Thứ Hai, 28 tháng 11, 2011

100 năm ngày sinh Tennessee Williams (RFI)

Tuấn Thảo
RFI, Thứ sáu 25 Tháng Mười Một 2011 (http://www.viet.rfi.fr/van-hoa/20111125-tennessee-williams-mot-doi-nguoi-ma-muon-kiep-song)

Nhà văn Tennessee Williams, chỉ một đời người mà muôn kiếp sống

Tennesse Williams
Nếu còn sống, năm nay Tennessee Williams sẽ tròn 100 tuổi. Nhân dịp kỷ niệm 100 ngày sinh của nhà văn người Mỹ, nhiều vở kịch của tác giả này được dựng lại trên sân khấu, trong đó có vở Un paradis sur terre (Thiên đường hạ giới). Một số tác phẩm như hồi ký, tiểu thuyết, truyện ngắn được tái bản hay lần đầu tiên được phát hành bằng tiếng Pháp.

Trong số các quyển sách vừa mới được dịch từ tiếng Anh sang tiếng Pháp, có hai tập đoản bút De vous à moi tập hợp nhiều bài viết ngắn, ít được phổ biến của chính tác giả. Thông qua những bài viết này, mà giới chuyên ngành thường gọi là văn xuôi nhưng không mang tính hư cấu (prose non fictionnelle), nhà văn Tennessee Williams chủ yếu đề cập đến công việc sáng tác của mình. Đó có thể là một lời mở đầu (không được đăng) cho một tựa sách, một bài phân tích mà ông thường viết cho các nguyệt san hay một lời chú thích tác phẩm mà ông gửi cho một diễn viên đang chuẩn bị đóng phim hay đóng kịch.

Một số nhà phê bình cho rằng những bài viết theo kiểu này không có nhiều giá trị văn học, nhưng ít ra nó cho thấy phần nào quá trình sáng tác cũng những ý tưởng mà nhà văn muốn gửi gấm qua tác phẩm. Các bài viết cũng cho thấy cá tính của nhà văn Tennessee Williams bởi vì một số đoản văn xuôi ở đây không có sự sàng lọc nào cả, do không nhằm mục đích phổ biến cho đại đa số độc giả.

Bên cạnh nhiều quyển tiểu sử đã được cho ra mắt, gần đây nhà xuất bản Baker Street cho phát hành quyển sách mang tựa đề Tennessee Williams, une vie (tạm dịch Tennessee Williams, một đời người). Tác giả của quyển tiểu sử này là cô Catherine Fruchon-Toussaint, nhà báo phụ trách chuyên mục Phê bình Văn học làm việc cho đài phát thanh quốc tế Pháp RFI. Catherine Fruchon-Toussaint giải thích vì sao cô đã chọn một tựa đề như vậy:

Quả thật là quyển tiểu sử này có thể được đặt tựa là Mille et une vies, cho thấy muôn mặt cuộc đời của Tennessee Williams. Kinh nghiệm sống của nhà văn Tennessee Williams dày không thể tưởng. Có thể nói là chỉ trong một đời người, ông đã sống nhiều kiếp khác nhau. Để phác họa lại cuộc đời của Tennessee Williams, tôi không kể theo trình tự thời gian, mà lại kể theo nhiều tuyến khác nhau : mỗi chương là một chủ đề. Chẳng hạn như có một chương đối chiếu hai khía cạnh của Tennessee Williams : nhân vật của công chúng và đời tư của tác giả. Một chương sách khác thì lại nói về những đỉnh cao sự nghiệp và thất bại cá nhân. Cuộc đời và nghiệp cầm bút của ông đa hình và phức hợp, nên theo tôi nghĩ, rất khó thể nào mà đi theo một tuyến duy nhất.

Lúc sinh tiền, Tennessee Williams nổi tiếng là một kịch tác gia, ông đã viết khoảng 30 vở kịch dài và 70 vở kịch ngắn. Đó là chưa kể đến 50 truyện ngắn, cộng thêm các tựa tiểu thuyết, hồi ký, tiểu luận, thơ mới, các kịch bản mà ông từng viết cho điện ảnh và truyền hình, bên cạnh một khối lượng thư từ đồ sộ mà ông đã trao đổi với giới văn nghệ sĩ cùng thời, mà mãi đến bây giờ ngành xuất bản Pháp mới bắt đầu cho chuyển dịch, một kho tàng quý báu đối với các nhà biên khảo nghiên cứu.


Những độc giả nào yêu chuộng Tennessee Williams đều không thể bỏ qua quyển Hồi ký của một con cá sấu (Mémoires d’un Crocodile - 1975) mà nhà văn đã viết vào năm 64 tuổi, tức là 8 năm trước khi ông qua đời (1983). Trong quyển hồi ký này, ông từng thú thật là văn chương đã cứu rỗi linh hồn của ông. Còn trong quyển tiểu sử vừa được phát hành Tennessee Williams, nhà báo Catherine Fruchon-Toussaint, đã dành nguyên một chương để nói về tầm quan trọng của chiếc máy đánh chữ, một món quà sinh nhật mà Tennessee Williams đã nhận được từ gia đình, năm mới lên 12 tuổi.

Đúng thật là như vậy. Đối với người khác, máy đánh chữ chỉ là một dụng cụ, đối với Tennessee Williams, nó tượng trưng cho cả một lẽ sống. Trong quyển hồi ký, nhà văn từng kể lại cái tuổi thơ bất hạnh của mình. Ông lớn lên trong một gia đình mà người cha là một người đàn ông nghiện rượu, vũ phu hay đánh đập vợ con. Mẹ ông, tuy thương con, tuy là một nạn nhân của các vụ bạo hành trong gia đình, nhưng lại không biết che chở cho con cái. Trong gia đình mình, nhà văn Tennessee Williams rất gần gũi với người chị ruột tên là Rose. Hai người cách nhau 16 tháng tuổi nhưng lớn lên như chị em sinh đôi. Rose mắc chứng bệnh tâm thần phân lập, nên sau đó cô bị nhốt vào bệnh viện. Nhà văn lúc đó còn quá nhỏ để cưỡng lại quyết định này của gia đình. Mãi đến sau này, khi ông thành đạt trên đường đời, ông mới có thể đưa người chị ruột về nhà để trông nom chăm sóc.

Thời còn nhỏ, nhà văn Tennessee Williams lâm bệnh nặng (LTS : bệnh bạch hầu – diphtérie), nên trong một thời gian dài ông không được đến trường lớp. Nhà văn Tennessee Williams được dạy học ở nhà, và theo lời khuyến khích của Rose, ông đọc sách và bắt đầu viết lách. Cũng nhờ vào người chị ruột, mà vào năm 12 tuổi, ông nhận được chiếc máy đánh chữ đầu tiên. Ông cho đăng truyện ngắn đầu tay vào năm 13 tuổi, nhưng sự nghiệp văn chương của nhà văn thật sự bắt đầu năm ông 17 tuổi, khi tác phẩm của ông (LTS : truyện ngắn The Vengeance of Nitocris – 1928) được một nhà xuất bản chính thức phát hành. Từ đó trở đi, Tennessee Williams sẽ không bao giờ rời xa chiếc máy đánh chữ. Cứ vào mỗi buổi sáng, ông luôn luôn ngồi vào bàn đánh máy ít nhất là ba tiếng đồng hồ. Cho dù có rượu chè qua đêm, ăn chơi trác táng từ khuya đến sáng, nhưng Tennessee Williams luôn dành thời gian sáng tác qua việc đánh máy. Có người cho là quan hệ giữa nhà văn với chiếc máy đánh chữ, không phải là một luồng dưỡng khí cần thiết cho sáng tác, mà lại giống như một chất thuốc kích thích, mà người nghiện ngập không thể nào cưỡng lại nổi.

Nhà văn Tennessee Williams từng nói rằng : ngoại trừ những lúc ông bị chứng trầm cảm, xuống tinh thần đến mức không thể nào sáng tác, thì ông cần viết hầu như là mỗi ngày vì bằng không ông sẽ hóa điên. Chiếc máy đánh chữ là vật dụng cụ thể gắn liền ông với thực tại và hóa giải những nỗi ám ảnh đeo đuổi ông suốt cuộc đời.

Thành danh vào năm 34 tuổi nhờ vào vở kịch The Glass Menagerie (tạm dịch là Bầy thú bằng thủy tinh), Tennessee Williams hai năm sau đó (1947) trở thành một tên tuổi lớn của làng văn học quốc tế nhờ vào vở kịch A Streetcar named Desire (Chuyến tàu mang tên Dục vọng). Cả hai tác phẩm này được dịch sang nhiều thứ tiếng cũng như được chuyển thể lên màn ảnh lớn với các ngôi sao nổi tiếng nhất màn bạc Hollywood thời bấy giờ. Đầu những năm 1950 là thời kỳ mà Tennessee Williams thường sang châu Âu để tham dự các buổi ra mắt công chúng các tác phẩm của ông. Mời quý thính giả nghe lại một đoạn trả lời phỏng vấn đài truyền hình Pháp của Tennessee Williams, qua đó nhà văn gợi lại những kỷ niệm của riêng mình với thủ đô Paris :

Lần đầu tiên tôi có dịp đến thăm Paris là vào năm 15 tuổi. Vào lúc đó, tôi đi cùng với ông nội của tôi, vì ông thường hay tổ chức các chuyến du lịch cho Hiệp hội các tín hữu đạo Tin Lành. Về sau này, tôi vẫn thường xuyên trở lại Paris để thăm viếng bạn hữu, hoặc để tham dự các buổi ra mắt sách, các buổi diễn đầu tiên các vở kịch của tôi trên sân khấu Paris. Mỗi lần đến Paris, tôi cố gắng tranh thủ thời gian để đi xem một số vở kịch bằng tiếng Pháp. Tác phẩm mà tôi được xem lần này là vở kịch Don Juan của Molière được diễn tại nhà hát Comédie Française. Tôi rất thích đi xem kịch ở Paris vì điều đó gợi nhiều cảm hứng cho tôi về mặt ý tưởng, cách dàn dựng, chỉ đạo diễn viên, cách dùng ánh sáng : tôi có thể ứng dụng những điều mà tôi học hỏi vào trong những vở kịch của mình. Hiện giờ, vở kịch A Streetcar named Desire (Chuyến tàu mang tên Dục vọng) đang rất thành công tại Mỹ, trên sân khấu Broadway của New York. Tôi hy vọng rằng tác phẩm này sẽ sớm được dịch sang tiếng Pháp, để có thể được dựng lên tại Paris trong thời gian tới.

Áp phích phim Chuyến tàu mang tên Dục vọng năm 1951

Vừa rồi là phát biểu của nhà văn Tennessee Williams nói về Paris. Trong quyển tiểu sử viết về nhà văn người Mỹ, nhà báo Catherine Fruchon-Toussaint dành nguyên một chương sách để nói lên cái quan hệ gắn bó của nhà văn người Mỹ với thủ đô Pháp. Ngoài việc lui tới với giới văn nghệ sĩ, những quan hệ với các đồng nghiệp, Tennessee Williams còn thích Paris ở chỗ hào nhoáng và nhất là cuộc sống về đêm.

Tennessee Williams nổi tiếng là một nhà văn, nhưng ông lại sống như một siêu sao nhạc rock : với tất cả sự lộng lẫy hào nhoáng của thời kỳ tột đỉnh vinh quang, cũng như những mặt trái và cạm bẫy thường thấy trong ngành công nghiệp giải trí là rượu chè và ma túy. Ta có thể so sánh Tennessee Williams với một tác giả cùng thời với ông là Arthur Miller. Vào thời mà Arthur Miller thành hôn với thần tượng điện ảnh Marilyn Monroe, thì tác giả này vẫn thể hiện cho một thành phần trí thức thiên tả, sống một cách kín đáo và ít phô trương. Còn Tennessee Williams thì hoàn toàn khác hẳn, ông sống trong thế giới hào nhoáng của các ngôi sao màn bạc, xuất hiện bên cạnh Liz Taylor, Montgomery Clift, Marlon Brando. Tại Luân Đôn, ông lui tới với cặp diễn viên Vivian Leigh và Lawrence Olivier. Tại Ý, ông ở nhà của đạo diễn Luscino Visconti. Tại Paris, ông có quan hệ khá gần gũi với nhiều văn nghệ sĩ trong đó có nhà văn nổi tiếng là bà Françoise Sagan, người đã dịch một số tác phẩm của ông sang tiếng Pháp. Ngoài ra còn có diễn viên Charlotte Rampling vào đầu những năm 1970. Cũng cần biết rằng Tennessee Williams từng được mời làm chủ tịch ban giám khảo liên hoan Cannes vào năm 1976. Giai thoại kể rằng hầu như nơi nào có lễ hội tiệc tùng, có ăn chơi thâu đêm Tennessee Williams đều có mặt, như thể ông muốn sống hết mình cho khoảnh khắc, bất kể tiệc vui chóng tàn, bất kể sự quá độ có ảnh hưởng đến sức khỏe của mình, như thể ông không cần biết rồi ngày mai sẽ ra sao. Nếu như về mặt tư tưởng, ông ngưỡng mộ các tác giả Pháp như Sartre, Genet, Giraudoux, thì ngoài đời, ông có một cuộc sống hoàn toàn không giống như các nhà văn cùng thời.

Đột ngột qua đời vào năm 1983, một cái chết mà cho tới nay vẫn chưa thật sự được làm sáng tỏ, nhà văn Tennessee Williams đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lĩnh vực kịch nghệ của Hoa Kỳ. Các tác phẩm của ông trong đó có The Glass Menagerie (1945), A streetcar named Desire (1947), Cat on hot tin roof (1955), The Night of the Iguana (1961) ... đoạt được nhiều giải thưởng lớn như Giải Pulitzer, Tony Awards hay Donaldson Awards của giới phê bình kịch nghệ. Trong cách xây dựng cá tính nhân vật, dường như chỉ có ngòi bút độc đáo của Tennessee Williams mới soi rọi thấu đáo những dồn nén dục vọng, lột tả trọn vẹn những ức chế nội tâm. Một khi được chuyển thể lên màn ảnh lớn, các nhân vật của Tennessee Williams lại càng nóng bỏng lửa tình, hừng hực tội lỗi.

Tập kịch bản Chuyến tàu mang tên Dục vọng của NXB Penguin

Tennessee Williams là một trong những nhà văn Mỹ đầu tiên sống công khai với định hướng giới tính của mình, nhưng ta không thể gán cho ông cái danh hiệu ‘‘hạn hẹp’’ của một nhà văn đồng tính. Xuyên qua các nhân vật khổ lụy, đọa đày muốn thoát mà vẫn không thoát ra khỏi vòng dục vọng, Tennessee Williams thật ra muốn nói lên nỗi cô đơn tột cùng của những tâm hồn vì khao khát yêu thương mà phải gánh chịu hay tự chuốc lấy nỗi đau khổ sâu xa. Nhưng Tennessee Williams lúc nào cũng có một cái nhìn hết sức trìu mến về những con người yếu đuối mong manh ấy. Dưới ngòi bút của Tennessee Williams, những vết gẫy tâm hồn lại lung linh huy hoàng, phút chốc ngời sáng. Định mệnh oan nghiệt càng vùi dập, đời người càng thăng hoa trong hạnh phúc, dù đó chỉ là những giây phút ngắn ngủi, chợt biến tan trong chớp mắt ngậm ngùi.

Thứ Tư, 23 tháng 11, 2011

"Tôi thấy tôi thương những chuyến tàu"

Một năm sắp cạn ngày. Tôi giật mình nghĩ đến chuyến đi châu Âu mới đầu năm mà giờ đã như năm nào. Chuyến đi ấy tôi có ghé qua Budapest trên con tàu tốc hành từ Viên sang, và xúi quẩy thế nào mà tôi chỉ ở thủ đô Hungary được có vài tiếng đồng hồ. Rồi mấy tháng sau, cảm xúc vẫn còn ăm ắp, tôi dự định viết một ký sự về chuyến tàu đi và về trong ngày đó, cái ngày trời lạnh giá đột ngột, khi ở Budapest dường như chỉ -10 độ C. Nhưng ký sự của tôi mới chỉ dừng ở nước Áo mà chưa viết đến phần nước Hung, cho dù đã nhắc đến ấn tượng về Ðế chế Áo - Hung và bà hoàng Sisi.

Căn nguyên là bận quá. Một trong những thứ làm tôi bận là lao vào thực hiện bộ sách Truyện và kịch bản phim nổi tiếng thế giới. Tình cờ mà trong loạt đầu tiên, có cuốn “Bức thư của người đàn bà không quen”. Cuốn ấy còn có cả “24 giờ trong đời một người đàn bà”, cả hai truyện của Stefan Zweig đều đã thành phim. Truyện đầu có bối cảnh Viên. Tôi lại gặp Viên lần nữa, thành phố tôi chỉ ở mấy ngày, thành phố quá nhiều lâu đài, nhà to nhưng lại quá ít người ở. Có đêm tôi dự định đi tàu điện vòng quanh thành phố, vì nhìn thấy bản đồ thành Viên có Ringstrasse – như kiểu đường vành đai hay vòng tròn, thực tế là đường trục đi qua các công trình lớn của đô thành – đường tàu điện chạy dọc tuyến này. Nhưng qua rất nhiều bến thì tới một chỗ chẳng biết là đâu, tàu dừng lại. Đoán chắc là bến cuối, nghĩ nửa đêm rồi dừng ở đây thì mình biết về lại chỗ cũ thế nào. Lò dò đi lên chỗ người lái tàu thì thấy một cậu có vết xăm ở cổ, bấm lỗ tai lỗ mũi trông rất dữ tướng. Tôi rụt rè hỏi có quay lại không thì hắn chỉ bảo đợi. Cả đoàn tàu có lẽ chỉ có mỗi tôi cũng nên. 15 phút sau tàu lộn lại theo đường ray bên kia chứ không đi vòng quanh thành phố nữa.

Tàu điện chạy tuyến Ringstrasse ở Viên

Stefan Zweig chắc cũng từng ngồi trên những chuyến xe thế này. Còn bao nhiêu người nữa, những Freud, Klimt và cả Hitler? Những chuyến tàu điện đi khoan thai giữa lòng thành phố đầy những tượng danh nhân và những tòa nhà cổ buồn xám trong trời mùa đông. Nhưng bây giờ còn ai đọc Zweig nữa nhỉ? Có đồng nghiệp của tôi đọc ông xong, kêu sao mà sến quá. Ơ hay, có bao giờ sến lại tắt, đuốc Olympic còn chẳng tắt nữa là.

Chuyến tàu chở tôi từ Viên sang Budapest đi mất 3 tiếng khá vắng khách. Thì ra những chuyến tàu xuyên lục địa này đều vắng cả. Giá vé khứ hồi hóa ra còn rẻ hơn cả vé một chiều, chẳng hiểu vì sao? Gặp anh Hoàng Linh ở Budapest rồi, lúc về mua vé cho tôi, anh mới giải thích là họ khuyến khích người đi du lịch sử dụng vé khứ hồi. Nghe vậy thì biết vậy và hơi hậm hực vì chuyến tàu của mình gặp quá nhiều điều lẩm cẩm, chủ yếu là tại tôi: trễ chuyến, rồi chủ quan này nọ... Nhưng chuyện đó cũng nhỏ so với việc đã biết một đất nước trong thoáng chốc. Tàu đi qua biên giới, cũng có người kiểm tra vé và hộ chiếu, cảnh sắc hai nước cũng không mấy khác biệt, cũng những đồng quê đang phủ băng mùa đông. Ranh giới phe XHCN và TBCN một thời đây sao? Bao nhiêu cuộc chiến tranh đã cày xới những vồng đất ngoài kia?

Nhưng xuống ga Keleti (3) ở Budapest thì thấy khác. Nhà ga xây từ cuối thế kỷ 19, với phong cách kết hợp cổ điển và Nouveau Art, khung kèo sắt uốn cầu kỳ, nhưng màu sơn vàng và vẻ cũ kỹ của nó làm tôi nhớ ngay đến ga Hàng Cỏ ở Hà Nội! Trong khi ga Wien Sudbahnhof hay Wien Meidling bên Viên sáng choang và hiện đại thì Keleti cứ xâm xẩm tôi tối vàng vọt. Điều thứ nhất tôi học được là dân Hung chưa dùng đồng Euro cho dù đã gia nhập hệ thống tiền tệ chung châu Âu rồi. Điều thứ hai là điện thoại công cộng chạy bằng xu ở đây rất lởm khởm. Tôi đã mất cả đống xu (tính ra cũng mấy trăm nghìn tiền Việt) mà không gọi được cú điện nào thành công. Người Hung thì lại chả mấy ai nói tiếng Anh. Nhưng rồi cũng gặp được người cần gặp. Và ngắm được thành phố một thoáng. Budapest có phần ngoạn mục hơn Viên, các đại lộ trung tâm rộng hơn nhưng các công trình không được chăm chút bằng. Đại để là câu chuyện lịch sử của thành phố này, đất nước này đủ sức chinh phục bất cứ nhà văn nào...

Nhà ga Keleti - ga phía Đông Budapest
Quay lại với các nhà văn và những cuốn sách. Chuyến tàu tôi đi là tàu tốc hành, ngày nay đã chạy bằng điện chứ không còn là diezel nữa. Cuốn “Chuyến tàu mang tên Dục vọng” ấy, là nói về tàu điện chạy trên phố như tàu ở Viên mà tôi đã đi. Nhưng tiếng Anh gọi là streetcar để chỉ tàu điện ở New Orleans, trong khi gọi tàu điện Viên là tram. Nhưng thôi, bỏ qua đi, tôi đã gặp những chuyến tàu ấy như một chuỗi liên quan. Chuyến tàu điện ở Hà Nội hồi nhỏ tôi đi giờ chẳng nhớ có số hiệu gì, tuyến Vọng – Cửa Nam hay Chợ Mơ – Bờ Hồ, ai còn nhớ số hiệu không? Tàu điện ở Viên tôi thấy họ tô các tuyến màu xanh, da cam hay đỏ trên bản đồ, còn tàu ở ngoài cũng màu đỏ như tàu điện Hà Nội ngày xưa. Tàu điện Viên cái nào cũng mới và sạch sẽ, người lên xuống thoải mái, có mắt đọc thẻ lên tàu nhưng chẳng ai dí thẻ cả. Tôi mua Vienna Card cho khách du lịch (thẻ này cung cấp dịch vụ giao thông hoàn toàn miễn phí), mới đầu cũng dí, sau thử không dí xem thế nào, thì chẳng thấy ai nhắc gì. Thậm chí ở ga tàu điện ngầm, các cửa chắn cũng chẳng chặn lại. Ở thành phố này, dường như quá yên bình để mà một cái thẻ có tầm quan trọng. Thế là tôi tự do tung hoành đi lại khắp Viên nhờ vào hệ thống giao thông công cộng tuyệt vời ấy.


Rachel Weisz trong một vở diễn Chuyến tàu mang tên Dục vọng ở London, 2009


Tôi nghĩ, nói một cách màu mè thì chuyến tàu điện của tôi ở Viên có lẽ mang tên Khát vọng, cũng dịch từ Desire ra. Chuyến tàu “Dục vọng” của Tennesse Williams đưa Blanche DuBois đi qua khu nhà tên là Nghĩa trang (Cemetary) để đến Miền Thiên đàng (Elysian Fields) là nơi cô em gái Stella ở trọ. Williams đã sử dụng những cái tên có tính ký hiệu học để làm nên một tác phẩm biểu tượng của văn học hiện đại Mỹ sau Thế chiến Hai. Khi tôi còn nhỏ, mang ấn tượng của những bài viết về các minh tinh hay ngôi sao màn bạc Hollywood trên các tờ tạp chí Điện ảnh, tôi tưởng những bộ phim thời trước đều chỉ toàn là diễm tình hoặc sử thi. Vì vậy tôi khá bất ngờ khi xem “Chuyến tàu mang tên Dục vọng” của đạo diễn Elia Kazan với Marlon Brando và Vivien Leigh. Đó là một chuyến du hành căng thẳng và ức chế, nhưng bùng nổ với sự thăng hoa trong diễn xuất của các diễn viên. Marlon đẹp trai đầy hoang dại trong khi Vivien hóa ra rất xuống mã so với hồi đóng “Cuốn theo chiều gió”. Nhưng họ làm người xem quên được ngoại hình – điều mà các phim Mỹ thời đó hay tô điểm quá trau chuốt – để chinh phục người xem bằng diễn xuất bạo liệt. Cuốn sách này ngẫu nhiên mà tôi thành người dịch, nhưng tôi không lạ lẫm gì, vì phim đã xem, và những vở kịch giàu tính biểu tượng vẫn là niềm yêu thích của tôi.



Lại nhớ trước khi sang Áo, tôi đã đặt vé đi xem kịch ở nhà hát Hofburg. Đấy hóa ra không phải nhà hát lớn nhất Viên. Nhà hát lớn nhất là Nhà hát Thành phố, nhưng kiến trúc bên ngoài không duyên dáng bằng nhà hát Hofburg. Có điều tôi định xem opera hay nhạc kịch, nhưng những ngày tôi ở Viên thì lại không có vở nào. Thôi thì đành xem một vở của Shakespeare, “Đêm thứ mười hai”. Hi vọng là có cái để xem. Nhà hát Hofburg quy mô cũng tương đương Nhà hát Lớn Hà Nội, đối diện Tòa Thị chính Viên, trông ra một cái sân trượt băng công cộng, chiếu đèn rực rỡ rất vui mắt. Ở cửa nhà hát có bích chương vở “Đợi chờ Godot” (4) nữa nhưng là tuần sau. Ở sảnh nhà hát có những bức phác họa của Klimt, và không có những trang trí mạ vàng hay thần tiên gì lộng lẫy cả. Nội thất toàn ốp đá màu vàng xám nghiêm nghị. Tôi bất ngờ vì cả nhà hát kín chỗ, và dân tình xem say mê, cười rần rần. Vở kịch này họ dựng theo bối cảnh hiện đại. Tất nhiên là nói bằng tiếng Đức nên với tôi nó chẳng gợi một cảm giác gì về Shakespeare cả!




Nhà hát Hofburg và nội thất

Nhà hát thành phố Viên

Nhà hát thành phố Budapest

Tôi nhớ lần đi xem “Bà tỉ phú về thăm quê” của Durenmatt ở rạp Hồng Hà do Viện Goethe tổ chức. Chắc đó là buổi diễn đã được chỉnh sửa nhiều lần nên có vẻ các khâu khá nhịp nhàng và xem khá hay, nếu như so với những lời chê của một hai năm trước đó mà tôi đã bỏ lỡ những suất diễn đầu. Xem một vở kịch hay bộ phim như thế, với những câu chuyện đầy ám ảnh về số phận con người, đến giờ vẫn là thú vui của tôi. Vui ngang với xem phim hài.

Cũng những con người như trong kịch và phim “Chuyến tàu mang tên Dục vọng”, hay ở Viên trong truyện Zweig, hay ở Hà Nội, mỗi nơi hưởng ứng nghệ thuật một kiểu khác. Bộ sách mà tôi đang thực hiện, thật ra cũng chẳng hi vọng là bán chạy. Bây giờ ai đọc kịch bản hay truyện gốc của những bộ phim trong khi có thể đi xem phim cho rồi? Nhưng đọc câu chữ trong sách lên, dường như không gian mà bộ phim đã có đột nhiên hiện lên rực rỡ hơn, ám ảnh hơn, có chiều sâu hơn. Những chuyến tàu điện trên khắp thế giới, ở Hà Nội tôi đi thuở nhỏ, hay ở Viên mà tôi được lên trong vài ngày, và ở thành phố New Orleans đầy tiếng dương cầm thở than trong kịch của Williams kia, bỗng dưng thành một mạng lưới kết nối với nhau. Cuộc sống của những kiếp người, người lái tàu ở Viên có vui không, những đứa trẻ mặt mày lấc láo tụ tập hút thuốc lá ở cái ngõ cạnh ga Keleti mà tôi lo lắng khi đi qua nghĩ chúng có phải là bọn mất dạy không, hay những ngôi sao như Vivien Leigh “phát điên vì vai diễn” có thật muốn sống cuộc sống đó không, tôi phỏng đoán là nhờ kinh nghiệm sách vở mà thôi. Thế cũng hay, sách vở đã đưa tôi đến với những trải nghiệm đó.

Vậy thì, hãy mua sách.

(*) Tựa đề bài viết là thơ Tế Hanh trong bài “Vu vơ” (1939).

N.T.Q

Thứ Ba, 22 tháng 11, 2011

BCHN 66 & 67 (sông Hồng và mùa đông)

BCHN số 66 - Về nghe gió sông Hồng thổi
"Hà Nội là thành phố xây dựng trên nền phù sa của sông Hồng, điều đó hầu như chúng ta đều biết. Nhưng điều sâu xa hơn, là cái nét tính cách bến bãi, bồi lắng từ tạm thời mà cố định thành nền tảng vững chắc trong lối nghĩ đã tác động đến cung cách sống của dân Hà Nội. Về phương diện không gian, sông Hồng là một mặt thoáng của Hà Nội. Bước chân ra khỏi những phố phường chật hẹp, dòng sông phù sa như một sự giải tỏa, một nét khoáng đạt bên cạnh sự tủn mủn của ngóc ngách nhà cửa bề bộn..."



BCHN số 67 - Nghe tiếng rao bồi hồi nỗi nhớ
"Với chị So là con sông Hồng với bờ đê hút gió, với những buổi chiều đông đi kiếm củi để có chất đốt đun nấu cho gia đình. Thời trước, khi tem phiếu chất đốt khá hạn chế, mỗi nhà có một cái bếp dầu lom đom lửa, thi thoảng có nguồn than tổ ong hay than cám thì đun nấu thoải mái. Lũ trẻ con thường tranh thủ gom nhặt củi khô hay thậm chí lá khô để chất trong bếp. Và dĩ nhiên, thời xưa khi chưa có nồi cơm điện, cơm phải nấu bếp lửa. Trong những chiều lạnh, quây quần bên bếp lửa nấu cơm cũng là một cái thú. Những đứa trẻ HN mộng mơ, nhìn bếp lửa chờn vờn mà nghĩ đủ điều…"



Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2011

Bài Ca Hà Nội 44 & 56 (cho ngày 20-11)

Chúc mừng các thầy cô giáo - mời các bạn nghe Bài Ca Hà Nội số 44 - Ước mơ xanh, chủ đề thầy cô giáo HN:



Bài Ca Hà Nội số 56 - Những mùa hoa bỏ lại.

Thứ Hai, 14 tháng 11, 2011

Hợp âm phố phường của Hồ Anh Thái

Đến giờ, người ta đã quen với việc Hồ Anh Thái đều đặn ra sách. Sách dày dặn, trên dưới 300 trang, và nhiều phần trong số đó thuộc thể loại đang hiếm hoi thành quả trong văn học Việt Nam: tiểu thuyết. Có một ý thức về lao động viết nơi nhà văn này, cho dù ông ở đâu, như một tham vọng khám phá lật qua lật lại các sự biến của xã hội dưới một giọng văn tỉnh táo, nhiều “mảng miếng”.

Cuốn sách mới nhất của Hồ Anh Thái có cái tên mang phong cách “tên dài” khá là phổ biến hiện nay trên thế giới: SBC là săn bắt chuột (SBC). Thật ra 5 từ là vừa phải, nhưng 7 âm tiết khi đọc lên thì thành dài, như tương ứng với tên các chương trong sách: “Ai quá lứa lỡ thì đừng đọc chương này, Ai sợ bãi tha ma đừng đọc chương này”… Đây có vẻ là một dụng công để hô ứng với cách viết những câu chuyện móc xích vào nhau, những chi tiết ăm ắp cái này xô cái kia mà chạy.

Kỹ thuật này Hồ Anh Thái đã sử dụng từ những cuốn văn xuôi nhiều năm trước như Người Ấn hay Cõi người rung chuông tận thế. Mỗi nhà văn có một bút pháp để ghi dấu ấn, và Hồ Anh Thái có vẻ như đặt hẳn hai chân vào lối viết này. Ngay cả dòng truyện có cảm xúc tự sự hơn như những truyện về cuộc đời Đức Phật hay Sông cạn gần đây, cũng vẫn nắm lấy kỹ thuật đan cài chồng ý, tùy lúc mà đẩy lên bề mặt ngôn từ hay nhòe mờ đi.

Điều đáng quan tâm là việc khai thác chất liệu từ những “sự biến” đời sống gần cận ta, mang tính thời sự cao độ vì ai chăm theo dõi báo chí là rõ cả. Các mẫu nhân vật của Hồ Anh Thái dù đổi tên thành cô Báo, chú Thơ, ông Cốp, Luật Sư, Đại Gia… thì cái chân dung người thực ngoài đời ấy vẫn lồ lộ, điều này vẫn có vẻ hiếm hoi vì đa phần nhà văn Việt Nam ưa phiếm chỉ và không tạo cho nhân vật những lý lịch sinh động đến thế.

Đó là cái rắn tay của tác giả SBC. Trong một xã hội ưa nói ngọt, hay tung hỏa mù bằng những nỉ non đạo đức trên các phương tiện truyền thông để che đậy những sự thật băng hoại, thì những liều “tính sổ” này xem ra cần thiết. Có điều, việc bào chế của thầy thuốc Hồ Anh Thái không phải lúc nào cũng tỏ ra hiệu nghiệm. Sự tỉnh táo chăm chút cho các bài thuốc này lại khiến nhiều chỗ văn kém duyên. Sự động não của người đọc không quyết định người ta thích cuốn sách hay không. Thuốc kháng sinh thì ai cũng biết, uống dền dền là nhờn.

SBC xét về mặt tác phẩm là một cuốn ghi nhận sự tiến triển về bút pháp của Hồ Anh Thái, tăng cường sự phức hợp của các dữ kiện làm nên hệ thống nhân vật. Bản thân nội dung là một tuyến truyện với nhiều ngõ ngách đổ về, nhưng cũng có thể coi đây là một khung cảnh đời sống hiện nay với cả chục hồ sơ nhân vật. Nó tựa như một ngã tư Hà Nội, xe cộ đi lại mất trật tự, nhưng người nào, xe nào cũng tìm được cái đích của mình. Nó có độ vang của hợp âm phố phường, sự bề bộn lộn xộn với người này là nỗi tra tấn, với người khác lại có sức mê hoặc khó cưỡng. Hồ Anh Thái dường như không che giấu mình thuộc về nhóm người thứ hai.

SBC mặc dù có vẻ hài hước, nhưng đọc cũng không dễ mà cười. Bắt chước tác giả, người viết bài này cũng kết bằng một câu dài: “Ai thích tấu hài thì đừng đọc sách này”.

(Báo Thanh Niên)

Thứ Hai, 7 tháng 11, 2011

Mộng giữa bình thường (DFS 9)


Năm nay mình không đi xem Đẹp Fashion Show, vì thế không review được gì. DFS là một cái show cũng chẳng xác định được rõ ranh giới, nhưng nó là show có cái để xem thật sự mà không diễn lần 2. Ờ thì có thể ai chăm đi xem thời trang thì thuộc cách Hà Anh giơ tay lên khoe nách hay Tiến Đoàn vạch thắt lưng sao mà giống cái ảnh vạch sịp... Nhưng đi xem thì ngồi cũng xa xa, với lại âm thanh ánh sáng rồi người mẫu đi rầm rập, thấy thì thấy chứ cũng chẳng phản cảm gì :-) Tóm lại, người xưa bảo giai nhân nan tái đắc, cứ đi xem show này thì nhìn thấy họ dền dền. Biết chị X sẽ đá chân kiểu ấy, anh Y sẽ nhe răng ra cười đố biết cười với đại gia nào trên các hàng VIP hay là kịch bản bắt thế.

Đăng lại bài năm ngoái, nhân xem VN's Next Top Model :-). Hãy nghiêm túc với mọi thứ, phù phiếm có ở mọi nơi, ngay cả những trò ngoại giao hay luật thi ca. Ai bảo các nghị sĩ không mộng tưởng? Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng :-)) (cảm ơn Chế Lan Viên). À mà cái tên bài này lấy ra nhân dịp con bác Huy Cận đáo tụng đình, vì HC viết mấy chữ ấy trong bài Ngậm ngùi mà ai cũng biết. Trích dẫn cũng là một sự phù phiếm... ^^

MỘNG GIỮA BÌNH THƯỜNG

Hà Nội mùa thu năm 2010 là một thời điểm sau này sẽ còn khiến mọi người nhớ. Nhớ những ngày đại lễ kỷ niệm 1000 năm đông đúc đến buồn cười. Hà Nội chợt lộn xộn, nhịp sống bình thường xáo động lên bởi những sửa sang, chăng đèn kết hoa, vài sự cố trong việc kỷ niệm. Nhưng mùa thu năm nay đẹp và kéo dài, điều chưa chắc ta đã nhớ. Rút cục thì cái đẹp của Hà Nội là những gì bền bỉ năm nay qua năm khác, những thứ đi vào nhịp sống như gió heo may đến hẹn lại về. Ta sẽ quên khi cái rét tái tê trở lại, và chỉ nhớ đến khi đã hưởng trọn mùa hè bức bối.

Mùa thu đến thì người ta nhớ đến việc phải mặc ấm hơn. Đi qua đường Phan Đình Phùng, những chiếc lá sấu vàng rơi ràn rạt. Những cô gái lâm vào cảnh trên đông dưới hè: cổ vắt chiếc khăn hững hờ trên chiếc áo sợi dệt bó sát, dưới là váy ngắn khoe đùi dài, chân ra sức dận trên đôi bốt da cao gót. Thế là mùa mốt đã về. Đường phố Hà Nội lại thành catwalk Thu-Đông rồi.

Người ta cũng nhớ tới một sự kiện thường niên có tên là Đẹp Fashion show vào lúc trời se lạnh như thế. Gần mười năm rồi, chương trình này đã thành ra như kiểu Tuần Thời trang hay những event trứ danh ở New York, Paris, Milan. Hà Nội vẫn hồn nhiên sống với các loại mốt, và nơi này thật đắc địa cho mốt vì thời tiết đỏng đảnh. Mùa hè nóng đến mức thiếu điều chị em mặc bikini phóng xe máy ra đường (sợ nắng cháy da thì khoác poncho kiểu Mexico – ý tôi muốn chỉ những loại áo chống nắng chống bụi tùm hụp, vật bất ly thân của chị em thành thị chưa có điều kiện sắm xe hơi). Mùa đông rét mướt đến mức khoác cả áo lông chống tuyết vẫn chưa đủ ấm. Cũng dọc những phố phường Hà Nội, hai loại cửa hiệu phổ biến nhất là quán ăn và hiệu quần áo. Người ta sẽ thắc mắc: bán lắm quần áo thế thì mặc để đi đâu? – Đi dự Đẹp Fashion show chẳng hạn.

Có đến cái show ấy lần thứ 9 ở một nơi xa như Garden Mall Mỹ Đình mới thấy thiên hạ mê thời trang. Cho dù kinh tế năm nay rất khó khăn, ngày nào thông tin giá vàng giá đô cũng quần đảo các trang tin, giá hàng tiêu dùng tăng rền rền hàng tuần, vẫn còn đó một không gian cho lụa là, trang sức, son phấn. Cái tên chương trình là “Dreaming” (Mơ) ngẫu nhiên mà lại thể hiện một điều dường như đang ngự trị tâm lý chung. Xem một show thời trang có tính sắp đặt thế này cũng là một cách người ta mơ mộng, đắm chìm trong một tối lộng lẫy, tạm rời khỏi một thực tại bụi bặm đến ngột ngạt.

Garden Mall đông nghẹt những người đẹp cần nơi để cho người khác ngưỡng mộ (có khi chủ yếu là toàn cánh phó nháy), những doanh nhân cần chỗ để giao lưu vài chuyện bâng quơ có khả năng dắt mối làm ăn lớn (có khi kết quả chỉ là những số liên lạc của các người đẹp!). Thật khéo không có sự kiện nào lại đông tay máy ảnh như ở đây. Hai mươi năm trước, nhà thơ nổi bật giữa đám đông. Mười năm trước, nhà văn đi đâu cũng dễ bị nhận diện. Bây giờ, là thời của nhiếp ảnh gia. Không có họ thì không có sự kiện. Báo chí chết trước, các nhà tổ chức chết theo sau. Vì thế, các nhiếp ảnh gia ghi dấu ấn không chỉ ở thảm đỏ đại sảnh, ở cái phông chi chít logo nhà tài trợ, nơi họ điên cuồng bấm máy chộp các gương mặt người nổi tiếng, mà họ còn ghi dấu ở chương trình. Những hậu cảnh chiếu lên trong chương trình mang đậm tính nhiếp ảnh. Những bộ trang phục dù thì gì cũng tựa như những bức ảnh được phóng lên ba chiều.

Dường như để phá vỡ tính chất dẹt của hình ảnh thời trang đó, đạo diễn Lê Vũ Long đã dùng hình thức xử lý chiều thứ ba mới: từ trên cao xuống. Những diễn viên nhào lộn đu mình trên dây thả từ trên khoảng thông tầng của không gian biểu diễn. Tất nhiên những “mã” ý tưởng không khó luận ra: những con người quằn quại, mê đắm, thức giấc từ những cái kén trắng. Khán giả ngửa cổ nhìn những hình nhân như bay liệng trên đầu mình, hồi hộp chờ điều gì trong “mơ”. Cái hay của mơ là không ai dự tính được, và cũng không cố mơ được theo ý muốn. Có cố lúc bắt đầu nhắm mắt thì lại đi nẻo nào mất lúc về sau.

Vẻ cổ điển là nét nổi bật của ĐFS lần này. Tính chỉn chu và tinh tế nhiều hơn là sự phá cách và trình diễn. Dường như ở vào một lúc khác, một nơi khác, như vậy có vẻ quá an toàn. Nhưng đặc điểm ấy chứng tỏ một sự tự tin, một sự trưởng thành. Từ bộ sưu tập “Mơ” của Hoàng Ngân, với gam màu xanh và ôliu lịch lãm, như một dẫn nhập từ tốn, đến bộ sưu tập “Thế giới siêu tưởng” của Kelly Bùi, với gam màu đen và dát vàng dữ dội trong tiếng trống thúc như vó ngựa hoang, là một cuộc chu du đầy bất ngờ. Giống như khi ta mơ, ta bị rượt đuổi, chạy mãi và chỉ dừng lại khi hụt chân. Tỉnh dậy ta thấy mình hóa ra đạp mất gối chăn. “Thế giới siêu tưởng” với những đôi giầy đế cao không gót mô phỏng vó ngựa, những chiếc áo dạng đua môtô, quần phồng túm ở dưới như những tay thảo khấu sa mạc, cùng những mái tóc kỳ dị như bờm ngựa, có khi còn lắc lư thêm cái đuôi, vừa giống những nữ chiến binh cổ đại, vừa giống những sinh vật kỳ dị chỉ có trong mơ, thực là một cú đạp trong cơn mơ khiến ta sực tỉnh, tỉnh rồi vẫn ngơ ngác và tiếc nuối vì đã hết. 

Những “con ma ngủ” (chữ trong thơ Nguyễn Vĩnh Tiến) lại xuất hiện: những hình nhân từ trên không trung lại nhào lộn, tiếng nhạc âm u của Trí Minh như dọn dường cho cơn mơ tiếp tục. “Câu chuyện kể” của Lưu Anh Tuấn với những kiều nữ tóc cột dựng như cọc khiến họ cao hẳn lên, những chiếc váy ngắn có cổ Tàu cùng những hoa văn hình rồng, mây nước, trên nền gấm, tơ sồi, da thuộc, len với những màu sắc cổ điển: xanh lam, đen, đỏ, tím, vàng son, lục. Tôi còn nhớ ấn tượng về những bộ tiểu thuyết Trung Hoa, những câu chữ vừa ước lệ mà lại chi tiết đến nỗi xem những bộ phim làm theo mà hay thì à lên sao mà giống hình dung vậy. Những câu chuyện kể được hiển thị bằng hình ảnh bằng thời trang thì giống mà cũng lại phải có khoảng mở. Cái hay của nghệ thuật lấy ảnh hưởng chất liệu cổ là vậy: vừa là nó mà lại không thể dừng ở mức y sì như nó – những nguyên mẫu đã thành bảo tàng.

"Du mục" là chủ đề bộ sưu tập của nhà thiết kế người Đức Julianne Kunze được lấy cảm hứng từ hình ảnh người Digan, vũ công Flamenco và đấu sĩ bò tót. Những hình ảnh mà chúng ta vẫn quen thuộc về họ thực ra toàn như kiểu postcard, những bức ảnh dẹt. Làm sao để những hình ảnh ấy thực sự có cuộc tái hiện gợi nhớ mà bay bổng, cũng như chúng ta mơ bao giờ cũng muốn mơ khác thường. Chứ mơ mà như cuộc sống thường nhật tẻ nhạt thì buồn. Trốn cái thường để rồi gặp nó, thì gặp ác mộng có khi còn thú hơn. Bộ sưu tập lịch lãm, có tính ứng dụng cao, mang một cảm giác tươi mát của thảo nguyên, của bụi bặm giang hồ, của màu đỏ man dại trên chiếc quần ngắn ống, trên đôi môi mọng của Hà Anh, của chiếc váy màu tím phớt rất lạ kiểu Flamenco mà Hoàng Yến mặc, và những bông hoa đầy vẻ hippy như lời bát hát xưa: Nếu bạn tới San Francisco, hãy nhớ cài vài bông hoa lên mái tóc…

Bonus vào giờ chót của ĐFS 9 là bộ sưu tập “Mây” của Đỗ Mạnh Cường. Màn trình diễn cho “Mây” có vẻ trở về phong cách cầu kỳ quen thuộc của những kỳ ĐFS trước: một màn ngã, một màn lăn tròn trên đường diễn. Những cái vươn tay ngạo nghễ, những điệu bộ đầy tính kịch, tương phản với vẻ bồng bềnh nhẹ nhõm của màu trắng trên những chất liệu mỏng, nhẹ, những lớp vải may xếp lớp như bung ra. Khi đã ở mức “thể hiện” thì đã tỉnh táo lắm rồi. Cơn mơ đã hết.

Mơ mộng là một khía cạnh của lãng mạn. Ở một thành phố ngày càng ít vẻ lãng mạn như Hà Nội, không có cách nào khác là phải tạo sinh những giấc mộng mới. Giữa cái khô queo của đời thường, người ta vẫn đổ xô đi xem phim kỳ ảo, vẫn sắm sanh quần áo đẹp. Hà Nội bụi bặm nham nhở vẫn còn những ngày thu đẹp đẽ.  Còn ta, mỗi ngày vẫn có 8 tiếng để ngủ, và nếu may mắn, thì ta có thể có giấc mơ đẹp mà khác thường. 

N.T.Q
(TT&VH Đàn Ông 11.2010)

Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2011

Xem và bình phim ngắn VN: YxineFF 2011

Mời các bạn vào bình chọn và bình luận cho các bộ phim tham gia Liên hoan phim ngắn YxineFF 2011. Các bài bình luận được YxineFF chọn đăng sẽ được tặng quà là 1 cuốn sách trong bộ Truyện & Kịch bản phim nổi tiếng thế giới.

YxineFF 2011 sẽ được trao giải vào 12/12/2011, với 23 phim tranh giải.


Hai giải thưởng chính của YxineFF 2011 gồm:
Trái Tim Vàng (Golden Heart) do ban giám khảo bình chọn.
Trái Tim Hồng (Red Heart) do Khán giả bình chọn.
Mỗi giải thưởng chính gồm tượng, giấy chứng nhận, một bộ sách mới nhất thuộc Tủ sách Điện ảnh và tiền mặt trị giá 20 triệu đồng dành cho việc làm bộ phim ngắn tiếp theo hoặc dự án phim dài của người được trao giải.
Ban giám khảo cũng trao 5 giải thưởng cá nhân xuất sắc cho đạo diễn, kịch bản, quay phim, dựng phim và diễn viên. Mỗi giải thưởng cá nhân gồm giấy chứng nhận, một bộ sách mới nhất thuộc Tủ sách Điện ảnh và tiền mặt trị giá 5 triệu đồng.
Giải thưởng đặc biệt của YxineFF 2011 gồm:
Trái Tim Trẻ (New Heart) cho bộ phim tranh giải có ý tưởng sáng tạo mới lạ do Lequyduong Co. Ltd. trao tặng và được lựa chọn bởi đạo diễn Lê Quý Dương cùng một số nhà tư vấn nghệ thuật. Giải thưởng gồm tượng, giấy chứng nhận, một bộ sách mới nhất thuộc Tủ sách Điện ảnh và tiền mặt trị giá 10 triệu đồng.
Trái Tim Xanh (Green Heart) cho bộ phim tài liệu thể hiện hay nhất chủ đề Phát triển bền vững (Sustainable Development) do EcoAid trao tặng và được chọn lựa bởi một Ban giám khảo độc lập. Danh sách đề cử được chọn từ phim tham gia tất cả các hạng mục. Giải thưởng gồm tượng, giấy chứng nhận, một bộ sách mới nhất thuộc Tủ sách Điện ảnh và tiền mặt trị giá 10 triệu đồng.
Trái Tim Lửa (Fire Heart – Production Award) cho bộ phim tranh giải hay nhất, đặc biệt về lĩnh vực sản xuất do HK Film trao tặng và được lựa chọn bởi nhà quay phim/nhà sản xuất phim Trinh Hoan cùng đồng sự. Giải thưởng gồm tượng, giấy chứng nhận, một bộ sách mới nhất thuộc Tủ sách Điện ảnh và trang thiết bị miễn phí cho việc sản xuất một bộ phim ngắn khoảng 15 phút có giá trị trong vòng 1 năm.
Ngoài ra YxineFF 2011 sẽ có thể trao thêm một số giải thưởng đặc biệt khác. Thông tin cụ thể sẽ được công bố vào thời điểm thích hợp.


http://www.yxineff.com/




Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ