Thứ Bảy, 31 tháng 3, 2012

xô dạt trời chiều

Tại sao ta lại cứ phải vào quán cà phê đó mà không phải quán bên cạnh? Có gì hấp dẫn ở quán đó khiến người ta thủy chung suốt cả cuộc đời? Nhiều quán cà phê nổi tiếng thế giới vì từng là nơi các nhà văn, nghệ sĩ đã lui tới nhiều thập niên, và nay tự hào trưng biển rằng “Hemingway đã uống cà phê ở đây”, “Picasso đã vẽ những phác thảo quan trọng của bức tranh trên cái bàn này”… Vô tình hay hữu ý, người nổi tiếng tạo ra những huyền thoại (myth) và rồi những người đắc lợi là những chủ kinh doanh. Tất nhiên, sự đắc lợi này lại có cái hay là được công chúng hưởng ứng và họ chẳng mấy khi bận tâm giải thiêng.

Nhưng đó là khi có người nổi tiếng đã giơ bàn tay phù phép cho quán cà phê nọ. Còn vô số quán xá khác, ở ngay đầu phố ta sống, cạnh cơ quan nơi làm việc, hay lãng mạn hơn, ở một góc hồ lãng đãng, ta vào vì đủ lý do. Tiện đường chẳng hạn, điều này nhiều khi đúng với số đông, nào là dễ để xe, hoặc án ngữ một ngã tư quang đãng, nơi chỉ cách nơi làm việc vài tầng nhà. Cái lý do tầm thường này thực tế cũng chính là điều tiên quyết khiến các nhà kinh doanh bỏ tiền ra thuê hoặc mua địa điểm. Chỗ nào mà dân văn phòng nhiều, cánh trí thức thích bàn luận thế sự, hay các chàng sinh viên đương tuổi cua gái, thì đắc địa để mở quán. Không ai mở quán cà phê ở đồng không mông quạnh hay phơi mặt ra công trường bụi bặm. Những chỗ ấy chỉ nên mở quán nước chè hoặc quán rượu lục lâm. Cà phê là nhu cầu tiện lợi, thư giãn và giải tỏa dăm ba cơn stress thường nhật. Cà phê gắn với đô thị, với phố phường, với một vài quy tắc ứng xử nhất định. Quán nước chè thì không, và quán rượu thì ai cũng biết là chốn rượu vào lời ra.

Một lý do khác để vì sao ta vào, là đồ uống ngon. Cà phê ngon ắt là một tiêu chuẩn không thể xem thường. Chẳng thế mà người ta vẫn cứ lặn lội đến những quán cà phê trứng, cà phê muối như Café Giảng ở Hà Nội dù quán này đã chuyển địa điểm từ Hàng Gai ra Nguyễn Hữu Huân và Yên Phụ. Cho nên tiện đường mà cà phê không đặc sắc thì chỉ như loại báo giấy đọc lấy tin rồi thôi. Thiết thực nhưng không nhất thiết lưu trữ. Ngay những quán nổi tiếng Hà Nội trước đây, “Nhân – Nhĩ – Dĩ – Giảng”, chẳng quán nào có địa điểm hoành tráng, đều bé nhỏ, chật hẹp và tối tăm. Hay là có khi cũng giống như món phở Hà Nội, mấy quán cà phê ngon này đều không bận tâm đến làm đẹp nên có thời gian hơn để tập trung vào tìm công thức pha cà phê cho ngon!  Rõ ràng, lý thuyết địa điểm làm nên quán cà phê đã từng bị xô đổ. Nhưng theo thời gian, người Hà Nội thế hệ mới đã biết đến những quán cà phê rộng mênh mông hàng trăm, thậm chí hàng nghìn mét vuông với cả trăm người ngồi thoải mái trong những xa lông êm ái. Có tiền của thì nhu cầu phải cao hơn chứ.

Ấy vậy cứ ra phố là thấy đầy những quán cà phê ghế nhựa bám chặt lấy các vỉa hè, và sự thật là rất đông giới trẻ tỏ ra hứng thú với sinh hoạt ngồi quây quần quanh đĩa hạt hướng dương và vài cốc đồ uống có hương-gọi-là-cà-phê để ngắm nghía đường phố và tán tỉnh nhau. Làm sao mà những bạn thế hệ 9x này lại không biết những quán cà phê đẹp mọc lên ngày một nhiều ở Hà Nội, và phim ảnh có quán cà phê thì mới đây thôi, Woody Allen đã tái hiện cả những quán Paris một thuở trong bộ phim Midnight in Paris (Nửa đêm ở Paris) đang tranh giải Oscar. Cảm hứng của những Hemingway, F. Scott Fitzgerald, Dali hay Chagal của một thời đại hấp dẫn của văn hóa cà phê Paris xem ra chẳng ăn thua gì so với thói quen tụ bạ vỉa hè của dân Hà Nội, dù là thế hệ mới đi nữa. Ta có thể thấy trên vỉa hè các con phố quanh quảng trường Nhà thờ Lớn Hà Nội là kín đặc những cô gái tóc duỗi mắt đánh quầng sẫm ngồi sát những cậu trai mặt măng tơ, trước mặt là mấy cốc cà phê đặt trên cái ghế nhựa, thu lu trong cái rét mùa đông, họ hoặc cầm điện thoại hoặc giơ máy ảnh lên chụp cảnh, chụp lẫn nhau và tự chụp mình. Và chấm hết. Chả có tiện nghi gì, và cũng chẳng có hoạt động gì thêm.

Đó chính là một huyền thoại nữa của các vỉa hè cà phê Hà Nội để có thể đưa ra thêm một lý do cho việc lui tới uống cà phê. Tâm lý cộng đồng (“bầy đàn” như cách nói tiêu cực!) của giới trẻ ở đây làm nên khung cảnh ấy, họ tìm đến một nơi có tính kết nối – bằng thời trang như mốt quần áo hay cosplay, bằng phương tiện như xe máy cổ, bằng thú vui như chụp ảnh và cả tinh thần của thế hệ “thiên niên kỷ”. Nếu chúng ta thấy sự tương đồng của những bạn trẻ sinh ra khi “thế kỷ tàn phai” (Trịnh Công Sơn) với hình ảnh của những quán cà phê cũ kỹ khi họ chưa ra đời thì đó là nhờ đặc tính tụ họp của quán xá. Khi nhân rộng lên, không khí ngồi bên nhau bắt mạch tư tưởng này có dáng dấp một loại carnaval xôm tụ. Quán cà phê vừa là diễn đàn nghị sự của các thế hệ (Già: Ông có đồng ý tháng tới Mỹ đánh Iran không? Trẻ: Tao mới săn được quả Leica này chất cực! Trai: Rầu quá, má con nhỏ đó cấm cửa tao. Gái: Thông tin lạc hậu rồi, tao giải tán rồi, thế mới ngồi đây cả lũ đàn bà với nhau - Đại loại những loại tâm sự thế kỷ trước hay thế kỷ sau cũng vẫn vậy), vừa là chốn khởi sự cho những mối quan hệ hay ý tưởng mới (hẹn hò làm quen nhau có lẽ 9/10 diễn ra ở quán cà phê!). Quán cà phê là thế - cũ thì như loại tình yêu đến hồi kết và mới thì như mắt gặp nhau vội cụp xuống sau làn khói.




Có thể nói, không có loại quán xá nào ở Việt Nam lại có khả năng tạo dựng phong cách của người thưởng thức như quán cà phê. Ở phương Tây, quán rượu hay quán bar khả dĩ lấn át quán cà phê và giai nhân tài tử đưa nhau vào đấy có khi còn để dìu nhau trong vài bài nhảy tiêu sầu, để mượn hơi men ngây ngất thắng cái lạnh của những mùa đông dài dằng dặc. Ở Trung Hoa, ca lâu tửu quán đã ghi dấu ấn đậm trong văn thơ cổ đến mức tình quán rượu kiểu Thủy Hử xem ra chẳng khác gì trên phim cao bồi miền Tây Mỹ, gái xưa vén váy tầng khoe tất lưới rút súng nhanh hơn cái bóng của Lucky Luke. Nhờ trời, hai nguồn ảnh hưởng văn hóa ấy lại không đủ sức khiến quán rượu Việt Nam sinh ra phong trào thời thượng nào, chỉ neo lại đây đó là Nguyễn Bính lướt khướt “Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ. Uống say mà gọi thế nhân ơi” và Vũ Hoàng Chương rên rỉ: “Em ơi! Lửa tắt bình khô rượu. Đời vắng em rồi say với ai?” Ở mấy quán rượu đấy, gái không có mặt.

Chỉ có quán cà phê, mới có những bóng hồng đối ẩm với thi nhân. Và cũng tình cờ thay, cho đến tận ngày nay, quán cà phê cũng là chốn duy nhất mà phái đẹp lui tới không gây thắc mắc gì. Quán rượu, quán bia, quán bar, những thứ quán dễ gây dị nghị khi chị em vào đấy, thứ dị nghị vô căn cứ nhưng đủ sức vùi hoa dập liễu ở xứ ta. Quán nước chè mặc dù ít điều tiếng hơn, nhưng lại có vẻ úi xùi và bần cùng, dáng ngồi quán nước luôn đọng lại vẻ buồn nghèo như tranh Bùi Xuân Phái. Cà phê rút cục là sự lựa chọn vô cùng mềm dẻo cho đủ thành phần người trong xã hội. Ở những quán cà phê Sài Gòn, vẫn dễ thấy những bác chạy xích lô, xe ôm lấm lem dầu mỡ tạt vào ngồi trên ghế bố uống ly cà phê bình đẳng với những trí thức văn phòng đóng hộp chỉn chu.

Cách đây mười mấy năm, có những quán cà phê tụ họp người yêu nhạc đến hát cho nhau nghe. Khác với cà phê Lâm vốn toàn nghệ sĩ tên tuổi của thời xưa cũ, ở đây là những sinh viên hay trí thức trẻ hát hò nghiệp dư, nhưng đã chung nhau niềm say mê một dòng nhạc, một thú chơi. Chẳng hạn quán Nhạc Tranh ở Hà Nội, tự lúc nào đấy đã tự mình làm thành một lịch sử của những người yêu nhạc Trịnh Công Sơn hay nhạc tiền chiến, họ đến đấy bày tỏ sự yêu thích với những giọng ca không chuyên, sự yêu thích mà chắc đến các ca sĩ đình đám cũng phải thèm muốn.

Mặc dù cũng được xếp vào loại đồ uống có chứa chất kích thích, nhưng cà phê lại hay được uống với một phong thái có phần nhàn tản, thư thái. Khó mà hình dung được ai lại tu cà phê ừng ực cho đã khát hay nốc tì tì cho say mèm. Mỗi chúng ta, thích uống cà phê hay không, ra đến quán là nghiễm nhiên khoác lên mình một dáng vẻ triết nhân, nghệ sĩ, ít nhất là hơn so với cái tôi bình thường nhạt nhẽo công sở hoặc trường ốc. Uống cà phê lúc này là uống một không khí, một buổi chiều có vạt áo kỷ niệm lồng lộng, một kỷ niệm lắm khi chẳng phải của mình, một kỷ niệm vay mượn, mà sao hương cà phê đưa đẩy ta nhập vai đến lạ.

N.T.Q
(TGCF 3-2012)

Thứ Sáu, 9 tháng 3, 2012

BCHN 100-101-104: UNDERGROUND & BANDS

Chuyển sang món "underground"...

SỐ 100: "...Ca khúc Ngày xưa ơi do Yến Dung, thành viên của Tik Tik Tak sáng tác, dường như là một dự cảm về kết cục cho các nhóm nhạc trẻ một thời đã làm sôi động sân khấu ca nhạc HN. Dẫu vậy, ngày xưa thời họ 20 tuổi mãi là những cảm xúc không gì thay thế được."

BCHN số 100 - Nhắn tuổi 20

 


SỐ 101: "...Có một đặc điểm của các ban nhạc rock HN thời kỳ chuyển giao giữa hai thiên niên kỷ đều dành một số sáng tác cho chủ đề thành phố nghìn năm tuổi của mình. Ở đây, các bài hát đều có không khí trong trẻo, nhẹ nhàng hơn nhiều so với chất thô ráp, gằn nặng quen thuộc của rock và các ban nhạc cũng không quên thả vào đó chút suy niệm thâm trầm thế sự hoặc hoài niệm."

BCHN số 101 - Rock Hà Nội

 


SỐ 104: "...Thời gian đã chứng tỏ dòng nhạc này có sức sống mạnh mẽ. Mang phong cách xử lý khá ngẫu hứng, giọng hát bẹt ra thay vì ngân nga tròn trịa, tận dụng những đoạn giả thanh, những bài hát của Ngọc Đại cũng như nhiều nhạc sĩ theo hướng này là lựa chọn của các ca sĩ muốn khai thác chất “quái”..."

BCHN số 104 - Dệt tầm gai

Thứ Năm, 8 tháng 3, 2012

BCHN 32-37 - Hành khúc ngày và đêm

Đây là chuyên đề Bài Ca Hà Nội những năm tháng Hà Nội thời đánh Mỹ, từ số 32 đến 37. Trong các clip, tôi có dùng 1 số hình ảnh sưu tầm từ nhiều nguồn trên mạng và từ nhiều báo ở Thư viện quốc gia mà trong quá trình làm sách, tôi đã chụp lại. Có thể nhiều người bây giờ sẽ thấy đấy là những chuyện xưa cũ, những bài hát cổ động lạc thời (bản thân tôi cũng hồ nghi điều đó) nhưng thực sự tôi chắc, những người sống ở thời ấy cũng đã có một đoạn đời đáng nhớ. Chúng tôi cố gắng chia sẻ cảm xúc với những người đã trong hoàn cảnh của các bài hát, cũng đầy cảm xúc như với những dòng nhạc khác về HN.

BCHN 32 - Khi thành phố lên đèn




BCHN 33 - Tiếng nói từ Hà Nội




BCHN 34 - Ta lên đường phơi phới tuổi 20




BCHN 35 - Cô gái Hồ Gươm đã thành chiến sĩ




BCHN số 36 - Hành khúc ngày và đêm



...Theo nhà báo Trần Công Tấn, trong cuốn Chân trần chí thép của cựu quân nhân Mỹ James G.Zumwalt [Đỗ Hùng dịch], khía cạnh kinh khiếp nhất của cuộc chiến đó chính là việc phải chứng kiến tác động của nó giáng lên đầu trẻ em. “Nó buộc trẻ em phải lớn thật nhanh”, ông đúc kết. “Nó khiến một đứa trẻ từ lúc còn rất nhỏ phải học bài học thực tiễn về sự sống và cái chết”. Người ta phải ở trong hoàn cảnh thiếu thốn vô cùng. Đã có những câu vè châm biếm cuộc sống ấy:
Một yêu anh có may ô
Hai yêu anh có cá khô ăn dần…
Dẫu khó khăn như thế, dẫu nhà cửa HN bé nhỏ, chật hẹp nhưng người ta vẫn yêu đăm đắm:
Ôi những hàng ôrô ta vẫn xén
Làm vui mắt mỗi người đi kháng chiến
Mỗi nét đơn sơ cũng đượm tình nhiều
Từ ánh nêông pha biếc buổi chiều
Đến hơi mưa trong khóm hoa màu tím
Gáy sách cũ xếp chồng như kỷ niệm
Lá thiếp mừng đám cưới mát trên tay

Đó là mấy câu thơ nổi tiếng trong bài thơ Trở lại trái tim mình của Bằng Việt viết năm 1967. Một âm hưởng gì đó của một thời lãng mạn xưa cũ vẫn còn phảng phất...

----------

BCHN số 37 - Hà Nội những đêm không ngủ



...Những năm đầu thập niên 1970, Hà Nội như lời Jane Fonda tả lại, rất sạch sẽ và không hề có rác bẩn. Đấy có lẽ là một điều chúng ta khó mà tưởng tượng nổi!

Tuy vậy HN lúc này là một thành phố khan hiếm thực phẩm và thiếu thốn trăm bề. Lưu Quang Vũ đã có những câu thơ buồn bã ám ảnh người đọc và ngân vang tâm thế của cả một thời đại:  
Tối đen thành phố đêm lưu lạc
Máy bay giặc rít ở trên đầu
Ba đứa da vàng ngồi uống rượu
Mặt buồn như sỏi dưới hang sâu
Chúng mình không có bom nguyên tử
Chỉ có thuốc lào hút với nhau.

Những khoảnh khắc hào hùng vực dậy, đan xen với những giây phút buồn bã ấy. Tốc độ của cuộc chiến tranh đẩy người ta lao theo những gấp gáp, những đòi hỏi trước mắt của thời cuộc...

------------

Chương trình nằm trong khuôn khổ "Hà Nội buổi sáng" do công ty Radio Việt sản xuất, phát lúc 8h trên sóng 90Mhz, Đài PTTH Hà Nội, các sáng 3, 5, 7 hàng tuần.

Chủ Nhật, 4 tháng 3, 2012

Bài Ca Hà Nội 53-89

BCHN s 53 - Hoa phù dung im cành



BCHN số 72 - Tơ đàn chùng theo với tháng năm



BCHN số 74 - Những giọng hát vàng một thuở



BCHN số 76 - Nỗi lòng hoa bướm



BCHN số 78 - Tìm dư âm cũ nhớ nhau mà thôi



BCHN số 88 - Tiếng hát lênh đênh



BCHN số 89 - Thuyền viễn xứ

Thứ Năm, 1 tháng 3, 2012

Lớp sóng phế hưng


Sóng lớp phế hưng coi đã rộn
Chuông hồi kim cổ lắng càng mau
(Chùa Trấn Bắc – Bà Huyện Thanh Quan)

Trong quá trình thực hiện nội dung cho chương trình phát thanh Bài Ca Hà Nội, tôi lật giở lại cuốn Thế hệ Kiến trúc sư Việt Nam đầu tiên của Hội KTSVN và Tạ Mỹ Duật - Dấu ấn thời gian. Đã có nhiều sách vở và phim ảnh về di sản kiến trúc của Hà Nội trong mấy năm qua, nhất là dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, nhưng không thấy có chân dung kiến trúc sư nào được gợi lên. Cùng viết và sáng tác về Hà Nội hoặc cho Hà Nội, nhưng các kiến trúc sư thời đầu kém may mắn hơn nhiều so với các nhạc sĩ, nhà thơ, nhà văn, trong khi những công trình kiến trúc đã chi phối đời sống vật chất có thể tận mắt thấy.


Trong cuốn sách thứ hai nói trên, KTS Tạ Mỹ Dương đã viết về người cha của mình, KTS Tạ Mỹ Duật bằng những lời có thể nói cho cả một thế hệ và một di sản kiến trúc HN cũ:

“Về Tạ Mỹ Duật, xét những gì cụ thể còn lại, ông có gì? Có mà như không có, một chút tiếng tăm ở cái thời xa lắc, những công trình đã bị mai một, những tư tưởng và các quan niệm chỉ còn trên trang báo cũ… Trong thời đại hôm nay, liệu những tư tưởng kia có còn gì cập nhật?

Nhưng nghĩ cho cùng, muốn xây dựng bất cứ một cái gì vững chắc cũng phải dựa trên một nền tảng, cái nền tảng ấy về cơ bản là những giá trị văn minh vật chất, những giá trị văn hóa tinh thần được kết tinh từ nhiều thế hệ, thấm dần vào từng con người… họ tạo thành một tầng lớp, với niềm đam mê mãnh liệt và sự nỗ lực cùng mình với một ý thức XH cao, vì sự kiến thiết và phát triển. Vào những năm đầu của thế kỷ XX, dân tộc ta đã có một lớp người như thế.”

Nhưng kiến trúc thì liên quan gì đến chương trình Bài Ca Hà Nội, một chương trình phát thanh vốn kể chuyện lịch sử và cuộc sống Hà Nội có thể hiện bằng các bài hát? Có. Sự thật là khi đặt bút viết kịch bản và lời dẫn, tôi luôn nghĩ đến những không gian phố xá, nhà cửa, sông hồ của Hà Nội, nơi những bài hát cất lên ca ngợi vẻ đẹp của chúng, hoặc đơn giản là mượn cảnh để thổ lộ nỗi lòng. Người ta có thể diễn giải kiến trúc và âm nhạc có chung mối quan tâm đến nhịp điệu và cấu trúc tầng lớp. Tôi nghĩ, kiến trúc đúng nghĩa thì chở phần nào tâm hồn người thiết kế trong đó. Tất nhiên, muốn chở được thì việc xây cất đòi hỏi nhiều điều kiện, mà không phải ai trong số 50 KTS học ra từ trường Mỹ thuật Đông Dương trong 20 năm (1925-1945) cũng thành công. 


Nếu coi cuốn Thi nhân Việt Nam là cuộc điểm danh tương đối công bằng các gương mặt thi nhân Thơ Mới với 40 người, và số người thực sự là tác gia lớn cũng chỉ chục người, thì số 50 KTS kia cũng chỉ có độ dăm bảy người để lại dấu ấn. Kiến trúc là lĩnh vực khắc nghiệt, công trình to lớn đến mấy khi xã hội không cần nữa cũng bị phá bỏ. Nhìn ở phương diện ấy, các KTS tiền bối này là những người có kết quả bi kịch nhất.

Chúng ta từng biết KTS Nguyễn Cao Luyện được xem như người anh cả của Hội KTS VN, ông đã nổi tiếng trước năm 1945 với văn phòng thiết kế Luyện-Tiếp-Đức (chung với KTS Hoàng Như Tiếp và Nguyễn Gia Đức), đã thiết kế một loạt các biệt thự mang phong cách hiện đại và Đông Dương (kết hợp hình thức kiến trúc Pháp-Việt) ở Hà Nội cũng như tham gia phong trào nhà Ánh Sáng cho người nghèo đô thị do nhóm Tự Lực Văn Đoàn đề xướng. Sau này ông là đồng tác giả thiết kế Hội trường Ba Đình. Và như ta biết, công trình này sắp được thay thế bằng Nhà Quốc hội mới. 

KTS Nguyễn Cao Luyện, Hoàng Như Tiếp, Nguyễn Gia Đức và họa sĩ Tô Ngọc Vân (người đứng giữa cửa) tại 42 Tràng Thi, HN năm 1936
Khu vực quanh đó cũng liên quan đến các công trình của một KTS cấp cao khác: Nguyễn Văn Ninh. Ông là người đã thiết kế Lễ đài Ba Đình 2 lần – năm 1955 với phong cách khai thác kiến trúc cổ có mái cong và 1960 với phong cách chiết trung, sử dụng kiểu kiến trúc tân cổ điển châu Âu. Trên khu đất xây nhà Quốc hội mới từng tọa lạc tòa nhà câu lạc bộ Ba Đình, là sản phẩm kết hợp của KTS Jacques Lagisquet với KTS Nguyễn Văn Ninh. Nếu ai viết lịch sử kiến trúc, cần nhắc tới công trình này như một đại diện của phong cách hiện đại với các mảng đặc rỗng và dùng nhiều mảng kính lớn – điều khá mới mẻ vào năm 1933. Tiếc rằng nay người ta chỉ còn thấy trên ảnh. Phong cách này đã được chính Nguyễn Văn Ninh tiếp tục sử dụng khi tham gia thiết kế khu biệt điện Bảo Đại ở Đà Lạt vào những năm 1938-1943. 

CLB Ba Đình, phố Hoàng Văn Thụ - KTS Lagisquet và Nguyễn Văn Ninh, 1933
Mặc dù đều là KTS “cung đình” của chế độ mới như Nguyễn Văn Ninh, KTS Nguyễn Cao Luyện cũng có một loạt công trình đã bị phá đi như các biệt thự 215 Đội Cấn, 7 Thiền Quang, 104 Yết Kiêu, 1 Phan Đình Phùng, 38 Bà Triệu, 514 Thụy Khuê, trụ sở cũ Quốc hội 35 Ngô Quyền… có thể nói ông là một trong những KTS có nhiều công trình bị phá bỏ nhất VN. 

Biệt thự 215 Đội Cấn

Dĩ nhiên vẫn còn lại một số công trình như biệt thự bác sĩ Nguyễn Văn Luyện, nay là ĐSQ Cuba 65 Lý Thường Kiệt, biệt thự 77 Nguyễn Thái Học của nha sĩ Nghiêm Mỹ, này là trụ sở Liên minh HTX, biệt thự 8A Ngọc Hà, trường Thăng Long phố Ngõ Trạm, bệnh viện 167 Phùng Hưng… còn khá nguyên vẹn, cùng các biệt thự 14 Phạm Đình Hồ, 74 Ngô Thì Nhậm, 16-24 Phan Huy Chú nay đã bị biến dạng. Về lý thuyết, người ta cũng chỉ biết ông với 2 cuốn sách mỏng Từ những mái tranh cổ truyền (1977) và Chùa Tây Phương, một công trình kiến trúc độc đáo (1987), những cuốn sách kiến trúc nghiêng về cảm thụ, bình giá hơn là đề ra một công nghệ, kỹ thuật. Đến giờ, đấy vẫn là hai trong số ít những cuốn sách kiến trúc Việt Nam ra được với công chúng rộng rãi.

Biệt thự 65 Lý Thường Kiệt

Trong khu phố cổ Hà Nội, ngôi nhà duy nhất còn vườn ở số 115 Hàng Bạc, do 1 KTS thời đầu - Phạm Khắc Hệ (tức Phạm Hoàng) – thiết kế vào năm 1944. Ngôi nhà may mắn còn đó, tuy có bị suy xuyển ở lối vào và các không gian cơi nới bên cạnh, song vẫn còn giữ được hình hài chung với bộ mái dốc lớn khai thác hình thức kiến trúc truyền thống. Ngôi nhà ăn nhập với khung cảnh phố cổ trước đây, có thể coi đấy là một lời giải cho việc bảo tồn và tái sinh những không gian sống có chất lượng trong lòng một khu phố đã rệu rã. 

Biệt thự 115 Hàng Bạc - KTS Phạm Hoàng, 1944
Quay lại với KTS Tạ Mỹ Duật. Ông từng được xem như một KTS đắt hàng thiết kế các loại biệt thự và thành công trong các cuộc thi thiết kế kiến trúc trước năm 1945. Những kiến trúc nay vẫn còn như loạt nhà theo kiểu châu Âu như 67 Nguyễn Du (1938), biệt thự bà Đốc Oanh 28 Hàng Chuối (1940), 25 Hùng Vương (1938, cùng KTS Cerutti) và bưu điện quốc tế Bờ Hồ (cùng Cerutti). Nhưng các công trình của ông không nằm ngoài sự thăng trầm của quá trình biến đổi Hà Nội mấy chục năm qua. Biệt thự mang phong cách Đông Dương ở 27 Nguyễn Đình Chiểu ông thiết kế năm 1942 đã trở thành một khu tập thể với đủ thứ cơi nới, trong khi đó biệt thự cùng phong cách của KTS Ngô Huy Quỳnh ở 84 Nguyễn Du đã bị chia đôi để thành 2 quán cà phê mà nay đi qua khó còn nhận ra cấu trúc nguyên bản. 

Biệt thự 27 Nguyễn Đình Chiểu

Biệt thự 28 Hàng Chuối, tác phẩm đầu tay của KTS Tạ Mỹ Duật, 1939
Anh Tạ Mỹ Dương đã cho tôi xem tập hồ sơ kiến nghị về Hồ Gươm của Tạ Mỹ Duật, Nguyễn Khắc Viện và Nguyễn Quang năm 1987 (đã được in trong cuốn sách), với những dòng chữ kẻ tay của một KTS, trình bày, mi trang có phần thủ công với những bức ảnh đen trắng cũ và nền giấy đã ngả vàng. Câu chuyện gìn giữ Hà Nội của các cụ có lẽ không chỉ ở những công trình có thể xây hoặc phá, mà ở một thái độ ứng xử với cảnh quan, và điều không nói ra, là ứng xử với tác phẩm của một thời.

Cuốn sách của anh Dương thực hiện cũng không quên nhắc đến cuộc sống tình cảm của người cha. Ông Duật có hai người vợ, bà cả đã vào Nam từ trước năm 1954, bà thứ hai là cô gái nhà giàu Hà Nội đã ở lại cùng ông, và lại còn một vài mối tình khác, như với một cô gái Nga ở Leningrad những năm 1957-1960. Anh Dương mỉm cười: “Thì em biết KTS bọn mình rồi đấy.”

Bây giờ nhìn lại những gì các KTS như Tạ Mỹ Duật để lại, thực sự không đồ sộ, thậm chí còn không đứng vững trước thử thách của thời gian, nhưng có lẽ có một thứ trụ lại - huyền thoại về sự tài hoa của họ. Tại sao tôi nói huyền thoại, là vì người ta đã xóa dần mất các hiện vật, các công trình bị hủy hoại, các không gian bị xuống cấp. Từ trường kiến trúc cho đến xã hội, không mấy ai biết đến bài học của những kiến trúc này trong khi ai cũng tỏ ý muốn thấy lại một Hà Nội xa xưa./.

N.T.Q
Sách:
+ Tạ Mỹ Duật - Dấu ấn thời gian, NXB Khoa học và Kỹ thuật, 2010
+ Thế hệ KTS VN đầu tiên, NXB Văn hóa - Thông tin, 2008

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ