Thứ Hai, 27 tháng 8, 2012

Duyên à bống ơi

Nhân lấy cái ảnh chụp cổng Thượng Tứ trong mưa làm ảnh banner, mới thấy có những nơi chỉ đẹp trong một thời tiết nào đấy, một chân lý có lẽ đã cũ mòn ra rồi. Mới hai tuần trước, mình cũng dẫn cả nhà đi vào Đại Nội, cũng nhìn về góc ảnh đó, nhưng tiệt không thấy đẹp gì cả. Vì nắng và nóng quá. Huế lúc ấy nhèo nhẽo bên tai lời chào mời "đi xích lô, thăm Đại Nội, đi chợ đêm, ăn chè cung đình..." trăm lần như một, miệt mài như một hằng đẳng thức đáng nhớ.

Hà Nội cũng thế, những ngày này nóng nực oi ả, mưa nhoằng cái đã lại tạnh mà cũng chỉ tăng cường được cái sự ẩm. Nóng làm cho mùi hôi khẳn của những thùng rác ở ven đường sực lên. Ở đây chỉ nói thời tiết chứ không bàn đến thói hư tật xấu sự tệ hại của dân HN nhé. HN có những buổi sáng đẹp lắm, khí trời mát mẻ, quang quẻ, và sắp tới sẽ có những ngày thu nịnh da người. Nhưng HN đẹp nhất là lúc mưa xuân.

Còn Sài Gòn, Sài Gòn có dạo mình vào đúng đợt mát dịu, đi chơi thích thôi rồi. Khánh Ly hát "Sài Gòn em đẹp nhất về đêm" - cũng chả biết SG của năm nào, từ đời mồ ma bố chị Kỳ Dziên, nhưng đêm SG cũng hơi bị kinh ở những đường nườm nượp xe. Thích cái không khí thênh thang dưới bầu trời đêm hơi xanh thấy rõ mây trắng.

À, nói đến Kỳ Dziên, ý mình tên chị là Duyên. Một cái tên ôi vô cùng Bắc Kỳ. Ơ mà mấy chữ thôi mình đã lôi cả tên của chị ấy lẫn bố chị và cả xứ Bắc nhà chị nữa! Mới đọc cuốn Quê Hương Tôi của Tràng Thiên, tức Võ Phiến, có bài "Theo chân một món ăn", có câu "đưa cô bạn gái Bắc đi ăn món Huế": - "Coi chừng món Huế cay lắm, liệu cô Duyên có ăn nổi không chứ ăn về khóc ba ngày đó."

Kỳ Duyên là một phụ nữ đẹp, chả phải bàn cãi gì nữa, cho dù báo lá cải nào đấy dám post ảnh chị đi chơi với chúng bạn mặt mộc mà dám nói đấy là "sốc", là awful truth. Cứ cho là 10 năm nữa đi, lúc chị Duyên ngồi gốc cây hồng hái hoa rồi, thì cũng hơi khó hứa hẹn một MC gái nào nhộn nhộn như thế.

Ở đây muốn nói đến cái tên Duyên. Không biết Võ Phiến có trêu Nguyễn Tất Nhiên không, vì nhiều người biết và hâm mộ chùm thơ viết về "duyên tình con gái Bắc", được Phạm Duy và nhiều người phổ nhạc. Chuyện là cái bác nhà thơ kia, năm 17-18 tuổi sống ở Biên Hòa, ở gần nhà 1 cô gái Bắc di cư tên là Duyên. Chàng mê nàng, làm thơ, điên loạn hết cả lên, những việc như trồng cây si rồi nhắn nhe này nọ. Nhưng gái Bắc toàn tòng làm sao bố mẹ cho gặp cái anh thiếu niên hâm dở muốn tạo dựng hình ảnh nghệ sĩ giữa mùa hè mặc áo măng tô đi thuê ở chợ Dân Sinh cho ngầu được. Ngoài "Cô Bắc kỳ nho nhỏ", thì bài "Thà như giọt mưa" có lẽ là hay nhất.

Người từ trăm năm về ngang trường Luật
Ta hỏng tú tài, ta hụt tình yêu
Thi hỏng mất rồi, ta đợi ngày đi
Đau lòng ta muốn khóc
Đau lòng ta muốn khóc.

Thà là giọt mưa vỡ trên mặt em
Thà là giọt mưa khô trên mặt Duyên
Để ta nghe thoáng tiếng mưa vội đến
Những giọt run run ướt ngọn lông măng
Những giọt run run ướt ngọn lông măng
Khiến người ăn năn đau khổ ăn năn
Khiến người tên Duyên đau khổ muôn niên.


Mình đã từng viết một cái note về tên nhân vật của văn học nghệ thuật VN. Hai cái tên nữ mình ấn tượng nhất là Phượng và Duyên. Duyên thì nhiều người còn nhớ đến nhân vật mà Lê Vân đóng trong "Bao giờ cho đến tháng Mười". Cái tên tình cờ mà hợp với nội dung, không dám tâng bốc nhưng nếu thay vào là Hoa là Nhung là Tuyết (những cái tên hơi quê hơi xưa) thì không được ép phê bằng. Tuyết chẳng hạn, có vẻ như chết với nhân vật cô con gái dâm đãng trong Số Đỏ mất rồi (xin lỗi các chị em có trùng tên ^^). Một tập đại thành tên nhân vật của thời 30-45 áp chế kho tên gọi cho đến giờ. Loan sẽ là của Đoạn Tuyệt của Nhất Linh. Nở sẽ là độc quyền của Nam Cao. Sau này nhờ truyền thông và giải trí mà có Loan Mắt Nhung (một giang hồ SG - đàn ông!) giải cấu cho, hay ca sĩ Thu Nở của truyền hình TPHCM những năm 80. Hồi xưa còn có dàn nhạc Francois Nở cơ mà (Orchestre Francoise Nở - có đánh dấu tiếng Việt rõ ràng)! Nhưng Nở vẫn còn đó như một tượng đài mà không khối bộc phá nào làm sập.

Thế nhưng cũng như Huế, SG, HN đẹp tùy thời tiết, tùy cảnh và tùy tâm trạng, những cái tên hay là do bối cảnh tác phẩm tạo ra. Mình đi Huế với người mình hợp sẽ thấy đẹp khôn xiết so với cả bầu đoàn rên la chê bôi. Cũng như một cái tên Hồng Nhung tưởng như rất độc quyền nhờ tài năng của ca sĩ mang tên đó, nhưng chị đã có từ Bống để đối trọng mà cũng rất khéo léo khó ai cạnh tranh được. Mặc dù chị Bống bây giờ không có bài hit nào nữa, cũng như các bài hát không gây được cảm xúc nơi mình, nhưng hiếm ca sĩ nào xuất hiện mà làm mình phải chú ý: từ cách ăn mặc, cách nói, cách nhoẻn cười, cách nghiêng ngó ngọ nguậy ngúng nguẩy, rất là... Bống! Hôm rồi liếc thấy trên The Voice VN có chị, thấy sắc vóc và cách nói rất là thú vị. Cách dạy thí sinh thấy cũng hay, dù chỉ vài câu. Phải nói là ngoại hình lẫn cách nói rất tương xứng và có xì tai, và nói luôn là đẹp. Chứ mấy diva còn lại, xuất hiện là thấy nặng nề sao ấy, cả hình thức lẫn việc trình diễn (gần đây ko có điều kiện thấy Hà Trần trên TV nên không so sánh được).

Bây giờ, ít ai gọi là chị Nhung, mà phải là Hồng Nhung, hoặc đích danh Bống. Mình nghĩ là chị Bống có cửa để thay thế chị Duyên trong lĩnh vực MC, tất nhiên là chị ấy phải kiếm được kép dẫn cùng có tầm cỡ anh Ngạn tóc nhuộm. Không có anh Ngạn, chị Duyên hình như cũng kém duyên hơn, dù chương trình Thúy Nga bây giờ càng ngày càng giống một màn xảo ngôn, ít cái chân thật - vốn là thứ từng là cái mời gọi người xem đến. Mà mình cũng vớ vẩn, show nào mà chả diễn, không diễn có cạp đất mà ăn.

Thứ Sáu, 24 tháng 8, 2012

Đi tìm tấm căn cước của không gian sống


Trả lời bạn Xuân Thủy - tạp chí Văn nghệ quân đội 8-2012.

Hà Nội: Người béo phì không may kịp áo mới
- Nếu có thể gọi rõ tình yêu Hà Nội trong anh ra thì nó là những gì?
NTQ: Tôi cũng yêu mến Hà Nội như mọi người sống ở Hà Nội yêu mến nó. Thú thực như ngày hôm nay khi tôi trả lời câu hỏi này của anh, tôi không biết đi đâu trong một ngày chủ nhật bình thường, không có địa điểm nào gợi lên trong tôi sự ham muốn. Nhưng ở đây có ngôi nhà tôi ở, nơi chốn đi về, những nơi ấy cùng sự quen thuộc có phần nhàm chán là thứ ta sống cùng hàng ngày. Tình yêu trong cuộc sống cũng nảy sinh từ những thứ bình thường thôi đấy chứ?
Tất nhiên tình cảm với Hà Nội của tôi có lẫn những cảm xúc có phần hoài cổ, có phần tiếc nuối những không gian yên tĩnh, quang đãng và thư thái đã thuộc về quá khứ. Tôi sẽ là người trên cung trăng nếu nói yêu Hà Nội một cách khơi khơi với đủ thứ bề bộn đang diễn ra. Vì vậy, tôi không viết với tâm thế ve vuốt, tôi muốn mang lại cho người đọc cái nhìn thẳng thắn và thực tế về bối cảnh sống của họ. Người ta có câu “yêu cho roi cho vọt” – và nếu còn yêu Hà Nội thì chắc chúng ta còn phải chịu nhiều đòn đau!
- Tác phẩm của nhiều nhà văn viết về Hà Nội cho thấy một đô thị đang vỡ ra về mọi phương diện nhưng đa phần là tiểu thuyết với những cách tiếp cận khác nhau, còn anh, với 4 tập tản văn đã in anh muốn góp thêm tiếng nói gì về đô thị của chúng ta?
NTQ: Bây giờ đọc tiểu thuyết hay truyện ngắn của các nhà văn, tôi hay để ý cách họ mô tả không gian sống của các nhân vật, cái đô thị Hà Nội trong đó hiện ra thế nào? Tôi muốn tái hiện được những không gian sinh động lột tả được một Hà Nội đang bừng bừng sống. Nhà văn cũng như một vị chúa tể trong tác phẩm, vậy thì tôi muốn mình vẽ ra được tấm căn cước của không gian sống ấy với những con người của thời này.
- Và tấm căn cước ấy đã được anh vẽ đến đâu rồi?
NTQ: Tập sách đầu tiên của tôi, Tự nhiên như người Hà Nội, là những quan sát về hình thái đô thị như một loại “hồ sơ kiến trúc”, cuốn thứ hai, Ăn phở rất khó thấy ngon, là chân dung về con người sống trong đô thị ấy, tập trung vào giới viên chức văn phòng với các thói tật và hành vi. Cuốn thứ ba, Hà Nội là Hà Nội, là cuộc tìm kiếm những giá trị văn hóa mang những câu hỏi bao trùm hơn. Và cuốn mới nhất, Xe máy tiếu ngạo, là một cuộc khảo sát văn chương về phương tiện như xe máy của dân thành phố, cũng như ghi lại đậm nét thêm những hành vi và lối sống của người đô thị. Ghi lại những gì quan sát và trải nghiệm về “đối tượng Hà Nội” cũng là sự đánh dấu các giai đoạn viết lách của tôi nữa.
- Mỗi con người Việt Nam đang phải đương đầu với cơn bão toàn cầu hóa nhưng mỗi con người Hà Nội còn phải đương đầu với xu hướng… toàn quốc hóa nữa, anh nghĩ gì về xu hướng này?
NTQ: Toàn cầu hóa đã diễn ra từ lâu, Việt Nam đã gia nhập WTO được 6 năm rồi, vậy mà chúng ta vẫn không chắc cuộc sống của mình có thay đổi về chất nhiều lắm không. Tương tự thế, nếu nói về xu hướng mà như anh nói là “toàn quốc hóa” đối với HN thì tôi cũng rất khó để nói một cách khách quan. Trong một mặt bằng văn hóa xã hội càng ngày càng đòi hỏi nhiều sự thay đổi quyết liệt về chất lượng thì theo quán tính, Hà Nội là nơi người ta kỳ vọng nhất, vì thế thất vọng càng dễ. Ở đây nếu nói về mặt vật chất thì tôi không thích một Hà Nội quá tải, xộc xệch như người mắc bệnh béo phì không kịp may áo mới.
Về mặt tinh thần, tôi chưa thấy sự biến chuyển về dịch vụ hay nếp nghĩ. Hàng quán vẫn lối phục vụ nửa chợ cóc nửa mậu dịch “xin cho”, thậm chí người ta chấp nhận “cháo quát phở chửi” hoặc ngồi ăn trong những nơi mất vệ sinh kinh khủng dù giá thuê hàng chục triệu một tháng hay giá bán cửa hàng đến cả triệu đô! Đơn cử một bát phở 40-50 nghìn đồng, một mức giá không hề rẻ, nhưng họ không thiết đầu tư một cái khăn ướt hay đĩa để xương hay bã. Tất thảy vẫn “miễn phí” giấy lau miệng và rác ăn uống cứ thế tống xuống gầm bàn. Gần như 80% quán xá đều kém về khoản toa lét, thậm chí còn không có! Ngay nhiều nhà hàng khá đắt tiền mà tôi đã có dịp vào, tình trạng này không hơn bao nhiêu, trong khi mặt bằng giá cả Hà Nội thuộc loại đắt đỏ nhất cả nước. Những cái nhỏ nhỏ như thế cứ mỗi ngày bào mòn sức chịu đựng của chúng ta. Đáng buồn nhất là xu hướng “toàn quốc hóa” chưa đem lại sự thay đổi như mong muốn cho Hà Nội.
Cái đẹp xưa đã hoàn thành nhiệm vụ
- Khi một Hà Nội phình to thì cũng đồng nghĩa với việc “chất” Hà Nội cũng sẽ bị pha loãng ra, và cái gọi là thanh lịch Tràng An sẽ ngày càng nhỏ bé và bị thôn tính không thương tiếc?
 NTQ: Câu hỏi quá đương nhiên này có lẽ cũng không cần tôi trả lời, vì đã có nhiều nghiên cứu xác định những phẩm chất Hà Nội. Những năm chiến tranh, người nghệ sĩ trong thơ Phan Vũ vẫn viết về một Hà Nội phần hồn vẫn nhỏ bé, vẫn xô lệch ngói âm dương. Lưu Quang Vũ viết:
“Những năm khó khăn
Hè phố đầy hầm tường đầy khẩu hiệu
Quần áo và mặt người màu cỏ héo
…Các cô gái trở nên suồng sã
Những năm già trước tuổi
Những năm thương Hà Nội trăm lần hơn”.
Tôi nghĩ vấn đề “chất Hà Nội” phôi pha đã có từ lâu, không đợi đến lúc mở rộng hay phình to ranh giới địa lý, thực trạng bây giờ chỉ là hệ quả mà thôi. Tiếc là chúng ta đã tô vẽ quá kiên trì trong hàng thập niên mà không xây dựng quy hoạch những rường cột xã hội cho tử tế. Hà Nội như một người hệ miễn dịch bị hỏng, có lẽ cần một sự lột xác mới. Cái đẹp xưa cũ đành coi như đã hoàn thành nhiệm vụ!
- Và khi một tấm hộ khẩu hành chính và một tấm hộ khẩu văn hóa không phải là hai thứ song hành, thậm chí khoảng cách giữa chúng cứ rộng thêm mãi ra, liệu đến một ngày chúng ta sẽ… chẳng còn thứ gì để bảo tồn?
NTQ: Tôi nghĩ là văn hóa HN cũng chẳng xa xôi gì với quy chuẩn văn minh của mọi đô thị trên thế giới. Tôi đảm bảo là nếu có các hoạt động thực tế như không vứt rác lung tung ra đường phố, đi lại tuân thủ luật giao thông, tăng cường chất lượng dịch vụ, thủ tục hành chính tiện lợi… thì chúng ta không phải nhọc công bảo tồn cái gì cả. Chúng ta có sống trong lâu đài mà hành xử lôm côm thì cũng chẳng giữ được cái gì cả! Đáng buồn là chuyện này đã xảy ra chứ không mới.
- Nghĩa là chúng ta cần một con mắt lý tính sáng suốt hơn trong “quy hoạch con người Hà Nội”, nhưng đây lại là thứ mà dường như rất khó định dạng và cũng chẳng thuộc… trách nhiệm của cơ quan nào? Theo anh chúng ta nên bắt đầu từ đâu?
NTQ: Tôi nghĩ là bắt đầu từ những hoạt động thực tế như tôi đã nói, mà muốn thế thì luật pháp phải nghiêm minh, thông tin phải minh bạch, mọi người phải được công bằng trước pháp luật. Không có thiết chế công minh thì tuân thủ là vô nghĩa.
Người Hà Nội nên bớt vị kỷ
- Con mắt kiến trúc có vị trí như thế nào trong mỗi trang văn của anh?
NTQ: Tôi muốn định dạng được tấm căn cước cho không gian sống đô thị Hà Nội trong những trang viết của mình. Một trong những thứ ấy là cái nhìn về không gian kiến trúc, quy hoạch, những góc phố cây xanh, những con ngõ bụi bặm, những mặt hồ đến những cái chợ vỉa hè lem nhem. Khi viết về chúng, trong đầu tôi luôn hiện lên một tấm bản đồ của mình, một hình dung rõ rệt về cảnh quan như một nhà đạo diễn hình dung về bối cảnh phim của mình. Càng chặt chẽ, càng mạch lạc thì các nhân vật càng có “đất diễn”. Chẳng hạn, viết về việc đi xe máy thì phải tả ra cho được không khí đường phố Hà Nội, nó khác nhiều với đường phố Sài Gòn và cũng không giống ở một thành phố nào khác trên thế giới. Và đường phố ấy là gì nếu không phải là nhà cửa hai bên đường, những ngã tư, cây cối và đủ thứ trên trời dưới lòng đường hay trên vỉa hè…
- Nếu nhìn bằng “con mắt dân sinh” về đường phố Hà Nội thì sẽ chỉ thấy 2 điển hình ám ảnh là tắc (quanh năm) và ngập (khi mưa), anh sẽ khuyên mỗi công dân đô thị nên mở lòng theo hướng nào để thấy yêu hơn thành phố mình đang sống?
NTQ: Đâu chỉ mỗi Hà Nội mới tắc và ngập đâu? TP.HCM chẳng hạn, cũng gặp vấn đề tương tự nhưng cảm nhận của tôi là họ vẫn đảm bảo chất lượng dịch vụ hay tuân thủ luật giao thông. Tôi nghĩ người HN nên bớt vị kỷ và hãy bao dung với người khác hơn. Dường như lối sống hãnh tiến và coi thường người kém cỏi hơn mình đổ bộ vào cộng đồng dân cư chúng ta. Chúng ta không thể yêu bằng cách vui với những mùa hoa rời rạc nối tiếp nhau trên đường phố, với những bộ ảnh đèm đẹp vẫn post lên mạng cho nhau xem, hay vài hiện tượng thời tiết gây hứng cho thi ca này nọ. Làm sao để yêu những con người sống trong đó, chứ không phải hễ va chạm xe cộ là sẵn sàng vác dao ra “xin tí tiết” hay nhẹ hơn, thóa mạ nhau như để rửa hờn.
- Nhân nói chuyện tắc đường tôi lại muốn nhắc đến tập tản văn “Xe máy tiếu ngạo” của anh. Anh có thể nói một chút về loại “công dân hai bánh” rất gắn bó với Hà Nội này?
NTQ: Nói đến xe máy thì người ta hay nghĩ về mặt tiêu cực, có lẽ do ảnh hưởng truyền thông. Nhưng quanh xe máy có nhiều chuyện vui chứ. Một ông thợ sửa xe máy thú vị cũng làm cho cuộc sống của ta dễ chịu hơn. Một chuyến “phượt” trên xe máy có khả năng gây cảm hứng cho sáng tạo. Một nhà báo Mỹ đã viết về chuyện du khách đến Việt Nam bỗng dưng thấy thú vị hẳn vì có thể bỏ cả buổi chiều ngồi ngắm người đi xe máy nườm nượp ngoài đường. Tất cả những điều đó, tôi đã viết trong cuốn sách, như một phần tích cực trong chân dung một phương tiện đã làm nên lối sống và cung cách ứng xử của người Việt.
- Vừa là tác giả phần nội dung, vừa tự vẽ bìa cho sách, chắc hẳn anh rất ưng ý với sản phẩm do mình thực hiện?
NTQ: Bây giờ nhiều lúc tôi vẫn ước giá mà mình làm những cuốn sách cũ khác đi. Tôi không mấy khi hài lòng hoàn toàn về sản phẩm của mình khi nhìn lại. Có thể lần tới khi tái bản hoặc cuốn sách mới, tôi sẽ nhờ cậy một số họa sĩ quen biết vẽ bìa cho. May cho tôi là sách cũng được tái bản nhiều lần nên có cơ hội ấy!
- Và anh vẫn sẽ tiếp tục viết tản văn về Hà Nội chứ?
NTQ: Chắc chắn rồi. Tôi sẽ còn trở lại với đề tài này ở những quan sát khác.
- Cám ơn anh đã chia sẻ!

                                                                 Nguyễn Xuân Thủy thực hiện

Chủ Nhật, 12 tháng 8, 2012

Văn Mới 2011-2012


Tôi có 1 truyện ngắn được đăng trong tập này. Mọi người xem mục lục bên dưới.
Tác giả: Nhiều tác giả. Hồ Anh Thái tuyển
NXB: Hội Nhà văn     
Năm xuất bản: 2012
Số trang: 411 Kích thước:13,5 x 20,5 cm
Giá bìa: 86000 VNĐ
alt

Nội dung sách:

Văn mới 2011 – 2012 là cuốn sách trong tủ sách Văn mới đã quen thuộc với bạn đọc của Đông A. Tuyển tập 27 truyện ngắn đặc sắc này vừa được Đông A phát hành.
Nhà văn Hồ Anh Thái tiếp tục là người tuyển chọn các tác phẩm trong tuyển tập. Trong Văn mới 2011 – 2012, bạn đọc tiếp tục gặp những nhà văn đã có mặt trong Văn mới 2010 – 2011 như Đoàn Lê, Hạo Nguyên, Lê Minh Khuê, Nguyễn Thị Thu Huệ, Tô Hải Vân, Nhật Chiêu… Bên cạnh những cây bút đã quen thuộc đó, Văn mới 2011 – 2012 cũng có sự góp mặt của những cây bút khác như Phan An, Hoàng Công Danh, Trần Đức Tiến, Tuệ An… 27 truyện ngắn đặc sắc của những tác giả mới cũng như những tên tuổi có tiếng trong làng văn sẽ góp phần cho thấy diện mạo của văn chương Việt Nam đương đại.
Mỗi truyện được chọn lọc là những tác phẩm mới, tiêu biểu cho phong cách độc đáo của từng tác giả. Và mỗi truyện ngắn là một lát cắt cuộc sống khác nhau. Đọc Đồ cũ của Lê Minh Khuê, người đọc không khỏi ngậm ngùi đồng cảm với tình cảm của ông Phong đối với chiếc xe đạp cũ - kỉ vật gắn bó với quá khứ không thể nào quên. Đến với Một ngày rất lạ của Tô Hải Vân, có thể bạn sẽ giật mình xem lại bản thân: liệu mình đôi khi có giống nhân vật G - anh ta bị lây nhiễm và sợ hãi, cái bản thể bị méo mó đi, và phải can đảm lắm mới lấy lại được. Đọc Nuôi heo trong chùa của Hoàng Công Danh, bạn sẽ thấy những giọt nước mắt xót xa trong những cảnh ngộ đời thường… Mỗi truyện ngắn đều để lại những dư âm rất dài.
Sách do Công ty Văn hóa Đông A & NXB Hội Nhà văn liên kết ấn hành, công ty Văn hóa Đông A giữ bản quyền.
Mục lục tham khảo:           
1. Phan An: Âm học cơ bản và vô cùng nâng cao
2. Đoàn Lê: Con gà rừng
3. Hạo Nguyên: Bến Yên
4. Hồ Anh Thái: Mộng du ở Copenhagen
5. Hoàng Công Danh: Nuôi heo trong chùa
6. Lê Minh Khuê: Đồ cũ
7. Lê Minh Phong: Cuộc chơi
8. Ma Văn Kháng: Người làm câu đối ở tỉnh nhỏ
9. Nguyễn Danh Lam: Trên đường
10. Nguyễn Ngọc Thuần: Hố địa ngục
11. Nguyễn Ngọc Tư: Biến mất ở Thư Viên
12. Nguyễn Quốc Trung: Mưa đảo
13. Nguyễn Thị Thu Huệ: Không biết nói với ai
14. Nguyễn Trí: Nín lặng khóc
15. Nguyễn Trương Quý: Câu chuyện bắt đầu từ tầng mười
16. Nhật Chiêu: Trương Ba
17. Phạm Ngọc Tiến: Xuân vọng
18. Phạm Thị Thanh Mai: Số một
19. Phan Cung Việt: Quẫy lên mà sống
20. Phan Thị Vàng Anh: Hà Nội tháng 7 năm 2011
21. Tô Hải Vân: Một ngày rất lạ
22. Trần Chiến: Sinh thần
23. Trần Đức Tiến: Biệt thự, mèo, răng giả và những chuyện khác
24. Tuệ An: Vũ trụ khuyết
25. Văn Giá: Chân phờ zờ sờ
26. Văn Thành Lê: Biến mất không đều
27. Ý Nhi: Phìn Sa
Nguồn: http://www.dongabooks.vn/


Thứ Sáu, 10 tháng 8, 2012

Trở lại trường tuổi 35 (P.2)

Damian Whitworth (Sunday Times, Anh)

Phần 1

THỨ TƯ

Tôi đang ngồi trong phòng học trống thì Ronnie bước vào và nói: “Chú Damian, đây là Charlie. Bạn ấy là một trong số các bạn thân của cháu.”

Cô bé này ư? Cậu ta 13 tuổi và có một người bạn thân là nữ. Mà không là phải con trai. Chuyện gì xảy ra thế nhỉ? Khi ở vào tuổi ấy tôi đã ngượng chín đỏ người, nói lắp bắp không ra câu nào huống hồ là nhìn vào một cô gái, nói chuyện riêng hoặc là bạn của cô bé ấy. Đây thực sự là sự trưởng thành và có ý thức đáng ngạc nhiên.

Trong môn Giáo dục công dân, xã hội và sức khỏe, chúng tôi thảo luận về việc đánh đòn. Chỉ có hai thành viên trong lớp nói chưa từng bị ăn đòn. Sáu bạn nói họ gần đây bị bố mẹ đánh nhưng không tin việc đó có hiệu quả: “Như thế chỉ làm cho tớ thật sự khó chịu với bố mẹ thôi.” Hầu hết đều phản đối biện pháp kỷ luật này.

Vì lý do nào đó, niềm hưng phấn gây dựng được trong cả buổi sáng là nhờ việc tôi mang được bộ đồ thể dục theo. Các cô gái thất vọng khi tôi chọn môn nhảy ba bước với đám con trai chứ không phải là bóng lưới (vốn dành cho con gái). Tôi thay đồ trong cái toilet hỏng và nhập hội với các cậu trai ở bên hố cát. Thầy Rand, người đã từng học ở đây nhiều năm trước, cảnh báo tôi: “Đừng làm mạnh quá. Có thể sẽ rất đau đầu gối đấy.”

Anh ấy nói đúng. Cú dậm, chạy và nhảy đầu tiên làm toàn thân tôi xóc hết cả lên. Tôi giới hạn bản thân chỉ làm một so với hai cú mà những đứa trẻ khác thực hiện. Khi chúng tôi bắt đầu nhảy khỏi ván, hóa ra tôi còn thất bại trong việc tiếp đích, tôi rơi phịch xuống hố cát và cảm thấy đùi mình rung nảy lên. Tôi tập tễnh bước ra.

Trong môn Lịch sử, chúng tôi tìm hiểu về cuộc sống riêng tư của con người thế kỷ 18 và 19. Không có một vị vua, nhà chính trị hay một thời điểm đặc biệt nào được đưa ra. Sách giáo khoa đầy những mẩu tài liệu, mô tả cuộc sống của những đứa trẻ được người hầu nuôi nấng, chúng chỉ gặp bố mẹ đôi lần trong tám năm trời.

Tôi có một buổi học tiếng Pháp kinh khủng nhưng cũng xoay xở được 14 trên 20 điểm trong bài kiểm tra nghe. “Bien,” thầy Porter nói. Phù.

Trong phòng ăn, một cô bé cùng khối lớp chúng tôi đang khóc. “Chẳng ai trong lớp tin mình cả,” cô nức nở. Đám con trai và con gái vây quanh, giơ tay ôm lấy và an ủi. Cảnh tượng khá cảm động, nhưng ngôn ngữ và cảm xúc mà chúng dùng khiến chúng trông già hơn vài tuổi và tôi cảm thấy như mình đang trong một cảnh phim Big Brother vậy.

Khi tôi ngồi đó, không biết nên tham gia thế nào, thì một cậu bé lanh lợi tên là Richard hỏi: “Ai trả tiền học cho chú vậy?” Tôi giải thích hiệu trưởng sẽ quyết định trong tuần này. “Vậy chú có thể trở lại tuần tới chứ?” Tôi nghĩ chắc là không. Cậu ta ngẫm nghĩ một lát. Rồi hỏi: “Chú có biết cháu quyết định ăn gì bữa trưa bằng cách nào không?” Tôi thú thực là không biết. “Cháu mơ về nó vào đêm hôm trước,” cậu nói, nhấc khay lên và để mặc tôi ngồi hiểu cho được cái thông tin quan trọng ấy.

Trong quá trình hoạt động ngoại khóa, tôi tham gia một lớp gồm những học sinh được học bổng của năm. Có một số học bổng trong từng năm, các em được nhận những phần khác nhau theo mức phí. Dưới sự giám sát của thầy Morrison, giáo viên môn Cổ điển, các em đang thử theo đuổi ý tưởng về một cuộc thi các doanh nhân trẻ.

“Ta có thể lập một doanh nghiệp mà toàn làm việc xấu không?” một cậu bé hỏi.

“Tôi nghĩ như thế có thể là vô đạo đức, một vấn đề đấy - nhưng nó cần được đưa vào luật.”

Các đề xuất bao gồm bán những đống rác và gọi đó là nghệ thuật hiện đại và một dịch vụ làm bài tập về nhà. Sự hào hứng của bọn trẻ đối với ý tưởng thứ hai bắt đầu lụi tàn khi chúng nhận ra là chúng thực sự phải làm bài tập và hầu hết các khách hàng không đủ tuổi để có thẻ tín dụng. Cuộc thảo luận chuyển sang hướng “điều gì làm nên một giáo viên tốt?” “Nghiêm khắc với mức độ phù hợp – đâu đó ở khoảng giữa thôi.” “Không giao quá nhiều bài tập về nhà.” “Đưa chúng mình đi chơi nhiều hơn.” “Nhiều trò chơi hơn.” “Có các hoạt động.” “Bỏ ngay việc trừng phạt bằng bài tập làm thêm.”

Tôi bắt đầu biết được các học sinh trong lớp và nhận thấy mọi mẫu học trò từ hồi tôi đi học vẫn y như thế. Những trò ít nói, những trò nói to, những đứa thích thể hiện, những đứa không đáng tin, những đứa trò yêu của giáo viên đang bắt đầu nhận ra sự dễ bị tổn thương của bản thân đối với sự kết hợp của thói ghen tỵ và nhỏ mọn.

Một đứa má phính nói: “Damian, chú đánh rơi cái gì này.” Tôi nhìn xuống. Chẳng có gì cả. “Một-không,” nó nói vẻ đắc thắng và nhận được tràng cười vui vẻ từ đám bạn. Tôi đang bắt đầu được chấp nhận như một đồng bọn Năm 8 chăng?

Tôi sợ rằng mình đang bắt đầu xử sự giống một đứa như thế. Giáo viên Toán ở đây giỏi hơn nhiều so với bất cứ ai tôi từng học nhưng tôi vẫn cảm thấy đầu óc mình cứ lơ đễnh trong giờ học. Đầy yếu đuối, tôi xác định tọa độ sai toét trên đồ thị của mình và nhập hội vào một cuộc nói chuyện về bóng đá ở phía cuối lớp học. Khi tôi hồn nhiên bảo vệ sự cổ vũ của mình đối với đội Manchester United thì tôi nhìn lên và bắt gặp cô Charlesworth đang nhìn mình. Cô chẳng nói gì nhưng tôi im miệng lại ngay lập tức, trong bụng hối hận vì đã ở vào tâm chấn của nhân tố gây mất trật tự trong lớp.

Khi về đến nhà tôi thấy một cơn đau khủng khiếp ở lưng mà tôi chắc có liên quan đến vụ nhảy ba bước. Tôi ngã vật ra sofa.

THỨ NĂM

Tôi thức dậy, đau ê ẩm. Có một trận đấu chiều nay, nhưng liệu tôi có phù hợp để chơi bóng đá không? May mắn thay, dù vụ nhảy ba bước vẫn làm tôi đau nhức, nhưng tôi nghĩ mình có thể xoay xở được. Rồi tôi nhìn ra cửa sổ. Trời đang mưa.

Một câu hỏi khác đang làm bận tâm những người bạn trẻ của tôi: “chú có đi tiêm chống lao với bọn cháu không?” Tôi giải thích là mình đã từng tiêm rồi. Bọn nhỏ muốn biết tất tật về vụ này. Lời khuyên của tôi dường như không mấy ấn tượng. Khi chúng đi vào và ra để tiêm, suốt cả ngày chúng cứ thêm mắm muối cho bi kịch thêm phần giá trị.

Phòng thí nghiệm có cái mùi tù túng của những thí nghiệm đốt cháy trong ống nghiệm bị hỏng như cái thời tôi trước đây. Hôm nay chúng tôi được xem phổi sẽ làm việc thế nào và quan sát thầy Wilson lôi ra một cặp phổi cừu.

“Ôooooooôi!” Cả lớp vờ như ghê tởm, nhưng không thể giấu nổi vẻ háo hức. Có hai đứa không chịu nhìn nhưng hầu hết đều vươn cổ lên để nhìn cho rõ nhất. Đầu ra là một cái bơm xe đạp, cả bọn có thể dùng để nạp khí vào phổi. “Khoooông!”

Thầy Wilson chỉ ra hiện tượng tăng chất nhầy trong khí quản. “Không thể nào!” “Tởm quá!” Khi kết thúc, thầy Wilson nhận xét buổi học đã thành công. “Chỉ có hai em phải xuống phòng y tế,” thầy nói vẻ hân hoan. “Một đồng nghiệp của tôi còn nôn ra hồi mấy năm trước cơ.”

Tôi bối rối trước mức độ cảm xúc của đám học trò trước bài học. Đúng thật, chúng vẫn ở trong cái tuổi mà chúng vẫn còn chưa bị sự ô trọc tác động đến mấy, cảnh tượng chúng thi nhau trả lời câu hỏi trong lớp thật đáng ghi nhận – và vui nữa. Chúng giơ tay khẩn thiết lên trời, thở ra nôn nóng những hơi thở gấp và rên rỉ như thể trong tình trạng thể chất bị thiếu dưỡng khí và dùng tay kia chúc cùi chỏ lên hướng lên trần để thu hút sự chú ý của giáo viên.

Ở tốp đầu, chúng biết chúng sáng láng và sự tự biết này được củng cố thêm từ giáo viên, nhưng với một sự cảnh báo. “Các em đều thật sự thông minh nhưng các em cần sống thông minh nữa,” cô Charlesworth nói, như thể thiếu nỗ lực là nguyên nhân gây nên suy nhược thần kinh. “Đi nào, các em đều phải làm được tám trên tám. Các em cần có khả năng làm bài này thật nhanh.” Lúc nào bọn trẻ cũng nhanh hơn tôi hai nhịp.

Chất lượng dạy học được đánh giá từ đáp ứng đủ cơ bản đến xuất sắc. Nhưng một trường học sẽ không là một trường học mà thiếu một vài nhân vật hơi đặc biệt. Một thầy giáo cứ tra tấn người khác bởi sự tự quan trọng của mình và không thể ngừng được việc nói về sự thăng tiến gần đây lên chức trợ lý trưởng quản trị (hay đại loại thế). “Anh có muốn nói gì với tôi không? Tôi là trợ lý trưởng quản trị đây,” anh ta nói (hay có thể coi là thế).

Để cho lịch sự, tôi đồng ý đi tới chỗ anh ta. Khi tôi đến văn phòng anh ta theo giờ hẹn, anh ta nói mình “thật sự rất bận. Tôi không thể thu xếp được.” Tôi cố gắng và tìm cách có cuộc nói chuyện khoảng mười phút thì anh ta bảo: “Tôi xin lỗi. Tôi thực sự phải quay lại công việc của mình ngay.”

Suốt bữa trưa cuộc trò chuyện nói về những lệnh phạt. Tôi nghĩ có khi mình bị phạt thật, cả về kết quả thất bại trong bài kiểm tra động từ bất quy tắc tiếng Pháp lẫn sai lầm khác mà các học sinh khác hi vọng sẽ gặp phải. Hiển nhiên là hệ quả phổ biến nhất: tôi sẽ bị giữ lại để học thêm vào giờ nghỉ hay giờ ăn trưa nhưng bọn trẻ nói bằng cái giọng nghiêm trọng kiểu như “lệnh phạt của hiệu trưởng” sẽ kéo dài ba giờ vào một ngày thứ Bảy. “Chú phải làm điều gì đó cực, cực kỳ tệ.” Khi tôi nói mình sẽ cố hết sức để tránh điều đó, bọn chúng nhìn hơi có chút chưng hửng. Không đứa nào trong nhóm từng phải chịu cái định mệnh này. Chúng kể liến thoắng về một sự cố liên quan đến một vụ đánh nhau bằng gậy sắt nhưng dường như khá nhiều nhầm lẫn về tình tiết.

Sau một buổi sáng ngóng đợi, các nhân viên thể thao quyết định sẽ không hủy trận đấu vì mưa. Thật không may, vị trợ lý trưởng quản trị đã tới, thọc ngoáy vào kế hoạch tham gia của tôi. Anh ta bày tỏ mối quan ngại rằng tôi có thể gây thương tích cho một học trò khác thì sao. Tôi đề xuất là sẽ tránh gây ra bất cứ cú ngáng chân hay truy cản nào nhưng anh ta không chịu nhượng bộ. “Tôi không muốn là một kẻ thích giết người, chỉ là để bảo vệ anh mà thôi,” anh ta nói vậy.

Rút cục một thỏa thuận cũng đạt được và tôi được cử làm thủ môn. Thật lý tưởng, vì có nghĩa là tôi có thể đưa ra sự động viên và chỉ đạo vài thủ thuật cho bọn trẻ.

Sau hai phút từ khi khai cuộc, quả bóng vọt ra từ đám đông cầu thủ và phóng thẳng hướng về phía tôi. Tôi lao ra để bắt nó một cách điệu nghệ trên mặt sân nhưng bằng cách nào đó chỉ hẩy được nó về hướng đằng trước và ai đó dẫn bóng qua tôi và đá ra phía sau cầu môn.

Mọi kế hoạch dạy dỗ bọn trẻ dăm điều cơ bản đã tan thành mây khói. Cú đá của tôi gần như không ra khỏi được vòng cấm địa. “Đặt chân chú xuống dưới bóng đi!” đồng đội của tôi gào lên. Bất cứ khi nào bóng lại gần tôi, chúng lại hét lên thất thanh: “Nhặt lên đi! Nhặt lên đi!” Tự nhiên tôi đánh mất sự tự chủ đầy hứng khởi trước đó. May làm sao đội tôi lại chơi quá tốt nên tôi chẳng phải làm gì nhiều và chúng tôi chiến thắng dễ dàng.

Sau đó, khi bọn trẻ tập sút bóng vào gôn, một cú chống tay quá mạnh khiến bàn tay tôi trật ra sau. Tôi đau điếng nhưng cố không gây ầm ĩ. Tuy nhiên, khi về đến nhà, cổ tay tôi sưng tấy và đau kinh khủng. Tôi phải đeo một cái băng hỗ trợ suốt ba ngày sau.

THỨ SÁU

Chigwell là một quỹ Cơ đốc giáo. Dù có những đức tin khác nhau trong các học sinh, tất cả đều đến nhà thờ ít nhất một buổi sáng trong tuần. Cha xứ, mục sư Chris Collingwood tìm cách đem đến một sự trải nghiệm tín ngưỡng rộng rãi nhưng “tôi không tin mình có thể làm chút gì để gieo rắc đức tin Cơ đốc được.”

Sự quan tâm đến thần học quả đáng kinh ngạc. Thực hành tín ngưỡng (RE) là môn rất phổ biến ở mức A. Cha Collingwood cứ hai năm lại có một chuyến đi tới một nhà nguyện Ashram Cơ đốc ở Ấn Độ theo giao ước để tiến hành cuộc đối thoại liên đức tin.

Sáng nay ở nhà thờ, ông chủ trì một cuộc thảo luận về cái chết. Cử tọa của ông đã có vài lần trải nghiệm về chuyện tử vong của con người. “Con chuột hamster của bọn tớ bị mèo ăn.” “Mẹ tớ từng bỏ thuốc độc cho cá.” “Một con mèo của dì tớ bị một người điên bắn chết.” Ông tiếp nhận những thảm kịch thơ ấu này một cách trân trọng trước khi dẫn dắt cuộc thảo luận về hướng làm sao chúng ta đương đầu với cái chết của con người.

Dù mới 13 tuổi, những học sinh này đã quan tâm đến chuyện tương lai. Trong số các bậc phụ huynh, có những người là kế toán, rồi một nha sĩ, một nhà sản xuất phim, chủ một công ty marketing, một số nhà quản lý của Thành phố và một sếp cảnh sát. Và bọn trẻ rất tham vọng. Chúng muốn trở thành diễn viên, luật sư, kiến trúc sư, phi công. Nhưng đường hướng của chúng chẳng là gì khi so với vài em trong số các học sinh bậc Sáu (tạm dịch, tương đương hai năm cuối của bậc trung học). Trường có khoảng 50 học sinh nội trú, dẫu vậy việc nội trú không đem lại tiền bạc. Hiệu trưởng tin rằng việc này phải tiếp tục thực hiện vì đó là “một phần quan trọng trong cuộc sống nhà trường. Nó sẽ giúp mọi người nhìn ra bên ngoài.”

Hầu hết học sinh nội trú bậc Sáu là du học và các em có hai người mỗi năm tới từ Ucraina nhờ học bổng của trường. Một trong số này, Inna Ishchenko, 16 tuổi, bảo tôi rằng em học “trong suốt thời gian rảnh. Bọn cháu có khoảng hai tiếng ôn tập mỗi tối. Như thế không đủ.” Dù vậy, cô bé đã đạt điểm B trong 4 môn cấp A – lịch sử, chính trị, kịch nghệ và kinh tế. Một kết quả đặc biệt từ một học sinh mà tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai.

Trong môn tiếng Đức, khi nhận thấy mình đã giở nhầm trang và cố gắng tìm cách trả lời câu hỏi không yêu cầu, tôi kết luận đi học là công việc mệt nhọc biết bao. Việc thay đổi đều đặn các môn, rồi di chuyển giữa các lớp học làm chân bạnẩm sì, đã khiến tôi kiệt sức. Bọn trẻ bảo tôi là bài tập về nhà trong tuần sẽ nhẹ nhàng thôi. Dù vậy, tôi cũng vội vã làm lấy bài của mình vào giờ nghỉ và vào đầu giờ học vì tôi không thể nào xử lý được vào buổi tối. Riên môn Toán, tôi xoay xở với sự giúp đỡ của Ronnie và những đứa khác. Thật kinh ngạc là bạn có thể khôi phục nhanh đến thế những kỹ năng tồn tại từ thời đi học của mình.

Khi cô Charlesworth cho tôi một điểm ‘A’, tôi không tiết lộ rằng không phải tôi đã làm tất cả. Tôi đến xấu hổ trong môn Cổ điển khi tôi sản xuất ra những bài ghi chép nguệch ngoạc từ The Odyssey và nhận thấy mọi đứa trẻ đều nộp những trang giấy chữ nghĩa đánh máy ngay ngắn, được hoàn thành với cả những bức ảnh scan thêm.

Richard, cậu bé đã hỏi tôi về học phí, giới thiệu với tôi một bản báo cáo dài về Chigwell. Cậu ta mô tả ngôi trường “như là nhà” và ca ngợi khía cạnh học thuật và xã hội của nó. “Tuy nhiên, có đôi khóa học không thành công và đó là cuộc sống nơi trường học. Chúng bao gồm những bữa ăn trưa nhạt nhẽo, hồ bơi lạnh cóng đầy lá mục và sâu bọ, rồi hàng tấn bài tập về nhà.” Cậu ta đánh giá trường loại A-/B+. Điều này gây nên sự phẫn nộ của vài bạn học, chúng quả quyết “phải được điểm A cộng”.

Chúng tôi xếp hàng trong mưa đợi Nữ bá tước xứ Wessex. Các giáo viên mặc lễ phục, cầm ô che nhưng bọn trẻ vẫn bị ướt. Bá tước tự lái xe đến, hơi muộn một chút. Bà nhảy xuống vẻ nhiệt thành để nói gì đó với vài đứa trẻ, rồi đi vào trong trung tâm kịch nghệ, đám trẻ con chạy loạn xạ, la hét, nhìn qua những ô cửa về phía bà ấy.

Tuy nhiên không phải đứa nào cũng thấy ấn tượng. Khi bọn con trai được thụ tinh trong ống nghiệm này cực nhọc ra về nghỉ cuối tuần, một đứa nhận xét: “Tớ không thể tin là một thành viên Hoàng gia lại chỉ lái một con Rover. Tớ cứ tưởng ít nhất phải là một con Jaguar XJ chứ.”

Tôi ráng sức lê về nhà. Trong cuộc đời làm việc của mình, tôi đã có một số kinh nghiệm mệt nhoài như theo đuổi những vị chủ tịch nghiện việc trong chiến dịch tranh cử, đưa tin về bầu cử ở Anh, theo dõi những câu chuyện ở phần còn lại của thế giới. Nhưng một tuần ở một trường học thật sự mệt nhoài như bất cứ vụ nào ở trên. Chúng ta có thể nhìn về những ngày đi học của mình như những khoảng thời gian hạnh phúc nhất đời. Nhưng thực tế việc là một học trò hóa ra là công việc rất, rất khó nhọc. Vui, nhưng mệt. Nếu bạn đang vật lộn với bọn trẻ của bạn tối nay để bắt chúng ra khỏi sofa mà ngồi vào bàn làm bài, bạn sẽ nhận được sự thông cảm của tôi. Nhưng tôi chắc chắn ở vào phe bọn nhỏ.

THỨ BẢY

Vào buổi sáng, trường đông nghịt bọn trẻ tham dự một buổi biểu diễn nhạc và các sân bóng đá đều kín chỗ. Tôi xem trận đấu giữa đội của Ronnie với đội láng giềng Brentwood, hai đội hòa 1-1.

Vài phụ huynh đứng ở đường biên ca cẩm về việc bọn trẻ về nhà ướt sũng sau khi đợi Nữ bá tước Wessex, nhưng chủ yếu họ tuôn ra về nhà trường. Nằm ngả người trên ngọn đồi này, nhìn về phía những ngọn tháp của thành phố ở đằng xa trong khi con cái của họ đang đá bóng trên một trong những sân bóng trường học tốt nhất nước, thật dễ hiểu vì sao họ cảm thấy hài lòng với những lợi điểm của họ như vậy.

Sau trận đấu, họ ăn bánh xăng-đuých và uống cà phê trong khi bọn nhỏ ăn xúc xích và khoai tây chiên. Một ông bố hỏi, “Vậy anh sẽ gửi con anh ở đây chứ?” Tôi trả lời rằng trong một buổi sáng như thế này thì chẳng thấy thứ gì để bảo không muốn. Anh ta nói, “Không có gì, nhưng học phí lại là chuyện khác.”

(Box) ĐỨNG TRONG TỐP ĐẦU

Chigwell là một trường học liên kết giáo dục tuyển sinh với khoảng 700 học trò từ 7 đến 18 tuổi, phân thành trường tiểu học và trung học, trong đó có 180 em ở bậc Sáu.

Học trò được tuyển sinh qua một bài thi viết cơ bản và phỏng vấn, cuộc cạnh tranh thật khốc liệt: năm ứng viên cho mỗi suất. Hầu hết đều là học sinh bán trú, học phí từ 2290 đến 3523 bảng một năm, tùy theo lứa tuổi. Có khoảng 40 học sinh nội trú, hầu hết là học sinh bậc Sáu từ nước ngoài.


Có 66 giáo viên và 10 trợ giảng.

Trên xếp hạng của tờ Sunday Times, trường xếp thứ 215 trong 500 trường độc lập hàng đầu. Nó đạt mức 71,2% điểm A/B ở cấp A và 53% điểm A cộng /A ở chứng chỉ đại cương về giáo dục trung học (GCSE).

Một bản báo cáo của Hội đồng Trường học Độc lập năm nay cho biết các kết quả học thuật đạt được của nhà trường là “đáng ghi nhận, và đặc biệt là ở bậc Sáu. Chigwell đóng góp rất tốt cho sự phát triển cá nhân của học sinh, không chỉ thông qua sự chăm sóc trí dục.” Các giáo viên là những người “làm việc chăm chỉ, tận tâm và sâu sát và kỹ năng giảng dạy tốt”. Các học sinh “có trách nhiệm với thái độ và ứng xử gương mẫu và những đóng góp trong việc học tập rất tốt, ngay cả khi việc tự học và sử dụng công nghệ thông tin liên lạc được khuyến khích.

N.T.Q dịch

Thứ Năm, 9 tháng 8, 2012

Trở lại trường tuổi 35 (P.1)


Bài này đã từng đăng 1 đoạn tóm lược, nay đăng cả bài để chúng ta cùng biết một không khí trường phổ thông khác, ở Anh Quốc ngày nay. Bài dài nên tôi đăng làm 2 phần.

SUNDAY TIMES - Bạn nghĩ là đi học ngày nay dễ thở, trẻ con vẫn thường được bảo thế. Cộng tác viên của chúng tôi đã thử nghiệm bằng cách quay lại trường học một tuần – và nhận ra sự thật hoàn toàn khác.

Damian Whitworth (Sunday Times, Anh)

THỨ HAI

8.15 sáng. Tôi đang ngồi trong bãi đỗ xe của trường Chigwell và quan sát những học sinh đang đến trường bắt đầu một tuần mới. Chúng bước thong thả, buôn chuyện về kỳ nghỉ cuối tuần vừa rồi. Trông chúng có vẻ thoải mái và dễ chịu. Không phải là rất hào hứng, có lẽ vậy, khi trở lại trường, nhưng không thấy có dấu hiệu bất thường nào của sự khổ sở cả. Người không thoải mái nhất trong buổi sáng nay chính là tôi. Thực lòng mà nói, tôi thấy lo lắng. Dường như có một cơn khó thở lúc này: lại đi học bằng con mắt của một đứa học sinh để quan sát hệ thống giáo dục. Chúng ta đã bị dội bom bằng những câu chuyện về bảng điểm, các tiêu chuẩn và những kỳ thi tồi tệ. Nhưng cái gì thực sự xảy ra trong những lớp học ở một ngôi trường độc lập[1] ngày nay?

Chà, giờ tôi sắp khám phá ra thôi, và ở tuổi 35 tôi đang lên cơn đau dạ dày trong ngày đầu tới trường.

Trường Chigwell nằm trên một diện tích rộng 28,35 ha gồm cả đất rừng trên vùng đồi, ngay cạnh đường cao tốc ở gần Essex. Nó được Tổng giám mục xứ York thành lập năm 1629, phòng học ban đầu nay là thư viện. Trong số học trò của Chigwell ngày đó có William Penn, người lập nên bang Pennsylvania ở Mỹ. Căn phòng nơi ông ta từng nổi tiếng vì thấy hình ảnh của Chúa, giờ là một phòng hướng nghiệp.

Tôi được phân vào Năm 8. Tôi không hiểu cách trường tổ chức khối học ngày nay, rồi được giải thích là Năm 8 gồm lứa tuổi 12 và 13. Người nhân viên giới thiệu tôi với lớp là Kevin Farrant, một thầy giáo thể dục và là trợ giảng, giải thích với cả lớp: “Cứ coi chú ấy như học sinh nhưng nhớ là phải thân thiện nhé.”

Học sinh trong lớp chủ yếu là người da trắng, nhưng có vài học trò gốc Á. Các bạn kèm cặp với tôi trong cả tuần là Ronnie, 13 tuổi và Emma Hollis, 12 tuổi. Cả hai đều có vẻ rất người lớn và lịch sự đáng ngạc nhiên. Tôi sẽ cùng học các lớp với các em này. Ở tuổi này, chúng được giáo dục thành một nhóm theo vài chủ đề nhưng nằm trong khuôn khổ các môn Toán và ngôn ngữ. Tôi được xếp ngồi cạnh Ronnie. Có một cái mùi cực kỳ khó ngửi bốc lên từ một đống giày thể dục giấu dưới gầm bàn cạnh chúng tôi. Ít nhất thì cũng có thứ không hề thay đổi kể từ khi tôi còn đi học.

Môn học đầu tiên của chúng tôi là Văn minh cổ điển, một môn kết hợp giữa tiếng Latin và lịch sử, văn hóa và văn học của thế giới Hy Lạp và La Mã. Tôi đã học môn Latin hồi ở ngôi trường tây nam London, tôi thật quá may mắn khi đạt được điểm O bằng A[2] bằng cách học thuộc lòng dài dằng dặc cả bài de Bello Gallico của Caesar. Năm sau đó, trường tôi như rất nhiều trường công lập khác, đã bỏ môn Latin ra khỏi chương trình. Tôi rất chán ngán về chuyện có cần dạy môn Latin ở trường hay không. Mọi học sinh ở Chigwell đều học môn Latin đến tận Năm 8. Một số nhỏ học tiếng Latin và Hy Lạp đến bằng A và tiếp tục nghiên cứu văn minh cổ điển ở đại học.

Dĩ nhiên, đến lúc vào học thì tôi chẳng còn nhớ được gì cả. Biến thể của từ mensa quá ư là rối rắm đến nỗi tôi thấy mình chắc chỉ có thể quẳng nó đi. Nhưng từ bellum đã giải thoát tôi. “Khá là dễ xử lý phải không nào?” Mr. Tim Morrison, một thầy giáo trẻ và cũng là một học sinh cũ của trường nói. “Hãy lướt qua phần này để đỡ cho bất kỳ học trò mới nào.” Mọi con mắt xoáy vào phía tôi và rồi bắn lên phía trước. Thật nhẹ cả người khi thấy sự châm chước như thế. Thầy Morrison, người thể hiện một sự hài hước kín đáo, liền sau đó đưa ra một lô xích xông câu hỏi.

“Thưa thầy, tại sao người Hy Lạp nào cũng có cái tên dài thượt thế ạ?”

“Thì để khác người.” Câu trả lời này có vẻ làm người hỏi thỏa mãn.

Bài tập về nhà của chúng tôi - xác định các nhân vật trong The Odyssey. “Hãy tra trên Google,” thầy Morrison nói. Rõ ràng là phương pháp nghiên cứu đã vượt xa khỏi cái thời dùng những quyển sách giáo khoa ít ỏi bìa quăn như tai chó trong thư viện nhà trường.

Khi tôi tới lớp tiếng Anh, học sinh đã đứng túm tụm, chúng tản ra khi tôi bước vào.

“Ông ấy đây này.”

“Ông ấy có phải học sinh đâu.”

“Ông ấy học sinh đấy.”

Cô Cloonan, một cử nhân người Mỹ qua đây năm ngoái, là một trong hai giáo viên trao đổi của chương trình William Penn thường niên và đã ở lại. Cả lớp hôm nay đọc Những cái hố, một tiểu thuyết cho lứa tuổi teen của Louis Sachar, nói về một trung tâm giáo dưỡng của thiếu niên Mỹ. Lớp học có một cuộc thảo luận sôi nổi về cách dùng biểu tượng và hình ảnh của tác giả. Chúng tôi được giao bài tập về nhà là chuẩn bị cho bài kiểm tra từ vựng.

Trên đường tới lớp học tiếp theo, những câu hỏi thiêu đốt đặt ra là 1) liệu tôi có sắp phải dự lớp Thể dục và 2) liệu tôi sẽ được phép nhảy lên hàng đầu khi xếp hàng ăn trưa không. 

Tiếng Tây Ban Nha, một ngôn ngữ mà tôi gần như chẳng có liên quan gì, cũng được dạy, nhưng dù sao tôi đã học được vài từ về màu sắc. Rồi chúng tôi được đưa vào một xưởng học thiết kế và công nghệ. Các thứ đã thay đổi một chút ở đây. Khi tôi đi học, chúng tôi phá phách một lô những mẩu gỗ và kim loại trong vài học kỳ và rồi rời trường như những đứa trẻ chẳng được đào tạo gì. Giờ thì xưởng học được trang bị những kỹ thuật mới và có nhiều thiết kế ấn tượng treo trên tường. Mười bốn học sinh được giao chủ đề ở cấp độ A.
Lớp học được giao đầu bài làm đồ chơi bằng gỗ. Tôi đi lòng vòng như một món phụ tùng thay thế mà chẳng đóng góp được gì. Tệ hơn nhiều những gì tôi đã làm được 20 năm có lẻ trước đây.

Vào bữa trưa, tôi đề nghị được xếp hàng với đám học trò còn lại, nhưng hai bạn hướng dẫn thuyết phục tôi rằng thế là không cần thiết và tôi nên chen lên trên. Tôi nhận thấy quả là bọn chúng cũng làm như vậy.

Khủng quá! Chẳng có một thứ đáng phí phạm nào lọt vào mắt cả. Trong một dãy những món trông có vẻ khá ngon, tôi chọn mì cá thu nướng. Không tệ. Có pizza và một đĩa thịt, xúp và một khay salad nữa. Và cả một vốc khoai tây chiên, dĩ nhiên rồi. Mọi người ở trường, từ học sinh đến nhân viên, đều ăn trưa ở đây. Hoạt động phục vụ ăn uống thật náo nhiệt và bao gồm cả trà chiều cho những ai ở lại trường sau giờ học để tham gia hoạt động ngoại khóa. Mọi người ăn trong một phòng ăn rất tù túng xây từ khi trường học vẫn còn nhỏ bé. Nhưng kết quả là, chật ninh ních thế này lại giúp cho có những cuộc đối thoại sống động.

Sau bữa trưa, tôi có một khoảng thời gian trống. Rời khỏi đám đông học trò, tôi cắm đầu đi về phòng sinh hoạt chung của nhân viên. Có một nhóm nhân viên ở đó, đang chuẩn bị bài giảng trên những chiếc laptop sáng bóng. Họ nhận ra sự có mặt của tôi trong các buổi học và cũng tò mò ngang với bọn trẻ con. “Thật vui khi nhìn vào lớp và thấy một người lớn ngồi đấy,” Tim Morrison, thầy giáo môn Cổ điển nói.

Vài giáo viên khác đang thảo luận về lịch khai trương chính thức vào thứ Sáu của khối nhà kịch nghệ mới trị giá 2 triệu bảng do Nữ bá tước xứ Wessex cắt băng khánh thành. “Tôi không thể ngủ được cả đêm qua vì phấn khích,” một người nói. Tôi không chắc anh ta có đùa hay không.

Môn học cuối cùng của ngày hôm nay là Toán, thứ đã hành hạ tôi hồi đi học. Nhờ được phụ đạo thêm, may sao tôi cũng đã vơ được một điểm C ở level O. Tôi từng có một cơn ác mộng khiếp hãi, tôi mơ thấy bị một thầy giáo bắt gặp ở hành lang trường cũ, bị ăn mắng và bị nhắc nhở về kì thi ngày hôm sau mà tôi chẳng hề đi học một buổi nào suốt năm học.

Một cảm giác khiếp hãi đặc trưng mà tôi không còn gặp hai chục năm rồi nay trở lại khi cô Charlesworth, một giáo viên vui vẻ, bắt đầu nói lia lịa về đồ thị Carter. “Descartes thích nghiên cứu triết học và toán học trong thời gian rảnh. Ông thực sự hứng thú với công việc đó,” cô như reo lên khi lồng ghép bài giảng vào bối cảnh, thứ đã thiếu trầm trọng khi tôi lần đầu tiên vật lộn với môn này.

Quy mô lớp học trung bình của lứa tuổi này là 24 em, nhưng lớp này thì đông nhất, tới 28 học sinh. Có cảm giác là không khí của buổi cuối ngày hơi mất trật tự và nhóm học trò ồn ào hơn trước nhưng bài học vẫn chạy hết tốc lực. Tôi cũng gần như thế.

Tôi về nhà lúc 4 giờ chiều, lảo đảo sau ngày đầu tiên của mình. Tôi phải tắm cho con. Rồi mọi thứ tôi làm được là xem TV nửa tiếng, ăn một tí rồi đi ngủ. Không có bài về nhà nào phải chuẩn bị cho ngày mai, vì thế cái nguy cơ bị chất đống tôi dành cho đêm khác.

THỨ BA

Chắc chắn là có những cách tồi tệ hơn nữa để bắt đầu ngày của bạn hơn là làm bài kiểm tra động từ bất quy tắc tiếng Pháp, nhưng khi tôi ngồi vào chỗ trong lớp của thầy Porter và thầy ấy thảy một tờ giấy A4 ra trước mặt tôi, tôi đã nghĩ chính đây là một cách.

Dẫu vậy, tôi cũng hài lòng là mình có thể nhớ được kha khá khi áp lực đè lên. Tôi làm đúng 6 trên 12 câu.
“Monsieur le journaliste?” thầy Porter hỏi khi ông đi vòng quanh lớp để hỏi điểm chúng tôi.

“Sáu ạ,” tôi nói vẻ tự hào bằng tiếng Anh.

“Sáu,” ông chữa lại bằng tiếng Pháp. “Hừm. Đáng bị phạt. Thế là đầu bảng rồi.” Đó là một câu đùa (tôi nghĩ vậy) nhưng cả lớp không nhận ra. Mắt chúng trợn tròn hết cả lên. Hầu hết đều đạt điểm tối đa.

Môn Kịch nghệ thì ít thách thức hơn. Trung tâm kịch nghệ mới là một cơ sở đẹp đẽ. Nhà trường đã chi 1 triệu bảng, bằng với mức thu được từ quyên góp. Một phụ huynh đã ký một chi phiếu 30.000 bảng. Ở đây có một nhà hát 150 chỗ ngồi, có studio, ban-công, các phòng thay đồ và văn phòng.

Bọn trẻ thích chỗ này, tụm thành từng nhóm nhỏ xung quanh tòa nhà trong những phút cuối của buổi tổng duyệt và trình diễn những màn ngắn trong vở Teechers của John Godber. Bọn nhỏ cười rộ lên trước màn thầy giáo kịch nghệ mới đến và một học trò bình phẩm: “Ông ấy chả giống một thầy giáo gì cả, trông như người đến sửa ống nước vậy.”

Dạo quanh sân chơi vào giờ nghỉ, tôi sa vào cuộc tranh luận với một cô giáo. Đồng nghiệp của cô từng bảo tôi là hệ thống trường học cho các học sinh nhỏ chung trường với học sinh lớp lớn hơn sẽ giúp chúng trưởng thành lên. Cô không đồng ý. “Chúng mất cả thời gian rất dài để trưởng thành trong môi trường này vì chúng được bảo vệ quá mức.”

Những giáo viên khác bảo tôi rằng “bọn trẻ ở đây rất được ưu đãi. Không phải tất cả, nhưng hầu hết đó. Cứ hỏi một đứa ở đây xem chúng đi nghỉ dịp lễ ở đâu, câu trả lời sẽ là Venezuela, Caribbe. Trong khi tôi thì đi hàng không giá rẻ quanh châu Âu và ở nhà nghỉ lữ hành cho thanh niên.” Khi tôi nói về kỳ nghỉ với bọn trẻ, vài đứa nhắc đến kỳ nghỉ ở nước ngoài ở giữa năm học và những điểm đến kỳ Giáng sinh xa xôi.

Tôi ăn trưa với thầy hiệu trưởng David Gibbs, một người đàn ông 57 tuổi ân cần, nói năng dịu dàng, trước đây từng dạy ở trường công Haileybury.

“Có học được gì thú vị hôm nay không?” ông hỏi hai cô bé đang xếp hàng.

 “Không có gì mấy ạ.”

“Ý các em là sao? Bố mẹ các em đã trả bao tiền vào đây và các em chả học được gì cả.”

“Bọn em đã thử giết người nhân đạo và học về Brazil.”

Sự kết hợp bất thường này đã qua được màn điểm danh với thầy Gibbs.

Báo chí tràn ngập câu chuyện về vị hiệu trưởng nghỉ hưu ở Westminter muốn dạy ở một trường cộng đồng để “tái nghề” nhưng đã không đạt tiêu chuẩn vì ông không có chứng chỉ sau đại học về giáo dục (PGCE).

Các trường tư thì thoải mái hơn. Giáo viên thiết kế mà chúng tôi đã học hôm thứ Hai gần đây đã chuyển nghề từ lĩnh vực công nghiệp và đang học nghề. “Một trong những ưu điểm của trường độc lập là chúng tôi có thể tiếp nhận những người như thế. Chúng tôi nhận cử nhân Oxbridge mà không cần PGCE,” thầy Gibbs nói.

Ông tin rằng “tuyển dụng giáo viên là công việc quan trọng nhất của tôi. Tôi giống như một huấn luyện viên bóng đá giải ngoại hạng đi tìm kiếm những cầu thủ hay nhất. Các giáo viên của chúng tôi nhận được thù lao hậu hĩnh và môi trường làm việc thì hấp dẫn. Họ có thể dạy, hay hơn nhiều so với phải làm cảnh sát hay công tác xã hội toàn thời gian.”

Sự so sánh với giải ngoại hạng đặc biệt thích hợp khi nhắc đến đội ngũ nhân viên thể thao; họ bao gồm một cầu thủ cricket đã từng chơi cho đội Derbyshire, một đội phó của đội bóng lưới tuyển Anh và hai cầu thủ khúc côn cầu chuyên nghiệp. Thủ lĩnh mới của đội hỗ trợ việc luyện tập cũng làm việc cho học viện trẻ của câu lạc bộ Liverpool.

Khi thầy Gibbs tới trường năm 1996, ông đã có một tầm nhìn rõ ràng về hình ảnh trường mình nên có. “Điều quan trọng nhất là tạo ra một môi trường cho các giáo viên có thể dạy và học sinh có thể học. Phải ấm cúng và thân thiện nhưng cũng phải có ý thức về mục tiêu. Học sinh cần phải biết chúng có thể và không thể làm gì.

“Chúng tôi là một ngôi trường chọn lọc, vì thế mọi người đến đây kỳ vọng sẽ có được hạng A chất lượng kinh điển. Nhưng chúng tôi cố gắng tạo ra một môi trường mà mọi người có thể nảy nở. Điều đó không có nghĩa là bắt buộc phải kinh viện, có những phần không theo kinh viện. Tôi  muốn mọi học sinh có gì đó để mong chờ hàng tuần, dù là một cuộc tranh tài thể thao, giải thưởng của Quận công Edinburgh hay âm nhạc.” Bài tập về nhà “không nên quá tải.”

“Những năm tháng tuổi mới lớn rất quan trọng trong những giai đoạn phát triển kiến thức phổ thông. Cũng trong những năm này, cuộc đời có thể không mấy vui vẻ. Chúng tôi may mắn vì có được những nguồn lực tốt, và còn vì chúng tôi có quy mô nhỏ để có thể tạo ra nỗ lực lớn hơn trong việc chăm sóc từng cá nhân một.”

Ma túy cũng phủ một bóng đen. “Chúng tôi không bàng quan. Tôi sẽ là kẻ ngây thơ nếu nói rằng không hề có ma túy. Một vài học trò chưa bị phát hiện có thể đang dùng ma túy bên ngoài nhà trường. Chúng tôi rất nghiêm khắc để không tồn tại chuyện đó trong phạm vi cơ sở của mình.” Ông nói rằng đã có hai trường hợp dùng ma túy từ khi ông nắm giữ vị trí này. Một trường hợp khá nghiêm trọng – hai học sinh đang bán thuốc cho học sinh nhỏ hơn – chúng đã bị đuổi học. Trong 12 tháng sau đó cho đến kỳ kiểm tra cuối mùa xuân của Hội đồng Trường học độc lập, một học sinh đã bị đình chỉ vĩnh viễn và 15 trò khác bị đình chỉ tạm thời vì những vấn đề về trật tự.

Buổi chiều có một “gánh xiếc hoạt động” mà học sinh chọn từ trong số các lớp ngoại khóa. Tôi đến Câu lạc bộ Hy Lạp và chứng kiến những màn tái hiện bạo lực kinh khủng của thần thoại Hy Lạp. Chuỗi hoạt động ngoại khóa bao gồm từ trồng cây đến thư pháp, từ tiếng Nga đến võ Choi Kwang-Do, và nhiều chuyến du khảo nước ngoài được đưa ra.

Những đứa trẻ này lấy đâu năng lượng nhỉ? Ngày học được chia ra thành các tiết 35 hoặc 40 phút và thỉnh thoảng không có giờ nghỉ đôi. Điều đó có nghĩa là phải chạy sô từ lớp này sang lớp khác và chuyển môn học nhanh như chớp, từ tiếng Đức sang Toán chẳng hạn. Ở đây có tiêu chí 35 phút là độ dài thích hợp để trẻ em giữ được sự tập trung. Mặt dở như một giáo viên nói, đó là “mất nhiều thời gian để di chuyển giữa các lớp học.”

Không thể nào theo nổi thời khóa biểu di chuyển nhanh và lắm thứ như thế, tôi thấy các buổi học quá ngắn và ngày học quá căng. Tôi không hiểu liệu mình có thể theo được cả tuần hay không.

Trương Quý dịch


[1] Một loại trường phổ thông ở Anh không dùng ngân sách nhà nước, mà có nguồn thu từ học phí và các khoản đóng góp khác, gần với khái niệm trường tư ở Việt Nam. Hiện có 2500 trường độc lập với 615000 học sinh, chiếm hơn 7% số học sinh nước Anh.
[2] Là bằng tương đương với mức tốt nghiệp trung học.

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ