Chủ Nhật, 25 tháng 7, 2010

Tập thể dục văn hóa hàng ngày

Bài đăng trên Vietnamnet hôm nay, do bạn Tuyết Hạnh phỏng vấn.

Có phải do cảm hứng từ Cuộc vận động “Hướng đến 1000 năm Thăng Long” mà anh đã cho ra mắt kịp thời cuốn sách này hay vì một lý do nào khác?


- Đây là những ghi chép trải dài từ nhiều năm nay của tôi về đời sống Hà Nội - những gì hiện lên trước mắt ở Hà Nội, có cái là hậu quả, có cái là mới nảy sinh, nhưng là những gì “đương thời” nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống xung quanh của tôi. Cuốn sách được viết ra như một nhu cầu viết của một người sống ở Hà Nội.


Khi bàn về văn hóa Hà Nội, có người chọn cách khẳng định, ca ngợi, có người chọn cách phản biện, thậm chí phê phán. Có thể thấy ở cuốn sách của anh, cảm hứng phản biện nhiều hơn là khẳng định. Anh có thể cho biết tại sao lại như vậy?


- Khi viết, tôi muốn nhìn mọi sự ở góc độ hài hước toát lên từ những vẻ nghịch dị của đời sống. Mà đời sống Hà Nội thì luôn đầy ắp những chất liệu như vậy. Nếu có phản biện thì cũng là để xây dựng và khẳng định một giá trị tốt đẹp mong muốn.


Lại nữa, có người bàn về văn hóa ở cấp độ vĩ mô, nhưng ở cuốn sách của mình, anh hay bàn về văn hóa trong những biểu hiện vi mô, tức là về những cái thường ngày, qua đó mà toát lên các thẩm định văn hóa. Vì sao anh lại lựa chọn cách làm này ?


- Văn hóa của Hà Nội hay ở đâu cũng thế, thể hiện qua những cái thường ngày, là những thứ chúng ta va chạm từ khi mở mắt ra buổi sáng cho đến lúc nhắm mắt lại đi ngủ. Những điều nhỏ nhỏ ấy, từ lời ăn tiếng nói, lối ứng xử, đi lại cho đến tham vọng của cư dân, tất cả là những mảnh ghép cho bức tranh văn hóa lớn của đô thị. Tôi hy vọng những thứ “vi mô” ấy là thứ giữ chân người đọc – những người có nhiều chia sẻ với mình.


Trong cuốn Hà Nội là Hà Nội, có cuộc tìm kiếm những giá trị văn hóa ở một thành phố tưởng như đã định hình nét văn hóa mà vẫn liên tục phải gọt giũa. Đó đơn giản là những liên tưởng của anh hay những gì anh “mắt thấy tai nghe” trong cuộc sống thực tại?


Hà Nội là một đối tượng quan sát có khả năng mở rộng ra vô số những ngóc ngách liên tưởng, như những con ngõ đâm trổ vào nhau tưởng không quy hoạch mà thực tế thể hiện một cách hữu cơ lối ứng xử của người Hà Nội với không gian sống cũng như giữa con người với nhau. Tìm kiếm giá trị văn hóa ở Hà Nội cũng như đi trong mạng lưới những ngóc ngách ấy, vừa là cái bề nổi đập vào mắt, vừa khiến ta muốn tìm hiểu sâu hơn cái bên trong. Những điều ấy gây cho chúng ta những mối liên tưởng cái nọ xọ cái kia, đó chính là điều đặc biệt của Hà Nội.


Đã có rất nhiều nhà văn viết rất hay về Hà Nội. Đến lượt anh, anh có chịu áp lực này không? Và anh “thoát khỏi” những “bóng đè” ấy bằng cách nào?


Hà Nội có 6 triệu dân, nghĩa là có chừng ấy góc nhìn, ngoài ra còn bao triệu người nơi khác nhìn Hà Nội nữa. Với tôi, nhìn để viết về Hà Nội trước hết là về những gì mình thích, mình quan tâm, và mình có gắn bó.


Ngày xưa các tác giả viết về Hà Nội khi đó là một thành phố thay đổi rất ít từ không gian cho đến nếp nghĩ. Cho đến tận những năm 1990, độc giả của Thương nhớ mười hai vẫn còn có thể chia sẻ với cảm xúc những năm 60 của Vũ Bằng khi ông hồi tưởng lại Hà Nội những năm tháng 1940 xưa cũ. Độc giả đầu thế kỷ XXI đối diện với một thực tế khác hoàn toàn, chẳng hạn như những địa danh Vũ Bằng nhắc đi nhắc lại đã không còn như trước.

Hay là mới mấy năm trước, khi tôi phỏng vấn nhà văn Nguyễn Việt Hà, anh có kể rằng đôi khi anh rất muốn viết về những cửa ô Hà Nội. Anh có một quan sát rất tinh tế: đường tàu điện ngày xưa khi ở trong nội ô thì nằm bằng cốt mặt đường, nhưng khi ra khỏi các cửa ô thì đường ray nổi lên trên, lộ ra những thanh tà vẹt… Sự khác biệt khá mơ hồ những cũng đủ để làm nên đặc trưng tính cách trong một thời gian dài.


Tôi chọn cho mình cách viết về một Hà Nội mà tôi đã và đang sống cùng, một Hà Nội có lẽ gây cảm giác hơi “chóng mặt”. Cái hơi thở nóng bỏng của cuộc sống hôm nay, những gì gay gắt, những gì nhốn nháo, cũng là những gì mình thực nhận được. Hà Nội ngày nay không còn dễ khiến người ta có nỗi buồn chán u uẩn, mà mỗi ngày sống ở đây dường như mọi sự thúc tất cả chạy. Có thể cái hối hả cuống quýt của người Hà Nội ngày nay còn xơi mới sánh được với cái căng thẳng của đô thị phương Tây, nhưng Hà Nội ngày nay biến đổi mau lẹ đến mức cái hôm qua được ghi lại, hôm nay đã có khi bốc hơi. Tôi viết những gì về Hà Nội có lẽ trước hết là một phương cách cho mình sống thêm một lần với thực tại lúc nào cũng có nguy cơ mất sạch dấu vết.


Theo anh, Hà Nội nên làm gì để bảo tồn trọn vẹn văn hóa và các “nấc thang giá trị” của Thủ đô?


Hà Nội có những giá trị phải bảo vệ, điều đó ai cũng rõ và đã nói nhiều. Có điều hình như cách thực hiện có vẻ chưa đến nơi đến chốn, chưa mấy chứng tỏ sự quyết tâm của người triển khai. Thêm vào đó, một mình Hà Nội không thể tự bảo vệ kiểu khoanh vùng, phân biệt mình với cả nước, mà cái hay cái đẹp của thủ đô còn phụ thuộc vào bức tranh toàn cảnh vùng miền, đất nước.


Gần đây, một người bạn tôi ở phố Hàng Đào, có lần thấy một người bạn gái thuở nhỏ mua một món hàng rong trên đường. Người này có thái độ chê bôi dè bỉu, chưa mua mà đã dìm hàng người ta (“cái này ăn có ra gì không đấy?”). Anh rất buồn và nghĩ, hình như cái Hà Nội mà anh vẫn yêu thương, vẫn đắm đuối đã không còn rồi, nhất là cái sự tha hóa ấy lại hiển hiện ở người mình thân thiết. Dẫu thái độ như của người phụ nữ kia chỉ là thứ phản ứng nhiều khi “hồn nhiên” nhưng nó làm nên tính cách văn hóa của cư dân. Vì thế, việc bồi đắp giá trị văn hóa là việc phải làm hàng ngày, đấy là một loại tập thể dục, từ những ý thức có vẻ “nhỏ nhặt”, ngày nào cũng phải tập.


Một số dự án xây dựng để chào mừng đại lễ 1000 năm Thăng Long Hà Nội đang được “xây một cách ào ào”, với tư cách là một kiến trúc sư, lại là người luôn dành nhiều quan tâm tới Hà Nội, anh nghĩ thế nào về việc này?


Tôi ước ao Hà Nội không chỉ trong dịp lễ lạt, mà bền vững lâu dài, sẽ là một thành phố với những con đường phẳng lì rợp bóng cây xanh, nhà cửa ngay ngắn, để mỗi khi ai về hay đến Hà Nội cũng rộn ràng tự hào “ồ, về Thủ đô rồi đấy”. Chúng ta nhớ lại mà xem, từng có những năm tháng chúng ta làm thơ, vẽ tranh, ca hát, ước mơ kiến thiết “anh tô đẹp tờ tranh cho trái tim Tổ quốc”. Hà Nội quả thực đã từng làm người ta yêu mà chỉ với những cơ sở vật chất giản dị, khiêm nhường chứ nào có to tát gì. Chẳng hạn, điều người ta nhớ về Hà Nội là tinh thần hào hoa, lối ứng xử nhã nhặn, con người dù xuất xứ từ đâu nhưng về đến Hà Nội thì cũng trở nên lịch lãm.


Thứ Sáu, 16 tháng 7, 2010

Để ngàn năm không là vô nghĩa?

Hôm nay không hẹn mà cả báo Tuổi Trẻ số ngày lẫn số cuối tuần đăng bài giới thiệu Hà Nội là Hà Nội. Tuy nhiên được biết là hôm nay số ngày phải gác lại cả Trang Thế giới sách để nhường đất cho một bài nghị luận chính trị. Tuy vậy trên trang web thì có. Cảm ơn chị Thu Hà và Thụy Anh đã giới thiệu rất hay. Là người viết, được như vậy là rất hạnh phúc. Sau đây là 2 bài.

-----

Hà Nội có còn…?

TTO - Phải hỏi như thế vì tuy tên gọi của cuốn tản văn thứ ba về Hà Nội của kiến trúc sư trẻ Nguyễn Trương Quý mang đầy tính khẳng định Hà Nội là Hà Nội, thì cảm giác trĩu nặng về sự phai bạc của một Hà Nội “trong mơ” vẫn âm thầm lan tỏa từ trang sách đến người đọc.

Bìa sách Hà Nội là Hà Nội - Ảnh: Hoàng Thạch Vân

Không còn cái chanh chua, đáo để, viết cho sướng tay, nói cho sướng miệng của thời Tự nhiên như người Hà Nội (tập sách đầu tiên); cũng qua đi cái thông minh, soi mói giữa quẩn quanh bế tắc chốn công sở của cái thuở Ăn phở rất khó thấy ngon, Hà Nội là Hà Nội là cái nhìn và sự suy tư của một người đàn ông trưởng thành và đầy trách nhiệm xã hội.

Vẫn duyên dáng và hài hước, nhưng Hà Nội bây giờ là chân dung những con người Hà Nội, những câu chuyện cụ thể và những ứng xử cụ thể trong nhiều vấn đề, từ riêng tư góc bếp đến vĩ mô mở rộng thủ đô.

Tác giả đưa đẩy câu chuyện khéo và duyên, từ chuyện ai hát Trịnh Công Sơn hay nhất, chuyện rau tươi sách sạch đến chuyện một tuần ngập lụt nằm co nhịn đói trên gác. Những câu chuyện ấy nếu là ở tập sách đầu tiên chắc hẳn sẽ đậm chất văn chương blog, châm chích sắc lẻm, khơi nguồn cho nhiều bình tán cay chua, nhưng ở tập sách mới nhất này chất tư liệu, biên khảo và giọng văn đã nhuốm màu chiêm nghiệm lại tạo nên một hiệu ứng khác: sự tin cậy, chia sẻ.

Hà Nội là Hà Nội còn có một sự thú vị khác: Hà Nội trong cái nhìn “tham chiếu” với những đô thị khác: Sài Gòn, Siem Reap, Hạ Long, Huế, Quy Nhơn… Tuy chỉ mới là những phác thảo kiểu “người đi qua phố” nhưng con mắt của một người Hà Nội nhớ Hà Nội ở nơi không phải Hà Nội đã phát hiện những chi tiết lạ (kiểu “thành phố đã đi ngủ trưa” khi đi qua Quy Nhơn), những gợi ý đầy chất xây dựng về một đô thị xanh hơn, nhân văn hơn, mộng mơ hơn (những suy tưởng bên thềm Siem Reap).

Và tình yêu Hà Nội ngày càng “đằm” hơn qua thời gian như thế, Hà Nội là Hà Nội chắc chưa phải là cuốn sách cuối cùng của Quý về thành phố quen thuộc mà lạ lùng này.

THU HÀ

-----

ĐỂ NGÀN NĂM KHÔNG LÀ VÔ NGHĨA?

Với bộ ba cuốn sách về Hà Nội, thực ra, Nguyễn Trương Quý không định tâm viết về Hà Nội, để “ăn theo” đại lễ nghìn năm như ai đó có thể nghĩ thầm đâu. Đây chỉ là những câu chuyện tản mạn, lan man của một người đang sống ở Hà Nội, ban ngày thì quan sát, sống, trải nghiệm cảm xúc, ban đêm thì hì hụi ghi ghi chép chép trong mấy năm trời (Ăn phở rất khó thấy ngon Hà Nội là Hà Nội). Đây cũng là những trang tiểu luận khá nghiêm túc của một người trót nhìn thấy nhiều bất cập trong cuộc sống đô thị, để rồi phải hệ thống lại, phải viết, phải đưa ra giải pháp, cho dù là những giải pháp mà chính tác giả sau này nhận xét, rằng có đôi chút ngây thơ (Tự nhiên như người Hà Nội).


Có bài báo viết rằng, tản văn Quý viết về Hà Nội, chẳng ai là không thấy hấp dẫn. Ấy nhưng không phải, cũng có người… từ chối đọc tiếp, sau khi đọc một vài bài. Một độc giả lớn tuổi mà tôi quen chẳng hạn, bảo: “Viết về Hà Nội mà giọng điệu lạ thế, không nhẹ nhàng như văn thời xưa. Hà Nội là mùa thu, hương cốm, hương hoa sữa… chứ có đâu những cái gì gì thế này, đọc không vào được!”


Những cái gì gì ấy, là hơi thở của ngày hôm nay.


Ngày hôm nay Hà Nội muốn hay không muốn cũng đã khác đi, bung mở ra những khía cạnh không mềm mại khiến người viết không thể cứ nhàn tản chậm rãi mà viết trong tâm thế của một người thưởng thức cái đẹp, hưởng thụ cuộc sống Thủ Đô (thường được mặc định là tinh tế, lịch sự) được nữa! Vì thế, không phải ai đọc cũng thấy “vào”. Nhưng người đọc “chịu” được sự góc cạnh thì lại thích. Có ai đó gọi đùa Quý là nhà Hà Nội học trẻ tuổi. Tôi thấy Quý là nhà tâm lý Hà Nội học thì đúng hơn. Quý viết hộ tâm tình một thế hệ cư dân mới của một đô thị mới đã lớn gấp ba lần về diện tích và gấp nhiều lần về dân số, ngoài ra gấp cả nhiều lần về khói bụi ô nhiễm và biết bao vấn đề đương đại khác. Như thế, thử hỏi làm sao Quý chọn cách viết nhẹ nhàng mùa thu hương cốm được! Tuy vậy, vẫn thấp thoáng bóng của tấm lòng hoài cổ.


Sự hoài cổ của Quý cũng không phải là cái hoài cổ man mác để viết ra những dòng trữ tình mà người đọc lớn tuổi kia muốn đọc. Quý kết hợp trình bày tư liệu trong một tiểu luận, để lẫn với cảm xúc dồi dào, miên man, đôi lúc lại chuyện nọ xọ chuyện kia như một người đầy ắp chuyện cũ chuyện mới trong đầu, vội vội muốn kể ra bằng hết. Bên cạnh đó là một kỹ năng viết – hài hước, sắc sảo, gợi vấn đề - khiến, nếu đặt bài này trên blog thì hẳn “câu kéo” được rất nhiều “comments”. Vô hình trung, đọc Quý, độc giả được thỏa mãn nhiều điều: nhận được kiến thức về Hà Nội cổ và Hà Nội bây giờ (đều dồi dào không kém gì nhau, thể hiện một năng lực tổng hợp và khiếu quan sát tuyệt vời), nhận được sự đồng cảm trong những vấn đề đang “hot” của xã hội qua con mắt của một tác giả đầu 7 đời cuối – nghĩa là vừa tầm để “ôn cố tri tân”. Và nữa, là được cười. Mỉm cười, rồi cười phá lên, hoặc có thể khúc khích cười rõ lâu, nhất là khi đọc những đoạn tả tâm lý của hàng bao nhiêu loại người trong đám dân thành thị, sao mà đúng thế. Đọc “Ăn phở rất khó thấy ngon”, hẳn khối người đỏ mặt vì thấy nói động đến mình.


Có cảm tưởng như Trương Quý có thể viết mãi không dừng, vì với tài quan sát của anh thì bất kỳ hiện tượng gì cũng là đề tài để viết. Từ to tát vĩ mô như chuyện quy hoạch thành phố, văn hóa công viên, bàn về kiến trúc (đúng nghề của chàng!)… cho đến vi mô là những cái chợ nhỏ chợ to, chuyện ngập lụt, chuyện oi nực không lãng mạn chút nào của đời sống Thủ Đô, rồi lại bàn cả vòng hai của gái ba mươi, chuyện tình online, chuyện lễ Tết, chuyện chùa chiền, đức tin… Đang bàn đến những món ăn tinh thần của người Hà Nội, thoắt cái lại “tám” về món ăn quốc hồn quốc túy đang khiến nhiều người “khó thấy ngon” là phở… Ba tập sách, trong đó có hai cuốn tái bản những… 4 lần, không dày, chỉ vừa phải, dịu mắt với gam màu xanh cốm, vàng chanh làm chủ đạo, thế mà chứa đựng ngồn ngộn chất liệu cuộc sống. Từ khóa: Hà Nội, đô thị, công sở. Và cười. Phải rồi, chất hài hước nhẹ nhõm trải trên những trang sách khiến người đọc dễ chịu, không phải kiểu móc máy cay nghiệt, cười nhạt cười đểu mà là nụ cười tủm tỉm một mình của một người lấy cái sự tự trào để hóa giải mọi điều chưa hợp lý, hay thậm vô lý vẫn còn tồn tại trong cuộc sống của những người đang sống nơi đây. Giọng văn giễu nhại, gần gũi với những chao chát phố xá, nhộn nhịp blog của giới trẻ, nhưng lại nhân hậu, minh triết ở góc nhìn. Chả thế mà khối người khối việc bị Quý nói đến, vạch mặt chỉ tên, mà vẫn cứ thấy đồng cảm, dễ nghe, không giận. Ví như câu chuyện về phố bán sách rẻ Nguyễn Xí, Đinh Lễ chẳng hạn. “Bọn bán hàng Xí-Lễ” biết nhẵn mặt tác giả, người vẫn thường rảnh ra lại “nhung nhăng tạt qua hàng này chạy sang hàng kia” mua sách, tự hào khoe với khách hàng: “Trang 107 có nói về cửa hàng nhà này đấy”!


Trong những dòng bộc bạch của lời phi lộ cuốn “Hà Nội là Hà Nội”, Quý nói, anh viết về Hà Nội bằng cách lùi xa dần từng cây số, kể từ cột mốc số 0 mà anh mặc định là Hồ Gươm, Tháp Rùa: “Cách Hà Nội 10, 50, 100, 1000 cây số, tôi lại thấy rõ hơn nhiều điều về nơi tôi sinh ra…”. Cũng vì thế mà cuốn sách thứ ba này có cấu trúc độc đáo – “trên từng cây số”. Có cả chặng nghỉ chân, khi anh tìm đến những chốn “dừng chân xứng đáng” là vài địa chỉ văn hóa hoặc những khái niệm văn hóa-tinh thần vừa cũ vừa mới, vừa lạ vừa quen. Quý là một kiến trúc sư, rồi lại rẽ ngang đi làm sách (hiện là biên tập viên NXB Trẻ), giữ một vài chuyên mục của một số tờ báo, vẽ và dịch đều đều (tự vẽ bìa cho bộ ba cuốn sách này), lại đam mê điện ảnh và hiểu biết không tồi chút nào về âm nhạc. Có lẽ vì thế mà những bài Quý “dừng chân” viết về nhân vật của âm nhạc như Trịnh Công Sơn, Phạm Duy… đều thật khó quên. Dường như ở những bài này, chất lãng mạn dào dạt hơn, tiết chế chất trào lộng để mơ màng với những ca từ mà anh hứng thú lẩy ra liên tục trên mặt giấy.


Là một họa sĩ, anh còn đem những màu sắc đầy lôi cuốn của những chuyến đi để tô tỉa thêm đậm nhạt bức tranh về Hà Nội kéo dài mãi như một bích hoạ của mình. Bức bích họa, như đã nói, không phải vẽ “nhân dịp” Đại lễ, nhưng lại xứng đáng được đánh giá là một trong những “công trình” chất lượng để chào mừng Hà Nội đón một nghìn năm tuổi.


Chỉ khác là, công trình này của anh không ve vuốt lòng yêu của những người mến thương Hà Nội, mà để lại dư âm day dứt trong lòng người đọc, với câu hỏi cho riêng mỗi người: Hà Nội ơi, làm sao để “ngàn năm không là vô nghĩa”?


THỤY ANH


-----

Ngoài ra trong bài này trên tạp chí Đẹp của Chu Minh Vũ, cũng nhắc đến quyển này. Cảm ơn Vũ.

Thứ Ba, 13 tháng 7, 2010

Cót ép trát thạch cao

Bạn Hà Hương báo Tuổi Trẻ có hỏi tôi mấy câu về chuyện đại lễ 1000 năm Thăng Long-Hà Nội: http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/389823/1000-nam-va-10-ngay-dai-le.html. Dưới đây là cả cụm trả lời của tôi:

1. Với tư cách là một người hiểu Hà Nội, cũng đại diện cho một thế hệ sẽ tiếp nhận tất cả những di sản của 1000 năm Thăng Long (cả cái hay và cái dở). Suy nghĩ của anh về những di sản mà thế hệ mình sẽ tiếp nhận?

Di sản thế hệ tôi nhận được ở đây có lẽ chính là những gì được tiếp nhận từ giáo dục, thông qua sách vở đã học và thực tế xã hội. 1000 năm dù rất dài, nhưng là những gì đã bị giản lược trong vài cuốn sách giáo khoa của một nền giáo dục có vấn đề, thì di sản của nó chắc không hoàn hảo mấy. Tôi nghĩ di sản quan trọng nhất là một thái độ sẵn sàng bắt tay xây dựng và làm việc tử tế. Điều đáng buồn là nhiều người trẻ có phẩm cách tốt đã buông xuôi vì không còn thấy mình được hưởng lợi ích gì từ di sản.

2. Theo anh, một lễ kỷ niệm để nhìn lại lịch sử 1000 năm của Thăng Long - Hà Nội có phải là việc nên làm. Thệ hệ anh nghĩ gì về kỳ đại lễ sẽ diễn ra vào tháng 10 này. Trong tâm thức của một người trẻ, anh hình dung về đại lễ 1000 Thăng Long như thế nào?


Thế hệ chúng tôi nghĩ gì có lẽ không mấy quyết định đến thực tế diễn ra. Tôi sợ (và tôi nghĩ nhiều người cũng sợ) là một thể loại đại lễ “cót ép trát thạch cao”, tất cả chỉ là những thứ ốp lát bề mặt mà những gì bên trong và ở sâu trong không gian sống, trong lòng người Hà Nội đang rã rời và không mấy hào hứng. Đáng buồn nhất là chúng ta đều tiên liệu, đều muốn tránh những màn rượt đuổi chào mừng, nhưng rồi mọi sự vẫn cứ nhao nhác như chợ sắp vãn. Nếu nói hình dung thì chẳng khó mà vẽ nên những cảnh tượng hoành tráng, nhưng để làm gì? Tôi chỉ ước dịp đó sẽ được ăn một bát phở sạch sẽ ngon miệng ở một cửa hiệu có bà chủ cười tươi trên một con phố phong quang không tắc đường.


3. 100 ngày nữa sẽ đến đại lễ, Hà Nội được gọi là một đại công trường với những vỉa hẻ lát dở, những công trình kiến trúc gây tranh cãi, những phố cổ được sơn lại... Theo anh, người Hà Nội cần gì nhất trong dịp thành phố mà mình đang sống kỷ niệm 1000 năm tuổi?


Còn có chưa đến 100 ngày thì thật khó để đòi hỏi cái gì! Bây giờ có lẽ mong nhất là các công tác thi công mau chóng hoàn thành và có chất lượng thật sự, để người Hà Nội không phải đối diện với những chuyện đại lễ đi qua, cống rãnh ở lại.

N.T.Q


Thứ Năm, 8 tháng 7, 2010

Khi kiều nữ chủ động

Cái tựa trên có vẻ câu khách, nhưng thực tế là tôi muốn bàn đến một mảng sách rộng hơn, sách về con người của đô thị hiện đại với giọng điệu hài hước. Bài dưới đây nằm trong chuyên đề như một bài giới thiệu sơ qua trong phạm vi liên quan tới công việc của tôi đang làm.

----


Văn học hài hước lãng mạn là một nhánh của văn học trào phúng có gốc rễ từ trào lưu Baroc, ưa chuộng hình thức giễu nhại và phóng túng. Đó là những bản sao nghịch dị của xã hội phát triển vượt ra khỏi những khuôn mẫu đạo đức bị chi phối bởi thần quyền, nam quyền, là hình ảnh cái lãng mạn tìm cách tự vệ. Một xu thế của thời hiện đại đi cùng chủ nghĩa nữ quyền trong dòng văn học này, đó là những tiểu thuyết xoay quanh nhân vật nữ - chủ yếu ở đô thị - và những mối bận tâm căn bản mà người đô thị phải giải quyết hàng ngày.


Đói thì ăn, khát thì uống


Có một dòng văn học "giải trí", lấy đối tượng chính là giới nữ trẻ, đi làm văn phòng, có học vấn. Khác với dòng sách sướt mướt kiểu Danielle Steel trước đây, dòng văn học mới này nhấn mạnh yếu tố hài hước, châm biếm và kỳ ảo. Có phải do ảnh hưởng của nghe nhìn càng ngày càng phong phú và sắc cạnh, giới nữ càng có nhu cầu khẳng định tính độc lập và cá tính hơn là chỉ thuần túy lãng mạn như trước? Thực ra, người ta không lấy làm chắc vì có thể câu chuyện của phụ nữ đã có từ lâu, nhưng chỉ đến khi có cơ hội thì mới bộc lộ thành trào lưu.


Thực tế đã chứng minh, đây là một dòng sách cập được nhiều bến. Không chỉ viết về các chị em và do chị em viết, những nhân vật nam cũng được nhìn nhận theo khung hình của dòng văn học này, thay vì chém đinh chặt sắt như thời “hai vạn dặm dưới đáy biển” hay “trên đỉnh kilimanjaro”. Không dừng lại ở những khía cạnh xây dựng các anh đàn ông như những mảnh vỡ đầy thương tổn và khao khát cứu vớt, dòng văn học này cũng nỗ lực lạ hóa quan hệ nam nữ, giữa con người với xã hội trong một lối suy nghĩ tích cực.


Mặc dù mang tiếng là chick-lit với hàm ý văn học loại hai, nhưng thực tế là lợi nhuận khổng lồ và chất lượng văn bản của các tiểu thuyết dòng này rất đáng nể. Các đơn vị xuất bản hàng đầu Việt Nam như NXB Trẻ, Nhã Nam, Phương Nam dành hẳn một mảng quan trọng cho dòng sách này. Tình hình thực tế VN đã từng cho thấy một thời kỳ văn học nữ nở rộ, với các tác giả nữ để lại dấu ấn đậm nét vào những năm 1990. Tất nhiên số tác giả nữ này không bao trùm dòng văn học đang nói đến ở đây, nhưng quan trọng ở chỗ, tiếng nói của họ đã có trọng lượng. Tuy nhiên, so sánh với khối lượng đồ sộ của văn học hài hước lãng mạn thế giới (với trung tâm là chủ đề nữ giới), thì chỉ vô cùng khiêm tốn.


Đến từ sao Kim


Khi văn học dịch được xuất bản nhiều ở Việt Nam, đương nhiên dòng văn học chick-lit có ngay một chỗ đứng quan trọng trên giá sách bán chạy. Bên cạnh những tác phẩm mang tính "đại tự sự" vốn đậm đặc nam tính, những tác phẩm nhẹ nhàng này sục sạo tất cả những ngóc ngách tâm lý thời đại, khai thác thế mạnh của giới nữ trong việc quan sát và phân tích tâm lý. Tính hài hước, giễu nhại được đề cao trong việc tìm chỗ đứng của người phụ nữ để bình đẳng với đàn ông.


Bên cạnh những mảng sách phi hư cấu, cẩm nang sống (Self-help) vốn dĩ hấp dẫn chị em với những đầu sách gối đầu giường như Đàn ông đến từ sao Hỏa, phụ nữ tới từ sao Kim, thì mảng sách văn học này có ưu thế là gắn chặt với truyền thông và phim ảnh. Nhiều tác phẩm ăn khách đã được dựng ngay sau đó thành phim đình đám vào dịp hè hay Giáng sinh. Điểm lại những tác phẩm ăn khách nhất của thập niên qua, rất nhiều tựa là của tác giả nữ, nếu không kể Harry Potter của J.K.Rowling thì có series Chạng Vạng, Lời tự thú của một tín đồ shopping, Ăn, cầu nguyện, yêu… 2 tập Nhật ký tiểu thư Jones mặc dù ra đời cuối thập kỷ 90 nhưng đã trùm bóng lên nhiều tác phẩm có tính tự thuật của giới nữ, thậm chí cả tác giả nam trong dòng đề tài gia đình, công sở và tình yêu, ví dụ Nhật ký vú em, Vú em trở lại, Từng qua tuổi 20, Điều tốt nhất cho gã có vợ. Những tác phẩm loại này thường được triển khai thành bộ nhiều tập, mang ảnh hưởng của phim truyền hình dài kỳ, những chuyện tình cảm lằng nhằng dắt dây từ năm này sang năm khác, khéo léo giữ chân người đọc. Một loạt sách như thế có thể kể: Gossip Girl – Kiều nữ lắm chuyện (hơn 10 tập), Dự án son bóng (4 tập)… Các bộ phim truyền hình làm theo các series này dĩ nhiên cũng nhờ đó mà hốt bạc. Ở đây cũng có những tác động trở lại, như trường hợp Sex and the city của Candal Bushnel. Chỉ khi bộ phim sitcom kéo dài 6 năm này gây cơn sốt toàn cầu thì quyển sách gốc mỏng mảnh mới được quan tâm trở lại, nhưng loạt phim này thực sự đã vượt ra rất xa khuôn khổ ban đầu của sách.


Sự dày dặn và đều đặn của các series sách này cho thấy sự khác biệt và khoảng cách với các tác giả Việt Nam có ý định theo đuổi dài hơi. Cho đến giờ, mới thấy có một số tác giả bắt đầu có được thành quả tương đối với thị trường như Dương Thụy, Keng, Hà Kin. Tuy vậy, các tác phẩm của các nữ tác giả trẻ này vẫn là những quyển rời độc lập. So sánh với một tác giả khác như Nguyễn Nhật Ánh, ông có sự đầu tư dài hơi cho một nhóm nhân vật nhưng lại là thiếu nhi. Ở đây phải nói tới sự ảnh hưởng của văn học mạng đến khả năng dài hơi của văn học hài hước lãng mạn. Một khi một tác giả tự xếp mình vào dòng văn học mạng đã tỏ ra sốt ruột với thể lệ tác phẩm dự giải văn học trẻ không được xuất bản dưới bất kỳ hình thức nào, thì cũng ngầm cho thấy tính cập thời của các tác phẩm này. Điều này dễ gây ngộ nhận là văn học hài hước lãng mạn (mà nhiều tác phẩm có liên quan mật thiết tới mạng như Chuyện tình New York của Hà Kin là ví dụ) không cần đầu tư, viết nhanh và pha tí “dấm ớt” là được.


Khi kiều nữ chủ động


Hãy đọc những tác phẩm best-seller được dịch ở Việt Nam, ta sẽ thấy việc tác giả dày công sáng tạo và không ngừng tưởng tượng, cho dù yếu tố tự thuật đậm đặc. Mặc dù đúng là những sách đó quanh quẩn tình ái học trò, tuổi mới lớn và gái văn phòng, có pha những yếu tố kỳ ảo, ma cà rồng hay phiêu lưu, nhưng ở mức căn bản, chúng là những bức tranh sinh động về một thế hệ trẻ đang lớn, một giới nữ đang tìm cách cân bằng giữa hạnh phúc và sự nghiệp. Thay vì những mẫu cô gái nhan sắc trầm luân như thời Jacqueline Susann với Thung lũng búp bê, những mẫu phụ nữ chỉ chủ động sau khi đã trải qua nhiều “bể dâu” và trông chờ vào may mắn đến từ những hoàng tử bạch mã, thì giờ đây, những cô bé mười bảy tuổi của Gossip Girl sẵn sàng tìm cách nếm trái cấm để khẳng định giá trị của mình, quyết liệt không kém việc cạnh tranh để vào được một trường đại học hàng đầu nước Mỹ.


Sự chủ động này có vẻ diễn ra hơi muộn trong văn chương, sau khi phong trào giải phóng nữ quyền và tình dục đã qua cao trào những năm 70, mặc dù có cơ sở từ những tác phẩm của Jane Austen và chị em Brontë từ tận thế kỷ XIX. Có thể nói phải nhờ đến sự toàn cầu hóa, những trường liên tưởng và phông văn hóa nhân rộng khắp thế giới, để cho một cô gái châu Á cũng chia sẻ được mối tình tay ba của Bridget Jones. Ngược lại, trong tác phẩm về cô gái ba mươi tuổi mập mạp muộn đường tình duyên này, tác giả Helen Fielding cũng đề cập đến rất nhiều câu chuyện và chi tiết so sánh về văn hóa khắp thế giới. Dĩ nhiên, cái nhìn và sự dí dỏm của những cây bút nữ trong tư cách “nạn nhân” ở những tác phẩm như thế này khác hẳn với cái nhìn có phần bề trên của các tác giả ăn khách nam giới khi viết về “thế giới phẳng”. Trong dòng văn học này, các tác giả Anh-Mỹ chiếm ưu thế, ngoài việc tiếng Anh là thế mạnh thì như ta đã nhắc đến, còn là sự ảnh hưởng của văn hóa pop, phim ảnh và các sản phẩm trào phúng có cơ sở tiêu thụ toàn cầu. Trong khi kinh tế khủng hoảng, các sản phẩm này vẫn đắt hàng, trong đó có văn học hài hước lãng mạn, như liều giải trí thích hợp hơn bao giờ hết. Đó chính là quyền lực của chúng khi đem so sánh với các dòng “nghiêm túc” hơn.


N.T.Q


+ Nhật ký tiểu thư Jones Tiểu thư Jones: Bên lề Lý trí đã xuất bản ở bốn mươi quốc gia (ở VN đã được NXB Trẻ dịch in cả hai tập) và bán trên 15 triệu bản. Nhật ký tiểu thư Jones là một trong 10 tiểu thuyết khắc họa nhân vật hay nhất thế kỷ 20, theo một cuộc thăm dò của báo The Guardian.


+ Một số tác giả khác có tên tuổi hơn, nhưng không kể đến ở đây như Susan Sontag, Anne Rice (Interview with a vampire), Annie Proulx (Brokeback Mountain) vv... vì không phải là dòng hài hước. Đây vẫn được xem như dòng văn "tinh tế" hơn. Có thể thấy là dòng hài hước có vẻ bị đánh giá thấp hơn các dòng khác.



+ Mọi người nếu có nhã hứng, tìm mua bộ Gossip Girl, tôi đã dịch 3 tập trong đó (từ tập 2 trở đi), hiện đã có bán. Tên chung cả bộ ở VN được Phương Nam Book lấy tên là Kiều nữ lắm chuyện.


Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ