Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2010

Cũng một chữ Hổ

.

Ngũ hổ tướng có nhiều bảng xếp hạng, nhưng chắc nổi bật nhất là năm danh tướng của Lưu Bị, chủ yếu được phổ biến là nhờ bộ Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung. Nguyên việc xếp hạng ngôi thứ của năm ông này cũng khiến người hâm mộ miệt mài tranh luận truyền đời. Tạm coi thứ tự: Quan, Trương, Triệu, Mã, Hoàng là được dùng nhiều nhất thì lý do vì sao lại là năm ông đó cũng tốn giấy mực. Bởi lẽ, chữ công trạng liền với công bằng. Người đọc Tam Quốc được sung sướng, được thỏa mãn tinh thần siêu vị trí là vì lẽ ấy. Tướng tài đến mấy cũng chỉ hiện lên ước mong cuốn sổ bình sinh công với tội thỏa đáng. Dằng dặc những chương hồi là những lời bàn, những đánh giá về các ngài của đồng đội, kẻ thù và hậu thế. Năm kẻ bất đắc dĩ bổ khuyết cho nhau, có ông Lưu Bị như băng dính mới mạnh tay mà xếp được, cho dù Quan Công nhất quyết không chịu đứng cùng ông già Hoàng Trung cựu địch thủ.


(Tam Quốc Chế - từ forum Sóc Vui, SV lại lấy từ Cabal)


Không riêng người Tàu mới thích phân ngôi thứ, bang hội. Người Mỹ mê băng Ocean quá nên làm phim 11 tên cướp ngân hàng dắt dây thành 12 rồi 13 tên, toàn trai anh hùng gái thuyền quyên. Nhưng Mỹ thực dụng, chỉ trần sì số đếm. Còn văn sử Tàu ưa trang hoàng, ví von vòng vèo nhân vật với kỳ hoa dị thảo, mãnh thú dũng cầm. Mà mãnh thú hàng đầu là con hổ. Thực tế hổ là con vật đi săn đơn lẻ, nhưng phép hoán dụ toàn xếp “ngũ hổ”. Vì sao là ngũ thì cũng dễ luận. Vũ trụ thì có ngũ hành, cơ thể thì có ngũ quan, bàn tay thì năm ngón kiêu sa, năm thì vừa đủ để không chia đôi chéo cánh tá lả, năm lại là phái sinh của tam tài tạo cân bằng mà không thành chân vạc, nhà năm gian truyền thống luôn có gian giữa trang trọng thờ cúng tổ tiên, năm lại là số đếm tốt sau Sinh, Lão, Bệnh, Tử, mở đầu quá trình mới. Tranh Hàng Trống có bức Ngũ hổ, bài văn khấn có câu “con lạy năm dinh quan lớn”, có ban thờ ở bên dưới Công đồng, nơi người ta cúng thịt sống, trứng tươi, gạo và muối. Hổ là con vật mặt mày lừ lừ, bí hiểm, hành tung thoắt cái đã bạt vía con mồi, trâu bò ngửi mùi hổ đã đổ bệnh. Nói vậy chứ ta suy từ con mèo là chính, cái thứ tiểu hổ suốt ngày thích thu mình yên ấm với liếm lông rửa mặt. Còn hổ bây giờ mấy ai giáp mặt, nó không tuyệt chủng thì người gặp nó cũng chưa chắc toàn mạng trở về kể lại cho ta nghe được vuốt râu hùm ra sao. Có ghép năm con hổ vào với nhau dù phi lý thì cũng chỉ là hổ giấy, người ta lạy cái hình con hổ, cái tinh thần mãnh chúa ghê gớm chứ ai vác bát nhang vào vườn Bách thú.


Năm ông tướng của Lưu Bị trong Tam Quốc, chỉ quần thảo trong phạm vi công việc của mình, trước phò chúa, sau lập danh. Chưa biết thực hư sự đóng góp cho phát triển chiến thuật quân sự ra sao (toàn thấy các ông tự tôn cá nhân kiểu anh hùng cái thế), nhoằng cái đã thấy Quan Vũ qua năm ải chém sáu tướng, thoắt lại có Triệu Vân tả xung hữu đột hạ sáu mươi tướng Tào giải cứu ấu chúa. Đáng nể là ở chỗ ông trùm họ Lưu kia. Ông ta thu phục những con hổ cá tính đầy mình kia sao mà khéo. Trước nhất là ông ta phải làm hả dạ tấm lòng tự ái cao độ của họ (và gián tiếp làm hả hê độc giả ái mộ các võ tướng). Màn ném con xuống đất mà bảo “Vì đứa trẻ này mà ta suýt mất một đại tướng” thực chỉ có những nhà chính trị cao cường mới dụng được. Chỉ cần hành động đó mới khiến người ta thấy xứng đáng với việc tả xung hữu đột đặc sệt phong cách phim hành động Hollywood của Triệu Vân, còn những ban danh tính, vàng ngọc, chẳng thấm tháp gì. Có người cho rằng hành động của Lưu Bị là “thủ đoạn” nhưng cái này phải hỏi ông La Quán Trung, vì đã sử dụng đạo cụ và nhân vật hoàn hảo trọn vẹn, không phải bầy ra thêm món nào thừa thãi. Té ra ông này đã nêu ra một định nghĩa: sản phẩm của “hổ tướng” không quan trọng bằng hành vi của anh ta. Như thế mới khiến người ta nhớ lâu, mới thấy vị trí ngũ hổ tướng là vô song.


Vấn đề ngũ hổ soi vào văn hóa công sở cũng thấy vô khối sự. Ai cũng biết các cơ quan đòi hỏi kỹ năng làm việc theo nhóm (teamwork), một nhóm tốt cũng là một “ngũ hổ” ăn ý, kể cả ăn ý chia chác. Ngũ hổ vừa tranh hùng, vừa thúc nhau chuyển động thay vì ôm chức danh ngũ vị tôn ông râu dài tới rốn. Ngũ hổ là những kẻ vất vả, liều mình nơi gian khổ nhất, có họ thì công việc cụ thể mới chạy, mà có thế những Khổng Minh mới thong thả cầm quạt tung hoành lớp lang quân sư được.


(Chiến Quốc loạn thế anh hùng - từ trang cùng tên)


Ngũ hổ tướng là những kẻ chuyên nghiệp trong việc của mình, không dựa dẫm vào ai, bằng cớ là Quan Vũ về đâu cũng lừng lững uy danh. Họ đi lên từ chính thực lực của mình, chẳng phải hoàng thân quốc thích hay thừa hưởng của ai. Cứ nói “một người lo, kho người làm” – nhưng thử không có mấy ông này mà xem – công việc chắc đã thành? Một không gian, một thời đại bày sân khấu cho họ tỉ thí, hẳn là không gian, thời gian của tinh thần hiệp sĩ, thời mà những tay cuối mùa Don Quichotte lưu luyến. Nhưng danh hiệu Ngũ hổ tướng cũng như Tam Quốc vẫn làm mê say các thế hệ độc giả mới, ấy là tinh thần oai dũng vốn nâng đỡ xoa dịu những cuộc đời bé mọn. Chúng ta giờ chẳng mấy ai dám một mình một ngựa trong mọi việc, có Microsoft thì cũng có Apple. Vả lại bây giờ người ta ưa những mẫu cầu kỳ hơn, đến phim Xích Bích bom tấn cũng pha chế các nhân vật Tam Quốc ướt sượt, nhưng Ngô Vũ Sâm đâu phải La tiên sinh, vốn chỉ cho mỗi Lã Bố “hí” Điêu Thuyền tí chút. Hình tượng Ngũ hổ thời nay phải nhiều thương tích trên da lẫn trong tim mới đúng khẩu vị. Ngay hình ảnh của các nhân vật Tam Quốc trong trò chơi điện tử cũng theo xu thế nữ tính hóa: mặt thanh tú, mắt đen lay láy kiểu Hàn Quốc, tóc tím tóc xanh, quần áo kiểu cosplay hay manga Nhật Bản. Mà chẳng cứ Ngũ hổ tướng Á Đông, đến anh hùng màn bạc Mỹ cũng phải phô trương vẻ đẹp quyến rũ, các chị em có khi lại thích những mẫu anh hùng về vườn, quay đầu lại là bờ. Vườn tược thì ai cũng biết, chốn ấy các chị thuộc như lòng bàn tay.


Dẫu chất “macho” của hùm beo có gia giảm, thì giá trị bất biến của Ngũ hổ tướng về lòng tự trọng, sự khảng khái và trung tín vẫn phải đảm bảo. Khi đời “nhiễu nhương”, khi đời sống thực chưa đủ giàu có chất liệu, mỗi độc giả (thường là trẻ) háo hức với lối cắt đặt của tác giả Tam Quốc, với cái đẹp của những danh tướng kia để ôm một mộng ước có khi vô thức về một cõi “bảy thực ba hư”. Dùng Ngũ hổ tướng là dùng người tâm phúc, chọn mặt gửi vàng, vì vậy không phải vô cớ mà những kẻ này chủ yếu đại diện cho loại tính cách lý tưởng, nhiều khi lý tưởng đến xung đột với xung quanh, đều không đi được cùng với phe của mình đến đích (trong Tam Quốc là cái đích nhất thống thiên hạ. Năm ông có khi hoặc sa cơ, chết giữa trận tiền hoặc lâm bệnh mà mất). Khó mà thông được việc “hổ tướng” lại là những kẻ viên mãn đề huề, hoạn lộ thênh thang đắc chí.


Nhưng thử thắc mắc theo lối thực dụng ngày nay nhé. Sao có Ngũ hổ tướng lừng lẫy thế mà Lưu Bị vẫn chẳng lấy được thiên hạ? Phải chăng vai trò Ngũ hổ ấy chỉ như những viên ngọc trên chiếc vòng trang sức, cũng như chỉ có thể cấp tập giữ được lãnh địa của minh chủ trong một giai đoạn? Việc quân cơ không nói trước được, dù “bảo thắng là thắng” thì cũng phải dựa trên sự mềm dẻo linh hoạt của nhiều yếu tố trong tay. Cao ngạo như Quan Vũ, nóng tính như Trương Phi, cậy sức như Mã Siêu, những nét tính cách rất con người khiến người đọc đồng cảm hơn vì thấy mình trong đó. Hiềm nỗi tật nào của các vị ấy ta cũng có mà ta chỉ được mang lốt Tiểu Hổ!


Nguyễn Trương Quý


TTVH Xuân Canh Dần
.

Thứ Ba, 26 tháng 1, 2010

Văn Bờ Hồ

.
Hồ Gươm rất mang tiếng vì làm bổ nghĩa cho một cái cụm từ chỉ loại nghệ thuật rẻ tiền: Tranh Bờ Hồ. Các nhà viết sử ta thì ít chịu đả động đến sự tích của những thứ như thế, may mà có vài người cũng nói rằng, tranh Bờ Hồ là loại vẽ cảnh bờ hồ, Tháp Rùa, xưa ôi người em Hồ Gươm về nương chiều tà, áo dài Hà Thành trước kia thường, sau chạnh lòng người em gái vắt khăn rằn đứng vịn liễu nhớ về Nam, màu bột xôm xốp trên giấy bìa. Có người bảo có cây dừa, nhưng bây giờ chẳng còn. Cho đến nay, danh từ này trở thành định nghĩa cho các loại tranh để đâu cũng được, phòng khách cỡ mét hai, phòng ăn chín mươi phân, phòng ngủ ba cái ba mươi phân, chủ đề phong cảnh hiền hòa tĩnh vật nên thơ, không bao giờ bắt ai đặt dấu hỏi. Hồi ca sĩ Phương Thanh mới nổi, người Hà Nội hãy còn dị ứng với lối hát nức lên từng chập của cái "con áo mưa" này (Phương Thanh khai mạc phong cách mặc áo khoác trong suốt lên sân khấu, bây giờ thì ca sĩ Hà Nội còn chẳng thèm mặc áo khoác nữa ấy chứ), họ cho ngay câu "nhạc Phương Thanh, tranh Bờ Hồ". Thế nên bị ví với tranh Bờ Hồ là cay lắm. Họa sĩ Bắc Hà vốn cao tự ái, bị phang từ đó là to chuyện. Nói chuyện phải quấy thời hiện đại nghĩa là sỉ vả nhau trên blog hay facebook. Giờ gặp họa sĩ cũng khó như thấy mặt giai nhân, gallery thì vắng mà online thì nhiều. Chẳng có ngành nghệ thuật nào mà nói xấu nhau sau lưng thật trực quan như thế, tranh nó tranh Bờ Hồ bỏ mẹ. Tiền đồng mất giá suýt có tờ một triệu đến nơi, ai còn ví von văn ba xu nữa. Máy nước công cộng không bói ra cái nào thì làm sao hình dung ra nhạc máy nước được. May ra có thơ con cóc, nhưng cóc giờ hiếm hơn người.

Nói như thế thôi chứ thực ra, tranh Bờ Hồ vẫn đông khách. Chính vì đông khách nên cái danh từ đó vẫn hừng hực chất "sinh ngữ". Quanh Bờ Hồ không ai bàn chuyện vua Lê nhưng nhiều gallery, trong bánh kính nửa cây số thì tha hồ. Mặc cho người ta dè bỉu hoặc tìm cách "khai tử" nó ra khỏi đời sống nghệ thuật Thủ đô, nhưng tranh Bờ Hồ tồn tại là nhờ nhu cầu của nhân dân. Người ta cần gì đâu, một ngôi nhà mới khang trang ba tầng một tum, đã có bộ sa-lông Đài Loan hoành tráng giữa nhà thì cũng nhẹ nhàng treo tường bức tranh chép Mùa thu vàng của Lê-vi-tan. Dù là tranh chép danh tác, nhưng vì mức độ phổ biến đến độ nhàm chán chẳng khác gì tranh Thái in nhòe nhoẹt, nên xếp vào mục tranh Bờ Hồ cũng được. Một triệu mua được một cái tranh cũng sơn dầu như ai, khung bo đầy đặn, nhiều khi may mắn nhờ bạn thợ chép nào cao hứng chép tâm đắc, bức tranh lại khá là có hồn nữa. Trong khi đó, tranh của họa sĩ tên tuổi thì vừa đắt, lại vừa kén tường treo, tránh được tiếng Bờ Hồ thì lại vấp phải danh tranh Lý Quốc Sư. Hồn nhiên chim hoa cá gái lắm cũng nhác thành nghệ thuật in khắc ván, triết lý Phật Pháp nhiều mà không sáng tạo thì cũng như tranh mở phủ. Tháp Rùa chỉ có một nhưng Bờ Hồ cũng ba bảy đường.

Nói tranh Bờ Hồ có lẽ còn vì cái sự "công cộng" của địa danh Bờ Hồ được áp vào loại tranh này, hay rộng hơn là loại nghệ thuật đường phố bình dân nói chung. Bờ Hồ là cái đích, cũng là cái ngã tư đường của người tứ xứ, nơi test độ nóng của vấn đề: Có vợ mà để đi Tây, khác gì xe đạp để ngay Bờ Hồ. Tất nhiên câu lục bát này là của thời cũ, giờ xe đạp đã hiếm, có vứt ra đấy cũng chưa chắc có đứa khuân, mà liệu các bà vợ có hơn được cái xe.

Ừ thì so đi sánh lại mãi cũng chỉ rút ra được vì sao lại có chữ Bờ Hồ, là vì Bờ Hồ là không sang? Thực ra ba con đường bao quanh hồ là ranh giới giàu nghèo. Những người nghèo, những người lên Hà Nội làm việc tranh thủ ngày nghỉ ra Bờ Hồ ăn que kem hay tha thẩn ngắm tủ kính (như một trăm năm qua người ta vẫn thế), họ chỉ quanh quẩn ở cái ốc đảo với ranh giới là vỉa hè phía hồ. Bên kia đường Đinh Tiên Hoàng, Lê Thái Tổ hay Hàng Khay là những cửa hiệu sáng choang, những đồ xa xỉ đắt tiền, những người chủ oai vệ, khiến họ chùn bước không dám bước sang. Chỉ cách nhau có hơn hai trăm mét, nhưng kem Thủy Tạ và kem Bốn Mùa đã khác nhau, mà kem Fanny còn khác nữa về giá. Thủy Tạ là tòa nhà duy nhất xây cạnh mép hồ, bao năm qua vẫn nhì nhằng kiểu cách mậu dịch, kem vẫn bán qua cái cửa như lỗ tò vò và thi thoảng quảng cáo trên tivi vẫn giọng sang sảng bắc loa phát thanh viên. Bên kia đài phun nước là gà rán KFC và đối diện là nhà Hàm Cá Mập, nơi từng có quán Bún Ta 6 đô một bát bún. Những bọn ngồi chễm chệ trên các tòa nhà cao đó, nhìn xuống đám cầm kem que đứng ngồi bên Bờ Hồ, cảm giác nó ra sao thì chắc ai cũng tưởng tượng được. Đi xuống mạn dưới phố Lê Thái Tổ đằng này thì là kem Bốn Mùa, nơi đã cố gắng làm theo kiểu chuỗi nhà hàng của Hapro - tức công ty Bách hóa ngày xưa, đồ uống thì cũng tạm nhưng toàn sở hữu địa điểm ngon. Quán ngoài trời của Hapro bên cạnh hồ cũng lại là một ốc đảo trong ốc đảo, như thể Tây Berlin tiền đồn phe tư bản cài cắm. Đám cầm kem que 5 nghìn tránh không nhìn vào người ngồi trong quán chắn bởi hàng rào thưa, nơi những cốc nước hoa quả hay ly kem 50 nghìn.

Có đi xe máy quanh Bờ Hồ mới thấy ít người sang đường. Không biết có ai còn nuôi mộng bữa sáng ở Tiffany's, chỉ cần ăn mặc thật đẹp đứng tạo dáng trước cửa hiệu Rolex hay Mont Blanc phố Lê Thái Tổ. Biết đâu, biết đâu đấy. Có nhà văn trẻ Hà Nội vẫn ngầm ganh đua với Truman Capote, rắp tâm ra mắt loại sách có tên như Bữa trưa ở Phú Gia. Nhưng Phú Gia có nhà hàng Rendez Vous (điểm hẹn) lại bị phá đi mất rồi, chưa biết bao giờ xây xong. Mà hình như càng ngày các cửa hàng tranh càng có vẻ ít đi, nhường chỗ cho các loại cửa hiệu thời trang hàng hiệu, trang sức đắt tiền và nhà hàng cao cấp. Ngày trước quanh Trung tâm phương pháp Câu lạc bộ là la liệt hiệu tranh truyền thần vỉa hè, vậy mà bốc hơi gần mười năm nay. Tranh Bờ Hồ cũng vậy, đã xa bờ hồ địa lý hơn, nhưng vẫn trung thành với phẩm chất bờ hồ. Đô thị hóa nhanh, Hà Nội mở rộng, nhà mới nhiều hơn, người ta càng có nhu cầu đem một chút Bờ Hồ về đặt trong phòng khách nhà mình, mà họ cũng đâu có quan niệm tranh Bờ Hồ là cái gì quá đáng! Chẳng qua là sự cầu kỳ nhà nghề của giới chữ nghĩa, mua tranh thì ít bình tán thì nhiều, thôi thì trọc phú mua tranh cũng tốt, còn hơn lắm tiền chơi ngông súng ống với lại lũng đoạn tài chính. Họ mà lũng đoạn thị trường tranh thì càng mừng. Cánh họa sĩ mừng một, làng văn nghệ mừng mười. Họa sĩ Hà Nội mấy chục năm đổi mới đã giàu lắm rồi, mà chưa có điều kiện nâng đỡ anh em các ngành còn lại. Nâng đỡ thế nào? Ơ hay, các anh nhà văn nhà thơ hỏi thế nên thảo nào vẫn cứ nghèo vì dốt. Đọc lại cái đầu đề bài này đi. Mang văn mang thơ ra viết ở Bờ Hồ đi, bán ở đấy luôn, gọi là Văn Bờ Hồ. Đừng sĩ diện nữa, có muốn xây phủ dựng nhà sàn không nào.
.

Thứ Tư, 6 tháng 1, 2010

Ngàn năm sẽ là vô nghĩa

.

Bài này lẽ ra không nằm trong dự định viết tiếp các tạp bút về Hà Nội sau bài Rau tươi sách sạch, vì nó không nhàn tản. Nhưng vì liên quan đến chuyện ăn chơi của người Hà Nội vừa nóng hổi, vừa nguội ngắt, nên đưa lên. Tên ban đầu là Địa phương tính của Hà Nội, nhưng có cái tên mới tốt hơn - nhờ các anh chị bên báo TT - tuy không đi được.

.

Hà Nội. Khi viết hai từ đó ra, chúng ta ít nhiều có những chủ kiến: trái tim cả nước, nghìn năm văn hiến, tinh hoa văn hóa. Trừ những yếu tố kiểu “lịch sử để lại”, thì văn hóa là thứ phổ quát mọi đô thị đều cần chứ không riêng Hà Nội.


Cướp hoa. Khi nói đến hai từ này (chắc hiếm khi chúng ta phải viết ra!), ta nghĩ đó là phản ứng bốc đồng, vô văn hóa. Ắt là nếu người ta có đầy hoa, hoặc là hoa có đủ cho mọi người, hẳn không đến mức phải giành giật từng cái chậu rồi chạy thục mạng.


Vậy mà hai cặp từ trên giờ song đôi với nhau. Những kẻ cướp hoa trong lễ hội hoa, rút cục theo các báo đưa, nói cả giọng Hà Nội lẫn giọng “nhà quê”, có thanh niên mới lớn cho đến ông bà già. Lần thứ hai của một lễ hội 1 triệu đôla rút cục vẫn chỉ là một màn trình diễn ê chề của văn minh đô thị. Xấu hổ nhất (cho những người còn biết xấu hổ) là Hà Nội đã trở thành một nơi có vấn đề về “địa phương tính”. Vậy những vùng lân cận không có liên can sao? Ai cũng biết, bao quanh và làm nên Hà Nội là tứ trấn, là những khu Ba, khu Bốn, chứ không phải là bức tường Đại La đông cứng một ngàn năm.


Đầu vào của một thành phố gồm thực phẩm, hàng hóa và con người – kèm theo là lối sống của họ. Vì thế không thể coi Hà Nội như một cái phễu lọc đòi cho ra tinh hoa thanh lịch khi đầu vào là những vùng nông thôn lung lay cấu trúc truyền thống, bêtông hóa xô bồ và bần cùng hóa về đời sống tinh thần. Nói tới thanh lịch là ai cũng nghĩ ngay đến thời trước, thời các ông nghè cụ cử với những học phong sĩ khí ngùn ngụt, thời thuộc địa “phố phường dãi ánh trăng mơ” chẳng hạn. Nhưng lúc ấy cả một vùng Bắc Bộ là một cơ cấu ít biến động, tồn tại vững chắc sau những lũy tre làng, các lề thói cố kết như một cái nong khít khịt để một vài đô thị xinh xắn neo lại bên trên. Mỗi vùng quê có một cơ sở văn hóa tuy bảo thủ nhưng quy củ, nhờ thế mô hình đồng dạng lớn nhất ở khía cạnh quần cư đô thị của chúng là Hà Nội cũng dễ bề thiết lập và duy trì nét văn minh, tất nhiên dưới một luật pháp nghiêm.


Người địa phương, hay “nhà quê” mang đặc điểm của người lao động nông nghiệp: gắn với ruộng đồng và cơ cấu sản xuất nơi làng xã. Vì vậy lẽ tất nhiên là họ yêu quê hương, nơi họ đổ mồ hôi nước mắt cho nếp nhà hay sào ruộng. Bước ra một Hà Nội đang ngày càng phình to, ngoạm dần vào ruộng vườn của họ, nơi con người sống mỗi người một cái hộp, ai biết việc người nấy, tâm lý của họ chuyển sang hướng “thủ được cái gì thì thủ”, nơi họ lẩn và lẫn trong đám đông vài triệu người, khác với cộng đồng làng xóm vài trăm nóc nhà ràng buộc nhau bởi hương ước. Lễ hội hoa đối với họ rút cục chỉ như một màn triển lãm của ai đó, vậy là họ tìm cách xí phần để “tư hữu hóa” cho mình, mặc cho một cái ban tổ chức nào đó họ chẳng cần biết đi mà dọn dẹp hậu quả.


Nhưng còn người Hà Nội? Cứ nhìn vào cái sự nhợt nhạt đìu hiu như gió bấc của đời sống văn hóa giải trí Hà Nội nhiều năm qua thì chuyện tan tành lễ hội hoa là dễ hiểu. Có thành phố nào 6 triệu dân mà cả tuần giải trí đón Tết Dương lịch (trùng với lễ hội hoa), tìm mỏi mắt thông tin trên báo cũng chỉ thấy có 1 đêm ca nhạc cách mạng tại Nhà hát Lớn 600 chỗ và 1 đêm hát nhạc… Hàn Quốc tại nhà hát Tuổi Trẻ 500 chỗ, cùng 4923 chỗ xem phim của mỗi 9 rạp! Thử làm phép tính sơ cũng thấy ăn chơi cũng cạnh tranh phát sợ. Thành phố như một đống bêtông khổng lồ với le lói những điểm vui chơi phải giành giật chỗ thì không thể nào khiến người ta có trật tự được chứ đừng nói là cư xử thanh lịch.


Địa phương tính là một cái gì đó khá hão huyền và quy chụp nhưng sẽ là sự thực bi đát, nếu như người ta phải ở trong một địa phương “đói văn hóa”. Với hiện thực như thế thì một nghìn năm chỉ là vô nghĩa.


Nguyễn Trương Quý

.

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ