Thứ Ba, 9 tháng 11, 2010

Đi xe máy như một cảm hứng

Xe máy ngoài việc để làm phương tiện đi lại hoặc là thú chơi, vẫn được xem như một biểu tượng về sự tự do, tuổi trẻ và những cảm hứng đường trường. Dĩ nhiên, những chiếc xe phân khối lớn đang rong ruổi trên những cung đường bát ngát của thế giới này phải nhờ đến cách đi và mục đích đi của những con người cưỡi trên chúng mới trở thành hiện tượng văn hóa.



***

1.

Có thể không phải là người đầu tiên sinh ra trào lưu lang thang bằng xe máy, nhưng Che Guevara 23 tuổi đã biến chuyến hành trình xuyên châu Mỹ Latin của mình cùng người bạn đồng hành Alberto Granado thành một cuộc đi tìm lý tưởng chứ không chỉ là một cuộc chơi ngông của hai chàng trai Nam Mỹ khác người. Cuộc hành trình dài 8000 cây số đi trong chín tháng trên chiếc xe Norton 500 phân khối qua một loạt đất nước có chung ngôn ngữ và gần cận văn hóa.

Che trên chiếc xe đạp gắn motor năm 1950

Sau khi đã tiến hành chuyến đi đầu tiên năm 1950 bằng chiếc xe đạp có gắn motor, chuyến đi quan trọng bằng xe máy này khởi hành tháng Giêng 1952 trên chiếc xe cũ kỹ đời 1939 được đặt tên La Poderosa (nghĩa là Kẻ phi thường).

Chiếc La Poderosa

Từ chuyến đi ấy, Che đã viết nên cuốn Nhật ký xe máy nổi tiếng, ghi lại những gì mắt thấy tai nghe và suy nghĩ về một lý tưởng đấu tranh cho công bằng xã hội. Che đã thành biểu tượng của giới trẻ cách mạng, và phiêu lưu xe máy đã trở thành nơi ký thác mộng tưởng về một thế giới đại đồng, nơi mỗi người trẻ tuổi dường như chỉ cần một ít vật chất và thật nhiều nhiệt tình để dấn thân. Mặc dù chuyến đi giữa chừng phải bỏ lại chiếc xe máy bị hỏng, nhưng tinh thần phiêu lưu bằng những cách thức khoáng đạt nhất vẫn là yếu tố nổi bật trong cả phần còn lại của cuộc du hành. Chúng ta vẫn thắc mắc bằng cách nào những nhà cách mạng dấn thân ra đi dường như chẳng mang bao nhiêu của nả độ đường, vậy mà họ đã đi được những con đường rất dài trên cuộc đời này. Điều ấy có bao nhiêu phần trăm là được tiếp sức từ những phương tiện rất bình thường chứ không hề ùng oàng như trí tưởng tượng của các nhà viết sử hay chúng ta thêu dệt nên?

Bìa cuốn Nhật ký xe máy của Che Guevara.

Chuyến đi của Che cùng Alberto là để tận mắt nhìn thấy một xã hội giữa thế kỷ XX, một góc khuất của thế giới thời bắt đầu Chiến tranh Lạnh, nơi châu Mỹ Latin thành sân sau của Mỹ. Hai người đã chăm sóc y tế cho những bệnh nhân mắc bệnh hủi, lao, những căn bệnh bị xem là nan y thời đó. Việc họ đã không e sợ hay nề hà sự khổ cực, chăm sóc người bệnh không cần găng tay hay cách ly, thậm chí còn đá bóng cùng họ, là điều lý giải về một cảm hứng cách mạng gây được sâu rộng trong quần chúng ở lục địa này những năm tháng về sau. Khi chiếc xe máy đã hỏng, những người bệnh được Che và Alberto chăm sóc đã làm cho hai người một chiếc bè đơn sơ để xuôi dòng sông Amazon.

Che cùng Alberto trên chiếc bè Mambo-Tango

Che đã bỏ lại một mối tình lãng mạn, một cơ hội có một cuộc sống phong lưu của bác sĩ tương lai để tiếp tục dấn thân. Thậm chí 15 đôla mà người bạn gái gửi Che nhờ mua hộ một bộ áo tắm nếu như đến Mỹ (mà cuối cùng cũng đến Mỹ thật! Ở đây là Miami, điểm cuối của hành trình), Che cũng đưa cho một gia đình nông dân nghèo. Một điều thật lãng mạn quá sức nếu ta tưởng tượng ta sẽ đi xe máy từ Việt Nam và sẽ cầm tiền đến Nhật để mua kimono, và ta có nghĩ là cho ai trên đường đi không? Điểm đến của Che và người bạn không phải là những thành phố xa hoa tráng lệ, mà là “những người dưới đáy đô thị, những kẻ ăn xin. Mũi chúng tôi cùng hít thở với những người khốn cùng”. Chiếc xe máy là vật bắt đầu cho cuộc lên đường vừa bồng bột, vừa không tưởng mà hóa ra lại là nhân chứng cho một câu chuyện nghiêm túc nhất của thế kỷ: giải phóng dân tộc.

Bản đồ hành trình của Che . Đường màu xanh là đi chủ yếu bằng xe máy, đường đỏ là đi bằng máy bay.

Cảnh trong bộ phim cùng tên năm 2004 làm từ cuốn Nhật ký của Che với diễn viên Gael García Bernal vai Che và Rodrigo de la Serna vai Alberto.

2.

Nhà xuất bản Verso đã gọi Nhật ký xe máy là “sự gặp nhau giữa Tư bản của Karl Marx và Easy Rider”. Ở một thời khác, một cảm quan khác, Easy Rider (Tạm dịch: Tay lái dễ chơi) – bộ phim Mỹ sản xuất năm 1969 - phát triển khía cạnh nổi loạn của thế hệ trẻ. Những năm cuối thập niên 60 đánh dấu sự thay đổi sâu sắc trong lối sống giới trẻ phương Tây, với những phong trào hippy, nhạc rock, ma túy, và phản đối chiến tranh Việt Nam.

Những nhân vật trai trẻ do ngôi sao Peter Fonda và Dennis Hopper đóng, mặc áo da, đội mũ bảo hiểm có in hình cờ Mỹ phóng xe chopper trên đường miền Tây Nam và miền Nam nước Mỹ, vừa khắc họa một thế hệ “trên đường” kiểu Jack Kerouac vừa mong tìm điều gì đó vượt thoát cuộc sống mới “hai mươi năm cuộc đời” nhưng đã đầy nhàm chán. Bộ phim tưởng như chỉ đơn giản kể về cuộc chơi bời của hai gã bán ma túy về miền Nam nhưng thu nhận vào đó cả một bối cảnh nước Mỹ với đủ góc tối tăm và bất an. Tag line của bộ phim đã giới thiệu tinh thần vô vọng ấy: "Một người đi tìm nước Mỹ. Và không thể tìm thấy ở đâu."

Điều khiến bộ phim về xe máy này được khán giả yêu thích là nó phả một hơi thở chân thực về một cuộc sống nổi loạn ngoài pháp luật, lấy ảo giác và đập phá làm cảm hứng trong bối cảnh những giá trị cũ bị suy đồi, những yếu tố bùng nổ của thế hệ “baby boom” (thế hệ sinh ra sau thế chiến II với tỉ lệ sinh tăng vọt). Thêm vào đó, thế hệ này đòi hỏi nhu cầu được thừa nhận và khẳng định giá trị trong bối cảnh một nước Mỹ đang phải đối mặt với tình trạng lún sâu vào chiến tranh ở Việt Nam và chiến tranh Lạnh leo thang.

Xe máy vì thế không ngẫu nhiên mà trở thành vật dụng ký thác phong cách sống của thế hệ trẻ. Từ đôi giày tả tơi “gót sắt” của Jack London đầu thế kỷ XX đến những chiếc xe ôtô cũ của Jack Kerouac cùng đám nhà thơ Beat những năm 1947-1950, đến chiếc xe máy của thế hệ mới này là những lựa chọn có phần vừa túi tiền của những kẻ kiết xác nhưng lại dư dật ham mê. Tất nhiên sau đó những vật dụng như chiếc xe máy chopper Harley Davidson theo phong cách của Easy Rider không hề rẻ, trở nên thời thượng, xếp cùng loại “đặc chủng” với những du thuyền, xe hơi thể thao... Sau thành công nghệ thuật lẫn thương mại của Easy Rider (thu được 42 triệu đôla), đã có vô số phim ảnh, ca khúc và những sản phẩm đời sống lấy cảm hứng từ bộ phim này. Tất cả đều lấy mẫu số chung: sự cá biệt của kẻ đi xe máy. Tất nhiên khán giả Việt Nam khó mà nhận ra được cái hay của điều này trong bối cảnh toàn dân đi xe máy hiện nay!

Barbie cũng thành easy rider.

Dù sao thì trong các phương tiện cơ giới lưu thông, xe máy vẫn là thứ rẻ nhất, và hơn thế nữa, cơ động nhất. Thử nghĩ xem, Che Guevara mà dùng một chiếc xe hơi lên đường, có lẽ sự gần gũi của ông với những số phận dọc đường đã không như khi đi chiếc xe máy cà tàng. Cái nhìn của người phơi mặt ra hít bụi đường, sương gió, mưa tuyết chắc chắn là khác so với ngồi sau vôlăng. Lộ trình của chiếc xe máy cũng len lỏi trong những rẻo đường hẹp và những ngóc ngách cuộc đời, từ những làng da đỏ vùng núi cao Andes đến những sân sau tệ nạn vùng Lousiana, điều mà rất có thể khi đi bằng xe hơi bốn bánh trên đường lộ sẽ không vào được.

Từ một chuyến đi xe máy dẫn tới một lý tưởng cách mạng trong đời thực hay một cuộc chơi bời vô mục đích trên phim ảnh, khao khát về một chân trời tự do là điều trước tiên hấp dẫn các nhân vật trẻ tuổi. Sự thay đổi nào đấy xảy ra trên con đường cũng chính là điều họ mong đợi. Với họ không có khái niệm lo âu về tai nạn hay rủi ro là điều mà xã hội đô thị hiện đại ra sức nhồi nhét cho cư dân của nó qua truyền thông để bán giải pháp chữa trị. Điều khôi hài là cả Che lẫn Easy Rider đều đã thành những biểu tượng có tính thương mại, điều mà những nguyên mẫu có con đường ngược lại. Ta có thể thấy hình Che khắp nơi, trên poster, áo phông, cốc tách.

Easy Rider đã thành một phong cách sống và thời trang điệu đà như kiểu các ngôi sao nhạc rock Anh xuất hiện đều đặn trên các trang giải trí. Ý niệm về sự đi tìm giá trị cuộc sống ngoài kia, cuộc sống đặt ra cho con người những tự vấn về nhân cách, về tự do, về hạnh phúc đã mờ hẳn so với cái đẹp hợp nhãn ấn loát và trưng bày.

Easy Rider + Karl Lagerfeld + Chanel

3.

Ở Việt Nam, vẫn có những một dạng tìm cảm hứng ở những chuyến đi xe máy, ấy là phượt, tức những chuyến đi rong ruổi dã ngoại. Người ta vẫn thấy chênh vênh trên những cung đường miền núi, những thanh niên Hà Nội hay Sài Gòn tách mình khỏi 6 triệu cái xe máy chen chúc ở nội đô để lập hội dăm ba kẻ cùng nhau tha hương vài ngày. Chia sẻ với những biểu tượng văn hóa toàn cầu về xe máy nói trên, họ tìm những khung cảnh rộng lớn, khoáng đạt và tự nhiên, điều mà những đô thị lớn Việt Nam không có.

Nhiều dân du lịch phương Tây cũng thấy Việt Nam thật thích hợp cho việc du nhập mô hình Easy Rider ở phương diện dừng đâu là nhà, ngã đâu là giường. Tất nhiên có người thích trải nghiệm thật kỳ công, có người lại thích lấy số má kiểu dùng bút "check" những gạch đầu dòng must-do (và dĩ nhiên cả must-see) đã thành tập quán mới của xã hội thời nay. Những người làm du lịch Việt Nam tinh khôn cũng biết nắm lấy đặc điểm này để biến những cung đường Việt Nam được đánh dấu cho một thương hiệu Easy Rider ở Sapa, Đà Lạt. Cái hay của dân Tây đi kiểu này là không đâu dễ tìm hiệu sửa xe máy như Việt Nam. Có khi không cần giao tiếp, thợ Việt Nam sờ vào xe thôi cũng biết phải sửa cái gì. Xe máy "dễ" (easy) cho việc giao thoa văn hóa là thế!


Quay trở lại với thanh niên đô thị Việt Nam. Họ cũng muốn thử sức những kỹ năng chinh phục thiên nhiên, dĩ nhiên ở mức độ rất “hiện đại”, điều mà cư dân thành phố đã đánh mất. Những chiếc xe đẹp quá, choáng lộn quá, giá đến trăm nghìn hay cả triệu đô, được thửa riêng hay là độ thật lộng lẫy để trưng ra cho diễn viên Tom Cruise hay Lý Liên Kiệt cưỡi, dường như thật khó chia sẻ cái cảm hứng lang bạt kỳ hồ trong cõi đời bụi bặm này. Giữa đám đông đi xe máy nhiều khi điên cuồng, nhiều khi bất chấp luật giao thông hay phép ứng xử văn minh, trong sự mệt mỏi dai dẳng ngày này qua tháng khác mà xe cộ đem lại, có bao nhiêu người nghĩ về một nguồn cảm hứng như thế trên hai bánh xe?

Nguyễn Trương Quý

(Motostylish 11.2010)

Chủ Nhật, 7 tháng 11, 2010

Olga Berggoltz của Thụy Anh

Giới thiệu tập sách sau, không phải là thơ mà viết về thơ. Cũng lâu rồi VN không xuất hiện một tập như thế, mà lại về thơ Nga. Cuốn sách ra đời là nỗ lực của Thụy Anh - một dịch giả tiếng Nga, cũng là một cây bút truyện ngắn và thơ đặc sắc - nhưng có thể gọi là nhà "Olga học" của VN :-)

Tôi bon chen một tí là có nhận làm bìa cho cuốn này. Trước hết là nhờ bức ảnh rất đẹp của bạn Vũ Hiệp, thứ hai là cái tượng Olga Berggoltz đã quá đẹp. Tôi chỉ có việc cắt ra và đặt bố cục cùng tìm chữ là xong.






Mọi người có thể mua sách ở HN (Max Space cafe 64 phố Chùa Láng, dự kiến sẽ có ở nhà sách Đông Tây và Đinh Lễ nay mai), ở TP.HCM (NXB Trẻ, 161b Lý Chính Thắng, Q.3).

Chúc mừng Thụy Anh về tập sách đã lao tâm khổ tứ rất nhiều và đã ra đời. Tôi cũng hân hoan tí vì sản phẩm đồ họa của mình đã hiện diện ở đời sống :-)

Đọc bài giới thiệu trên báo Tuổi Trẻ: Cây ngải đắng của thi ca Xô viết.

Thứ Tư, 3 tháng 11, 2010

Bàn tay làm sao níu

Ngày xưa nghe đến cái tên "Lệ Thu" thì thấy rất là bí hiểm. Hồi đó băng đĩa của Lệ Thu ít, trong khi dễ dàng thấy một cái băng Sơn Ca 7 của Khánh Ly ở nhiều nhà, lại càng ít so với Tuấn Vũ hay Thanh Tuyền. Lần đầu tiên nghe Lệ Thu là qua bài "Hoài cảm" trong một cái băng nhạc tiền chiến nhiều ca sĩ nhưng không đề tên người hát. Một giọng hát khàn đục, trầm mặc và lạ như giọng đàn ông. Bài hát thì buồn như thơ Huy Cận thời trước.

Sau này nghe nhiều hơn, có hẳn những băng đĩa riêng của Lệ Thu, thấy bà giống như một đào nương hát ca trù: rất hay hát những bài hát có lời cầu kỳ, phức tạp và dường như rất trung thành với bài hát của nhạc sĩ. Nhất là dù nhiều version, dù giọng khác đi, nhưng cách hát dường như không thay đổi suốt mấy chục năm. Có lẽ vì thế nhiều người thích Lệ Thu vì cái chất cổ điển được lưu giữ cẩn thận.

Ở Sài Gòn mấy ngày, đang chuẩn bị về thì người bạn mách: có đêm nhạc Lệ Thu ở phòng trà Tiếng Xưa. Mặc dù đã biết có thể sẽ thất vọng vì Lệ Thu đã già rồi (năm nay 67 tuổi) nên giọng đã vỡ, nhưng nhiều khi ở đời cái gì đi qua thoáng chốc không nắm lấy, lúc sau quay lại không tìm thấy nữa. Giá vé khá đắt, 400k kèm một đồ uống free. Người bạn bảo, ôi giá đó là bình thường.



Sợ rằng hết chỗ, tôi vội tìm trên mạng trang web của phòng trà rồi gọi ngay đặt chỗ. Thông tin là tôi phải đến trước 8h kém 10 vì họ sẽ không giữ chỗ nữa. Cái phòng trà ở tận Cao Thắng, Q.10 chứ có gần gì. Báo hại ăn vội ăn vàng, không kịp về thay quần áo cũng như mang máy ảnh theo.

Người bạn nhắn sẽ đi ra sau. Tôi sấp ngửa đi nhờ xe đến nơi. Sau khi mua vé, được dẫn vào chỗ ngay gần sân khấu, tôi mới ngắm nghía phòng trà. Địa điểm này khá rộng, phải đến 200 chỗ. Đoán chắc là nửa thời gian đầu chỉ toàn hát lót, chắc LT phải 9h mới hát, nên hãy còn khá vắng.

Đang đợi thì tôi bị nhân viên phòng trà mời chuyển chỗ. Bốn bà già đừng trước mặt tôi. Hừm, cái chỗ tôi ngồi ngay đầu dãy 4 ghế. Tôi hơi bực nhưng mà cũng tốt nhịn, chấp nhận chuyển về chỗ nhìn đằng trước nhưng cách vài dãy. Mỗi tội cạnh một cái cột. Đi xem hát thì ghét nhất là có cột trong phòng khán giả.

...Các ca sĩ hát lót đến gần 9h, bạn tôi vẫn chưa đến. Tôi đã nhắn tin nhờ về khách sạn lấy hộ máy ảnh. Một lát sau, Lệ Thu xuất hiện. Bà mặc áo dài đen, đeo vòng hạt trai mấy tầng. Bà cẩn thận cầm tập nhạc ngồi lẩm nhẩm xem lại, ngồi cùng dãy đằng trước tôi. Dãy này có chừng bảy tám người trẻ, có vẻ như fan club của LT. Có người vẫn còn đeo dây đeo thẻ ra vào cơ quan, như thể vừa đi làm về. Điệu bộ thì đầy ngưỡng mộ với ca sĩ.

Lúc này tôi mới thấy mình cẩn thận hơi thừa. Số người xem chỉ chừng 60-70. Mà bạn tôi khi đến còn nghe được hai cô trực quầy ngoài cửa là nhiều vé mời lắm. Thế thì doanh số đêm nay làm sao ăn thua nhỉ. Cỡ LT thì cát xê cũng phải vài chục triệu. Mà danh ca sao lại vắng khách vậy. LT chắc cũng đâu có hát liên tục, hay dân SG cũng đã hết sốt rồi.

Rồi cũng đến lúc micro trao cho Lệ Thu. Bà bắt đầu bằng bài Dấu tình sầu. Có mấy câu bị nhầm lời. Mấy bài đầu tiên LT hát có vẻ nặng nề. Thế này thì làm sao mà chạy được cả đêm nhỉ. LT có giao lưu, đại ý nói có gì cũng xin bỏ quá. Khán giả vỗ tay cổ vũ. LT dần hát có vẻ tập trung hơn. Một khán giả - cũng là một bạn cũ của ca sĩ yêu cầu bài Mùa thu trong mưa. LT xin lỗi vì chưa tập bài này, lại không nhớ lời nên xin đền bằng bài khác. Sau hai bài, LT nhận được một tờ giấy, bà giơ lên cười: "Các bạn biết không? Có hẳn một bài Mùa thu trong mưa chép ở đây!" Thế là ca sĩ vừa hát vừa cầm giấy liếc lời.



Giọng hát réo rắt nhừa nhựa, không còn lên được cao như băng đĩa thời trước nhưng vẫn nhả chữ ngọt ngào, nắn nót. Những chỗ rung và luyến láy vẫn như dòng nước mắt nức nở. Vẻ âm u của giọng hát khiến người ta vẫn nghĩ hình như nội lực còn giấu. Thì cứ nghĩ mình bằng tuổi bà ấy, mình có còn nói ra hơi được không ấy chứ. Mặt LT không biết có mỹ viện nhiều không (nhìn vẫn mượt và căng đáng ngờ!), nhưng mỗi bài hát lại thấy cái nhíu mày, cái đắm chìm trong cảm xúc, thì da mặt ấy cũng là da của cơn đau thật, của trải nghiệm thật.

Bài nào cũng ảo não, cũng buồn, như kể lể về một tai ương truyền kiếp của đời người. Nghe xong bài Tưởng niệm, bạn tôi bảo đây là bài hát tốt nhất hôm nay. Tôi đã định viết một bài sau hôm ấy, nhưng rồi bận bịu và mệt mỏi nên mãi chưa viết được. Bài này tôi đã nghe rồi nhưng không cảm thấy ấn tượng lắm. Cho đến hôm đi Nha Trang ăn cưới Khuê Việt, trên ô tô bạn Xanh và Rem hát bài này mới chú ý nghe. Rồi đến hôm xem Lệ Thu. Bạn tôi nói đúng. Lệ Thu hát hay vì cảm xúc tạo ra như tự sự mới sáng tạo, như một người già khóc thời vàng son của mình.

TƯỞNG NIỆM
Trầm Tử Thiêng

Ta nghiêng tai nghe lại cuộc đời
Thì hãi hùng hoàng hôn chợt tới
Ta nghiêng vai soi lại tình mình
Thì bóng chiều chìm xuống đôi môi

Đang mân mê cuộc đời nở hoa
Thì bàng hoàng đến kỳ trăn trối
Đang nâng niu cuộc tình lộng lẫy
Bỗng ngỡ ngàng vụt mất trong tay

Ta khổ đau một đời
Để chết trong tình cờ
Ta tìm nhau một thời
Để mất nhau vài giờ
Bàn tay làm sao níu
Một thời vừa đi qua
Bàn tay làm sao giữ
Một thời yêu thiết tha

Mang ơn em trao tình một lần
Là kỷ niệm dù không đầm ấm
Mang ơn em đau khổ thật đầy
Là nắng vàng dù nhốt trong mây

Mang ơn trên cho cuộc đời ta
Vài vạn ngày gió cuồng mưa lũ
Trong cơn đau một vùng nhang khói
Kéo ta về, về cõi hư không

Hết đêm nhạc, tôi xin chụp tấm ảnh chung làm kỷ niệm. Bạn tôi chụp bị nhòe, tôi lại gãi đầu gãi tai "cô cho em chụp lại ạ". LT vui vẻ cười đồng ý, rồi ôm lấy tôi và cảm ơn vì đã đến xem. Một đêm nhạc rất hay, dù thưa thớt khán giả.

Về Hà Nội rồi, tôi tìm mãi không ra cái đĩa Tưởng niệm của LT in năm 1990. Chỉ có version trên mạng không biết của lúc nào về sau. Nhưng tôi nghe không thấy thích như lúc xem live ở Tiếng Xưa. Thật ra nghe LT cả một đĩa rất mệt, không dễ nghe bằng Khánh Ly. Khánh Ly hát có khi như chơi, như kể chuyện, đôi khi hơi có vẻ ẩu. LT trau chuốt, cả khi giọng xuống rồi vẫn trau chuốt, như những ngôi sao "đại lộ Hoàng hôn" cố giữ hình ảnh không có tuổi của mình. LT khiến người nghe như phải đối diện với cái đẹp lụi tàn, cái ảo não đầy tiếc nuối về một thời đã đi qua. Nghe những gì não nùng ấy như một cuộc tra vấn về điều đã thành hình, đã lên ngôi rồi đã thoái vị. Tự nhiên mà những bài hát hay nhất của LT cũng toàn là "thời hoàng kim xa quá chìm trong phôi pha". Nhưng thôi, một kiếp người có một thời đắm đuối say mê, đến phút này vẫn được đắm đuối là một kiếp nhiều người mong mà không được.


Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ