chuyện được nhiều, ông có cho tôi xem tấm ảnh một người xưa. Ông kể đó là một cô văn công Hà Nội. Nhưng khi thấy vợ ông đi vào, ông nhanh tay ụp tấm ảnh xuống. (Cười)

. Vậy theo anh, Hà Nội của nhạc sĩ nào là ấn tượng nhất?

+ Tôi đặc biệt dành thiện cảm cho Hà Nội của Hoàng Giác, Đoàn Chuẩn - Từ Linh thời những năm 1940-1950 và Nguyễn Cường, Trần Tiến sau này. Dĩ nhiên nhiều nhạc sĩ khác hay bài hát cũng rất hay, như Người Hà Nội của Nguyễn Đình Thi hay Hà Nội niềm tin và hy vọng của Phan Nhân, Bài ca Hà Nội của Vũ Thanh…, là những đỉnh cao có sức khái quát cho một thời, bước ra khỏi khuôn khổ một ca khúc. Đấy là những trang sử ký về Hà Nội. Tôi cũng thích đôi nét chấm phá Hà Nội của các nhạc sĩ tha hương như “Ta nhớ thấy em một chiều chớm thu, dáng yêu kiều của ngày đã qua. Thướt tha bên hồ liễu thưa. Lắng tiếng tiêu hồn của ngàn phím tơ, thiết tha thề ước, mối duyên hờ đã phai mờ...” (Vũ Thành). Những lời ca ấy đẹp vì nỗi niềm dành cho Hà Nội của họ có sự chắt lọc, duy mỹ mà vẫn có gì mộc mạc.

. Trong sách của anh có một Hà Nội xô bồ chưa được đưa vào âm nhạc, đó là sự chừng mực của các nhạc sĩ hay là sự chừng mực của anh?

+ Thật ra đa số ca khúc Hà Nội mang màu sắc trữ tình và hào sảng. Số ca khúc phản ánh trực diện “Hà Nội xô bồ” khá ít và cũng chưa sắc nét. Thời tân nhạc cũng đã có những ca khúc trào phúng về đời sống đô thị. Chẳng hạn như: “Ơ, rừng mái rừng me. Cô mặc áo thắm, cô che dù hồng. Tập tầm vông. Tay xách ví đầm, dắt chó bẹc giê” (Cô Tây đen - Vũ Cận).

Nhưng các bài hát này chưa đi vào kho ký ức của cộng đồng như đa số các bài hát lãng mạn.

Tôi nghĩ là dòng ca khúc về Hà Nội đã hoàn thành nhiệm vụ phản ánh hiện thực Hà Nội những thời trước. Còn hiện tại, Hà Nội cũng có nhiều biến động, cảm xúc của người nhạc sĩ cũng bị vơi đi và ít có những bài hát hay phản ánh hiện thực Hà Nội hiện tại. Tất nhiên khuôn khổ cuốn sách của tôi cũng không đủ để nói hết các góc cạnh Hà Nội. Cuốn sách này cũng chỉ sử dụng được một phần nội dung những gì tôi đã viết thông qua cây cầu ca từ những bài hát về Hà Nội.

. Xin cảm ơn anh.

Còn ai hát về Hà Nội giới thiệu các ca khúc gắn với từng giai đoạn lịch sử của Hà Nội, trải từ thời Thăng Long, Kẻ Chợ, thời Đông Dương đến thời nhạc trẻ. Sách có tư liệu quý hiếm của các nghệ sĩ thời đầu tân nhạc do tác giả sưu tầm và biên tập. Sách tặng kèm phụ bản màu và CD 12 ca khúc đặc sắc về Hà Nội qua các giọng ca kinh điển.

Trà Giang

Thứ Sáu, 18 tháng 10, 2013

Hà Nội và giới trẻ đô thị (review tập truyện)

Sau bài điểm sách của Lâm Vũ Thao, cùng ngày là một bài của một nữ nhà báo trẻ. Mình nhắn tin cảm ơn về bài review "hấp dẫn lắm". Bạn nhắn tin "Anh khen hơi quá. Em thấy sách thú vị thì viết. Giá mà được viết dài hơn... Thế hệ này, xã hội này, tâm tư như thế. Đồng cảm ghê gớm anh ạ."


Tiền Phong - Nguyễn Trương Quý chọn cái tên Dưới cột đèn rót một ấm trà cho tập truyện ngắn mới nhất, sau vài năm liền toàn viết tản văn. Không biết có ảnh hưởng gì không mà cái tên cũng đậm chất tản văn.


Dưới cột đèn rót một ấm trà là cái tên chung, không phải là tên truyện ngắn nào trong tập. Cái tên như mô tả một khung cảnh quen mắt của đô thị bình dân: làm người đọc liên tưởng đến một quán trà trên vỉa hè cạnh cột đèn đường. Đô thị bình dân thân thuộc nhất với cảnh tượng đó, không nơi nào khác chính là Hà Nội.

Hà Nội đương đại chính là chủ đề mà Nguyễn Trương Quý mải miết theo đuổi trong sự nghiệp viết lách. Các cuốn tản văn của anh đều xoay quanh Hà Nội và đô thị đương đại nói chung. Tập truyện này cũng không phải là ngoại lệ.

Đọc truyện ngắn, thường độc giả có quyền không đọc theo thứ tự. Xếp ở cuối sách là truyện Rừng mái rừng mơ dày đến gần nửa cuốn sách, 122 trang, có thể coi là truyện dày chứ không còn là truyện ngắn nữa. Và nếu so sánh với các truyện khác chỉ hơn 10, 20 trang thì thấy rõ độ đậm đà của tác phẩm này.

Rừng mái rừng mơ viết về nhân vật chính là người đồng tính. Long, chàng trai đẹp, nhang nhác ca sĩ Hàn Quốc nhưng được cái “đầy ắp sức sống và mời gọi” (trong mắt nhân vật nữ tên Xuân). Truyện mở đầu khi Long và Xuân gặp nhau, cả hai đều bị mẹ ép đi cắt tiền duyên. Về sau tập trung vào mối tình đầy duyên nợ của Long với Mạnh - người lấy vợ nhưng vẫn giữ tình cảm với Long.





Với truyện dài này, “bàn phím” của Nguyễn Trương Quý động chạm khá nhiều vấn đề: tình yêu và tình dục đồng giới, người trẻ độc thân ở đô thị, tôn giáo, hầu đồng, giáo dục…

Có thể kể tên vài truyện ngắn khác có lối kể hoặc tình tiết độc đáo: Câu chuyện bắt đầu từ tầng 10 (kể về tai nạn rơi trúng dây điện của một người đàn ông, về sau trở thành câu chuyện lãng xẹt trên báo mạng), Cười đùa đàn địch xôn xao (truyện này kể bằng giọng như đang say), Người mắc chứng tiền đình (nói về một vụ scandal thu hồi sách - ngành mà chính tác giả là người trong cuộc)…

Tất cả diễn ra trong không gian nội và ngoại thành của Hà Nội. Nhân vật chính là giới trẻ đô thị, một nhóm nhân vật mà các nhà văn thuộc thế hệ Nguyễn Trương Quý, già hơn và trẻ hơn một chút, rất quan tâm.

Có lẽ điều hấp dẫn các nhà văn nhất chính là những mâu thuẫn tồn tại trong nhóm nhân vật này. Họ có cuộc sống vốn sẵn đủ đầy hoặc có năng lực và tự làm ra tiền. Ở họ không có những nỗi buồn thiếu thốn và thiệt thòi như trong các trang văn về miền quê hoặc người miền quê lên thành phố. Nhưng trong tâm hồn của những người trẻ này là các khoảng trống toang hoác. Có thể do hoàn cảnh, có thể do họ tự tạo ra.

Có cả một thế hệ đã và đang sống theo cách đó. Không ngạc nhiên khi họ thấy buồn và thỉnh thoảng lại cô đơn. Làm mọi thứ theo trào lưu. Với Long là vác máy ảnh đi chụp một cô bạn gái có vẻ ngoài giống Hàn Quốc ở bên ngoài khách sạn Hilton. Với Xuân, là đi phượt cùng nhóm bạn ở những nơi mà ai cũng đến: hoa cải, tam giác mạch, cao nguyên đá… Tự đi, (chụp ảnh) tự sướng, rồi về tự chán.

Trích truyện Rừng mái rừng mơ:
“Chị cũng phải có niềm vui nào chứ”.
“Phượt. Chụp ảnh. Hết cánh đồng hoa cải vàng đến tam giác mạch, hết cao nguyên đá đến Phượng Hoàng cổ trấn. Hè thì sen, thu thì cúc. Bố khỉ, cả một thế hệ tự sướng”.
… “Bà cô khó tính quá”.
“Có lẽ vậy. Đứa nào nhẫn nhịn, dễ chấp nhận có khi happy hơn. Chán nhất là ai cũng biết thế, cuộc đời nào cũng thế, mà có thoát ra được đâu”.

HẠ MI

Thứ Năm, 17 tháng 10, 2013

Khi Quý nghỉ chân (review sách)

TT - Có lần trả lời phỏng vấn, Nguyễn Trương Quý nói anh chọn tản văn vì khả năng càn lướt hiện thực của nó. Không rõ Quý chọn tản văn hay tản văn chọn Quý, mà nhắc đến các cây bút tản văn hiện thời, không thể không nhắc đến cái tên Nguyễn Trương Quý.


Một buổi trò chuyện về cuốn sách tại Hà Nội. Sách do NXB Trẻ ấn hành - Ảnh: Bùi Hoài Nam Sơn

Quả thật, trong thể loại tản văn, Nguyễn Trương Quý hiển nhiên đã xây dựng được một "thương hiệu". Là chủ nhân của bốn tập tản văn đình đám, Nguyễn Trương Quý đã chứng tỏ anh có khả năng dùng tản văn để càn lướt hiện thực điệu nghệ như thế nào.

Tuy nhiên, lần này, con người của tản văn ấy đã rời bỏ thể loại quen thuộc để bước chân sang truyện ngắn - một địa hạt mới, chấp nhận một thách thức mới.

Không khó để nhận ra nhân vật trong truyện ngắn của Quý là ai. Hầu hết họ chính là giới nhân viên văn phòng, trí thức trẻ thành thị từng được (hay bị?) Quý đem ra bóc tách, cười cợt trong các tản văn, đặc biệt trong Ăn phở rất khó thấy ngon. Điểm khác biệt là, nếu trong tản văn, họ xuất hiện như một nhóm người chia sẻ những phong cách, thói quen chung, thì ở đây họ xuất hiện thành những cá nhân, có tên, có gương mặt, có gia đình con cái, có yêu có ghét cụ thể. Họ quen nhau qua mạng, họ ngoại tình, họ lãng đãng, họ vô tâm, họ sĩ diện, họ hèn, họ tinh tế vặt, gỉ gỉ gì gi đi nữa, nhưng nhìn chung họ đáng thương. Đã thế, có lần, họ còn bị bỏ rơi: Trong Câu chuyện bắt đầu từ tầng 10, anh nhà văn Mạc Vũ Huân trong một lần tìm tứ cho truyện đã trượt chân lao từ tầng 10 xuống, không chết nhưng nằm mắc lửng lơ trong một đám dây nhợ bùng nhùng. Kêu chẳng ai nghe vì phố xá quá ồn, cố tình gây chú ý bằng cách nhổ nước bọt cũng bị hai bà ăn bún ngan xơi mất, anh đành nằm trên đống dây gánh chịu tình cảnh bị bỏ rơi. Nếu như anh nằm mãi trên đống dây thì câu chuyện sẽ mang màu sắc phi thực, kiểu Kafka hay Gabriel Garcia Marquez, nhưng tác giả lại cho anh được xuống đất. Đó là một cú twist dí dỏm. Cách xử lý của Nguyễn Trương Quý trong truyện này cho thấy anh mang được nét hài hước - thế mạnh của anh từ tản văn sang truyện ngắn.

Cái nên mang thì Quý đã mang, còn cái không thì Quý để lại. Ngôn ngữ Quý sử dụng cho truyện ngắn có độ tiết chế đáng kể so với tản văn. Nếu như khi viết tản văn, Quý hơi "ngoa" (nhưng đây là nét hấp dẫn trong tản văn của anh), thì trong các truyện ngắn, ngôn ngữ của Quý có độ lùi, tỉnh táo, để câu chuyện tự nó được kể, mà tác giả hiếm khi can thiệp vào, bình bình xét xét.

Tôi chú ý đến những câu kết truyện của Quý. Những câu ấy, thay vì kết lại, thì hay gợi ra một cái gì đó, rất có thể là một thứ hoàn toàn khác. Ví dụ: "Ngón tay út cong lên dài vút như khiêu khích" (Tiệc Tây), "Dòng xe máy bị tắc lúc nãy giờ rùng rùng chuyển động phía sau" (Chị Xít), "Tiếng phát thanh viên dự báo chiều nay bão sẽ về" (Rừng mái rừng mơ).

Với nhiều người viết khác, tản văn là một quãng nghỉ chân giữa các tiểu thuyết hay truyện ngắn. Với Nguyễn Trương Quý, ngược lại, truyện ngắn có thể lại là một quãng nghỉ chân giữa các tập tản văn. Nhưng cũng có thể, chính tập truyện này lại mở ra một hướng đi hoàn toàn khác. Như những câu kết truyện của Quý.

LÂM VŨ THAO

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ