Thứ Tư, 28 tháng 1, 2015

Sự thiên vị của hồn phố

Khoảng vài năm nay, trong cơn sốt bạn bè mua nhà mới, thường là căn hộ nào đó ở những khu đô thị mới ở vùng ven Hà Nội, tôi cũng bon chen đi tham quan. Xem xong, tôi thường phải nâng lên đặt xuống các tiêu chí. Một trong những điều khiến tôi cũng như nhiều người đang ở trong khu phố thuộc vùng nội thành cũ lăn tăn là những khu ấy mới quá, chẳng biết có không khí gì của phố xá không, chợ búa có gần, có cây xanh vườn hoa không… hoặc “tầm thường” như muốn đi ăn phở trong phố cổ thì mất bao lâu. Tóm lại mục đích vẫn là nơi mới cần tái tạo một không khí, một cái hồn tựa như vùng đô thị cũ tôi đã quen. Điều này tuy mơ hồ nhưng có cơ sở.

Dì tôi trước đây ở khu Ngã Tư Sở, khi nhà nước giải tỏa nhà để mở rộng lấy đường giao thông, cả vùng về khu tái định cư ở khu đô thị mới Định Công trong mấy tòa chung cư cao tầng. Nếu ai còn nhớ thì khu Ngã Tư Sở vốn là một cửa ngõ sầm uất phía Tây Nam của Hà Nội, nơi có hẳn bề dày về thương nghiệp, nơi có chợ Cầu Mới, đường tàu điện Hà Nội-Hà Đông chạy qua… Ngã Tư Sở như cái rốn của khu vực này, có lẽ sầm uất chỉ kém chợ Đồng Xuân-Bắc Qua một thời. Rồi Ngã Tư Sở mở rộng, cây cầu vượt chia đôi khu, cộng thêm các trung tâm thương mại khác ra đời gần đó. Những người từng quen buôn bán và sinh hoạt theo nếp sống ồn ào, giờ về sống trong khu đô thị mới nhiều cây xanh, chung cư thang máy và mọi sự khép kín, hàng xóm dân phố trước đây giờ vẫn là hàng xóm nhưng khác tầng, khác đơn nguyên. Rảnh rỗi, họ làm gì bây giờ? Tiền tiết kiệm ăn mãi cũng hết. Dĩ nhiên khu đô thị mới cũng có chợ, nhưng mấy khối nhà cao tầng nằm tách biệt hẳn ra, cư dân ba đời buôn bán mặt mũi ai nấy mệt mỏi, chán nản. Cuối cùng họ có sáng kiến là mở chợ ngay tại căn hộ. Có nhà bán hàng khô, có nhà bán đồ tươi sống, thậm chí mở cả phản thịt. Có tầng thành như một phố chợ mini. Ban đầu cũng rôm rả, nhộn nhịp lắm.

Việc họp chợ trong chung cư không mới, khu Trung Hòa-Nhân Chính đắt tiền hơn đã có, ở Sài Gòn cũng có. Nhưng rồi ban quản lý thấy rắc rối nên cũng sớm dẹp, thêm nữa là những người bán cũng thấy căn hộ thiết kế để ở không thể đáp ứng kiểu bày hàng như sạp ở chợ hay cửa hiệu ở mặt phố. Cùng lắm cũng chỉ như chợ xanh, chợ cóc, từ lấy hàng, cất trữ đến chuyên chở đều bất tiện. Mặc dù non sông thay đổi, bản tính khó dời, nhưng cái chi li chật hẹp đóng kín của căn hộ tái định cư, hành lang, cầu thang thiết kế chỉ có ngần ấy mét vuông để đi lại, không tiện lợi lâu dài cho việc dựng lại cái hồn phố như ngày nào. Cái bản tính, cái hồn quen thuộc đã đến lúc phải chọn một câu tự động viên khác: Ở đâu âu đấy.

Bây giờ, những người sống ở khu chung cư như vợ chồng dì tôi đã chấm dứt mong muốn tái nghề, họ rủ nhau đi tập thể dục ngày hai lần ở vườn hoa trong khu đô thị mới, nấu hai bữa cơm đợi con, chiều dắt xe đi đón cháu, chấp nhận ăn quà sáng ở những quán theo họ là kém xa khu phố cũ. Họ đã quên mình từng là dân phố chợ. Hồn phố mới bây giờ với họ là hàng cây đều tăm tắp dọc các con đường có độ rộng tiêu chuẩn 3,5m, là các vườn hoa be bé giữa các dãy nhà biệt thự hoặc nhà lô liên kế 4m chiều ngang, là cầu thang máy dán chi chít thông báo và quảng cáo dịch vụ giao hàng tận nhà.

Một người bạn của tôi vì công việc đã chuyển nhà từ Hà Nội vào Sài Gòn. Chị đón cả mẹ vào để tiện chăm sóc và cũng để bà gần cháu. Khỏi phải nói sự thay đổi lớn thế nào khi bà đang từ căn nhà bé tí một phòng 10m2 ở phố cổ Hà Nội vào ở một tòa nhà rộng mấy phòng ngủ nơi quận mới của Sài Gòn. Mỗi ngày của bà diễn ra cũng nhàn tản như của dì tôi ở căn hộ tái định cư. Nhưng cứ có khách ở Hà Nội vào thăm là bà kể chuyện giá cả, bao giờ rau ở Hà Nội cũng rẻ hơn, quà sáng ở đây nấu không ngon bằng ở phố cũ. Bà dạy cháu: “Nhà mình ở đâu? Hà Nội. Phố gì? Phố X. Số nhà bao nhiêu? 50.” Tức là với bà, nhà vẫn là căn nhà ở góc phố rêu xanh chật chội Hà Nội, ngồi ở cửa là chào không hết người quen, chứ không phải khu đô thị mới bên sông Sài Gòn, cả buổi mới có một hai người lai vãng. Có thể nửa năm nữa bà mới quen được không gian sống mới này, mới có những mối quan hệ bạn bè, nhưng bà là điển hình cho việc chưa tìm được cái hồn đô thị mới thay thế cho một phần hồn đã quen thuộc cả đời người.

Hồn phố như người ta đã chỉ ra, được tạo nên từ ký ức của mỗi người, mỗi thế hệ. Sự bảo thủ ở đây còn giúp cho việc duy trì một đường nét nhận dạng phần hồn ấy, như trường hợp mẹ bạn tôi. Sự thích ứng giúp cho họ chóng tạo lập một ký ức mới để có được một hồn phố thị mới, như trường hợp dì tôi. Không cần nói cũng hình dung chị bạn tôi điên tiết thế nào khi sống cùng một người thân suốt ngày “nhớ Hàng Bạc nhớ qua Hàng Đào”, “nhưng rau muống ở Hà Nội ăn ngọt hơn”, “sang năm mẹ phải về ăn Tết hết rằm”. Tuy nhiên, nếu chúng ta nhớ lại một chút thì những ký ức này hệt như những gì Vũ Bằng đã viết trong Thương nhớ mười hai lúc ông đã di cư vào Nam, để rồi người sau coi đấy là chân dung một hồn phố Hà Nội thực sự. Còn hôm nay, khi Tết về, trên Facebook nhiều người ở xa thốt lên câu nhớ Hà Nội, nhớ mưa phùn gió bấc. Có cái gió lạnh nào chỉ nghe tên gọi mà hình dung ra đường phố xao xác, ra áo len, ra khăn quàng, ra hoa đào, ra nước lá mùi thơm, ra nước chè nóng, ra những bài hát… những thứ khá rời rạc nhưng kết lại thành một hệ thống, gợi cái này dắt theo cái kia, như một sơ đồ tư duy. Sơ đồ này không chỉ người Hà Nội mới có, nhưng một khi họ đã thiên vị thì chẳng sơ đồ nào bằng. Một khi đã thiên vị thì gió rét cũng đáng yêu. Hồn phố của họ ở đấy chứ đâu?

Nguyễn Trương Quý

(Pháp Luật TPHCM Xuân 2015)

Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2015

Sự nhỏ bé của bản sắc

Cách đây hơn chục năm, khi chuẩn bị xuất bản một cuốn sách, một nhà xuất bản ở Việt Nam bao giờ cũng tính đến bán cho thị trường nào, Hà Nội hay Sài Gòn. Tình hình cũng tương tự với phim ảnh, ca nhạc, sân khấu. Một mặc định đưa ra là: Hà Nội khó tính hơn Sài Gòn, gu Sài Gòn thích thực dụng, thích hài hơn Hà Nội. Còn món ăn? Đừng hòng bán phở ăn với đĩa giá sống và rau húng ở Hà Nội. Không khéo mà bị người “sành mồm” Hà Nội chửi cho nát nước. Câu chuyện kinh điển là khách Sài Gòn ra Bắc bị chủ quán đuổi vì ăn phở hỏi giá đâu. Cùng để ngọt mồm, phở Bắc thì “tương” mì chính, phở Nam thì “nêm” đường. Lưu ý, tương và nêm là hai động từ đồng nghĩa, nhưng mỗi miền chỉ dùng một từ, đồng âm với những từ khác, dùng lẫn lộn là không ai hiểu. Đấy là một loại bản sắc.

Bây giờ tình hình đã khác. Phở 24 từ Sài Gòn ra đã trụ lại được cả mười năm nay. Ngay cả phở truyền thống thủ đô cũng đã ngọt vị đường. Giới trẻ Hà Nội tuy đón Starbucks, thương hiệu quán cà phê của Mỹ, muộn hơn Sài Gòn vài tháng nhưng cũng nô nức chẳng kém. Sách của nhà xuất bản Trẻ từ Sài Gòn ra bán tràn ngập phố sách Đinh Lễ ở Hà Nội. Nhã Nam thư quán ở Sài Gòn bán sách cũng rầm rộ không kém đại bản doanh phía Bắc. Trong khi đó, cuộc tranh cãi về bản sắc Hà Nội vẫn thu hút đám đông hăng hái, trên mạng và trên những phương tiện thông tin đại chúng khác.Trên một chương trình bình luận ca nhạc về Hà Nội trên tivi, một nữ phó giáo sư nghệ thuật học đã kiên quyết bắt hội đồng bình luận phải đồng ý với bà rằng “tiêu chuẩn đầu tiên để hát hay về Hà Nội là phải hát bằng giọng Hà Nội”. Nhưng trên các bảng xếp hạng bài hát yêu thích, giới trẻ miền nào cũng nghe một danh sách bài như thế, ca sĩ nào cũng hát bằng một giọng không cần biết vùng nào, thậm chí còn không rõ thanh dấu như người nước ngoài nói tiếng Việt. Bài hát của giới trẻ cũng chẳng ngại mà “tương” mà “nêm” vài câu tiếng Anh cho vui tai. Tính quốc tế thì có lẽ không, vì ngoài vài chục triệu thanh thiếu niên nước nhà ra, không thính giả ngoại quốc nào biết đến mấy bài hát này. Thế nhưng dư luận Việt Nam lại vô cùng bức xúc về đâu là bản sắc Việt khi cho rằng bài hát đình đám nhất hiện nay của một nhạc sĩ trẻ quê Thái Bình đạo nhạc Hàn Quốc. Khổ nỗi là những bài hát về Hà Nội thì tinh thần Hà Nội lắm, nhưng chúng không may mắn bằng các món ăn. Món ăn biến tấu được nhiều vẻ, còn bài hát về Hà Nội cứ biến tấu cách hát đi là ngang phè.

Tình hình cũng không sáng sủa khi người ta bất lực trong việc truy nguyên gốc tích món phở Hà Nội. Nó có đạo món mì của người Tàu hay món súp thịt bò của người Pháp không thì không ai chắc, nhưng sự thật là sau hai, ba chục năm xuất hiện mà phở đã được người Hà Nội xếp vào hàng quốc hồn quốc túy và đến giờ, phở đồng nghĩa với một giá trị văn hóa Hà Nội. Người ta đành chấp nhận rằng phở ra đời sau khi có một thành phố Hà Nội theo mô hình hiện đại do người Pháp quy hoạch nên. Nó là kết quả của sự lai tạo, vì thế cũng biến đổi theo gu mỗi thời. Cuộc tranh luận về ẩm thực lại xoay theo hướng khác.

Những cuộc tranh luận về ẩm thực Hà thành gần đây ngoài việc tìm xem đâu là tính nguyên bản của những món ăn, còn là sự lựa chọn giữa tiêu chuẩn “ngon” và “thái độ phục vụ”. Có người cho rằng “ngon” thì đích thị nguyên bản, là chuẩn Hà Nội. Có những người chấp nhận phở quát cháo chửi để ăn một món theo họ là ngon vì độ đậm đà của nước dùng, của bánh phở mềm mịn hay nước chấm thanh dịu. Có người phản đối, chưa biết ngon thế nào nhưng ngồi đợi cả tiếng mới có cái ăn trong khung cảnh bô nhếch, lại được khuyến mại bằng tiếng chao chát của người phục vụ thì chả hơi đâu đâm đầu vào. Và như thế, không thể chấp nhận là một tiêu chuẩn cho Hà Nội. Thà rằng ăn bánh KFC uống cà phê take away, tất cả xếp hàng trả tiền trước rồi lấy đồ, đồ ăn thức uống trăm nơi như một, bù lại thảnh thơi ngắm hồ Gươm còn có tinh thần Hà Nội hơn. Quả thực, đem hai tính chất “đẹp” và “ngon” để định giá cũng mơ hồ như gọi ra bản sắc. Người ta đã chuyển dịch mối quan tâm về bản sắc từ vật chất sang hành vi.

Gần đây, khi những cuốn sách như Hà Nội băm sáu phố phường của Thạch Lam hay Miếng ngon Hà Nội của Vũ Bằng được tái bản, có người đã cười nhạt: “Đúng là chỉ có ở ta viết về món ăn mà cũng thành danh tác!” Nghe thì có vẻ là điều không may cho văn học nước nhà, nhưng lại là điều may cho Hà Nội. Trong hệ thống “nhận diện thương hiệu” Hà Nội, món ăn đã nổi lên như một thứ trường cửu và không tầm thường như lối suy nghĩ cổ điển rằng nghĩ không vượt qua được cái dạ dày thì không làm nên chuyện. Trong khi những thành tựu trí tuệ của người Việt hiếm hoi lắm mới có mặt đây đó trên thế giới thì trong các cuốn menu đồ ăn châu Á trên đường du lịch, phở bò hay nem rán – hai món tủ của dân Hà Nội –  xuất hiện đỡ tủi thân hơn, ít ra là được ghi bằng tiếng Việt hẳn hoi.

Thời gian đã chứng tỏ sự khao khát đồng nhất bản sắc Hà Nội với cái đẹp, hay là Chân Thiện Mỹ thông qua những kênh “tầm thường” như ẩm thực, giọng nói, cách ứng xử ở phạm vi cá nhân. Nó là một phản ứng trước những sai lầm về xáo trộn sự ổn định các quan hệ giai tầng một thời và quy hoạch mang tính vĩ mô về xây dựng con người Hà Nội thanh lịch văn minh gần đây. Người ta đã nhận ra giá trị mang tính “danh tác” của những trang viết về ẩm thực Hà Nội, hay là những thứ nho nhỏ mang tính cá nhân của con người đô thị. Đã có một giai đoạn những nhà quản lý xóa bỏ hoặc xem thường những đặc điểm thị dân của Hà Nội, dẫn tới việc không dựng ra được một chân dung hay bản sắc của Hà Nội, hay chính xác hơn, giữa bản sắc mong muốn có được và hiện thực quá khác biệt. Những cuộc tranh cãi triền miên về sự thanh lịch của người Hà Nội hoặc thế nào là người Hà Nội gốc một mặt chứng tỏ nỗi khao khát tìm lại vẻ đẹp mẫu mực về một tiêu chuẩn cư dân đô thị văn minh, mặt khác thúc đẩy dư luận phục hưng các giá trị làm nên vẻ đẹp đó, tiến tới nhất thể chúng với định nghĩa bản sắc Hà Nội.

Hà Nội đã là một thành phố lai (hybrid) do kết quả của quá trình thuộc địa. Qua năm tháng, tính lai này vẫn là thứ tạo nên một phẩm chất đa diện hấp dẫn nhiều người tìm đến, cả khách du lịch lẫn giới sáng tác. Hà Nội có lẽ là một ví dụ đặc biệt để nói về đô thị hậu thực dân tái tạo bản sắc của mình. Những năm 1880, ở Hà Nội diễn ra cuộc đấu tranh giữa giữ lại những di tích bản địa và quy hoạch mới kiểu Pháp. Nhiều người Pháp đến Hà Nội muộn hơn đã tiếc nuối cho những di tích cổ bị phá để xây phố Tây. 130 năm sau, cuộc đấu tranh lặp lại, giữ lại những hình hài cũ hay là xây mới kiểu toàn cầu hóa. Và thật lạ là giữa khoảng thời gian ấy, chúng ta vẫn nhận ra món phở ngày nay giống với thứ Thạch Lam đã miêu tả như một nhận diện bản sắc Hà Nội. Trào lưu nơi nơi tranh cãi về bản sắc Hà Nội, đến độ tưởng như người Hà Nội quyết không đội trời chung với bọn nhà quê hay dân Sài Gòn “ăn phở trụng giá”, phải chăng chính là một bản sắc chỉ Hà Nội mới có?


Nguyễn Trương Quý
(Người lao động Xuân 2015)

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2015

Khuôn mặt cười của phố

Lời giới thiệu cho tập tạp văn "Mặt của đàn ông", Nguyễn Việt Hà, NXB Trẻ 2015, tái bản có bổ sung.




Trong tạp văn của mình, Nguyễn Việt Hà nhận xét rằng đàn ông Việt hay tươi cười, vậy mà “Khi bàn về cười, đôi khi con người ta cũng phải mếu máo cay đắng đùa”. Đọc tạp văn của anh, người ta thấy rộn ràng dí dỏm những cú tỉa đọc lên thấy buồn cười. Làm thế nào để giữ được đẳng cấp hài hước như thế suốt năm này qua năm khác, khi trong sự riêng tư là đủ vị mệt mỏi chán chường của kiếp người, đặc biệt là người sống ở Hà Nội, nơi nhiều khi chỉ cần đi ngoài đường từ sáng đến tối là ngao ngán nhân tình. Người viết hướng ngoại như Nguyễn Việt Hà không ngao ngán mới là lạ.

Nhưng chính cái chốn dễ gây ngao ngán ấy lại nhiều khi mang đến cho anh những phần thưởng: “Trời thu Hà Nội thường rộng rãi, có lúc mây sẫm màu cồn cào thê thảm vần vũ, có lúc mênh mông típ tắp phóng khoáng cao xanh. Sao mà trời đất tự nhiên có ngày trăn trở phức tạp giống hệt như ngổn ngang lòng người, đang lâng lâng hào hứng hoan lạc chợt trầm xuống đột ngột nghẹn ngào bi tráng. Quả là một tiết mùa kì dị, thiên nhiên bỗng tương giao khăng khít vô cùng gần gũi đầy đẫm nhân tình” (Chơi vơi trăng thu). Cười đấy rồi lại trầm buồn đấy, tất cả làm nên sự gần gũi của những tạp văn Nguyễn Việt Hà viết về cuộc sống ở Hà Nội, dường như chỉ xoay quanh mấy từ khóa cơ bản – đàn ông, phố cũ, sách xưa, rượu ngon, người đẹp – mà đủ thứ chuyện. Có thể dùng chính những từ khóa đó để mô tả cuộc sống của đàn ông Việt Nam ngày nay, mà chúng cũng chính là những gì giới đàn ông có học thời trước bận tâm. Cuộc đời quả thực sẽ rất nghèo nàn và nhạt nhẽo nếu chỉ xoay quanh những vốn từ ngữ hạn hẹp chỉ dùng để định danh, nhưng qua bàn tay của những người viết, nó lung linh hẳn lên, sinh động tung tẩy như hình ảnh người đàn ông bán hàng ở chợ Đồng Xuân: “Anh ta đầu đội thúng, mồm và mông dẻo nguây nguẩy, nói tục như ranh. Bánh dày giò của Phương đồng cô tinh tế khó tả, một thứ quà tuyệt phẩm của chợ” (Đàn ông ngồi chợ).

Tạp văn của Nguyễn Việt Hà có một số lượng lớn xuất xứ từ chuyên mục viết về đàn ông, nên dễ hiểu là anh có điều kiện thâm canh mảng đề tài về nam giới thành thị. Nhưng ai đã từng giữ chuyên mục của các tạp chí thì đã biết nỗi vất vả của việc nuôi đề tài. Tuần tới, tháng tới sẽ viết gì, và làm sao lúc nào cũng vui như anh kép Tư Bền lên sân khấu, đấy là một áp lực kinh khủng. Không phải bài nào viết ra cũng tự thấy vừa ý, nhưng ngày nộp bài đã đến, lúc này phải cậy đến những chiêu thức viết nhà nghề để đảm bảo “phong độ nhất thời, đẳng cấp mãi mãi”. Nhờ vài chiêu thức ở phút cuối đó tựa như những bát bún thang hơi rối các thành phần, mỗi thứ đi lung tung một nẻo, gạt một thìa mắm tôm ngon vào bỗng hóa giải thành một thức quà thống nhất. Ở những bài viết tương đối thảnh thơi hơn, như viết về tác phẩm của một vài bạn văn nghệ như triển lãm tranh của Lê Thiết Cương, thơ của Nguyễn Quang Thiều, lục bát của Đồng Đức Bốn, văn của Đỗ Phấn, truyện thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh… hay về ngày xuân, về kỷ niệm tuổi nhỏ, giọng văn Nguyễn Việt Hà mênh mang, gợi mở như những phút thư giãn thống khoái của một người đang len lỏi giữa giăng mắc chợ búa nhà cửa chật chội bỗng gặp chiếc ghế đá trống ở vị trí đẹp nhất nhìn ra tháp Rùa giữa hồ Gươm.

Mỗi thành phố văn hóa luôn có những nhà văn của mình. Là một người kể chuyện đầy thú vị của Hà Nội, Nguyễn Việt Hà qua hơn hai thập niên đã dựng nên chân dung thành phố mình đang sống. Viết bằng giọng văn mà trước và sau không giống ai. Hà Nội của Nguyễn Việt Hà từ các tiểu thuyết Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn, Ba ngôi của người, các tạp văn Con giai phố cổ, Đàn bà uống rượu... mang hơi thở náo nhiệt đương đại nhưng cũng giữ những nét xưa cũ. Người Hà Nội là những ai, Nguyễn Việt Hà cố gắng nhận diện họ trong thời điểm xã hội đòi hỏi khẳng định bản sắc, đặc biệt ở thành phố này.

Trong khi Hà Nội biến đổi từng ngày, vấn đề bản sắc trở đi trở lại đến mức ám ảnh trong tâm lý của hệ thống truyền thông. Nguyễn Việt Hà nhấn mạnh rằng (điều đã nhấn mạnh hàng trăm lần) ký ức về những hành vi văn hóa của thị dân là thứ có khả năng truyền giữ lâu nhất. Những cảm xúc vàng mười không đổi được của những khám phá thế giới thuở hoa niên quanh những trang sách thánh thiện: “Bịt tranh đi đọc phần lời vẫn thấy náo nức xúc động, câu cú minh bạch trong sáng ăm ắp hào sảng, thật là kiểu văn chương chẳng thể để đời nhưng tuyệt vời dễ nhớ. Và lạ nhất là khi gấp cuốn truyện, cẩn thận giấu sâu vào dưới gối may tạm bằng bao bố thì bốn vách nghèo nàn của căn hộ tập thể bỗng ngập đầy tiếng gươm khua trống gõ. Bọn trẻ khao khát rừng rực ước muốn được giống như Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản. Mãi sau này khi đã có tuổi, nhiều người lớn mới ngộ ra rằng ‘trong sách có Thần’ là câu chẳng hề ngoa ngôn” (Khi trẻ con đọc). Thứ làm nên mẫu số chung của một nhân diện Hà Nội, theo Nguyễn Việt Hà là “Lưu manh Hà Nội tuy mất dạy, nhưng chưa thấy ai đi bắt nạt những thằng bé đang yêu chân thành ngồi khóc” (Có một mùa hè như thế) đến phong thái người phụ nữ thành thị ngồi xích lô qua chính lời kể tác giả về mẹ của mình.

Và viết tạp văn như thế này cũng là công việc lộ diện chính mình khá nhiều. Viết văn hư cấu dù ám chỉ đến đâu cũng còn đường núp vào “bảy phần hư”, trong khi ấy tạp văn của Nguyễn Việt Hà kể vanh vách chi tiết đời sống xung quanh mình, đến cả “cái hàm răng trên gia truyền từ họ ngoại luôn nhô ra giống như đang cười hớn hở” (Đàn ông tươi cười). Đàn ông tự soi được mặt mình, tự giễu hay tự yêu mình không rõ, nhưng không viết tạp văn khiến người ta hớn hở đọc mới là chuyện lạ.

Nguyễn Trương Quý



Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ