Thứ Hai, 29 tháng 10, 2012

BCHN 124-129 - Về đôi mắt như hồ thu

Mời mọi người gặp thu HN trên... mạng :-)

...Sau những bỡ ngỡ ban đầu, những người yêu nhạc VN đã tự viết lấy những bài tân nhạc của mình với lời ca và giai điệu hấp dẫn. Sự trưởng thành về ca từ âm nhạc dường như phản ánh sự lớn mạnh của ý thức dân tộc cũng như lối sống Âu hóa rộng khắp.

BCHN 4 (124) - KHÚC BIỆT LY MỞ ĐẦU



Ca khúc Biệt ly là một bằng chứng cho một sự giao thoa văn hóa Âu-Á. Chuyện chia ly vốn tràn ngập văn chương cổ VN, nhưng ở đây, biệt ly nơi bến cảng, nhà ga, những địa điểm mới lạ kiểu Tây, và nỗi buồn man mác của cái tôi là nét mới tân thời.

Thừa hưởng một nền thi ca trung đại vẫn xem “mùa thu là bạn muôn đời của thi nhân”, giờ đây, dưới ảnh hưởng của thơ lãng mạn Pháp, cũng như phong trào thơ mới, hầu hết các nhạc sỹ VN ở buổi đầu tân nhạc đều soạn ra các bài hát về mùa thu. Và Hà Nội thật sự là mảnh đất màu mỡ cho các nhạc sĩ trẻ này với mùa thu đất Bắc có khung trời mờ hơi sương và cái se lạnh gợi niềm tâm sự.


BCHN 5 (125) - VỀ ĐÔI MẮT NHƯ HỒ THU



Nếu có thể gói gọn tân nhạc trong một bài thì chắc chắn đấy sẽ là một bài hát về mùa thu và mùa thu của tân nhạc ắt ở Hà Nội!

Ngoài việc chịu ảnh hưởng chung của văn thơ lãng mạn Pháp và thơ Đường, thì mùa thu quả thực đã trở thành đặc trưng như một hương vị đặc sản của Hà Nội. Mùa thu Hà Nội dù không có dấu ấn rõ rệt như lá phong đỏ hay sương giá như xứ lạnh, nhưng cái sự nhè nhẹ tinh tế trong đổi thay của đất trời nơi đây, nơi những mặt hồ xao động chút trước lá rung rinh trong hơi sương cũng đủ để các nhạc sĩ trải lòng mình.


BCHN 6 (126) - THU QUYẾN RŨ



Mùa thu quyến rũ anh rồi – dường như đó là tuyên ngôn về cảm hứng nghệ thuật của Đoàn Chuẩn, với những những tà áo xanh về với giấc mơ trong một bức tranh thu Hà Nội có mưa rơi làm rung lá vàng và mây trắng lơ đãng bay về cuối trời biếc.

Nhưng mùa thu của ĐC không chỉ có những đàn bướm đùa vui trên muôn hoa, đấy còn là những mùa ly biệt, đưa người yêu sang sông, là đoạn kết cho những mối tình nghệ sĩ bất thành. Năm 1954, ca khúc Lá đổ muôn chiều ra đời để ghi dấu một cuộc chia tay trên con đường Trần Hưng Đạo ngập lá sấu vàng và hương hoa sữa. Thăm thẳm trong ca từ là sự luyến tiếc mối tình đã đứt đoạn, nhưng cả sự chia tay cũng đầy diễm ảo.


BCHN 127 - GIÓ LÃNG TỬ BỐN PHƯƠNG



Năm 1941, họa sĩ Hoàng Lập Ngôn tự làm một chiếc xe ngựa đặt tên cho chiếc xe tự chế của mình là Nhà Lăn Mê Ly, hoạ sĩ dùng chiếc xe ngựa kéo này làm phương tiện giao thông để đi vẽ người và phong cảnh khắp đó đây. Mặc dù thực tế không phải là một sự tích to lớn, nhưng chiếc xe xuyên Việt đó đã trở thành cảm hứng cho một loạt những bài hát về sau này, là niềm mơ ước hào sảng của cả một thế hệ thanh niên.

Hình ảnh một đoàn nghệ sĩ ra đi trong phong sương có sức hấp dẫn đặc biệt với các tâm hồn trai trẻ lúc bấy giờ. Nhà Lăn Mê Ly có lẽ chỉ là yếu tố hiện thực hóa của đằng đẵng những khát vọng thế hệ, nhưng nhờ sự có mặt của nó mà tạo nên một huyền thoại xê dịch.



BCHN 128 - HƯỚNG VỀ THÀNH PHỐ XA XƯA



Những người nghệ sĩ tha phương, để tìm nơi bình yên giữa khói lửa. Họ mang theo Hà Nội trong cách sống, trong nỗi nhớ, trong những chi tiết nhỏ nhặt tưởng chừng lãng quên đi: một màu áo tím, một sắc hoa lay động ánh chiều tà. Chiến khu không còn là chốn rừng thiêng nước độc như thuở nào trong truyện đường rừng của Thế Lữ, mà là nơi trú ngụ bình yên.

...giai đoạn này, HN bắt đầu được mô tả 1 cách cụ thể và chi tiết trong ca khúc. HN hiện lên với đường nét của đời sống sinh hoạt, ta đã gặp ở Người Hà Nội của Nguyễn Đình Thi. HN hiện lên với dáng vẻ ảo mộng mà trong trẻo, có lẽ là khởi nguồn từ Hướng về Hà Nội của Hoàng Dương.



BCHN 129 - ĐÊM MƠ HÀ NỘI DÁNG KIỀU THƠM



"...Miếng ngon Hà Nội, vì thế, nhiều khi làm cho ta yêu Hà Nội thấm thía, nhớ Hà Nội ê chề, và làm cho ta cảm giác ta là người Hà Nội hơn... Có ai đã xa Hà Nội lâu ngày, một chiều hiu hắt vọng về Hà Nội nhớ từng cái ngõ, từng cái nhà, nhớ từng vườn Bách Thảo, hồ Hoàn Kiếm nhớ đi, nhớ từ những hoa sấu rụng ở trên đường đầu thu nhớ xuống, mà tự nhiên ở đâu có người tìm đến mang “một chút quà Hà Nội” đến cho mình, người ấy mới có thể biết “quà Hà Nội” giá trị như thế nào!

...Bây giờ, nghĩ lại cái đẹp não nùng của cốm Vòng xanh màu lưu ly để ở bên cạnh những trái hồng trứng thắm mọng như son tàu, tôi thích nhớ lại một buổi chiều thu đã xa lắm lắm rồi, có một nhà nọ đưa hồng và cốm sang sêu một người em gái tôi."

Vũ Bằng đã hồi tưởng lại những món ăn thức quà Hà Nội, phở, cốm... những hương vị và cảnh tượng mộc mạc nhưng đã định hình cả trời thương nhớ của những người ly biệt.

Thứ Sáu, 26 tháng 10, 2012

Phía Tây Hà Nội




Đã một tuần nay, cả nhà náo loạn vì một cái hẹn đi ăn tiệc. Háo hức nhất là trẻ con. Ý tưởng sẽ được đến ăn nhà hàng Hàn Quốc ở Keangnam rồi “thể nào cũng được chơi” ở tầng trò chơi cảm giác lạ làm bọn nó sôi sục.

Bố mẹ chúng thì không như vậy. Hưởng biết Linh bất đắc dĩ phải đi thôi, khi Nga, bạn cũ thời phổ thông, mời đi ăn sau mười mấy năm bặt tin. Giá kể lôi nhau ra quán lẩu hay bia hơi Hải Xồm thì anh cũng thoải mái. Linh nói: “Nhà cái Nga giầu, hai vợ chồng mỗi người một xe.” Xe dĩ nhiên là xe hơi. Linh gặp Nga tình cờ hôm cô đi lấy hàng ở chợ. Nga đi chơi, thăm lại chợ Hàng Da mới xây thành trung tâm mua sắm xem có gì hay hay. Vậy là Nga chở Linh về tận nhà, đúng lúc thằng Việt đang dắt xe đạp ra cửa. “Ra dáng thanh niên quá” - Nga mỉm cười khen khi Việt chào để đi học - “Thế nó học tận đâu?” “Tít mãi trường Ams ấy.” “Giỏi thế, nhưng đạp xe mười mấy cây số thì vất quá nhỉ.” Linh mời Nga ở lại ăn trưa, nhưng cô khoát tay bảo có việc rồi, hẹn luôn cả nhà Linh hôm tới đi ăn. Nga nhìn Linh: “Hôm nào tôi dắt bà mua mấy bộ. Trông người vẫn ổn đấy.”

Nói là làm. Hai hôm sau, Nga đỗ xịch ở trước quán hàng của Linh: “Bà đóng cửa hàng, đi với tôi.” Cái xe đỗ kềnh càng ở mé cửa quán tạp hóa. Linh không có cách nào khác ngoài việc phải vội thu dọn hàng và khóa cửa. Kết quả sau hai tiếng mua sắm, Nga đã lựa cho Linh hai bộ váy với giày guốc. “Phải cẩm lê thế mới được, ngố ạ.” Cẩm lê là gì, Linh ngớ ra, tiếng Tây à. “Tao cũng chịu, nghĩa là đủ lệ bộ, như mày đi dự tiệc phải xách ví đầm đi theo. Đàn bà ra đường không mang ví cũng như cởi truồng ấy. Cái này thì bọn Tây nó nói.”

Cái váy hoa hai dây và đôi guốc cao gót làm Linh bất ngờ vì hóa ra trông mình không đến nỗi nào, nhưng điều cô bất ngờ hơn là Hưởng không phản đối. Hưởng là bộ đội, vốn chỉ quen vợ mình diện nhất là mặc áo dài cũng như nghe nhạc chỉ nghe Trọng Tấn Anh Thơ là hết.

Hưởng không vui ở chỗ phải đi dự tiệc ở một nơi anh chưa biết thế nào. Anh bị đại tràng, không ăn được món lạ. “Hay em với hai đứa đi thôi, anh không đi đâu.”

“Ơ hay, thế hôm nọ anh đồng ý rồi.”

“Anh có ăn được đồ Hàn đồ hiếc gì đâu.”

“Anh thật là, ở đấy có nhiều món khác nhau. Mà Hàn Quốc cũng có thịt chó nhé.”

“Quần quần áo áo ngồi ngay đơ ở bàn, biết nói gì.”

“Chồng nó cũng có nói được tiếng Việt đâu.”

Người không chỉ không vui, mà còn khó chịu với bộ váy của Linh là thằng Việt con cô. “Trông cứ hở hang thế nào ấy mẹ ạ.” Linh cũng thấy quả tình là hơi cách mạng quá so với lối ăn mặc lâu nay của cô, nhưng cô tặc lưỡi, khoác thêm cái áo ren mỏng là đủ. Cô đã thấy Nga mặc rồi.

“Mẹ, mẹ. Con cô Nga xinh không?” Cái Mai hỏi lúc lật đi lật lại cái váy kia của Linh.

“Mẹ đã gặp đâu.”

“Chắc xinh nhỉ. Con lai mà.”

Trước hôm đi ăn tiệc, bà chị gái của Linh xộc vào nhà. “Mai mày đi ăn cỗ hả?”

“Cỗ bàn nào? Con bạn cũ nó muốn gặp.” 

“Nó làm ăn gì mà lại gặp mày?”

“Chị hỏi buồn cười. Gặp là gặp thôi chứ làm ăn gì.”

“Mày cẩn thận đấy. Bọn nó hay dùng cái trò bạn cũ rủ rê này, rồi dắt mày vào tệ nạn.”

“Chị đọc lắm báo pháp luật rồi đấy.”

Mai chen vào. “Cô Nga cô ấy còn mua váy cho mẹ cháu nhá.”

Trước khi Linh kịp làm gì, Mai đã lôi hai cái váy ra.

“Ối giời ơi! Váy vó gì như đồ ca ve thế này!”

Linh lẳng lặng giật lấy hai cái váy, mang cất vào buồng. Rồi cô vào toa lét, mặc cho bà chị ngồi nói oang oang bên ngoài. “Mẹ mày giờ đổi mới tư duy ác thật.” Linh ngồi phịch xuống bệ xí, mặc cho nước mắt chảy ra.

**
Từ nhà Linh đến tòa nhà Keangnam ở khu Mỹ Đình phải đi xuyên qua thành phố. Mỹ Đình là khu mới ở phía Tây của Hà Nội, Linh chưa đến đấy bao giờ. Chỉ trong mấy ngày, thằng Việt và cái Mai đã phổ biến thông tin. “Keangnam là tòa nhà cao nhất Việt Nam.” “Tầng trên cùng có triển lãm tranh thế giới ảo, chiếu phim 5D mẹ ạ.” “Bọn bạn con đứa nào cũng lên đấy chụp ảnh, thích ơi là thích.”

Nga nhắn tin. “Bà nhớ đến đấy nhé, tôi đặt hết cả rồi.” Rồi lại nhắn. “Ăn uống bình thường ấy mà. Đừng có mà ngại. Xưa bọn mình khổ bỏ xừ, tôi lạ gì. Không nhắn lại nữa. Chấm hết.”

Lúc lên taxi, câu chuyện Keangnam lại tiếp tục. Lần này cái Mai thỏ thẻ, “Nhưng vé lên tầng 70 đắt lắm.” Việt chen vào, “Nhỡ cô Nga mời thì sao?” Hưởng đang ngồi ghế trên, quay xuống. “Tao cấm hai đứa mở mồm ra gợi ý người ta nghe chưa. Bố mẹ chưa để đói bữa nào cả, nhé.” Hưởng nhấn mạnh chữ “nhé” rồi quay lên ngồi yên nhìn ra phía trước.

Trong khi cả nhà mải mê nhìn những đường phố mới Hà Nội, Linh nhắm nghiền mắt. Cô không quen đi xe nên hơi váng vất. Cuối cùng xe cũng đỗ ở sát vỉa hè lối vào khu tòa tháp. Linh bơ phờ bước ra, gió lộng táp vào mặt. Hưởng chăm chú nhìn số tiền trên đồng hồ đếm, rút trong tập tiền buộc sợi dây chun mấy tờ để trả tài xế. Hôm nay Hưởng mặc cái áo sơ mi mới cắm thùng, nhìn cũng bảnh bao hơn. Linh yên tâm khi thấy cả nhà trông có vẻ tươm tất tương xứng với khung cảnh hào nhoáng ở đây.

“Từ từ! Đợi bố mẹ!” Hai đứa trẻ đã chạy ùa đến cái sảnh.

Gió từ khoảng giữa các tòa tháp thổi bạt làm Linh một tay giữ váy, một tay bíu lấy chồng. Hai người liêu xiêu bước đến cửa ra vào.

Việc đầu tiên là phải xác định xem nhà hàng ở tầng nào. Vì Linh không nhớ chính xác tên của nhà hàng, một cái tên Hàn Quốc rất dễ lẫn.

“Con đảm bảo là ở tầng trên khu Parkson. Họ đề Food Court mà.” Thằng Việt quả quyết sau khi xem sơ đồ. “Ở đây nhiều nhà hàng lắm.”

“Để mẹ gọi cô Nga cho chắc. Nhỡ leo lên không phải lại mất thời gian họ đợi.”

“Mày cứ lanh chanh.” Hưởng lừ mắt với con trai.

Nga reo lên trong điện thoại. “Đến chưa, đến chưa. Tầng trên của Parkson nhé.”

Thằng Việt đắc thắng khi đã đúng, giơ ngón tay bấm nút lên thang máy rất thiện nghệ. Hưởng hầm hừ làm Linh bật cười. “Thôi, bọn này nó dắt đi đâu thì bọn mình đi đấy anh ạ.”

Nga ân cần chạy đến đón cả nhà Linh rồi đưa vào bàn trong gian phòng rộng, đèn chùm chiếu ánh vàng hơi nhòa nhòa. Nhà Nga chỉ có ba người. Ông chồng Hàn Quốc mập mạp, đeo kính cận. Đứa con gái mắt một mí giống bố, nhưng cái miệng rộng giống mẹ.

“Phương, chào cô Linh chú Hưởng đi con.”

Đứa con gái chào rành rọt bằng tiếng Việt làm cả nhà Linh ngạc nhiên. Nga hân hoan giải thích. “Tớ vẫn nói chuyện với cháu bằng tiếng Việt. Tên Việt Nam đặt cho con là ý của anh Suno đấy.” Nga quay sang mỉm cười với chồng. Ông ta giơ tay nắm lấy tay vợ, gật gật cái đầu theo cách Linh vẫn thấy trên phim truyền hình.

“Thôi, vào bàn đi. Cho gọi món em ơi!” Nga vẫy vẫy tay. Hai cô phục vụ mau chóng bước ra.

Linh ý tứ quan sát chồng và hai con. Hưởng lúng túng khi được cô phục vụ giúp trải khăn ăn lên đùi và gắp khăn nóng đưa tận tay.

“Hai con thích ăn gì? Đồ Hàn Quốc cay có ăn được không? Hay món Tây?” Nga hỏi Việt và Mai. Linh định mở miệng nói thay nhưng Nga đã mỉm cười. “Cho các con thoải mái cậu ạ.”

“Cháu ăn mì Ý.”

“Mày dốt lắm. Đi nhà hàng Hàn Quốc lại ăn mì Ý. Phải ăn kim chi.” Việt giễu em.

“Ở đây đồ Tây cũng ngon lắm. Em Phương cũng hay thích đồ ăn nhanh. Các con cứ gọi vô tư.”

Cuối cùng việc gọi món cũng xong, ai nấy đều đã tìm được thứ mình cần, Linh khẽ thở phào. Hưởng bảo, “Em ăn gì anh ăn nấy.” Ông chồng Hàn Quốc của Nga cũng tỏ ra thân thiện. Việc căng thẳng nhất đã có vẻ trôi qua. Hai đứa con của Linh đã xúm lại quanh Phương, châu đầu vào xem chung cái iPad, mặc cho bốn người lớn nói chuyện. Mà thực ra là chỉ có Nga và Linh.

Lúc này Linh mới rõ thêm về cuộc sống gia đình của Nga. “Thật ra sống bên Hàn cũng khổ lắm. Giá đắt kinh người.” Suno cũng lặp lại “Đắt”, đưa tay lên cứa cứa cổ. Linh và Hưởng nhìn nhau cười ngượng nghịu. “Chỉ có Việt Nam là sướng. Cái gì cũng có mà lại rẻ.” Nga nói như reo lên. Cô nói sắp tới Suno sẽ phải về nước để tập huấn thêm.

“Thế là cả nhà lại về Hàn Quốc à?” Linh thắc mắc.

 “Chỉ anh Suno thôi. Nhưng anh ấy muốn mẹ con tớ về cùng để còn lo việc nhà.” Nga ngần ngừ định nói gì thêm vẻ khó nói nhưng rồi tươi nét mặt khi thấy phục vụ bưng đồ ăn ra. “Thôi ăn đi nhỉ. Đồ Hàn phải ăn ngay mới ngon. Các con, không chơi nữa, ra ăn.”

Bữa tiệc đã đi tới hồi ai cũng ngây ngấy no. Việt đã có một cuộc nói chuyện bằng tiếng Anh trôi chảy với Suno, rồi làm phiên dịch những câu Suno bắt chuyện với Hưởng. “Mừng cho các con quá, bà ạ.” Nga ghé miệng nói vào tai Linh, lúc này đang hân hoan trong bụng. Mặt Hưởng lẫn Suno ửng hồng vì men bia. Ba đứa trẻ đã ra nửa nằm nửa ngồi trên cái sofa ở góc phòng, Việt cầm chịch cuộc chơi trên iPad, hai đứa con gái chỉ chỏ bên cạnh. Nga nhìn theo rồi quay lại cười. “Đúng là trẻ con ở đâu cũng thế. Hội nhập nhanh nhất.” Hưởng giờ mới lên tiếng. “Ừ, vợ chồng nhà này lắm cái có biết gì đâu. Bọn nó sờ đến cái gì, năm phút sau là biết hết cả. Chỉ đạo bố mẹ luôn.” Suno nhíu mày, “Chỉ đạo?” Nga bật cười, nói gì đó với chồng bằng tiếng Hàn rồi quay ra giải thích. “Tớ vừa nói cho anh Suno chỉ đạo nghĩa là gì. Anh ấy bảo tiếng Hàn âm cũng gần gần thế, nhưng dùng cho công ty, như giám đốc chỉ đạo nhân viên chứ không dùng ở gia đình.”

Linh và Nga rôm rả nhắc lại chuyện ngày xưa. Hồi phổ thông, hai người đều không học khá. Linh chật vật lắm mới tốt nghiệp được, về nhà phụ mẹ bán hàng rồi lấy chồng khi chưa đến hai mươi tuổi. Còn Nga… Nga kể thì Linh mới biết bạn mình đi làm tạp vụ ở một công ty Hàn Quốc rồi gặp ông chồng bây giờ. Mọi chuyện như thế khác gì một giấc mơ.

“Thế này anh Hưởng và Linh ạ. Em biết là đường đột nhưng không có dịp nào hơn.” Nga hối hả nói như thể sợ bị cắt ngang. “Em và anh Suno muốn xin cháu Việt làm con nuôi.”

Tim Linh đánh thụp một cái rồi như muốn rụng xuống. Cô liếc nhìn chồng. Hưởng xoay xoay cái chén trà trong tay, khớp ngón tay trắng bệch.

Như đoán trước phản ứng, Nga không mỉm cười mà ngồi yên, giọng ủ ê. “Em vô sinh rồi. Còn anh Suno cũng lớn tuổi nên khả năng có con rất khó. Em thật sự…” Nga khóc nức lên.

Linh thở dài, vội kéo ghế ngồi sát Nga rồi đưa tay nắm lấy tay cô. Nga ngả rụp người vào một bên vai Linh, rung rung người trong tiếng khóc. Hưởng bối rối nhìn hai người rồi nhìn ba đứa trẻ con đằng xa, lúc này vẫn đang chăm chú chơi. Suno rít thuốc trầm tư, quan sát cuộc hội thoại như hiểu hết.

Nga ngồi ngay người lên, tiếp tục nói. “Vả lại, anh Suno có một khoản thừa kế nhưng với điều kiện phải có con trai. Em vẫn nhớ đến bạn Linh của ngày xưa… Mười mấy năm rồi, vẫn không thay đổi gì. Tốt mà rất hiền… Em thật sự muốn làm một việc có ích cho cả hai nhà… Cháu Việt về nhà em thì sẽ có điều kiện đi học, khoản thừa kế ấy rồi cũng sẽ chia cho cháu, rồi sau này báo hiếu được cho cả… bố mẹ đẻ lẫn bố mẹ nuôi… Em không có ý gì khác…”

Linh ngồi ngây ra, đầu rối bung lên. Ra là vậy.

Giải pháp mà Nga đưa ra rất dễ chịu. Việt sẽ tiếp tục học hết phổ thông ở Việt Nam, và hàng tuần tới ghé thăm nhà của vợ chồng Nga, lúc này là cha mẹ nuôi của nó. Nga sẽ có trách nhiệm hỗ trợ cho con nuôi vào đại học ở Hàn Quốc. Vợ chồng Nga sẽ chu cấp ngay từ bây giờ. Một tháng nữa, Nga sẽ quay lại Hà Nội và nếu nhất trí, hai bên làm thủ tục.

Linh và Hưởng muốn về suy nghĩ và bàn bạc đã. “Mong cậu và anh Hưởng giúp mình. Mình sẽ đợi.”

**

Dĩ nhiên là Hưởng không đồng ý. “Dưng đâu người ta lại tốt với mình thế? Mình làm thế bằng bán con.”

Đột nhiên, Linh duyệt lại tất cả đầu dây mối nhợ quan hệ với cô bạn cũ. Nghĩ nhiều thì sinh nghi. Nhưng tương lai quá hấp dẫn cho thằng con trai khiến cô không thể từ chối phắt. Hai vợ chồng thống nhất là chưa vội nói với bọn trẻ con.

“Cô Nga ngày xưa học giỏi không, mẹ?” Câu hỏi của Việt bung ra trong bữa cơm làm Linh lúng túng. Hưởng khẽ liếc vợ, nhưng không tỏ thái độ gì.

“Cũng bình thường, nhưng chăm. Cái chính là chịu khó con ạ. Rồi cơ hội sẽ đến.”

Lúc Linh rửa bát, Hưởng xuống bếp, giả vờ tìm cái búa. “Cô nói gì với nó rồi?”

“Em đã nói gì đâu.”

“Thế sao nó lại hỏi? Tôi biết thừa bụng cô rồi.”

“Anh nghĩ em là cái giống gì? Thế anh nghĩ em hám lợi cho mình lắm chắc?”

“Lại bắt đầu nước mắt đàn bà đấy.” Hưởng càu nhàu, quẳng trả cái búa vào khay nhôm đồ sửa xe đạp, bỏ ra sân hút thuốc.

Liền mấy ngày sau, hai vợ chồng gần như không nói chuyện với nhau. Lũ trẻ biết phận, không dám hó hé gì trước màn chiến tranh lạnh.

Buổi tối, dường như cả nhà chăm chú hơn khi xem những bộ phim Hàn Quốc trên ti vi. Đúng hơn là Linh thấy căng thẳng, và cô cảm thấy sự căng thẳng của mình đang tỏa ra xung quanh như phóng xạ.

“Đi học toàn thấy yêu đương, sướng nhỉ.” Việt xuýt xoa khi phim có cảnh đôi nhân vật chính ngồi trong giảng đường.

“Mà các chị ấy cũng xinh ơi là xinh.” Mai đế vào.

Hưởng hầm hừ, cầm điều khiển chuyển kênh.

“Ơ, bố. Phim đang hay mà.”

“Phim nhố nhăng. Mẹ con mày mê Hàn Quốc lắm rồi đấy.”

Linh cảm thấy máu dồn lên mặt. “Anh đừng có chụp mũ thế nhé.”

“Cô ấy! Tôi biết mà. Cô mà không mờ mắt tiền nong thì cái Nga đã chẳng có cửa xin thằng Việt làm con nuôi!”

Hai đứa trẻ trố mắt nhìn. Linh hít hơi dài, nhắm mắt lại, huơ tay ra hiệu. “Đấy, anh nói đi.”

Sau khi Hưởng thông báo tin cho con trai, cả hai chờ đợi phản ứng của nó. Thằng bé như đoán được mấu chốt vấn đề, hỏi bâng quơ. “Thế ý bố sao ạ?” Hưởng ngồi thừ, nói chủng chẳng. “Sao với giăng gì. Cứ học xong rồi vào đại học đã.”

“Con nghĩ thế nào?” Linh thận trọng hỏi.

Việt nhún vai. “Con cũng chẳng biết. Con chịu.”

Hưởng gầm lên. “Chẳng biết là thế nào? Mày muốn thì mày bảo luôn!”

Linh can. “Thôi, anh sao lại nói thế.”

Mai bíu lấy tay mẹ. “Nhưng quá mười tám tuổi thì làm sao được nhận làm con nuôi ạ?”

Hưởng điên tiết, cầm cái chén uống nước ném choang một cái vào tường.

Hai tuần tiếp theo, cả nhà như có đám. Những bộ phim Hàn Quốc dường như bị trục xuất khỏi ti vi. Cái hẹn với Nga sắp đến làm bầu không khí ngột ngạt. Đôi lần Linh gặp ánh mắt chờ đợi của con trai khi gặp mẹ lúc đi học về rồi lại thất vọng. Hưởng lầm lì, đi ngủ hay trở mình. Linh chỉ dám nằm yên.

Hôm trước ngày hẹn, hai vợ chồng đi ngủ sau khi hết bộ phim buổi tối. Bỗng Hưởng quay sang vợ. “Nhớ bảo cô Nga cho nó về thăm mình mỗi năm mấy lần nhé. Nghỉ hè là phải về nhà.”

“…”

“Anh không phải là hẹp hòi gì. Nhưng sợ con mình ham phú quý, dễ hỏng.”

“…”

“Nhưng giờ có cơ hội thế này, không cho nó đi mình lại ân hận. Hai vợ chồng mình vẫn còn cái Mai…”
Linh khóc không thành tiếng, Hưởng vỗ vỗ vai vợ. “Thôi nín đi, không bọn nó lại nghe thấy bây giờ. Anh tắt đèn đây.”

N.T.Q

(Tuổi Trẻ cuối tuần 26.10.2012) 

Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2012

Tiếu ngạo về... còi


"Chồng lái lụa, vợ góa bụa"...
TT - Họa sĩ Thành Phong - tác giả của cuốn sách gây đình đám Sát thủ đầu mưng mủ - tiếp tục gây xôn xao bằng những nét bút trào lộng, nhưng lần này là một chiến dịch hết sức ý nghĩa: tấn công vào những hình ảnh xấu xí trong giao thông.
Như trong hình bên thật khó nhịn cười, nhưng cũng thật sâu cay với “chồng lái lụa” thì ắt là... ”vợ góa bụa”!
Châm biếm tệ nạn đua xe trái phép
Thoạt xem và thoạt đọc thì thấy những hình và lời chú thích những bức tranh của họa sĩ Thành Phong cho chiến dịch “K0 còi” (đọc là Không còi) có vẻ hơi nhiều... sát thủ. Có lẽ âm hưởng của cuốn sách đình đám Sát thủ đầu mưng mủ năm ngoái vẫn còn mang tính thời sự nên những bức tranh của Thành Phong đã khiến độc giả tò mò muốn xem chàng họa sĩ này có gì mới lần này?
Nhưng cũng phải nói rằng chính thực tiễn cuộc sống đã sinh ra tranh Thành Phong thông qua những thành ngữ hiện đại do các bạn trẻ sáng tạo gửi đến cho anh. Những thành ngữ phần lớn có vần và quan trọng nhất có dụng công hài hước (Phố thành sông, lưu thông thêm thoáng; Xe mẹ mua, đua mẹ đánh...). Chính những yếu tố chơi chữ hoặc lắt léo cách gợi hình ảnh như vậy đã là đất cho Thành Phong phóng bút bằng nét vẽ khá thú vị của mình. Chẳng hạn như Đi ngược chiều, trẻ trâu chơi liều gắn với bức tranh vẽ hình một cậu trai cưỡi con trâu xông vào đám đông giao thông ngược chiều, cầm roi hét “Yêêê!” là một cặp lời - hình thông minh. Ở đây đã sử dụng được từ lóng “trẻ trâu” đang rất thịnh hành hiện nay để diễn tả mức độ điên rồ trong cách đi xe của một bộ phận giới trẻ “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ”!

Đi ngược chiều, trẻ trâu chơi liều

Cũng một cách lợi dụng yếu tố đồng âm, Còi to máy rú là thú đi xe lại tỏ ra có tầm hơn hẳn nhiều câu thành ngữ sành điệu thời Sát thủ đầu mưng mủ cũng của Thành Phong. Nếu như ở cuốn sách trước vẫn còn nhiều câu có vần nhưng khá vô nghĩa thì ở đây, họa sĩ mau chóng lợi dụng được chữ “thú” để vẽ một con khỉ lông lá mặt đỏ gay cho cả hai chân lên yên cưỡi xe Honda Cub trong tư thế “bốc đầu”. Nhiều bạn trẻ hẳn sẽ cảm thấy đồng cảm hoặc đỏ mặt (hi vọng thế!) với thông điệp đả kích qua hình ảnh bêu xấu một hiện tượng tiếc thay không còn hiếm hoi ngoài đường.

Còi to máy rú ...
Tranh của Thành Phong đã ra đời như một kết quả tương tác giữa ngôn ngữ giới trẻ với bộ môn biếm họa. Điểm mạnh của sự tương tác này là kết nối được với tâm lý cộng đồng đông đảo các bạn trẻ, nhưng cũng là sự bó buộc cho họa sĩ. Mặc dù xu hướng tranh nhiều chi tiết và rậm chữ như của Phong vẫn được nhiều bạn trẻ thích vì mô tả trực tiếp và sát thực tế, nhưng để bức tranh đứng độc lập như một tác phẩm biếm họa thì cần đơn giản và mang tính biểu tượng hơn nữa. Tính sâu cay và đa nghĩa cũng cần bật lên từ việc vẽ ít mà hàm lượng thông tin dồn nén hơn.

Bấm còi đòi vượt đèn đỏ

Tất nhiên, với tư cách là những thông điệp bằng hình, nhiều bức tỏ ra là những minh họa có giá trị trong việc phản ánh thời cuộc - thời mỗi con người Việt Nam là một cá thể đi lại đầy ích kỷ và mù lòa. Một người đi xe máy sửng sốt dừng lại trước chắn tàu xe lửa có bảng đề “Còi to cho vượt”, hay quang cảnh một ngã tư khi đèn đỏ còn 3 giây, một gã thanh niên không đội mũ bảo hiểm bấm còi inh ỏi và hét lên giục người đằng trước đi, trong khi một chiếc xe thương binh chở hàng đã ngạo nghễ phóng lên... Những hình ảnh đời sống giao thông lộn xộn, nhầu nhĩ dường như đã tìm được những nét vẽ nhiều gãy khúc, xô lệch có chủ ý để mỗi người xem, nhất là giới trẻ, đến với “K0 còi” giật mình và bật cười khi thấy mình cũng ở trong đó, là nạn nhân mà có khi cũng là thủ phạm...
NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ
Châm biếm giá xăng

Xăng giá cao, làm sao dám đổ đầy bình?

Bức tranh đòi hỏi người xem phải ngắm kỹ một chút, từ dòng tiêu đề hơi khó đọc đến cái mồm móm của người đi ôtô và lời bình phẩm nhỏ như lời thì thào của một người đi xe máy đang tròn mắt phía sau: “Đại gia vãi!”. Đổ đầy bình xăng trong thời buổi xăng lên giá liên tục hiện nay là một thước đo sự giàu có đầy tính thời sự. Và bức tranh còn ám chỉ một từ lóng thịnh hành của giới trẻ nữa - “móm” - chỉ việc kiệt quệ hoặc bất lực cùng đường. Nhưng đại gia và hàm răng... hình như liên quan đến câu tuyên bố “không có tiền thì cạp đất ra mà ăn” hãy còn gây ầm ĩ của một người đẹp mới đây? Điều này tác giả không nói thẳng ra, nhưng đặt cạnh bức tranh một người nghèo giơ tay xin hàng trước một cây xăng nhân cách hóa, bịt mặt kiểu kẻ cướp đòi tiền quả là có tác dụng mạnh. Chúng đưa lại một cảm giác trào lộng cay đắng về sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội mà giá xăng và phương tiện xe cộ là dấu hiệu nổi bật nhất.
Sau “Đêm tĩnh lặng” là “Lắng nghe thành phố”
Chiến dịch “Không còi” nằm trong khuôn khổ chương trình hướng dẫn lái xe an toàn và thân thiện với môi trường, Ford Việt Nam phối hợp cùng nhóm các bạn sinh viên và tình nguyện viên. Ngay từ khi bắt đầu chiến dịch, hàng loạt đoạn phim ngắn mang tính giáo dục cao trên các phương tiện thông tin đại chúng về thực trạng sử dụng còi xe không đúng cách và những tác hại của nó đến sức khỏe con người đã được thực hiện. Dự án này dự kiến kéo dài khoảng hai tháng, hiện đã đi được hơn nửa chặng đường. Mỗi tuần, họa sĩ Thành Phong sẽ thực hiện một bức tranh cổ động mới post trên trang cá nhân và trang chủ của chương trình. Anh vui vẻ cho biết: “Mình đã có kinh nghiệm nhiều sau bộ truyện đầu tiên nên cũng được các bạn ủng hộ nhiều hơn. Mỗi bức tranh mới được post lên mạng trung bình nhận được 400-500 like (lượt thích). Bộ tranh giao thông này sẽ gồm 40 bức và hiện nay đã hoàn thành được một nửa”.
Bộ tranh được giới thiệu lần đầu đến công chúng trong chương trình “Đêm tĩnh lặng” ngày 14-10 tại Viện Trao đổi văn hóa với Pháp ở TP.HCM. Ngày 21-10 (từ 14g30-17g30), bộ tranh này đến với công chúng Hà Nội trong chương trình “Lắng nghe thành phố” tại rạp Công Nhân (42 Tràng Tiền). Họa sĩ trẻ Thành Phong cùng nhiều khách mời như diễn viên hài Chí Trung (người thường vào vai Táo giao thông), nhà văn Nguyễn Trương Quý (tác giả tản văn Xe máy tiếu ngạo) sẽ chia sẻ những góc nhìn khác nhau về vấn đề giao thông hiện nay với khán giả trẻ.

Còi to cho vượt, văn hóa đi xe của người Việt

MINH TRANG

Chủ Nhật, 14 tháng 10, 2012

Nhân chuyện canh gà Thọ Xương

Đây là một bài của Nguyễn Công Hoan năm 1973 về việc dạy văn học cổ ở phổ thông.

Nên đi từ dễ đến khó
Văn Nghệ Số 515, 14-9-1973


Ở nước ta, dưới các triều đại phong kiến xưa, nhân dân ta phải học chữ Hán. Ai giỏi chữ Hán mới được nhà nước trọng dụng và được xã hội kính phục. Chữ Hán được coi là “chữ ta”, cho nên bất cứ điều gì ghi trên đây, đều phải bằng chữ Hán. Nếu có những người viết thư từ, thơ văn bằng chữ nôm, thì vì đã chịu ảnh hưởng nặng về Hán học, có nếp nghĩ bằng điển tích, bằng thành ngữ, hoặc bằng cả một câu ở trong các sách vở cổ, nên người ấy nói và viết từ cái ý chính đến cái ý phụ của mình muốn gọn ghẽ và bóng bảy thì thế nào cũng dùng điển tích và chữ sẵn.

Ðến thời Pháp thuộc, chữ Hán bị bỏ, ta học chữ Tây. Ta dùng chữ quốc ngữ để viết thư từ, làm văn thơ, thì văn học của ta còn ảnh hưởng của Hán học và mang thêm cả ảnh hưởng của Pháp học.

Từ ngày nước được độc lập, văn học của ta mới thay đổi dần để thành nền văn học đặc biệt thuần túy là Việt Nam.

Vì vậy, ngày nay, các con em ta đọc truyện mới xuất bản thì hiểu, đọc truyện xuất bản trước cách mạng đã gặp nhiều chữ phải bỡ ngỡ, đọc đến thơ văn cổ điển thì thấy khó hiểu quá.

Là bởi vì văn bây giờ viết bằng tiếng của con em ta nói hàng ngày. Dần dần, con em ta mà lớn lên. Lúc bấy giờ tự nhiên chúng không bỡ ngỡ đối với văn thơ cận đại nữa.

Nguyên tắc của sư phạm là đi từ dễ đến khó, từ biết đến chưa biết, từ giản dị đến phức tạp. Cho nên tôi nghĩ rằng văn học dạy ở nhà trường, muốn có kết quả, thì làm theo trình tự thời gian từ cổ điển đến cận kim rồi đến hiện đại mà phải theo hoàn cảnh đặc biệt của nước mình, mà đi ngược lại, tức là từ hiện đại, đến cận đại rồi mới đến cổ điển.

Trong cuốn Trích giảng văn học lớp bảy, trẻ em mới mười bốn tuổi, đã ngay từ đầu năm, học Văn thơ cổ điển, từ Trần Quốc Tuấn đến Trần Tế Xương. Những bài thơ ít điển tích của Trần Tế Xương, của Nguyễn Khuyến, các em có thể hiểu được. Mấy đoạn của Nguyễn Du, của Nguyễn Ðình Chiểu, nếu thầy giảng kỹ, các em cũng có thể hiểu được. Nhưng ngay hai bài in ở đầu sách, là bài Hịch tướng sĩ, bài Cáo bình Ngô, rồi tiếp sau là bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, thì thật là gay. Muốn việc giảng dạy và tiếp thu có kết quả, thì sự tận tâm của thầy giáo phải đi đôi với trình độ của thầy. Nhưng sự chú ý của trò càng không thể thiếu.

Trong thời kỳ chiến tranh phá hoại lần trước, tôi đi sơ tán, ở nhờ một gia đình có cháu học lớp bảy. Sau tuần lễ đầu năm học, tôi cứ thấy cháu lai nhai câu: ...sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tế phụ...

Tôi hỏi bài này là bài gì, ai làm ra, vì sao làm ra và để làm gì, cháu đều trả lời đúng.

Tôi hỏi:

- Sứ giặc là gì?

Cháu lúng túng, nghĩ một lát, rồi đáp:

- Là đại sứ của Mông Cổ.

Tôi hỏi nghĩa mấy chữ uốn lưỡi cú diều, bắt nạt tể phụ, cháu không nói được và viện lý do:

- Tại cô không giảng.

Tôi hỏi:

- Thế cháu có hiểu bài này không?

Cháu cười, không đáp. Tôi hỏi:

- Cô không giảng à?

- Có. Cô gợi căm thù đế quốc Mỹ xâm lược.

Rồi cháu nhắc lại tất cả những lời của cô giáo nói ở trong lớp. Tôi nghĩ:

“Cô giáo biến buổi giảng văn thành buổi giảng chính trị”.


*          * 

Một hôm, có một cháu học lớp chín phải chuẩn bị trước bài Văn tế Phan Chu Trinh của Phan Bội Châu. Vì cháu không hiểu, nên đến hỏi tôi. Trước khi giảng, tôi nói qua tiểu sử của hai cụ Phan cho cháu nghe. Rồi tôi đọc câu đầu:

Tuồng thiên diễn mưa Âu gió Mỹ, cuộc nọ kém thua hơn được, ngó non sông nên nhớ bậc tiên tri.
Tôi giảng nghĩa đen của câu chữ thiên diễn, rồi đến nghĩa dùng ở trong bài. Rồi đến chữ tuồng. Tại sao gọi là tuồng thiên diễn. Ðến bốn chữ mưa Âu gió Mỹ thì tôi thấy cháu tỏ ra khó hiểu.

Tại sao lại mưa với gió? Tại sao lại Âu với Mỹ? Có thể nói mưa Phi gió Úc được không? Ðúng là nói lối này quen thuộc với người có ảnh hưởng Hán học, nhưng rất lạ tai đối với các cháu mười sáu tuổi của chúng ta ngày nay.

Sau khi giảng rất kỹ từng chữ của câu đầu này, tôi bắt đầu nhắc lại. Chắc rằng bộ óc non nớt của cháu bị tôi nhồi nhét nhiều quá, cháu không thể nhắc lại được, nên tôi hỏi:

- Bây giờ đặt ra văn xuôi thì câu này phải như thế nào?

Tôi hiểu ngay rằng nếu đặt ra văn xuôi, nghĩa là nếu tôi dùng tiếng nói của các cháu, thì cháu hiểu ngay. Tôi cố dùng những văn có trong câu này để đặt thành một câu văn xuôi dài hơn. Lúc cháu hiểu, thì cháu cười rất thích thú:

- Ngày trước nói khác bây giờ nhỉ.

Ðây là mới một câu trong bài văn tế mà tôi đã mất nhiều thì giờ thế mà tôi đoán là cháu chưa hiểu kỹ lắm đâu - thì tôi không rõ ở trong lớp, thầy cô làm thế nào cho học trò thưởng thức được giá trị của những bài thơ in trong sách, để khỏi phụ công phu của tác giả đã tìm từng chữ, gọt từng câu để đạt ý mình trong tác phẩm?

Nguyễn Công Hoan

Thứ Hai, 1 tháng 10, 2012

Chị Xít

“Ông Bỗ chết rồi!” Mẹ tôi loan cái tin ông anh chồng chết với vẻ mặt tỏ ra nhà có đám. Bố tôi bần thần, rồi hỏi: “Thằng Bộ có gọi con Xít về không?”

Bộ là con trai trưởng của ông Bỗ. Tên đẻ ra là Bọ, nên cô em có tên Xít. Tôi cũng không hiểu tại sao ông bác tôi lại có thể đặt tên con quái gở thế. Có phải thời xa xôi gì đâu mà phải đặt hèm. Sau này anh Bộ ra Hà Nội, thêm cái dấu mũ, thế là thoát ly được hoàn toàn cái gốc quê mùa. Anh lại lên tới chức vụ trưởng, có khi cấp dưới nịnh hay là cợt bằng cách thêm vào thành Bộ Trưởng. Rồi thành biệt hiệu luôn. Chị Xít thì không có cái may mắn ấy. Chị đã bỏ nhà đi lâu lắm rồi, sau một lần ông Bỗ đánh chị thừa sống thiếu chết.

“Biết tìm nó ở đâu? Hồi trước nó ở cái trại gì trên Ba Vì ấy, giờ chả biết còn sống hay chết rồi”. Mẹ tôi rên lên, giọng điệu như đã ủ sẵn câu chuyện, nhắc đến là như tua băng. “Năm nay nó mà còn sống cũng phải năm mươi rồi”.

Năm mươi rồi sao, tôi nhớ ngày bé từng gặp chị Xít đôi lần. Chị hồi ấy mới chớm bị chứng tâm thần, đầu buộc một cái khăn lụa hoa như kiểu công nhân nông trường. Chị từ quê xuống sau khi ông bố đánh. Ông bảo chị ăn cắp, nhưng bố tôi cũng kể hồi bé cũng từng bị ông Bỗ vu ăn cắp và đánh đòn. Nhưng lần cuối cùng xuống nhà tôi, chị Xít chỉ ở đúng một buổi chiều.

“Hồi cái Xít xuống đây, bảo nó ở nhà mình mà không chịu, rồi nó lên cái trại ấy”.

Cái cách kể chuyện của người già là vậy, toàn dùng những từ như “ấy, gì, đó”, những đại từ gợi nên một quá khứ đã kể đi kể lại nhiều lần. Nhưng rõ ràng trong câu chuyện mà bố mẹ tôi kể, chị Xít không thấy gây hành động gì khủng khiếp hoặc mất kiểm soát mà người tâm thần vẫn mắc phải như mất trí, xé quần áo, ăn mặc bẩn thỉu, cười nói ngây ngô ngoài đường. Mà thực ra đấy cũng chỉ là hình ảnh tôi thấy đôi lần ở những người tâm thần. Chứ người tâm thần hiếm hoi tôi biết là một ông chú hàng xóm ở khu nhà cũ của tôi. Chú Tuân, như tôi còn nhớ hồi bé, gọi là anh thôi, vui chuyện lắm. Anh đi đôi dép nhựa bộ đội có quai hậu màu nâu, dáng anh lại cao lớn, mặt mũi sáng sủa. Vừa đan phên, anh vừa vui vẻ trả lời những câu hỏi đủ loại của tôi, đánh nhau ra sao, bắn súng thế nào. Nhưng hình như anh trả lời hơi nhiều, chẳng hiểu anh có rõ tôi hỏi gì không nữa.

“Nó bị tâm thần đấy”.

Tâm thần lúc ấy là một từ rất nặng để trẻ con đem ra miệt thị nhau.

“Nó bị bom, điếc lòi. Cứ há há hớ hớ”.

“Tịt cả ngòi luôn ấy chứ! Thế nên có đứa nào lấy đâu”.

Một người khác là chị Thơ. Nghe đồn chị học đại học, học nhiều quá nên phát điên, rồi mất suất đi Nga, có người lại bảo chị điên vì thất tình. Chả hiểu thế nào. Chỉ biết mỗi lần sinh hoạt hè, chị lại đứng chống nạnh ở chỗ đám trẻ con chúng tôi, hát những bài hát Nga rồi kể đủ thứ chuyện bằng cái giọng sang sảng bất thường.

Rồi như mọi người tâm thần khác, họ gần như biến mất khỏi tầm nhìn của ta khi ta lớn lên. Tôi cũng không thấy ai nhắc đến chị Xít và tôi cũng quên hẳn chị.

Cho đến ngày bác tôi mất. Đám ma thân sinh ông vụ trưởng dĩ nhiên là phải to. Mọi chuyện cứ rầm rập huyên náo cả mấy ngày, từ việc cắt đặt ai sẽ lo việc gì, nhưng chủ yếu là quân của anh Bộ. Chị Hoa, vợ anh quyết không cho họ hàng nhúng vào. “Cháu cảm ơn các cụ đã có nhời. Nhưng ma chay của tứ thân phụ mẫu cán bộ có tiêu chuẩn cả rồi. Ma chê cưới trách, thôi thì các cụ cũng vì sự nghiệp của nhà cháu”. Mẹ tôi tức giận vì bị gạt ra khỏi “ban tổ chức”, gì thì gì về thứ bậc, mẹ tôi cũng là dâu thứ của họ. “Bố mày với chú mày còn đó, cái con vợ nó dám tôm lộn cứt lên đầu à”. Mấy ngày trời, cả phái đoàn họ hàng từ quê lên, chỉ có bàn chuyện làm thế nào để dạy cho vợ anh Bộ một bài học.

Đám ma to có khâu đăng cáo phó lên báo và truyền hình. Việc này do cấp dưới của anh Bộ lo. Một chuyện không ai để ý cho đến lúc chú tôi cầm tờ báo lên đọc, là ở chỗ “Thay mặt gia đình” bên dưới dòng “Trưởng nam: Trần Minh Bộ” là “Thứ nữ: Trần Thị Xinh”.

“Ơ, nhà ông Bỗ có đứa nào tên là Xinh đâu, chỉ có con Xít chứ”.

“Ông ngẫn thế, nó đổi tên cho đẹp. Bọ hóa Bộ thì Xít thành Xinh khó gì”.

Nhưng rắc rối là biết tìm chị Xít ở đâu? Còn có ba ngày nữa là làm lễ viếng.

Nếu phái đoàn ở nhà tôi râm ran chuyện chị Xít một thì nhà anh Bộ ầm ĩ mười. Đấy là nhà tôi nghe mấy người họ hàng qua nhà anh kể lại. Chị Hoa nổi cơn tam bành khi thấy tên chị Xít ở bản cáo phó trên báo đài. Cấp dưới anh Bộ đã mắc cái lỗi quá nhanh nhẹn khi lấy thông tin từ lý lịch cán bộ của anh mà điền vào. Hay gì đâu việc có con em tâm thần đứng tên cùng mình. Bây giờ thiên hạ đi dự đám ma, sẽ tọc mạch xem cô em gái ông vụ trưởng mặt mũi ra sao. Rồi chẳng may có đứa xấu bụng nó tố lên thì tiêu.

Anh Bộ thì không thấy lên tiếng, hoặc đúng hơn là nhà tôi chưa nghe thấy anh nói gì về chuyện này.

Bố tôi quyết định gọi điện cho anh Bộ. Khó khăn lắm phái đoàn mới liên lạc được với anh vào gần nửa đêm.

“Anh phải báo cho cái Xít chứ nhỉ”.

“Ông thông cảm, nhà cháu đang rối bời cả lên, thôi thì ma chay xong, cháu sẽ đi tìm nó. Rồi bốn chín ngày ông già cũng vẫn kịp”.

Khỏi phải nói bố tôi, người vốn hiền lành yếu đuối, cũng phải nổi cơn lôi đình thế nào. Nhưng mọi người đều cho rằng anh Bộ không xấu, mà do chị vợ giật dây hết. Chị ấy vun vén làm ăn như thế thì anh Bộ sợ là phải.

Cuối cùng tôi với tư cách thanh niên có phương tiện và cũng đã từng gặp chị Xít (từ hồi còn bé tí) được giao nhiệm vụ đi tìm chị.

**

Nếu chỉ là tìm chị Xít và đưa chị về thì có lẽ mọi sự đã đơn giản. Sau một ngày quần thảo các trại người cơ nhỡ, trại tạm lánh, trại tâm thần, các khu phục hồi nhân phẩm, rồi vào tận hai nông trường khắp huyện Ba Vì, và lục lọi quan hệ của bạn bè, tôi cũng tìm thấy chị Xít. Tôi cũng không hiểu làm thế nào mình lại nhìn thấy chị, vào đúng khu nhà của chị ở chân núi Chẹ bên bờ sông Đà.

Chính xác là chị thấy tôi.

Tôi đang hỏi đường vào nông trường X ở sườn bên này dãy Ba Vì, thì thấy mấy người phụ nữ dáng như vừa đi làm ruộng về, mặc bộ đồ bảo hộ màu xanh, đầu bịt khăn.

“Bảo!”

Nghe tên mình giữa chỗ lạ, tôi ngẩn ra một lúc. Một người phụ nữ bịt mặt vẫy vẫy tôi. Đấy là chị Xít. Mà vì sao chị nhận ra tôi thì cũng lạ, tôi của năm ba mươi lăm tuổi khác với năm lên năm, cũng như thế giới kịp qua hai cuộc đại chiến.

“Cậu giống ông lắm”.

À ra vậy. Nghĩa là cũng có nét giống ông Bỗ và anh Bộ luôn. Chị Xít đã thành một bà già, các nét khắc khổ heo héo. Mặt chị có cái vẻ bơ bơ của người sống tách biệt với xung quanh. Trái với hình dung của tôi, chị chỉ lặng người đi một lát khi nghe tin tôi báo. Rồi chị bình thản nói. “Tôi không về đâu. Tôi còn phải dọn nốt cái đồi chè nữa”.

Tôi nói đang có xe, chị tiện thể về luôn, mà về sớm thì còn gặp gỡ họ hàng luôn. Mọi người mong chị.

“Không. Tôi đã nói rồi. Cậu về đi. Cậu mang các thứ về, trên này tôi đủ rồi”.

Chị hối hả dúi cái phong bì và túi hoa quả tôi mang lên vào tay tôi. Búi tóc chị xổ ra, mắt chị long lên sáng quắc. “Cậu đi đi. Tôi không quen biết gì cậu”. Sự quyết liệt lạ lùng của chị làm tôi sợ. Tôi gần như bị tống ra khỏi khu nhà.

**

Chị Hoa căn vặn tôi mãi xem chị Xít có đúng là không còn ở Ba Vì nữa không. Tôi định nói chị vào Nam hay sang Trung Quốc rồi nhưng nghe vậy có vẻ tàn nhẫn quá. Tôi chỉ dám nói là chị đã chuyển đi, người ở nông trường không còn liên lạc gì nữa.

Hai ngày sau đấy, tôi lo lắng liệu người nhà tôi có ai cũng lại mò lên Ba Vì nữa không. Cách có bốn năm chục cây số, không quá khó tìm, nhất là tôi đã lộ ra tên nông trường kia. Nhưng công việc của đám ma và các thủ tục mọi người bày vẽ ra đã cuốn tất cả vào guồng. Kịch bản có thể đưa ra là cô em gái vụ trưởng đang ở nước ngoài không về kịp. Chuyện đó bây giờ quá phổ biến. Đấy là kịch bản của phái đoàn ở nhà tôi đưa ra, chứ không có đến tai hai vợ chồng anh Bộ. “Mà nhà nó cỡ ấy rồi, lắm thủ đoạn, chả nghĩ khôn hơn đám ngu dân nhà quê bọn mình. Còn phải dạy đĩ vén váy”.

Anh Bộ đã đích thân vào nhà tôi “xin lỗi các cụ” và mời phái đoàn đi đưa tang. “Chả cần anh mời chúng tôi cũng đến, nhé. Anh đừng tưởng anh làm to mà chúng tôi phải xin phép đưa ma anh mình”. Nói vậy nghĩa là đã xuống nước, bỏ qua cho rồi.

Đám tang diễn ra ở nhà tang lễ thành phố. Cả đường phố trước mặt trông ra vườn hoa kẹt mất một tiếng đồng hồ. Xe hơi nhích từng mét một. Vòng hoa ùn ùn mang vào trong.

Lẽ ra bố tôi, chú và bà cô tôi cũng đứng vào hàng cùng gia đình anh Bộ nhưng phần vì chị Hoa muốn đám ma kiểu Tây để tiếp đón các vị lãnh đạo, phần vì phái đoàn nhà tôi vẫn giận nhà anh chị, nên chỉ thắt khăn ngồi ở bàn uống nước gian bên cạnh. Mọi người sẽ chỉ xuất hiện lúc đọc điếu văn và di quan. Chú tôi buông một câu. “Ngồi đây tao được rít thuốc lào thoải mái”.

Đám ma dường như vô tận với liên tục các đoàn vào viếng. “Đám ma thành phố có khác. Sao họ đi đám mà ăn mặc cầu kỳ thế hở Bảo. Không có bát âm, đưa đò gì. Mất gốc hết cả. Cái họ này rồi biết đi về đâu”.

“Ngay từ đầu là tôi đã phản đối việc hỏa táng rồi. Ai lại để ông cha mình chết cháy bao giờ, thành ra chết hai lần à?”

“Thế sao bà không vào nhà nó mà cản?”

“Ơ hay, ông là chú nó, ông phải vào chứ. Tôi nói, nó lại bảo mụ già nữ nhân ngoại tộc lắm điều”.

“Mà con Xít ba hồn chín vía đâu không về. Trời hỡi ôi, có phải thời chiến tranh đâu mà cha con ly tán… Hờ ơi…”

Cô tôi nức lên, khóc ầm ĩ. Những người phụ nữ có vẻ dân công sở đang xếp hàng vào viếng nhìn cô vẻ khó chịu. Chú tôi gắt. “Khóc lóc cái giề! Im!” Cô tôi thôi kêu la, chỉ còn nức nở.

Rồi cũng đến lúc làm lễ truy điệu. Phái đoàn nhà tôi lục tục thả chân xuống đất tìm dép. Cấp phó của anh Bộ đứng đọc điếu văn, điểm lại cuộc đời người quá cố. “Ông Bỗ hóa ra cũng hoạt động cách mạng oách phết nhỉ. Hơ hơ”. Chú tôi cười khục khục. “Điếu văn viết hay quá, thằng Bảo mày nhớ xin lại cho tao mang về quê nhé”.

“Trưởng nam Trần Minh Bộ, vợ Lê Kim Hoa cùng thứ nữ Trần Thị Xinh có lời cảm ơn các ban ngành đoàn thể cùng bà con cô bác gần xa đã đến đưa tiễn cụ Trần Văn Bỗ về nơi yên nghỉ cuối cùng”. Vợ chồng anh Bộ cùng một người phụ nữ trùm khăn xô bước ra.

“Ơ? Con Xít đấy à?”

“Có phải con Xít đấy không, Bảo?”

Tôi căng mắt ra nhìn, nhưng chỉ thấy cái lưng của người phụ nữ quay lại. Chị Xít đổi ý rồi sao? Nhưng dáng người phụ nữ này trông rất thành thị, không có giống người phụ nữ ở nông trường hôm kia. Hay đây mới là chị Xít thật? Có khi tôi nhầm cũng nên.

Tôi len người lên phía trên để nhìn cho rõ. Chắc chắn là một người tôi chưa gặp. Mấy người phái đoàn nhà tôi cũng cố kiễng chân lên nhìn từ phía sau.

“Xít! Xít ơi!” Cô tôi kêu lên, nhưng người phụ nữ chít khăn xô chỉ rung rung cái đầu. Mấy người đứng bên cạnh cô tôi giơ ngón tay ra hiệu im lặng. Anh Bộ cất tiếng, nói anh em chúng tôi xin cảm ơn các ban ngành đoàn thể…

Có một tiếng gào thét nào đó vẳng lại từ ngoài sân nhưng mau chóng bị bạt đi khi tiếng nhạc kèn trỗi lên. Quan tài được khiêng ra. Khi đám đi ngang qua sân, bỗng một người phụ nữ lao vọt tới, kêu thất thanh. “Bố ơi!”

Một cảnh tượng huyên náo diễn ra. Chị Xít – người tôi đã gặp – xông vào quan tài, lăn lộn kêu khóc. Mọi người xôn xao. Tôi không kịp nhìn phản ứng của anh Bộ chị Hoa nhưng đã thấy mấy người bảo vệ nhanh chóng áp tải chị Xít đi. Tiếng chị vẳng lại đầy oán hờn. Cả nhà tôi chạy theo, hút bóng chị ở góc phố bên cạnh. Rồi một cái xe ô tô đưa chị đi mất. Cô tôi ngồi phịch giữa đường, gào khóc ầm ĩ. Ai nấy bối rối trước cảnh một bà già nhà quê khóc hờ.

“Bảo, mày lấy xe máy đuổi theo đi”. Chú tôi giục.

Một bà bán vòng hoa đứng trên vỉa hè cất giọng lanh lảnh. “Cái con đấy chuyên ăn cắp ở đám ma mà. Ở đây bọn tôi lạ gì.”

Mấy người nhà tôi nhìn nhau.

"Về đi cô ạ”. Bố tôi vỗ vai bà cô.

Tôi vẫy taxi. Mọi người thất thểu bước lên. Cách đó vài trăm mét, đoàn xe đi xuống đài hóa thân đã chuyển bánh. Dòng xe máy bị tắc lúc nãy giờ rùng rùng chuyển động phía sau.

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ