Thứ Tư, 18 tháng 5, 2016

Thoát ly hay chửi đời: Phim ảnh làm gì khi kinh tế khó khăn

Thế giới chạy nhanh hơn khả năng hình dung của ta. Nước Mỹ đã có tổng thống da đen, có thể có tổng thống nữ, và hôm qua (17/5) đã có bộ trưởng lục quân (tương đương Thứ trưởng BQP) là người đồng tính open. Với những người bảo thủ, có lẽ thời nay là thời khủng hoảng đạo đức. Trong số những thành phần nhiều nỗi lòng, có lẽ dễ thấy nhất là những công việc bị thất sủng như báo chí. Các nhà báo, đặc biệt ở các vị trí cao, sau khi rời nhiệm sở, thường khó khăn khi phải đối diện với một thực tế khi thông tin mạng áp đảo báo chí cổ điển, thời họ có thể là quyền lực thứ tư. Vì thế, họ thường cố gắng tái lập vị thế ở một giao diện mới.

Tình cờ đọc lại bài viết trên Guardian từ năm 2011 của Paul Harris, tuy không còn mới về các chi tiết nhưng các nhận xét và phân tích vẫn thuyết phục, nhất là trong lúc này ở VN. Lược dịch để theo dõi.

***

Một số chương trình truyền hình và phim ảnh tái hiện lại thập niên 1960, còn một số tác phẩm khác phản ánh sự lo âu, khi nghệ sĩ lựa chọn giữa cách thoát ly và đối diện thực tại ảm đạm. 

Chẳng hạn bộ phim Take Shelter [Tìm nơi trú ẩn] của Jeff Nichols, nhân vật trung tâm là một người tầng lớp lao động Trung Tây cố gắng cáng đáng gia đình, công việc và lương tri ở miền quê Ohio, đang ngày càng bị những cơn mơ về tận thế quấy rầy và dường như chúng đang xâm nhập vào thế giới thực. Khán giả theo dõi cuộc đời của anh ta và thế giới bị tan rã trong bộ phim, cũng đắm chìm giữa khung cảnh siêu nhiên và các vấn đề hàng ngày của nước Mỹ như mất việc và không có khả năng chi trả dịch vụ y tế cho gia đình. Bộ phim gây xúc động vì sự không chắc chắn và dự cảm cho sự cáo chung của lối sống Mỹ. Các nhà phê bình khen ngợi nó như một siêu phẩm về sự đại suy thoái và khủng hoảng kinh tế. 

Không chỉ riêng bộ phim này gợi nên sự tác động của suy thoái trong hầu hết các khía cạnh văn hóa của cuộc sống hiện đại trong một thời đại bất an mới của nước Mỹ. Với mức thất nghiệp 9% - và con số thực tế còn cao hơn nhiều – và gần 50 triệu người sống nghèo khổ, không nghi ngờ rằng có một sự giận dữ về văn hóa. Một cảm thức về thời tận thế cũng xuất hiện trong Sự trỗi dậy của hành tinh khỉ Contagion [Bệnh truyền nhiễm], trong đó những loài khỉ siêu thông minh và các vi khuẩn giết người lây lan quét sạch loài người. 

Tuy nhiên sự ảm đạm không chỉ là hồi đáp của văn hóa đối với suy thoái. Bằng chứng cho thấy có một nhu cầu làm mới những sản phẩm của thập niên 1950 và 1960 khi – ít nhất trong tâm lý cộng đồng – các công ăn việc làm chắc chắn dồi dào, các nhà máy của Mỹ sản xuất hàng xuất khẩu khắp thế giới và giấc mơ ngoại ô là một trong những hàng rào cọc gỗ sơn trắng, chứ không phải cọc biển tịch biên. Từ thời trang phố lớn đến khuynh hướng hoài cổ trong cocktail hay sự phổ biến của các kiểu râu ria đàn ông cho thấy một sự khao khát văn hóa quay trở lại quá khứ và lờ đi những khó khăn hiện tại. Ví dụ như Mad Men, phim truyền hình lấy bối cảnh đầu 1960s ở một hãng quảng cáo New York, hành trình của nó hướng về một thời đại hoàng kim, giản đơn hơn và chắc chắn hơn, không phải là một ngoại lệ. Có thể kể thêm show Pan Am, hay các phim Mr Ed, The Man From U.N.C.L.EBewitched, cũng quay về thời giản đơn hơn. 




Chủ yếu “thời hoàng kim” được ưa chuộng vì tính li kỳ. Thập niên 50-60 có lẽ là thời của tiến bộ kinh tế nhưng cũng là thời của phân biệt giới tính sâu sắc, kỳ thị đồng tính luyến ái và phân biệt chủng tộc tất cả đều thể hiện trong Don Draper của show Mad Men. “Tôi không chắc Mad Men hay nhân vật Draper thể hiện một thời đại ‘tốt đẹp hơn’,” GS Dann Pierce, một chuyên gia truyền thông ở ĐH Portland, Oregon nói. “Thập niên 60 thực sự hỗn loạn ở nhiều điều, từ một cuộc chiến tranh lạnh, khủng hoảng tên lửa hạt nhân Cuba, các vụ ám sát chính trị, biểu tình ở các đô thị và cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Nó không nhất thiết là một thời đại chúng ta nên nấn ná lâu để thăm viếng lại”. 

Giống như những người cộng sản và điệp viên Xôviết đã từng là những kẻ xấu trong thời chiến tranh lạnh và những tên khủng bố đã là kẻ thù trong thập niên 1990-2000, giờ đây những tên trùm tài phiệt đang chiếm lĩnh các siêu phẩm ăn khách.

Nhưng không phải mọi phản ứng văn hóa đối với thời buổi khó khăn là sự thoát ly. Một cách khác là ra tay giải quyết vấn đề. Các đại gia ngân hàng và các doanh nghiệp lớn là những nhân vật phản diện trên phim và TV show. Giống như những người cộng sản và điệp viên Xôviết đã từng là những kẻ xấu trong thời chiến tranh lạnh và những tên khủng bố đã là kẻ thù trong thập niên 1990-2000, giờ đây những tên trùm tài phiệt đang chiếm lĩnh các siêu phẩm ăn khách. Ví dụ Wall Streer: Money Never Sleeps, Margin Call, The International, The Other Guys hay Despicable Me, thậm chí còn chọc ngoáy bọn ngân hàng trong các phim trẻ con. 

Thời Đại Suy thoái vốn tồi tệ hơn bây giờ, cũng có một tác động sâu sắc đến đời sống văn hóa. Ví dụ ca khúc Brother, can you spare me a dime? [Này anh giai, có thể chia tôi một đồng mười xu?] của Bing Crosby phản ánh tác động khắc nghiệt của khủng hoảng lên đời sống thường nhật, vốn bùng nổ trong nhạc blues. 

Trong văn học, Chùm nho phẫn nộ của Steinbeck thể hiện thời khó khăn của người nghèo và bị mất việc. Cùng lúc có sự thoát ly trong văn hóa nhạc jazz và sự nổi lên của hình tượng Siêu Nhân vào năm 1938, nhân vật đã hình tượng hóa sự khao khát về một sự giản đơn của hạnh phúc và mong mỏi về một đấng hào kiệt hoàn toàn Mỹ để giải cứu đất nước. Cũng có sự hoài nhớ thời giản đơn hơn trong sự phổ biến tăng lên của các phim và chương trình phát thanh chủ đề miền Tây, như The Lone Ranger, trong đó các người hùng được nhận diện dễ dàng, các vấn đề được giải quyết với một trận đánh mau lẹ và bọn phản diện thì dễ bị phát giác và rút cục bị đè bẹp.

Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2016

Xem Kiếp hoa - Phim Việt Nam có tiếng nói đầu tiên

Trong hồi ký của Ái Vân có nhắc đến năm sinh của chị là 1954, như thế là sau khi bố mẹ là ông Hà Quang Định và bà Ái Liên vừa sản xuất xong bộ phim Nghệ thuật và hạnh phúc năm trước, có vẻ là bộ phim ca nhạc đầu tiên của VN. Trong phim này có bài Túi đàn của Canh Thân. Ông là cậu ruột của Ái Liên, tức là ông trẻ của Ái Vân.

Ái Liên lúc này đã 35 tuổi, với chồng là ông bầu, làm 2 phim ở Sài Gòn (phim kia là Phạm Công-Cúc Hoa), rồi quay ra Bắc. Như thế là vào thời đó, Ái Liênsinh các cô con gái như Ái Vân, Ái Xuân và Ái Thanh lúc tuổi cũng đã khá lớn. Ái Liên như nhiều người đã biết, từng là "hoa khôi HN", là một trong những người hát các bài ta theo điệu tây đầu tiên thời trước 1938, hát tân nhạc xen vào trong các buổi diễn cải lương (có cả bài tây lồng vào cảnh lẫn bài ở giờ giải lao). Tuy nhiên, nhan sắc của Ái Vân vẫn xuất chúng hơn hẳn bà mẹ, trong khi về lâu dài, có lẽ giọng ca của chị mới ở mức pop star vừa vừa chứ chưa phải là tượng đài như mẹ (mặc dù nghe các bài cổ xưa của Ái Liên không mấy điêu luyện).

Giai đoạn Hà Nội tạm chiếm cũng là lúc có một số phim của người Việt ra đời, như Kiếp hoa năm 1954 với Kim Chung, Kim Xuân (mẹ của Như Quỳnh) đóng. Trong các phim này, một số bài hát được thể hiện, góp phần làm cho chúng trở nên phổ biến thành những top hit đương thời: Dư âm, Làng tôi, Nhạc đường xa, Cây đàn bỏ quên. Chắc phim Nghệ thuật và hạnh phúc cũng có nhiều bài hát, tuy nhiên tôi chưa tìm thấy dữ liệu.



Trên tờ nhạc Túi đàn do NXB Tinh Hoa ấn hành năm 1953 có ghi rõ tên các nghệ sĩ trình bày trong phim. Có thể nghe một version Túi đàn do Ngọc Bảo hát ở đây:
https://www.youtube.com/watch?v=MFWfR7RtlVA

***

Kiếp hoa - được coi là phim VN đầu tiên có tiếng nói, ra mắt năm 1954. Sau dự án làm phim bất thành của Hội kịch Bắc Kỳ của Nguyễn Vinh Lan và Lê Vũ Thái những năm 1934-1935, mãi đến 1953 VN mới có các phim thực sự. 




Dựa trên phần nào cốt truyện Truyện Kiều (Kim Chung-Kim Xuân đóng vai hai chị em Lan và Thủy), lấy bối cảnh Hà Nội và nông thôn miền Bắc thời tản cư, bộ phim rất giá trị bởi có gần đủ các hình thức sinh hoạt xã hội khi ấy: phố phường, nhà cửa nội thất (tủ com-mốt hiện đại, "giường Hồng Kông đôi vợ chồng mới cưới" - ngày xưa đọc bài thơ Nhớ ngày thủ đô kháng chiến của Hoài Anh ấn tượng với chi tiết này, trong phim cái giường rất là hoành tráng), các cảnh buôn bán, làm ruộng, nhà biệt thự với nhà trung nông, đi xem cải lương, đám cưới nhà giàu, ăn cao lâu, gánh mỳ, sực tắc...
Các diễn viên ngày xưa mặt không phải là đẹp lộng lẫy, thậm chí Kim Chung cũng khá bình thường, nhưng hai nữ diễn viên chính mặc áo dài quá đẹp, nhất là Kim Chung có phom người cao rất hấp dẫn. Giọng nói ngày xưa hơi chua chua, có cái vị hơi kiểu cách. Diễn xuất thì hồn nhiên, chắc ảnh hưởng lối diễn sân khấu.

Bộ phim có mấy bài hát được lồng ghép khá tự nhiên như Dư âm, Cây đàn bỏ quên, Làng tôi... Hình như người làm nhạc là Thẩm Oánh (lúc này ông là thầy nhạc ở trường Trưng Vương) còn sử dụng nhạc bài Giọt mưa thu.




Trong ê kip làm phim có vẻ nhiều người Hoa, cũng như biển hiệu nhiều hàng người Hoa trong phố cổ.

Khung cảnh HN gần như khác lạ với các biệt thự mạn quanh hồ Thiền Quang hay Phạm Đình Hổ còn nguyên vườn và hàng rào. Các hồ Gươm, Trúc Bạch, ô Quan Chưởng và Bách Thảo cũng là bối cảnh nổi bật. Có chi tiết hai chị em Lan-Thủy lỡ vận đi bán thuốc lá trong Bách Thảo, Thủy hỏi thuốc ba con năm là thế nào, cô chị giải thích là thuốc rất đắt tiền... Thế mà hồi bé mình cứ nghĩ là thuốc ấy phải tân kỳ lắm, hóa ra các cụ đã xài từ đời tám hoánh.

Link xem phim Kiếp hoa: https://www.youtube.com/watch?v=jNFbv6ovXlg




Thứ Ba, 10 tháng 5, 2016

Lời tựa tập nhạc 1930-1950


Lời tựa cho tập nhạc NHỮNG CA KHÚC MỘT THỜI VANG BÓNG

32 ca khúc chọn lọc, 23 nhạc sĩ tiêu biểu 1930-1950









Trong thời đại nhạc thương mãi đang hoành hành trên nửa phần đất nước nầy, thính giả hầu như đã lãng quên những nét vàng son vang bóng thời qua, những nét nhạc hiện thiếu người nuôi dưỡng, phải lép vế dưới thế lực của những nhà thương mãi và những người có uy thế phổ biến loại nhạc thời trang hiện nay.

Những ca khúc thời qua sáng tác hoàn toàn bằng cảm hứng, không gượng gạo hay uốn nắn theo một đường hướng khác với ý tác giả, viết bằng những tình cảm trung thực nên dễ làm xúc cảm người nghe, gợi hoặc để lại cho thính giả những cái gì cao đẹp mà thời gian khó xóa bỏ được. Họ viết là muốn ghi lại những cái gì muốn nói và hy vọng truyền cảm qua người khác để dìu dắt nhau và cùng đi trên con đường xây dựng Thiện-Mỹ.

Tác phẩm thời ấy như một đứa con xuất thân một gia đình thanh cảnh có truyền thống tốt, lại được nuôi dưỡng tử tế, làm sao không trở nên một đứa con hữu ích cho xã hội. Người nuôi dưỡng nó là ai? Nhiều khi không phải là người sinh ra nó, mà lại là những người hâm mộ giá trị của nó, tự thấy phải có trách nhiệm giới thiệu cái hay, cái đẹp cho người khác. Chính nhờ tinh thần vị tha và giá trị của tác phẩm, nhiều ca, nhạc sĩ và cơ quan phổ biến được nổi danh và nhận được nhiều thiện cảm của thính giả.

Ngược lại thời nay, những tác phẩm giá trị lại không được trình bày nhiều vì thiếu người nuôi dưỡng vô vị lợi; những ca khúc kém phần nghệ thuật lại được nghe hoài qua các làn sóng điện. Những bài hát này cũng như những đứa con hư xuất thân những gia đình truyền thống kém, nếu không nói là hạ cấp, có những nét phù phiếm bên ngoài mà nội dung rỗng tuếch. Nhưng chúng lại gặp may, được sinh sản trong một cái thế giới đảo điên, tâm hồn con người đang thác loạn chạy theo cái hào hoa bên ngoài, được săn sóc bằng những bàn tay trục lợi của những kẻ có thế lực. Có lẽ vì hiện trạng chiến tranh, vì thế lực kim tiền của ngoại nhân, những người kém trí thức, thiếu tự trọng đã gặp nhiều cơ hội tốt trở nên giàu có trong nháy mắt và những kẻ đứng đắn lại phải chịu phận nghèo vì tự ái. Có lẽ vì hạng người thứ nhất khá nhiều, nên loại nhạc thời trang hiện nay đã phục vụ đắc lực cho họ, và loại nhạc đứng đắn có nghệ thuật không đứng vững được vì hạng người thứ hai quá ít. Đây là điều mà chúng tôi và những người tha thiết muốn xây dựng cho nền nhạc Việt rất buồn phiền, nhưng không biết làm sao vật đổ được những tệ đoan ấy vì khả năng phổ biến nhạc hiện nay đang ở trong tay những kẻ thủ lợi có thế lực.

Thấy thực tại mà càng thương mến dĩ vãng. Cho nên ngay phút đầu tiên tiếp xúc với nhóm “Đất lành” chủ trương tuyển tập nhạc “Vang bóng một thời”, tôi đã có cảm tình ngay.

Đây là một việc làm đáng ca ngợi và khuyến khích, một việc làm vô vị lợi.

Chúng tôi rất thiết tha mong quý vị đón tiếp tập tuyển nhạc nầy với một thiện cảm nồng nhiệt, và miễn thứ cho nhóm chủ trương những thiếu sót vì hoàn cảnh khó khăn trong việc thực hiện.

Hè 1971
Văn Giảng

* Năm 1971 là lúc Văn Giảng 47 tuổi. Có lẽ đây cũng là tâm trạng của người đứng ngoài cuộc, mặc dù thực tế nhạc tiền chiến những năm này vẫn được hát và ghi âm khá nhiều. Nhìn rộng ra, có lẽ phản ánh tâm lý người Việt, thường hay hoài niệm và đề cao truyền thống, dù truyền thống nhiều khi mới được chế tạo mà thôi.

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ