Thứ Tư, 13 tháng 2, 2013

Vò tóc chồng người


Người ta hay dùng những từ to tát khi nói về giá trị của một miền đất. Hoặc cồng kềnh vật thể như lâu đài, thành quách, sản vật, tiền bạc. Hoặc siêu hình như triết lý, tư tưởng hay cung cách ứng xử. Nhưng có những công việc tỉ mỉ ít khi được nói đến. Những thứ nhỏ nhỏ này góp thành thói quen sống hàng ngày của hàng triệu cư dân một đô thị như Hà Nội. Từ việc uống chén trà nóng đầu ngày ở một quán cóc đến việc ăn bún đậu mắm tôm cần kèm mỗi đĩa rau kinh giới. Những ai quen với bộ mặt tươi cười, giọng nói ngọt ngào êm ái của người làm nghề dịch vụ ở những miền khác, gặp phải bộ dạng lạnh lùng khó đăm đăm của người bán hàng Hà Nội, dễ sốc. Nhưng có sống quen mới biết, ở Hà Nội vẫn có những công việc mà người phục vụ ân cần hơn mức mong đợi. Không cần phải dịch vụ nhạy cảm tốn kém gì, nếu là đàn ông thì tiện quá rồi, bạn hãy đi cắt tóc.

1.

Ở Hà Nội, trừ những hiệu cắt tóc hạng sang, đa phần nam giới từ ba đến tám mươi tuổi (nếu còn tóc) sẽ ra các hiệu gần nhà hoặc tiện đường đi làm. Các hiệu ấy bình dân, trong nhà có máy lạnh hoặc chỉ là ở vỉa hè có bờ tường treo gương, giá cắt tóc thông thường khoảng ba mươi đến sáu mươi nghìn đồng. Chúng làm nhiệm vụ thẩm mỹ và vệ sinh đầu tóc cho non nửa dân số Thủ đô, nghĩa là 3 triệu theo con số chính thức. Ngoài ra chúng còn là nơi cánh đàn ông trao đổi tin tức thời sự, số đề, bóng đá, cho đến thi thoảng chuyện công việc. Thật có lẽ không có dịch vụ nào “tử tế” với khách hàng ở Hà Nội bằng hiệu cắt tóc. Nhất là việc cắt xong, khách đã duỗi lưng cho ông thợ cạo mặt sạch sẽ, ông ta đưa lên cái khăn giấy lau vết bọt kem, hỏi: “Anh có gội đầu không?” Bên kia, cạnh cái ghế gội ngả ra như cái giường, một cô xinh xắn da trắng bóc, ngón tay được làm móng kỹ càng sơn roi rói như sẵn sàng vít đầu bạn xuống để chăm sóc.


Đến đây thì người đọc kêu: Có gì lạ đâu? Dịch vụ cắt tóc gội đầu này, Hà Nội đi sau Sài Gòn cả vài chục năm. Thậm chí lấy ráy tai và nhổ tóc bạc, hai dịch vụ giá trị gia tăng của cắt tóc, cũng nhập cư từ Nam ra nốt. Nhưng đã bảo là có sống ở Hà Nội, nơi ai cũng có tư tưởng ông chủ bà chủ, thì được ve vuốt, “săn sóc” như thế lại trở nên rất đỗi đặc biệt. Hồi mới giải phóng miền Nam, một nhà văn nữ miền Bắc vào thăm đã kinh hãi khi thấy cậu em họ làm nghề “nhơ nhuốc” chăm sóc sắc đẹp cho chị em như sơn móng tay, uốn tóc. Giờ đây, tư tưởng sống khổ hạnh, tiết kiệm đồng nào hay đồng nấy của dân Bắc đã mai một trong cuộc sống phong phú vật chất, người ta đã sẵn sàng đĩnh đạc nằm dài ra trên ghế ngả hay giường gội đầu, lim dim mắt thưởng thức sự chăm sóc với giá tiền chỉ đắt gấp rưỡi bát phở. Tất nhiên vẫn còn những ông khách quyết về nhờ vợ ngoáy tai hoặc bắt con cái nhổ tóc bạc hộ. Còn lại thì nhìn vào sự phong phú của các hiệu cắt tóc gội đầu với muôn biển nhấp nháy xanh đỏ và đua nhau phô ra các dịch vụ tốt nhất, ta thấy cũng rạo rực muốn đi cắt dù tóc chưa xanh chân mai.



Phụ nữ Việt Nam vốn đảm đang, thế nhưng ở miền Bắc và Hà Nội nói riêng, mỗi người phụ nữ đồng thời cũng là một bà lớn và kịch sĩ. Điều này tương ứng với cánh đàn ông khi mà người ta vẫn bảo, trong mỗi người Việt có một ông quan nhỏ và sẵn tâm hồn một thi sĩ. Phụ nữ xưa đã ham cái bút cái nghiên anh đồ, vì anh ấy sẽ đỗ làm quan, và cái cảnh võng anh đi trước võng nàng theo sau nó hấp dẫn chị em truyền đời, để đến nỗi nàng Châu Long chấp nhận xa chồng (Dương Lễ) ba năm trời, và còn ghê gớm hơn, vò võ nuôi bạn chồng là Lưu Bình trong ngần ấy năm để anh này đỗ Trạng. Nàng ấy thực sự là kịch sĩ, vì ba năm trời tịnh không thành thân với ông chồng hờ và giấu biệt tung tích mình là thiếp thứ ba của Dương Lễ.

Ở đây, các phẩm chất của chị em cứ xoắn quện vào nhau, nhưng vài chục năm chính sách bình quyền phụ nữ cũng bổ sung những phẩm chất nam tính cho chị em, nhất là trong thời chiến. Phụ nữ làm nghề dịch vụ chăm sóc cơ thể người khác phái đã bị coi như thấp kém, hay đúng hơn là cái nghề nữ tính này vắng bóng đến tận cuối những năm tám mươi. Phụ nữ vài chục năm trước không làm nhà nước mà buôn bán đã bị xem thường, huống hồ nghề vò tóc ngoáy tai chồng người. Vì thế, các chị em nào chấp nhận làm nghề xoa bóp lắm lúc bị xếp vào cùng rọ với mại dâm, trong khi đi sang Thái Lan hay khắp Đông Nam Á, du khách nườm nượp vào mát xa chân cho đỡ mỏi sau một ngày shopping như dọn kho các đại siêu thị. Dĩ nhiên, hành khách nữ người Việt hễ đến cửa khẩu sân bay Kuala Lumpur hay Singapore là bị hỏi sang làm gì, có mang hơn 500 đô không. Nếu lúng túng hay không có chứng minh tài chính, ngay tức khắc bị công an nước bạn liệt vào nhóm lao động nhạy cảm hay dự tuyển kén vợ cho các ông người Tàu, Đài Loan hay nước nào thừa nam giới, tạo nên một từ định danh được quốc tế hóa khắp khu vực – “cô dâu Việt”.

2.

Nhưng đấy là chuyện đã quá khuôn khổ những hiệu cắt tóc bình dân Hà Nội. Việc người Hà Nội chấp nhận và thậm chí hưởng ứng hơi quá nồng nhiệt các dịch vụ chăm sóc như hiện nay có lẽ lại là thay đổi tốt. Hà Nội không chỉ có phở quát cháo chửi, phục vụ chỏng lỏn, mà còn biết chiều chuộng khách. Biết chiều ở đây là chiều đúng cách. Không phải cái kiểu chăm sóc khách hàng như cái máy mà các công ty đào tạo nhân lực vẫn làm rất đỗi kỳ cục: Xin cảm ơn quý khách đã gọi điện đến công ty chúng tôi, xin cảm ơn đã sử dụng sản phẩm của chúng tôi (giọng điện thoại viên thu âm sẵn), Xin tạm biệt và ước mong được phục vụ quý khách trên những chuyến bay tới (Vietnam Airlines, dĩ nhiên), Khi nào có thông tin về giờ bay mới, chúng tôi sẽ thông báo sau (cũng ngành hàng không dân dụng nước nhà lúc hoãn chuyến). Nhưng chăm khách như thế hãy còn chiếu lệ lắm. Lúc hệ thống ngân hàng sa sút, các chị em làm dịch vụ mời vay tín dụng có lẽ đạt điểm 10 về độ nhiệt tình gọi điện chăm sóc khách hàng. Có điều ai muốn vay tiền vào lúc khủng hoảng kinh tế với lãi suất cắt cổ 20%?

Trong khi đó, các cô gội đầu ở hiệu cắt tóc nam tỏ ra là những chuyên gia thực thụ trong lĩnh vực của mình, cả về khâu ngôn ngữ lẫn thao tác. Các cô này không bao giờ phải gọi đến lần thứ hai mà khách đã sẵn sàng nằm dài ra đấy, đôi tay khi mềm như bún lướt trên da mặt khách, khi rắn đanh bóp huyệt cho thượng đế được thực sự là thượng đế. Họ kiên nhẫn đợi khách trả lời điện thoại, rồi hỏi han vài câu chuyện cùng tiếng cười khúc khích nữ tính và lạ chưa kìa, lấy ra được bao nhiêu ráy tai cùng tóc bạc, khiến cho ta yên tâm mình đẹp trai và tráng kiện hơn bao giờ hết khi bước ra khỏi hiệu.



Người Việt Nam hay có thói quen hỏi han đời sống riêng tư người khác như một cách thể hiện sự quan tâm. Câu “anh có mấy cháu rồi/ anh làm ở đâu” có lẽ cũng có ý nghĩa như câu “hôm nay anh thế nào/ hôm nay thời tiết sao nhỉ” trong tiếng Anh mà thôi, chứ cũng không hẳn có ý tọc mạch. Có điều gặp phải đối tượng không thích trả lời thì đâm “vô duyên như con điên cởi truồng”. (Một phiên bản khác của thành ngữ đời mới này là “hồn nhiên như cô tiên/ngọc quyên cởi truồng”). Ở đây cũng không có ý miệt thị người điên hay cô tiên người mẫu nào cả, thành ngữ hiện đại kiểu sát thủ đầu mưng mủ (tên một tập sách tranh hài của họa sĩ Thành Phong do Nhã Nam xuất bản năm kia gây xôn xao dư luận) lắm khi nói cho có vần và người ta bật cười vì cái sự vần vèo oái oăm mà thôi. Thì ở cái lúc gội đầu, các cô thợ gội không mấy khi hỏi về gia cảnh các anh đàn ông, và chẳng hơi đâu hỏi “chị nhà xinh không”. Các anh ra hiệu cắt tóc gội đầu ngày nay cũng như các cụ xưa đi tìm thi hứng quên cái eo sèo bìu ríu thường nhật. Với các anh, các cô gội đầu là một thế giới vô chung vô thủy, các anh là khách giang hồ cắm tay sào một chiều thu, các cô là bến liễu cứ phất phơ chẳng giữ chân cẳng ai làm gì. Ở một không gian dịch vụ mà ai cũng nói quá nhiều, quá to, người bán xoe xóe sợ mình im thì không ai biết tới mình, người mua sợ bị dắt mũi mua hớ, thì cái không khí rầm rì, nhẹ nhàng của hiệu cắt tóc gội đầu là những cõi thiên thai lắm rồi.

Thời danh từ “cõi thiên thai” nếu có gây ra ý niệm gì với thế hệ 7X thì cũng nhắc họ nhớ đó chính là thời internet đã đào tạo nguồn nhân lực đầu tiên cho công nghệ thông tin nước nhà, thì cũng đẻ ra những tài năng game và các cao thủ viết truyện “phơi ơ tông” cho các trang web khiêu dâm. “Cõi thiên thai” là tên một trang web đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của nó khi thời gội đầu và các dịch vụ nhạy cảm phổ biến. Người dùng internet Việt Nam, chủ yếu là cánh nam giới, đã khéo léo pha chế những tên gọi ám hiệu chẳng giấu được gì mà lại tố lên sự đặc biệt của nó, chẳng hạn như Liên Xô chấm Mỹ. Nó là gì, thì xin mời quý vị… google. Mới đây, Quốc hội nước ta đã thảo luận ý kiến hợp pháp hóa mại dâm. Đến lúc điều này mà thành hiện thực, thì không biết các cô gội đầu có phải làm chứng chỉ hành nghề để phân biệt với các chị em kia không. Hai việc tuy đều gần gũi người khác phái nhưng mức độ cũng xa nhau như lớp tiểu học với có bằng tiến sĩ.

Tôi còn nhớ lần đầu tiên đi gội đầu ở một hiệu trên đê La Thành, hồi lớp Mười. Một cửa hiệu nhỏ trên con đường chỉ có xe hai bánh đi được. Chị gội đầu không tỏ vẻ ngạc nhiên gì trước một thằng bé xách cặp đi học bước vào. Cảm giác của việc được chăm sóc tóc tai rất đặc biệt, lại hồi hộp không biết có gì xấu xảy ra không khi thấy người thợ ân cần dịu dàng quá đỗi. Người thợ gội đầu trang điểm cũng hơi đậm, mắt kẻ chì ánh xanh, ăn mặc khá là phóng túng so với "chuẩn" của phụ nữ khi ấy: áo phông có cổ khoét sâu, những móng tay sơn đỏ đun búng tanh tách (hình như đun là phiên âm từ Dunhill, tên một nhãn hiệu thuốc lá phổ biến thời ấy, vỏ bao thuốc có màu đỏ sẫm như vang boócđô). Mùi nước hoa nồng nồng gợi sự bí hiểm. Tôi đang viêm họng, ho khục khặc. Người thợ kiên nhẫn dừng tay đợi tôi dứt cơn nhưng lại khiến tôi càng hồi hộp tợn. Cơn ho mạnh làm tôi bắn nước bọt hay đờm và những gì nữa lên tay chị. Tôi vừa xấu hổ vừa căng thẳng đợi phản ứng từ chị gội đầu. Dù là một cái chẹp miệng chẳng hạn. Nhưng những gì tôi cảm thấy (tôi nhắm mắt vì lo sợ nên không nhìn thấy gì) là chị bình thản nhẹ tay miết cổ tôi, rồi tiếp tục công cuộc vò đầu xoa tai khi cơn ho dứt. Xong việc, chị vẫn vui vẻ lấy giá như bình thường.

Hai mươi năm nghề gội đầu vẫn “chuẩn” như thế, vậy tại sao ở đất Hà Nội này, những nghề khác lại không?

Nguyễn Trương Quý
(Diễn Đàn xuân Quý Tỵ)


Thứ Ba, 5 tháng 2, 2013

Công nghệ sống chậm


Hơn một trăm năm trước, người đàn bà có con chó nhỏ của Tsekhov có một cuộc ngoại tình chậm rãi, uể oải ở thành phố nghỉ mát Yalta trong vòng hai tuần. Cái không khí lờ đờ, đặc quánh của cơn say nắng này cũng thấy ở truyện vừa Chết ở Venice của Thomas Mann, kể về mối tình đơn phương tuyệt vọng đến vong thân của một nhà văn luống tuổi với một cậu bé xinh đẹp. Chưa hết, ở bên kia biên giới với Thomas Mann, bức thư của người đàn bà không quen của Stefan Zweig dằn vặt nỗi si mê cũng đơn phương trọn đời tại những chốn sống chậm: thành Viên, vùng núi trượt tuyết nước Áo, những phòng tiệc nhấm nháp trà với bánh quy. Người phụ nữ này giấu kín tình yêu cả đời với gã nhà văn trăng hoa bội bạc, chỉ thổ lộ nỗi lòng với người tình trong lá thư tuyệt mệnh như kẻ nghiện thú đau thương. Những cuộc thư giãn chậm rề rề đó trong cả trăm trang sách, giờ đây lại là thứ người thời hiện đại thèm thuồng khi muốn sống chậm. Thèm thuồng là phải vì thời nay kiếm đâu ra hai tuần chẳng làm gì, không bị một phương tiện truyền thông nào quấy rầy, như cái điện thoại kè kè ngay trong túi quần có cài facebook?

Ngay đến việc ngồi kiên nhẫn đọc cho hết những tác phẩm văn chương kinh điển kia cũng là một thử thách trong thời người ta gắng gỏi lắm mới đọc xuể dòng thác tin tức và xem hết các show truyền  hình hàng giờ ra rả trước mắt. Ấy là chưa nói đến cái vật trong túi quần kia – cái điện thoại smartphone có cài facebook – có đúng là bạn vừa mở ra xem có ai like cái hình bãi biển bạn vừa post lên không? Bạn chưa có câu trả lời “Bạn đang nghĩ gì” cho dòng trạng thái hôm nay ư? Nghĩa là bạn bị tụt lại rồi. Thế thì đâm ra thua thiệt. Bạn lại nhao lên khẳng định mình đang “nhanh” đây. Nhanh mà không phải chạy đi đâu cả. Chỉ cần bạn thường trực trên mạng. Chỉ cần một vật nhỏ nối mạng không dây cũng giúp bạn thành một con thỏ cho dù bạn đi hai chân chậm hơn rùa. Các công cụ ngày càng nhỏ lại, thậm chí vô hình, nhưng khả năng trói buộc bạn mỗi lúc lại chặt hơn. Chúng ép bạn ăn, ngủ, cười, khóc, đi và chạy cùng tốc độ. Sống chậm đã thành điều không thể có.

Dễ đến cả tá lần bạn ước ao, giá mà mình có thời gian, sẽ đọc sách, bên một cửa sổ nhìn ra núi hay bên bờ biển… Nhưng sách đã mua cả tủ mà lời nguyện mãi không thành. Công việc, các cuộc hẹn, cái bụng béo cần nhỏ lại… chồng chất lên mãi như một gánh tạ mà ta không sao đẩy lên nổi. Đôi khi nửa đêm ta không khỏi chạnh lòng với những dòng trạng thái đầy sáng láng của bè bạn trên mạng về cuốn sách này đáng đọc, về nhà văn nọ viết hay. Nhưng sáng hôm sau, ta lại lên đường hối hả với đủ việc có tên và không tên. Ta có một cái thắc mắc: thế là ta đang sống gấp hay chậm chạp lê qua phần còn lại của mỗi ngày, và chậm trong cả việc thỏa mãn mơ ước be bé trên? Ta chợt thấy mình vẫn chỉ là một con rùa nhờ phương tiện mà chạy thắng con thỏ. Và vẫn không phải thỏ.

***

Rùa hay thỏ thì hơn? Con số 15% người Việt có vấn đề về tâm thần mà các bác sĩ ngành tâm thần đưa ra mới đây hiển nhiên chỉ là số liệu hóa những vấn đề về tâm lý của một xã hội nhiều biến động đã nêu ra từ lâu. Nó là kết quả của cuộc sống vật chất gây sức ép lên tinh thần, của sự cô đơn và ích kỷ của con người, của những mâu thuẫn xã hội tăng lên do sự phát triển kinh tế không cân bằng, của sự thiếu hụt các biện pháp xả tress. Xu hướng thà làm rùa để còn tận hưởng được quỹ thời gian của mình xem ra đang thắng thế.

Từ đầu năm đến giờ, tôi đã có 3 người bạn lên đường hành hương sang đất Phật Ấn Độ. Ngoài ra không kể rất nhiều người quen khác đã và đang lên kế hoạch du lịch đến những nơi xa xôi, với mục đích theo họ, không phải hưởng thụ, mà để trải nghiệm những cảm xúc có hơi hướng thiền định. Không có những nơi nghỉ mát an nhàn, những chuyến đi có tiện nghi tối thiểu, chấp nhận những sự gian khổ, thiếu thốn để đốn ngộ điều gì đó.

Đấy là một phương án bên cạnh việc đi nghỉ mát. Đi nghỉ một mình đã là một thách thức sự xô bồ náo nhiệt của đời sống thành thị, dắt thêm một con chó nhỏ như người đàn bà của Tsekhov thì thật là một cực điểm của hình tượng sống chậm. Trong thiên truyện đó, con chó nhỏ kia xuất hiện như một vật trang điểm cho người phụ nữ đẹp và phát đi tín hiệu rằng nàng đang cô đơn. Có vậy mới thành cớ cho gã đàn ông cũng cô đơn kia tán tỉnh.

Thế còn những người đàn ông thành phố sáng sáng dắt những con chó Tây lông trắng muốt đi tập thể dục quanh hồ Hoàn Kiếm thì có cô đơn không? Cái đó thì ta chịu, nhưng nuôi thú cưng có vẻ là một sự thư giãn và một nỗ lực sống chậm, xa hơn là hài hòa với thiên nhiên thông qua kênh loài chó là giống vật vẫn giữ được những bản năng sinh tồn tự nhiên.

Ba chục năm trước, aerobic áp đảo thế giới thể dục thẩm mỹ nhờ những cuốn băng của nữ minh tinh Jane Fonda, người từng hoạt động sôi sục trong phong trào phản chiến một thời. Những nhịp điệu thể dục nhanh dồn dập theo nhịp nhạc disco lúc nào cũng làm huyết áp lên để nuôi sống cơ thể hừng hực.

Giờ thì thiền, tu tập, zen, nhạc chill-out, v.v… thu hút dân văn phòng thành thị như một sự phản đối lại các nhịp điệu quá mức căng thẳng kia. Người Mỹ đã bắt đầu nhìn sang châu Âu già cỗi, quan tâm đến lối sống chậm, ăn một bữa dài cả nửa ngày. Họ còn nhìn sang châu Á huyền bí, sang các khóa thiền định ở Ấn Độ, ở Thái Lan, ở Bali

Nhà báo Elizabeth Gilbert đột nhiên nổi tiếng vì viết cuốn tự truyện Ăn, cầu nguyện, yêu chỉ để nói về chính những vấn đề trên qua cuộc phiêu lưu tình ái của một chị gái Mỹ gần bốn mươi tâm hồn chơi vơi tìm bến đậu. Ăn của Gilbert là ăn chậm ở Ý, những bữa ăn triền miên niềm phấn khích mà chậm rãi, cầu nguyện là những buổi thiền định mỗi ngày vài tiếng đồng hồ ở các asram Ấn Độ, và yêu cũng ở một nơi thời gian của năm năm trước với năm năm sau không thay đổi là hòn đảo xanh tươi Bali. Đến một người phụ nữ dường như khô khan nhất thế giới và bị chồng cắm sừng mấy lần là bà Hillary Clinton, cựu đệ nhất phu nhân và đương kim Ngoại trưởng Mỹ còn phải kêu lên: “Tôi say mê Ăn, cầu nguyện, yêu”!

Và chính Jane Fonda, gần đây khi đã già, đóng vai một bà ngoại giàu lòng yêu thương con cháu nhưng khắc kỷ trong phim hài Luật của Georgia. Bà Georgia này có một cô con gái trung niên sống ở thành phố luôn stress vì công việc, vì thói bội bạc của đàn ông và sự nổi loạn của cô con gái mới lớn. Chị sinh ra thói uống rượu tiêu sầu, điều mà bà già rất kỵ. Trên đường đi tìm cô con gái đã bỏ về nhà bà ngoại, người phụ nữ thế hệ thứ hai này mở một đĩa dạy tu tập trên xe hơi để lấy lại bình tĩnh. Chị đã chẳng tập trung nổi để có được sự bình tĩnh, thậm chí còn nổi đóa lên với cái giọng điềm tĩnh trêu ngươi trong đĩa. Bằng sự từng trải, bà ngoại aerobic kia đã hóa giải tất cả, và thế là kết thúc có hậu.

Mỹ đã vậy, còn Việt Nam thì sao? Nếu như ta tin vào kết quả thăm dò ý kiến của mấy tổ chức quốc tế rằng chỉ số hạnh phúc của người Việt cao hàng đầu thế giới, và chứng kiến cảnh dân văn phòng ở Hà Nội với Sàn Gòn ùn ùn đi học yoga, thiền, dù lệ phí không hề rẻ tương xứng với thông điệp “sống giản dị” mà các khóa học ấy đưa ra, thì xã hội Việt Nam có vẻ không khác gì xã hội công nghệ cao kia, góp thêm nghịch lý vào một xã hội đã có dư thừa nghịch lý.

Nghịch lý chính có lẽ là việc xã hội Việt Nam vẫn bị xem là một xã hội đang phát triển, thậm chí còn chậm phát triển ở một số mặt, nhưng đã dấy lên nhu cầu hãm phanh sự phát triển nóng và giảm nhiệt sự căng thẳng đô thị. Thế là sống chậm ở Việt Nam ra đời như một món quà đầy chất hương xa, như thể người Việt lâu nay không biết sống chậm. Nhưng cái gì ở Việt Nam mà chả có sẵn, có điều phải đến lúc có người khai quật lên thì cộng đồng mới vỡ lẽ.

Và chúng ta ngỡ ngàng khi biết Việt Nam cũng chính là một điểm để những người phương Tây đến sống chậm. Chúng ta thấy vô lý ư? Có gì chậm nổi ở đường phố đầy ắp xe máy và ô tô mà ta đã phát điên kia? Ta muốn bỏ đi chẳng được, lại còn có kẻ đâm đầu vào? Một lời khuyên đã thành kinh điển và hiệu nghiệm đối với mọi du khách đến Hà Nội hay Sài Gòn khi gặp dòng thác xe cộ: “Đơn giản là bạn hãy trôi theo”.

***

Nhưng chúng ta không thể sống chậm trăm phần trăm. Cũng như cứ trôi theo mãi mà chẳng tăng tốc hoặc dừng lại. Chúng ta phải có một cái đích, một mục tiêu nào đó. Rùa và Thỏ thi tài nhanh chậm là căn cứ vào một cái mốc. Cuộc đời sở dĩ thú vị là vì ta được sống đa dạng, ta được tự do sống nhanh hay chậm tùy thích. Điều đầu tiên mà bạn tôi trả lời khi đi Ấn Độ về là “cảm thấy ăn ngon miệng hơn, ăn nhiều hơn”! Tôi đã tưởng bạn tôi sẽ nói về sự giác ngộ hay những tư tưởng siêu hình nào đấy.

Sống chậm cũng không đáng để bạn đặt quá nhiều kỳ vọng vào nó. Tôi không tin rằng bạn sống chậm là bạn sẽ sống khỏe hơn. Sống chậm cũng như một ngày nọ bạn phải khoác cái áo măng tô nặng sù sụ khi trời trở rét. Bạn không chạy nhông nhông ở bãi biển trong bộ đồ tắm được khi mùa nghỉ mát đã hết.

Sau khi cuốn sách Ăn, cầu nguyện, yêu trở thành hiện tượng toàn cầu, người ta đã chứng kiến không phải cơn sóng thần nào đổ bộ lên Bali mà là một cuộc hành hương của những người phụ nữ phương Tây trung niên đến hòn đảo này. Họ đến để sống chậm như tác giả Gilbert đã từng, để tìm tình yêu cũng từ một người đàn ông Tây Ban Nha nào đó đang đợi sẵn, nhưng cũng để hi vọng mình sẽ viết được một cuốn sách ăn khách tương tự! Trên một trang mạng còn có hẳn bài viết có tên gọi “Elizabeth Gilbert đã phá hoại Bali ra sao”, trong đó người viết chán ngán kêt luận, sẽ chẳng có đủ Javier Bardem (nam diễn viên chính trong bộ phim làm theo cuốn sách) cho cơ man phụ nữ đang sục sạo các ngõ ngách và điên cuồng chụp ảnh bằng điện thoại di động của mình. Và cái tên sách như một phương châm sống chậm (tên gốc tiếng Anh: Eat, Pray, Love) đã biến tướng thành một khẩu hiệu gấp gáp khi một quán ăn lấy tên nhại lại là Ăn, Trả tiền và Đi (Eat, Pay, Leave). Một thế kỷ qua, những người đàn bà đã không còn có những con chó nhỏ để vợi cô đơn mà họ có cả một công nghệ tiêu sầu mang tên sống chậm.

Nguyễn Trương Quý
(Phụ Nữ TP.HCM Xuân Tân Tị)

Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2013

Tự thú của một biên tập viên


Đã có nhiều sách và lớp dạy đọc nhanh. Những tài liệu tham khảo hay bài đọc cho thi cử đương nhiên phải đọc nhanh. Thậm chí tiểu thuyết kinh điển cũng có những bản rút gọn để đọc nhanh. Các tác giả văn chương cũng đã dần ít viết những cuốn tiểu thuyết trường thiên, các nhà xuất bản ưa việc in những cuốn sách khổ vừa, 300 đến 400 trang, vừa đỡ chi phí vừa dễ tiếp thị.

Đọc nhanh là điều cần thiết không thể chối cãi trong tình hình thế giới mạng áp đảo như bây giờ. Các văn bản mạng như ghi chép (note, entry) thường chỉ chừng 1500 từ là đủ dài, và nhất thiết phải ngắt làm nhiều đoạn theo các ý chính để người đọc đủ kiên nhẫn đọc mà không rê chuột bỏ qua. Thậm chí màn hình cảm ứng giờ đây còn đẩy nhanh tốc độ duyệt trang, thay vì con trỏ đã có vẻ chậm hơn.

Đấy là may mà người ta còn đọc! Trong cái thời đường hình đi trước đường tiếng, chứ chưa nói đến đường chữ nghĩa, những cuốn sách sẽ chỉ có được vị trí thiết thực khi người ta thấy đọc sách đem lại ích lợi gì đó. Định nghĩa cổ điển của việc đọc mà gần như ai cũng biết là nó đem lại tri thức cho người đọc. Tuy vậy, hiện giờ các kênh TV và hệ thống mạng xã hội đã bài binh bố trận cho người tham dự căn chỉnh lượng nhận thức đang có vừa vặn với khung trí tuệ của chúng. Thời lượng của mỗi chương trình truyền hình dưới hai tiếng đồng hồ có vẻ như đã mênh mông cho người ta dán mắt vào đấy.

Các cuốn sách best-seller đã không còn làm mưa làm gió truyền thông như một thập niên trước, lúc Harry Potter và Mật mã Da Vinci là những ông vua bà hoàng cuối cùng của sách in. Sáu năm qua, kể từ tập cuối của Harry Potter, các nhà xuất bản lớn sốt ruột chờ hiện tượng xuất bản nào lặp lại kỳ tích, nhưng đã kết thúc bằng việc hai nhà xuất bản lớn hàng đầu thế giới là Random House và Penguin sáp nhập với nhau. Thói quen đọc sách điện tử và lướt các mạng xã hội đã tiêu tốn thời gian và sức đọc của con người hiện đại. Các cháu tôi thích xem loạt phim về cậu bé phù thủy Harry hơn là đọc truyện, những cuốn truyện theo tôi là hay hơn phim song mắc phải lỗi là quá nhiều chữ đối với những đứa trẻ đã bị lối học nhồi nhét làm khô kiệt năng lực đọc. Nếu có đọc, chúng sẽ đọc những cuốn truyện tranh, từng tập mỏng mỏng, rất nhanh.

Thú thật là chính tôi cũng muốn đọc nhanh. Tại sao lại phải nhẩn nha hàng tuần cho một cuốn sách trong khi áp lực công việc còn đầy kia kìa? Giải trí ư? Tôi có thể ra rạp xem một bộ phim trong hai tiếng đồng hồ. Tôi có thể la cà trên mạng với một tốc độ ào ào trong hàng mấy tiếng, vừa xem tin ca sĩ này đang làm gì vừa đọc blog vui vui của người kia. Mỗi ngày tôi thấy mình xa với sách vở hơn, cho dù nghề của tôi có thể là biên tập hoặc viết văn đấy.

Có thể nói, đọc sách như thế nào hiện đang là vấn đề khá nặng nề với tôi. Tự khi nào việc đọc sách không còn là tự nguyện và hào hứng? Phải chăng là đời sống của tôi đã đứt những kết nối nào đó giữa những trang sách mình đọc và hiện thực ồn ã ngoài kia?

Trung bình mỗi tuần, tôi có ít nhất một bản thảo cần đọc thẩm định và luôn có một cuốn sách nào đó đang đọc dở. Việc đọc có vẻ như không bao giờ kết thúc. Nếu nói mỗi cuốn sách sẽ giúp ta học được điều gì đó và nếu ứng với số lượng sách một người đọc chuyên nghiệp (nghĩa là thuộc giới điểm sách và biên tập viên chăm chỉ) đọc trong một đời, thì có lẽ người này thông tuệ hạng nhất.

Nhưng bạn thấy đấy, tôi vẫn làm công việc này bình thường, không có dấu hiệu gì là dễ dàng hoặc thông thái hơn. Và tôi không giàu hơn hay nhàn hơn. Vì vậy sẽ là nỗi thất vọng khủng khiếp cho ai đó mưu cầu việc đọc sách sẽ giúp họ làm nên chuyện. Đọc, chỉ có ý nghĩa với một người khi người đó đọc với nhu cầu tự thân, bằng niềm say mê. Đọc sách không phải là việc dễ dàng nếu xếp vào loại việc thẩm định văn bản, và mệt mỏi nếu coi là một thú giải trí.

Tôi chỉ có thể nói rằng, tôi gặp được một số con người độc đáo và những chân trời lạ lùng cũng như thấy mình hiện lên trong những môi trường rất giống hoàn cảnh đang sống. Chúng làm tôi cảm động, phấn khích hoặc ngẩn ngơ. Chúng là những khung cảnh để tôi nhập mình vào đó, sống một cuộc đời vài ngày mà không phải xê dịch đâu cả. Chúng là một cách du lịch thú vị, một trò chơi tâm lý.

Vì thế những châm ngôn sách là kho tàng, là của cải, có lẽ chỉ là những cách nói có phần phóng đại để khiến người học có động lực đọc sách. Rút cục thì việc đọc sách nhanh chỉ thực sự góp phần cho việc đọc khi người ta đã có thói quen đọc (bình thường) đã. Việc tối đa hóa mục đích của việc đọc dẫn tới những thế hệ đi học chỉ nhăm nhăm đọc sách để cho xong việc, với những trích dẫn cắt xén và nhào nặn cho hợp với lập luận của mình.

Có lẽ người ta phải quen dần với những thế hệ đọc sách theo một cách khác, cũng như quen với việc trẻ con lướt mạng, dùng sản phẩm công nghệ cao để lục tìm kho tri thức được số hóa. Các cháu tôi cũng ưa thích việc tra cứu google hay wikipedia để biết được thế giới ra sao. Tôi cũng hi vọng chúng có lúc nào đấy tìm đến sách, nhất là để thưởng thức văn chương bằng nhu cầu tự nhiên của chúng. Hiện giờ, chúng vẫn xin tôi vài cuốn tản văn tôi đã in để tặng cô giáo hay làm quà sinh nhật bạn. Lý do ngoài việc “của nhà trồng được”, chúng bảo, sách mỏng chắc các bạn dễ đọc!

Nguyễn Trương Quý
(Hồ sơ và Sự kiện số Tết 2013)

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ