Thứ Sáu, 29 tháng 3, 2013

Dọn Vườn: "hát quanh đầu gối cũng không hay gì"


Hôm nay có bài điểm sách của chị Thu Hà trên báo Tuổi Trẻ, xin post cùng lời giới thiệu của anh Trần Chiến, dưới là bonus vài số Dọn Vườn từ 50 năm của mục này trên báo Văn Nghệ. Minh họa và bìa của Đặng Hồng Quân.


Tự trọng là tự nhặt rác nhà mình

TT - Chuyên mục hài hước và bền bỉ nhất của một tờ báo từng lừng danh trong làng văn hóa nước nhà thuở chưa có Internet và những năm đầu manh nha báo mạng vừa được Phan Thị Vàng Anh và Nguyễn Trương Quý tập hợp, tuyển chọn để in thành hai tập sách dày dặn.

Ðó là mục Dọn vườn trên báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam.


Hai tập sách với gần 1.000 trang chọn nhặt lại những sạn, những cỏ dại, những hoa trái mùa, quả độc đủ loại từ hài hước, quen miệng đến dị hợm, khó lường trong cách sử dụng tiếng Việt suốt 50 năm (1955-2005) đã được những người làm vườn kỳ công, nghiêm nhặt và phải nói là khá uyên bác của tuần báo Văn Nghệ cần mẫn nhặt ra trong vườn văn nước nhà.

Nhặt ra, và dẫn dắt bằng những lời bình dí dỏm, hài hước, nhiều khi hơi cay nghiệt, riết róng nhưng chính xác, chính là một trong những cách làm cho mục Dọn vườn trở nên có sức hút lâu bền như thế, dù chỉ là một chuyên mục rất nhỏ trên một tờ báo lớn (một thời). Chẳng từ một ai, từ cây đa cây đề như Nguyễn Công Hoan, Huyền Kiêu, Trinh Ðường, Tô Hoài... đến những cây bút “thời danh” Nguyễn Ngọc Tấn (Nguyễn Thi), Nguyễn Minh Châu, Ðoàn Giỏi. “Luật chơi” rất đẹp: ai cũng có thể sai, ai cũng có thể bị giễu và ai cũng có quyền sửa.

Cũng có thể dễ dàng nhận thấy dòng chảy ngôn ngữ đã đổi thay như thế nào khi đọc từ tập 1 qua tập 2, ngôn ngữ của đầu tập 1 và cuối tập 2 đã xa cách nhau nhiều. Và cách “dọn vườn” cũng khác nhiều. Thủ phạm gieo cỏ dại, xả rác ngôn từ thường là: “một tờ báo”, “tác giả LXT”, “mục điểm sách trên VTV1”, không còn cụ thể, không còn đích danh, và lời bình cũng trung tính hơn, đồng nghĩa với ít ấn tượng hơn.

Dẫu thế, Dọn vườn (NXB Trẻ) thật sự là một cuốn sách cần, với những người “phu chữ” (Lê Ðạt), và là một tổng kết thú vị với tất cả những ai yêu “tiếng nước tôi”. 

Thu Hà



Lời giới thiệu của nhà văn Trần Chiến

Một tờ báo “đứng được” thường phải có vài chuyên mục để người ta tìm đọc. “Dọn Vườn” trên Văn Học, sau này thành của báo Văn Nghệ - là một chỗ như vậy. Tồn tại đã trên 50 năm, “dòng chảy nhỏ” này ăn theo dòng văn lớn, lại gạn đục khơi trong cho nó, có vẻ khiêm nhường mà xứng đáng được một vị trí quan trọng. Và để “cầm” nó cần bao nhiêu phẩm chất nghịch ngược nhau: giầu kiến thức, giỏi văn phạm (tiếng Việt và cả tiếng nước người), tự tin, nghiêm nghị nhưng không kiêu ngạo. Hóm hỉnh, tinh quái mà chả thể nghiệt ngã quá như những Phong Hóa, Ngày Nay xưa, nhưng tôn trọng đối tượng đến mức rụt rè lại ra nhạt.

Thưở đầu ra mắt, người dọn vườn ký “Như Trạng”, vừa có ý tự giễu mình, vừa thách thức “tôi sẽ đụng vào các anh đấy”. Tự sự năm 1964 cho biết công việc có mục đích cao đẹp, nhưng cũng có khi lỡ tay ngắt phải mầm, hoa, nụ, và dứt khoát không chấp nhận lối viết như nói. Chuyên mục “gây sự” với sách, báo, tạp chí, thoại sân khấu, thuyết minh phim, chú thích tranh ảnh, đài phát thanh, sau này là truyền hình. Nhưng văn chương mạng bây giờ thì không đụng đến rồi. Một lao động phức tạp: nhặt nhạnh, so sánh, đối chiếu, xác định mức độ chê, cách thể hiện… Nhiều tên tuổi bị động chạm: Huyền Kiêu, Phạm Hổ, Nguyễn Ngọc Tấn, Thép Mới, cả ông kỹ chữ Nguyễn Tuân. “Văn lâm” gai góc, có một thái độ thế phải gan góc lắm, mình là ai chắc đâu đó tường chứ.


Trí nhớ hay phản bội con người, tập sách này nhắc lại cho ta quá khứ chữ nghĩa, cho những nhận xét thú vị.  Số lượng ấn phẩm một thời đáng coi là “kinh dị”: Từ tuyến đầu tổ quốc / Mười lăm vạn bản này / Nhân với nửa trang sai. Hay: Toàn những sách in từ ba đến trăm năm chục nghìn một lượt / Tính số tròn, phí mười một vạn rưởi trang dư / Đủ để in hơn nghìn bản một tập thơ / Dày hàng trăm trang đâu phải ít. Chuyên mục cũng cho thấy một thái độ làm báo hẳn là quá chỉn chu, nghiêm túc so với bây giờ. Những “tít” bắt mắt, lời bình cười chảy nước mắt, như với thơ Lưu Trọng Lư: Đánh Tây mẹ đã sáu mươi / Bây giờ đánh Mỹ mẹ mười bẩy ngoai. Thậm công phu là một “kịch thơ” ghi ý kiến bạn đọc khi đến hiệu sách Quốc văn…, có khi còn khó hơn sáng tác. Dấu ấn người phụ trách từng thời kỳ cũng khá rõ: những năm tám mươi tiêu đề rất nghiệt ngã: “Chủ nghĩa khoa trương”, “Cẩu thả và thô thiển”, “Trở lại cái bệnh thích khoe chữ”… Dăm bảy năm gần đây nó “tử tế” hẳn: “Nhầm lẫn”, “Lỗi tác giả, lỗi biên tập, lỗi in?”, “Đôi chỗ nói sai, dịch sai”… Và lượng bài dài, dạng trao đổi đưa vào đã làm tính chất chuyên mục bị đổi đi. Dường như sự cực đoan cần thiết đã hiếm.

Quá trình dọn vườn cho thấy sự thay đổi của ngôn ngữ ta, dù là trong sáng tác hay truyền thông đại chúng. Văn chương trước đây thiên về tả, câu thường một mệnh đề, chữ thì tránh những “tầng nghĩa” nước đôi. Câu bị động, lối diễn đạt lai bị phê phán. Giờ thì ai mà dọn nổi những “ca sĩ đến từ Thanh Hóa”, “A. đứng sau B. với 3 điểm kém hơn”, “Tôi được dạy bởi giáo sư Z.”…  Những dấu chấm phẩy, than, nhất là chấm lửng xuất hiện hằng hà sa số và không thể xác định được “chức năng”. Người Dọn Vườn bức xúc, đưa ý kiến của nhà nghiên cứu Văn Tâm, rằng đây là “quốc nạn văn tự”.

Đúng thế chăng? Truyền thông phát triển, thế giới hòa nhập, một ngôn ngữ hiếu động như tiếng Việt đang và sẽ còn ngổn ngang. Đề ra bộ luật chuẩn hóa cách viết lúc này e xa xỉ quá, vì chính những cá nhân, cơ quan hữu trách cũng không thống nhất với nhau. Cho nên sự tồn tại của Dọn Vườn Văn Nghệ là rất cần thiết, để chỉnh đốn, khơi gạn phần nào dòng chảy chữ nghĩa đang rất chi ồ ạt.

Trần Chiến


Một vài số Dọn Vườn từ hồi đầu:

Trong vườn thơ vài bạn chuyên nghiệp
Dọn Vườn, số 51, 17-4-1964

“...Tóc bố chớm điểm sương
Tuổi con vừa mười tám...
...Hai mươi năm xưa khổ
Lại bỗng nhiên kéo về
Chồng an trí Trà-khê
Vợ ở nhà chết đói”.
(Tựu trường, Văn Nghệ số 38)

- Đọc lại bài thơ trên, tác giả Vĩnh Mai giật mình, bèn xin tòa soạn cho tự dọn như sau:

Vợ chết hai mươi năm
Con mười tám tuổi
Ôi! Cái chuyện oái oăm
Chỉ Vĩnh Mai hiểu nổi.


Mìn anh múa nhảy
Trên đường số Năm
Đạn anh đi thăm
Đầu Tây Bình-Trị
Súng anh rủ rỉ
Tận chiến khu Đ
Lại gọi nhau về
Hát quanh gối Đảng”.
(Bài hát người say hương, trong tập Sáng Xuân của Huyền Kiêu)

Đảng ta nào có nằm đâu?
Mà cần đến gối gối đầu hở ông?
Bảo “đầu gối” cũng không xong,
Hát quanh đầu gối cũng không hay gì.


Chín khắc dài bao nhiêu cảnh xót đau”.
(Trong đêm khuya miền Nam, Phạm Hổ, trang 1)

- Ta thường nói: “Đêm năm canh, ngày sáu khắc”. Nhưng ngày của Phạm Hổ lại có đến chín khắc kia! Không biết anh đã lấy thêm ba khắc ở đâu nhỉ?


Đánh Tây mẹ đã sáu mươi
Bây giờ đánh Mỹ mẹ ngoài bảy mươi”.
(Một bài thơ của Lưu Trọng Lư đăng trên báo Nhân Dân trong tuần lễ “Vì miền Nam ruột thịt”)

- Nghe đâu tác giả “Tiếng thu” vốn là một nhà thơ rất coi trọng nhạc điệu trong thơ, mình có ý định chữa hai câu thơ trên như sau:

Đánh Tây mẹ đã sáu mươi
Bây giờ đánh Mỹ mẹ mười bảy ngoai.


Xà-lan kéo than, tàu thủy kéo còi”.
(Bạch-đằng, tập tráng ca của Trinh Đường)

Xà-lan kéo than: đúng!
Tàu thủy kéo còi: không sai!
Nhưng sao nghe chẳng xuôi tai
Tưởng kéo cái còi như kéo thuyền than!


Rộp ràng từng nhịp cánh tay
Mồ hôi không cánh mà bay sáng lòa”.
(Biển lặng, trong tập thơ Quy-nhơn của Vương Linh)

Mồ hôi… mà bay sáng lòa?
Đây là hiện thực hay là… phép tiên?


Dọn tiếp Vườn Xuân
Dọn Vườn, số 96, 26-2-1965

+ “Số báo Cứu Quốc 1945, xuân Ất Hợi”.
(Một đầu bài chữ lớn ở báo Cứu Quốc số 3208)

“Đói Ất Dậu” ai mà không nhớ
Riêng ông quên lịch sử hay sao,
Mà ông cứ “Ất Hợi” ào?


Năm Canh Sửu (1950)…, năm Tân Mão (1951)…”
(Cái Tết ý nghĩa nhất của tôi, Cứu Quốc số Xuân)

Mới Sửu đã đến Mão
Ôi! Nhớ huyền nhớ hão!


Nhà cửa phong quang, ai chả mến thủ đô lịch sự.
Mọi người tiết kiệm, hẳn tự hào Hà Nội văn minh”.
(câu đối của Huyền Thanh, Thủ đô Hà Nội số Tết)

Nhà, một danh từ, đối với mọi, không phải danh từ! Đối ẩu thế mà được, thì ai chả mến chắc là đối với hẳn tự hào cũng được, bất chấp cả phép đối từ trước đến nay! Có lẽ có cái lối đối “linh động” ấy, nên mới có hai câu thơ sau đây chăng:

+ “Biển trưng – ‘câu đối’ tuyệt hay
Toàn là: ‘Mỹ cút khỏi ngay tức thì’”.
(Cái xuân trong nớ “xuân” ghê, của Song Phi, Thời Mới số Tết)

Một vế cũng gọi đối a?
Đã ngay còn cố kéo ra… tức thì?
Hay nhại cổ, kiểu Song Phi?
“Vợi tôi con gái, nữ nhi, đàn bà,
Nửa đêm, giờ tí, canh ba…”?


Xem một tranh vẽ ở Thời Mới số Tết, thấy câu chú thích: “Lý sự đầu năm của tên đạo trích Mỹ”, Người Dọn Vườn buột miệng ngâm: 

Đạo trích hay là đạo chích đây?
Tưởng nên chỉ trích cái sai này!
Dọn Vườn nào muốn châm cùng chích
Nhắc khẽ mà thôi, tránh nói cay.


Vốn sẵn nghề nông trong tay từ thuở 13, 14 tuổi, nên em biết cái nạn thiếu phân như người thiếu cơm ấy”.
(Cảm nghĩ đầu xuân, báo Phụ Nữ số Tết)

- Sao không viết “Lúa thiếu phân như người thiếu cơm” cho nó bớt… rùng mình đi một chút nhỉ? Cách ví von không “sạch sẽ” trên đây làm mất hương vị ngày xuân đi nhiều, phải không các chị?


Miền Nam nửa khúc ruột già
Nụ non đang kết thành hoa xuân hồng”.
(thơ của Thợ Rèn, báo Nhân Dân số Tết)

“Khúc ruột miền Trung” nghe sao tha thiết
“Khúc ruột già” đã kém tinh khiết lại chẳng
                                                  thiết tha…
Nụ, hoa trong ruột, ối dà! Lạ thay!


Do cẩu thả nên vô lý
Dọn Vườn, số 3, 10-1-1976

“Ðến chiều, Bảng đi công tác về, thì đã thấy lũ con đứng đón anh từ gốc đa trên đê”
và sau một hồi
“bát đũa nhấc lên, đặt xuống. Múc thêm canh-Cạy cháy-Rót thêm tương”
bỗng
“Ngoài sân nắng làm nỏ những cọng rơm”
“một thằng gà trống kênh kiệu… gáy lên một tiếng thách thức giữa trưa”.
(Mùa gặt đến, báo Văn nghệ số 608)

Phải chăng say mộng Nam Kha,
Ác vàng sắp lặn, thoắt đà chuyển…trưa!


“Cô gái khiêng băng ca đi trước khe khẽ hát bài “Trai núi Quyết, gái sông Lam”. Giọng trầm hùng. Tùng mơ màng trong tiếng hát dịu dàng trong trẻo ấy”.
(Ngôi sao sông Lam, Nhà xuất bản Lao Động, tr. 125)

- Mới hát khe khẽ mà thành trầm hùng!
Giọng trầm hùng lại dịu dàng trong trẻo!
Cô gái sông Lam thật lắm tài, đáng được tuyển vào văn công. Hay tại tác giả, cũng như nhân vật Tùng của mình, mải mơ màng vì người đẹp, cho đến lúc cầm bút tả lại vẫn còn chưa lai tỉnh?


“Ðôi mắt (của cô Tuyết – N.D.V.) xanh như hai hòn ngọc bích lóng lánh dưới hai hàng mi dài”: “Ðôi mắt(của bà Ðược – N.D.V.) bồ câu hiền từ, biếc xanh dưới đôi lông mày như kẻ”: “Mai mở căng đôi mắt xanh lấp lánh như bừng lên một sự áp đảo mạnh... Chiến đã phải công nhận Mai cũng là một cô gái khá sắc nước. Ðôi mắt lá răm của cô ta đen láy”. 
(Sách trên, trang 6, 17, 59, 68...)

- Phải chăng dân xứ Nghệ ta trẻ già đều có những cặp mắt xanh như đầm? Mà cái cô Mai kia vừa đáng yêu lại vừa đáng sợ: đôi mắt cô ta vừa xanh lấp lánh đó, lại đã đen láy rồi!

...

Dọn Vườn, số 14, 5-4-1986

+ “Anh Ba-đa-đô Rô-man ''30 tuổi' (tr. 292) có 'hai người chị gái rất ồn ào', 'vừa tới tuổi dậy thì, giống như hai con ngựa non không lúc nào chịu đứng yên'”.
(Truyện dịch Ký sự về một cái chết đã được báo trước, NXB Văn Học, 1983)

- Đáng lẽ dịch là em gái thì người dịch lại dịch là chị gái. Nếu G.G.Mác-két, tác giả cuốn Một trăm năm cô đơn mà biết chuyện ở Việt Nam nữ nhân vật của ông ở tuổi dậy thì “như ngựa non” lại là chị của chàng trai ba mươi tuổi, như vậy là bằng gấp đôi tuổi dậy thì của người thường thì hẳn tác giả phải đổi tên cuốn sách của mình thành hai trăm năm cô đơn.

Thứ Tư, 27 tháng 3, 2013

Phở hay là một chuyện vặt


Bài đã đăng báo Phụ Nữ thủ đô, dưới đây là bản đầy đủ.

Nghề nấu phở ở Hà Nội chắc cũng sẽ bình đẳng với những nghề khác nếu như không có được long trọng ngưỡng mộ từ đám đông thực khách từ một thế kỷ qua. Sự lên ngôi của phở nằm trong cao trào thứ gì cũng thay đổi đột biến của những thập niên đầu thế kỷ, từ trang phục, nhà cửa và ngôn ngữ. Chữ viết và lối văn hiện đại từ lúc còn réo rắt biền ngẫu như văn Phan Kế Bính đã kịp gọn gàng ở Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách và rồi tung tăng thoải mái trong Thơ Mới hay truyện Vũ Trọng Phụng. Phở như những gì còn sót lại trong vài bức ảnh đầu thế kỷ hay mô tả của các nhà văn Thạch Lam, Nguyễn Tuân… là sự lưu động của nó. Một gánh phở có hai cái thùng gỗ, có khả năng một cái đựng bếp nấu và thức pha chế, cái kia là chạn đũa bát và đồ lau rửa, cứ thế trên đôi vai của một người đàn ông (Việt hay Hoa không rõ) phiêu dạt các ngả đường Hà Nội.

Trong thiên truyện Hai đứa trẻ (1938) của Thạch Lam, gánh phở cũng bình dị như một gánh hàng rong thông thường với “tiếng đòn gánh kĩu kịt nghe rõ rệt, khói theo gió tạt lại chỗ hai chị em; bác Siêu đã tới gần, đặt gánh phở xuống đường. Bác cúi xuống nhóm lại lửa, thổi vào cái nứa con. Bóng bác mênh mang ngả xuống đất một vùng và kéo dài đến tận hàng rào hai bên ngõ. An và Liên ngửi thấy mùi phở thơm, nhưng ở cái huyện nhỏ này, quà bác Siêu bán là một thứ quà xa xỉ, nhiều tiền, hai chị em không bao giờ mua được”. Gánh phở là một ẩn dụ về Hà Nội ở cái ga xép tỉnh lẻ.

Cái lạ của phở chính là chỗ đứng của nó trong cộng đồng. Nó là một thức quà đặc biệt nhưng hiện diện trong hình thức bình dân. Nguyên liệu của phở không thực sự khó kiếm hay đắt đỏ, thậm chí cũng sợi từ gạo ra như bún, mì Chũ, bánh đa, cũng hành, cũng thịt, dù là thịt bò do ảnh hưởng Pháp, nghĩa là xôi giống xôi, thủ giống thủ! Những điều này là ưu thế để phở đứng lại được trong thế kỷ hai mươi chiến tranh liên miên và kinh tế nhiều khúc khủng hoảng nặng nề. Nó nhinh nhỉnh hơn các món khác ở cách kết hợp luôn “nồng” hơn: mỡ màng hơn, mùi nặng hơn, vị đậm hơn, luôn phải nóng sốt nếu như không nói là nóng hơn. Nghịch lý ai cũng chỉ ra được ở đây: người ta tìm kiếm và định nghĩa sự tinh tế ở cái nồng, cái gây mà mỡ béo của thịt bò đem lại, hay cái mùi quá mức áp đảo của hồi, quế, thảo quả và dăm gia vị đi kèm.

Người Hà Nội một mặt rất dị ứng với những mùi họ cho là hôi: mùi nước thải, mùi nước tiểu, thậm chí mùi cơ thể của những người có phong tục khác như người Ấn, người Hồi giáo hay kể cả người Tây, nhưng mặt khác họ lại sống “hòa thuận” với môi trường sống cống rãnh nồng nặc, khu vệ sinh chia năm sẻ bảy hay cảnh đái đường bên các gốc cây, bờ tường. Vì thế ta sẽ không lạ gì việc họ có thể không chịu nổi mùi cà ri ngầy ngậy, mùi phó mát thối, nhưng lại đòi đã là mắm tôm thì phải đậm gắt lên khi vắt chanh vào, hay đã là phở bò thì mùi phải thật gây nồng cái hoi hoi của xương ống chân bò để đi từ đầu phố đã thấy hoan hỉ cái bụng trước khi thấy làn khói bốc lên từ nồi nước dùng. Vì thế những hàng phở lối mới, sạch sẽ nhờ không ám khói, không có chuyện dính dấp về vệt váng mỡ bò nên ngang nhiên lắp cửa kính, khó chinh phục dân Hà Nội. Bởi vì những hàng phở có cửa kính này không có cái mùi cồn cào kia. Dí sát mũi vào cửa vẫn không thấy mùi gì khác thường. Rắc rối cho việc đánh giá một quán phở ngon cũng tựa như ép cho được tính cách người Hà Nội vào một rọ.

Khi ông Joel Brinkley, giáo sư ĐH Stanford, lập luận rằng người Việt hung hăng do ăn nhiều thịt và không tha bất cứ động vật gì, ông này dựa trên một số hiện tượng khá nổi bật trong hành vi ứng xử của người Việt. Mặc dù cái suy luận có phần chập cheng này không thuyết phục được nhiều người, chúng ta hẳn thấy, ẩm thực đã là một cái cớ thú vị. Nếu nói ẩm thực làm nên tính cách cộng đồng thì cũng có thể luận rằng bát phở bò hun đúc khí chất người Hà Nội! Phan Thị Vàng Anh, trong tập thơ Gửi VB, viết Hồ Gươm như hũ nước cốt tinh thần Hà Nội, thì tôi thấy cái hồ này cũng giống như một bát phở bò đã sánh lại vì ninh quá nhiều khí chất, nỗi niềm và ước vọng. Chiều sâu của bát phở khổng lồ này không quá mét rưỡi nhưng ai cũng nghĩ nó đầy bí hiểm, “nhiều người lái” (từ lóng để chỉ bát phở nhiều thịt thời bao cấp, khi thịt hiếm vì phải phân phối).

Nhiều khi tôi cũng nghĩ người Hà Nội ăn phở cũng giống như cá hồi phải lội ngược dòng về nguồn để đẻ trứng. Nếu bát phở Hà Nội thiếu sự nồng gắt thì không thành phở. Cái khả năng nhận ra đâu là bát phở ngon, nói một cách hình tượng theo lối đám viết lách là phải có “hoa lưỡi”, thực tế có sự hô ứng từ các món sợi chan nước khác ở đất này. Các món sợi chan nước khác như kính thưa vài chục loại bún, từ bún bung, bún thang, bún riêu, bún ốc, bún măng ngan… đều có đặc điểm là nước dùng hài hòa, thanh dịu, tròn vị. Chúng không cần cho đường mới có được vị ngọt. Chúng cũng phải có nguyên tắc về thịt nào đi với rau hay rau thơm nào, ví dụ ốc thì cần tía tô, kinh giới, chân giò của bún bung cần dọc mùng, ngan thì ắt phải có măng và lá mùi tàu.

Tôi cũng chưa hiểu logic của bát phở bò có lá mùi tàu, mà miền Nam gọi là ngò gai. Vậy mà một bộ phim truyền hình của Đài Truyền hình TPHCM hợp tác với Hàn Quốc đã cho nhân vật chính được vinh danh vì món phở có ngò gai. Mùi tàu là một loại rau gia vị có mùi hăng và hơi cay vì nhiều tinh dầu, sẽ rất hợp khi đi với măng hay lòng lợn tiết canh, hai món đã quá ư quen thuộc với người miền Bắc. Bát phở bình thường đã có đủ thứ mùi, thêm một mùi hăng dễ lái người ta sang một món khác, lại át mất vị hành ta, vốn là thứ không thể thay thế được trong phở.

Trong dàn hợp xướng của các món sợi chan nước ấy, phở đặt hẳn hai chân sang vùng nguyên liệu ngoại lai: thịt bò. Nếu các món kia xuất xứ rõ ràng từ vùng quê xung quanh Hà Nội xưa, những con ốc được mò lên từ các ao đầm hay ruộng trũng, những chế phẩm từ thịt lợn vốn thuận tay với đầu bếp Việt, thì bò chỉ có ở Hà Nội, phát sinh từ những món Tây. Nhưng kỳ lạ, phở không bị/được xem như một thứ tiêu chuẩn văn minh Âu hóa, mà ngồi cùng không gian nhộn nhạo xô bồ của chợ búa Hà thành.

Một người bạn của tôi, nhà văn Nguyễn Xuân Thủy, mặc dù vậy lại không thích ăn phở. Điều đó cũng không phải là chuyện lớn vì anh cũng vẫn sống bình thường ở Hà Nội, không cảm thấy thiếu hụt gì. Phạm Tường Vân, một nhà báo từng ở Hà Nội, nay đã vào Nam, thì kết luận: “Phở chỉ là một phần rất nhỏ của cuộc đời” như một cái nhún vai với thành phố cũ, nơi hàng bao nhiêu người đã bỏ đi mà lòng chẳng hiểu sao cứ nấn ná mãi, đâm cáu kỉnh với chính mình.

Trong thập niên đầu của thế kỷ hai mốt này, một bằng chứng cho thấy hành trình bảo lưu giá trị phở có thể thấy ở việc hàng phở “hợp tác xã” 2D Lý Quốc Sư chuyển địa điểm. Sau khi hiệu phở nổi tiếng này giải thể, người Hà Nội thấy có hiện tượng đến cả chục quán phở khắp thành phố lấy tên Lý Quốc Sư. Ngay phố này, cũng có một quán ở số 10 và một chuỗi quán khác có cùng màu sắc biển hiệu tinh khôn xí chỗ, nhưng chất lượng và lối phở quá ư khác biệt với quán kia. Người ta nói rằng con của một ông “chủ nhiệm hợp tác xã” mở hai quán ở Kim Mã và Láng Hạ mang tên Thành Long, nhưng như một cái dớp, phở cứ đi xa quá hai cây số từ Bờ Hồ thì ăn nhạt nhẽo hẳn. Người ta lại thấy bóng mấy nhân viên “cán bộ phở” cũ ở quán cuối phố Bà Triệu và 27B Phùng Hưng, cũng đề biển Phở Lý Quốc Sư.

May sao, quán sau cùng cũng thỏa mãn được tôi trong việc ăn một bát phở ra trò: bát đầy đặn, bánh vừa đủ, thịt tái mềm, gầu nạm to bản, nước êm. Chỗ ngồi không phải là ưu thế của nó, tuy nhiên việc mấy cô chủ vẫn mặc áo blu trắng trực tiếp bốc thịt và bánh vào bát cho khách lại là cái “chân truyền”. Chân truyền thêm nữa, mặt mũi các cô hơi căng thẳng quạu quọ, cái căng thẳng của người đang tìm cách chăm chút cho người ăn một bát phở xứng đáng. Nó cũng giống như việc thưởng thức sự tinh tế từ cái mùi nồng gắt, gây gây của vị xương tủy bò ninh suốt đêm hôm trước và cả một thế kỷ qua. Kì quặc là, không có, lại thấy thiếu, dù có vẻ rất vặt vãnh.

Nguyễn Trương Quý

Thứ Ba, 12 tháng 3, 2013

Hà Nội của những cao bồi già

Trước khi giới thiệu cuốn tạp văn Con giai phố cổ, xin nhắc lại đôi nét về tác giả và cuốn Cơ hội của Chúa vừa tái bản (Bìa và minh họa của Kim Duẩn).


Nguyễn Việt Hà (sinh 1962) là một gương mặt tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam đương đại. Các tiểu thuyết Cơ hội của Chúa (1999), Khải huyền muộn (2003), tập truyện ngắn Của rơi (2004), tạp văn Nhà văn thì chơi với ai (2005), Mặt của đàn ông (2008), Đàn bà uống rượu (2010), Con giai phố cổ (2013) đều gây được sự chú ý của độc giả. Tác phẩm của anh được dịch in trong một số tuyển tập giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài. Gần đây nhất, Cơ hội của Chúa được dịch sang tiếng Pháp, NXB Riveneuve Éditions (2-2013).


Cơ hội của Chúa là một tác phẩm đầy ắp các không gian trong một hình thức đa diện nhất: truyện trong truyện, chuyện tình yêu, tình bạn, quan hệ tay ba, chuyện tôn giáo và thế tục, chuyện cuộc đời của các thế hệ sống ở một Hà Nội buổi giao thời khi bước vào giai đoạn kinh tế mở cửa những năm cuối thập niên 1980. Những nhân vật chính của tiểu thuyết tiêu biểu cho một thế hệ trẻ Hà Nội đã yêu và sống đầy khắc khoải nhưng cũng yếm thế buông xuôi. Nguyễn Việt Hà đã nói được trạng thái tâm lý của một thế hệ “mất mát”, cái trạng thái điển hình gặp ở nhiều nền văn học, nhưng trong Cơ hội của Chúa, nó mang cảm xúc của những góc phố Hà Nội đang biến đổi, cái biến đổi một đi không trở lại.


Nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến đã bình luận về văn chương của Cơ hội của Chúa: “…có một trong những câu nói hóm hay nhất, ý vị nhất trong văn học Việt Nam đương đại. Văn học Việt Nam sau 1945, không hiểu sao vắng hẳn đi sự hóm hỉnh, sự bông đùa,… rất hiếm những câu thể hiện sự tinh diệu của tinh thần. Tiểu thuyết Cơ hội của Chúa thừa thãi những câu hóm hỉnh, đùa giễu, về phương diện này có thể xem tác phẩm của Nguyễn Việt Hà là một cái mốc. Cảm hứng phê phán mang tinh thần hài hước khoan hòa sẽ tạo một vị trí đặc biệt cho Nguyễn Việt Hà trong văn xuôi Việt Nam đương đại”.

“Nhân vật phản-anh-hùng lớn nhất trong lịch sử văn học Việt Nam, Hoàng của Nguyễn Việt Hà đánh dấu đỉnh cao của một nền văn học thời bình. Hoàng còn là biểu tượng của một thẩm mỹ mới, không kém dũng cảm trong khi phần lớn độc giả Việt quá quen với các nhân vật văn học, dù ác hay thiện, đều phải có hành động và mục đích rõ ràng. Trong khi Tâm, Nhã, Thủy chắc chắn sẽ đi tìm khát vọng mới sau những cú sốc đầu tiên, Hoàng lại tiếp tục một cuộc sống mãi mãi là dang dở, không tốt không xấu, không bi quan không lạc quan, một cuộc sống như nó vốn thế.” – nhà phê bình Đoàn Cầm Thi.

“Bằng sự bỏ ngỏ một vai phát ngôn, ở đây có rất nhiều câu văn mở cánh cửa cộng thông sang người đọc, mở rộng sự liên đới của câu chuyện đến những câu chuyện khác ngoài nó, kể cả bằng sự gợi lên một tranh luận tiềm tàng. Một nhà xuất bản nhận xét văn chương của Nguyễn Việt Hà hấp dẫn giới trẻ. Có lẽ, về mặt hình thức - cái ‘vỏ ngôn từ’ ấy mang lại ấn tượng cởi mở và hội nhập rất hiện đại.” – nhà thơ Nguyễn Chí Hoan.

Túy quyền trong văn phong của Nguyễn Việt Hà có những chiêu thức rất đắt. Với Nguyễn Việt Hà, tôi nghĩ rằng chỉ riêng với lối viết túy quyền, đã đủ xác định đẳng cấp của anh: anh xứng đáng đứng vào hàng ngũ top ten trong văn học Việt Nam hiện đại.” – nhà văn Nguyễn Huy Thiệp.


HÀ NỘI CỦA NHỮNG CAO BỒI GIÀ 
(lời giới thiệu cho cuốn Con giai phố cổ)



Nguyễn Việt Hà đến giờ vẫn chưa thạo dùng email và càng không biết các thứ mạng xã hội. Anh là một con người của đường phố theo đúng nghĩa. Đường phố ở đây là của Hà Nội, một vùng Hà Nội cũng rất hẹp với khu phố cũ có bán kính một cây số từ Hồ Gươm. Tạp văn của Nguyễn Việt Hà là một thứ mạng xã hội riêng của anh, đủ thành phần, từ đám đàn ông, những gã khờ và mưu sĩ, rồi những nàng thơ của họ, đến những chuyện tình ái đọc lên sực nức đùa giễu. Tình ở một Hà Nội với những gã trai phố cổ mà như tác giả đã viết, “bọn họ thong thả ăn, tinh tế mặc, chầm chậm sống. Có bọn họ, Hà Nội hôm nay mới có nổi dăm bảy hàng phở ngon, vài ba quán cà phê thị dân sâu lắng. Bọn họ chẳng chịu là gì, sống bạc nhược nghệ sĩ nửa mùa, rồi trả ơn Hà Nội bằng cách quyết liệt tự nuôi cho mình những thói quen của bao đời Hà Nội.” Nguyễn Việt Hà vừa bảo, đó là “linh hồn” của thành phố này, vừa giễu “thăm thẳm mơ màng rêu phong tạo riêng một bản sắc”.

Đó chính là chân dung tự họa của Nguyễn Việt Hà, một gương mặt văn chương nổi bật của Hà Nội lúc giao thời hai thế kỷ và cho đến tận bây giờ, khi hàng ngày truyền thông “nghiện” nói về sự biến mất của cốt cách Hà Nội.


Tạp văn hay tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà là một món ăn pha chế nêm nếm các mùi vị đặc trưng, để đẻ ra những trang viết bảo là ê hề “tái nạm gầu gân” như phở bò cũng được, mà bảo là kênh kiệu “cam vắt không đường” cũng xong. Chúng lại có cái mùi Tây của những chai rượu mạnh uống “xếch”, những nhãn hiệu rượu mà tác giả hay dẫn vào văn của mình, và đậm đặc những tích văn cổ trong khi cũng rất dễ dàng thấy những triết lý Thiên Chúa giáo xoắn xuýt bổ trợ. Để rồi từ đó, Nguyễn Việt Hà đánh võng từ vỉa hè này sang cột điện kia, khiến cho Hà Nội trong văn của anh nhộn nhịp gấp bội. Nào đã ai thấy hai cái nhà mặt phố Hà Nội nào giống hệt nhau?

Hà Nội trong tạp văn của Nguyễn Việt Hà là một Hà Nội truyền từ những gã đàn ông gia đình buôn bán nhưng đầu óc lãng đãng như sương mù tháng Chạp bốc lên từ Bờ Hồ, hơi có tí phẩm chất giang hồ để thành ra những tay “cao bồi già”, cho đến bọn trai trẻ “nhất loạt đều mê gái sớm, thảng thốt mới có đứa lọt vào được đại học nhưng thông minh tài hoa lãng tử kiêu bạc thì không một thứ giai của vùng nào sánh nổi. Chỉ trong vài buổi cóp nhặt học truyền tay đã lập tức bập bùng ghita điêu luyện tán gái. Phải xem một thằng con giai xõa sợi tóc dài khàn khàn cầm đàn ‘quạt chả’ hát ‘Đau, từ đáy trái tim ta buồn đau... Đau...’ thì mới hiểu được thế nào là sự quyến rũ”. Không gian Hà Nội đầy hoài cổ ấy thực ra lại rất đương đại, cái ngày hôm qua sở dĩ sống động thế là vì cái kẻ đang sống hôm nay cũng rất thức thời. Họ lớn lên từ những mái nhà hôm qua “ngói thâm nâu”, hôm nay trưởng thành dưới mái bằng lợp tôn, họ vẫn ăn chơi bốc giời như thường. Nhưng đúng là Nguyễn Việt Hà khắc khoải nhiều về một giai đoạn vài chục năm trước, lúc sự ăn chơi của tuổi trẻ phố cổ “đầy trong trắng”, nghèo nghèo đơn sơ và mang gương mặt mộc không trang điểm.


Hãy xem tác giả nói về việc viết tạp văn của mình: “Tạp văn kiếm tiền bắt buộc phải lên gân. Thành ngữ bia hơi bảo ‘cổ có gân thành thần nói phét’, tạp văn kiếm tiền mà không biết bốc phét thì có nước húp cháo… Tạp văn thành sách không hiểu có oai và sang hơn không nhưng chắc chắn là đang thời thượng, bởi nó a dua chiều theo cái thói quen ngại đọc dài của độc giả”. Tuy ra giọng có vẻ coi thường thể loại này, nhưng bản thân Nguyễn Việt Hà đã có đến vài tập tạp văn, và là cây bút sung sức loại nhất của tạp văn đăng báo vài năm qua. Chính ở thể loại tạp văn, người đọc thưởng thức được khả năng càn lướt đề tài của anh, cũng như sự thông minh dí dỏm đặc trưng, để ai cũng nhặt ra được vô số triết lý đặc sệt tinh thần đường phố Hà Nội. Và ngay cả khi cần phải chứng minh kiến văn của mình, Nguyễn Việt Hà cũng có đầy ắp tra cứu Đông Tây từ chuyện cũ rích đến chuyện gần đây.

Vậy là theo tinh thần đương đại, tôi cũng xin mời độc giả “đăng nhập” vào thế giới mạng xã hội của Nguyễn Việt Hà. Nó kết nối sâu sắc với thế giới của Cơ hội của Chúa, cuốn tiểu thuyết đầu tay làm nên tên tuổi của anh vào những năm cuối thế kỷ trước. Người đọc của mạng xã hội này hẳn sẽ gặp nhau, kết bạn, yêu đương và tranh cãi ầm ĩ như thường.

Nguyễn Trương Quý

Thứ Tư, 6 tháng 3, 2013

Điểm sách: Nghề không ra nghề


Các biên tập viên của các nhà xuất bản giờ đây không còn thụ động chờ các báo ưu ái viết bài giới thiệu sách nữa. Và cũng không đợi các nhà xuất bản năn nỉ, nhiều báo lớn trên thế giới đã có mục điểm sách cực kỳ ảnh hưởng đến thị trường, ví dụ như tờ New York Times, tuần nào cũng có danh sách sách bán chạy. Dĩ nhiên là báo phải có những bài điểm sách, bình giá ít nhiều có tính định hướng.

Ở Việt Nam độ chục năm gần đây, việc điểm sách đã không còn là độc quyền của những tờ báo chuyên văn chương, mà gần như mọi tờ cũng đều ít nhiều dành thiện cảm cho sản phẩm hơi có phần cổ lỗ so với các mảng hát hò nhảy múa hay phim ảnh. Nói là thiện cảm cũng nghĩa là kính nhi viễn chi, gọi là điểm vài cuốn cho thêm phần sinh động mâm bát văn hóa của các tạp chí dành cho phụ nữ chẳng hạn. Từ thiện cảm đến thương cảm khá gần, thái độ của báo chí dành cho sách cũng như với những người già lạc thời. Lâu lắm rồi những cuốn sách không còn là trung tâm của những trang báo văn hóa nữa. “Anh là nhà văn ạ” đồng nghĩa với “gã ta làm cái nghề không ai làm”, và lâu dần các trang báo hay tạp chí cũng vô vọng trong việc bình giá cuốn sách nào hay về mặt văn chương. Đa số dành độ ba trăm chữ lọc từ thông cáo báo chí do nơi xuất bản phát ra, xóa bớt những chữ câu khách quá lộ liễu của người làm PR, để độc giả đọc nửa tin nửa ngờ: có đáng tìm đọc không nhỉ?

Tuy thế thiểu số còn lại, những người làm việc điểm sách vẫn cần mẫn hàng tuần, hàng tháng nhặt nhạnh những cuốn sách thích hợp để làm những người Mohican cuối cùng của giới phê bình. Người đọc đã không còn cậy đến những bài phê bình dài lê thê khô như rơm trên những tập san lý luận văn học, họ chỉ có thời gian liếc qua những bìa sách và những lời nhận xét ngắn gọn, trúng nhu cầu đọc của họ: đọc để giải khuây, để trải nghiệm văn chương, hay để biết cách nấu những món bánh kem chẳng hạn.

Nghề đọc sách để điểm trên báo có lẽ đã có thâm niên cả thế kỷ ngay từ khi báo chí hiện đại ra đời ở Việt Nam, nhưng phải đến gần đây, nó mới từ bỏ vị trí trên tháp ngà để trở thành bộ phận của nền giải trí phổ thông. Tirage thấp của những trang báo văn học cũng đã làm cho mục điểm sách nói chung bớt vẻ trịnh trọng, và những người làm việc điểm sách cũng thân thiện hơn với độc giả, nếu như họ được ghi tên bên dưới bài. Bài của họ chuyển từ những trang báo cuối tuần về blog, nơi có vẻ hợp hơn cả với phong cách điểm sách. Facebook dường như vẫn là nơi xô bồ, nhộn nhạo hợp với các loại hình giải trí sớm nở tối tàn hoặc các loại sách sống bám vào sự kiện. Những bài điểm sách trên Facebook hoặc lâm vào cảnh được dăm người “like” mà không ai comment gì đặc biệt, hoặc những comment kiểu “tem nè!” (rút gọn từ “bóc tem” – nghĩa là khoe mình là người comment đầu tiên và rất sớm) hoặc những câu khen nhanh đến mức đáng nghi ngờ khi người bình thường đọc chưa xong từ lúc tác giả post lên. Hoặc lịch sự: “Like đã, đọc sau”. Sau, có thể vài tuần, và cũng có thể không bao giờ.

Vậy là điểm sách vẫn cứ cổ lỗ như bao thập niên qua, khi mà bài điểm sách không có hình ảnh hay phương tiện nào phụ trợ, chỉ có trần sì non ngàn chữ hé lộ đôi chút nội dung và kịp đánh giá tư cách của cuốn sách. Ngắn vậy, chỉ tương đương hai, ba trang sách so với vài trăm hoặc nghìn trang sách, người điểm sách đã có thể tán tụng hoặc “dìm hàng” tác phẩm kia. Có công bằng không, khi cuốn sách ra đời là công sức của chẳng riêng tác giả mà còn cả đám biên tập, người đọc soát lỗi, người dàn trang, họa sĩ vẽ bìa, nhà in, người quảng bá của nhà xuất bản…

Nhưng cũng nên nghĩ tới sự công bằng cho người điểm sách tử tế khi họ phải đọc vài cuốn sách một tháng, nghĩa là không ít hơn nghìn trang, để lựa ra được một cuốn để giới thiệu. Nhiều khi cũng không thích thú gì vì không có cuốn thật sự hay, hoặc đơn giản là… chán đọc, trong khi đến hẹn lại lên, phải có bài như đã hẹn.

Ở đây kể tới những người điểm sách “chuyên nghiệp”, nghĩa là được các báo hay tạp chí dành hẳn mục riêng hoặc giao giữ thường kỳ. Nghe thì có vẻ oai nhưng thực tế thu nhập cũng chỉ ngang các mục khác, thậm chí không bằng các nhà báo viết về showbiz, lắm khi đã họp báo có phong bì, lại còn đi xem công diễn bằng vé mời, và viết bài giới thiệu lại có tiền nhuận bút. Còn những người điểm sách kiểu bài đặt hoặc viết vì thích, việc này lại phải cầu kỳ hơn ở chỗ bài phải tanh tưởi, có chất.

Những người điểm sách bây giờ có thể vẫn cận thị, đeo kính dày cộp nhưng nhất thiết phải thức thời với nhu cầu độc giả, đặc biệt không được tự ti với thân phận yếm thế của văn hóa đọc. Đã làm người đi hô hào người khác đọc, mà mình lại thủ cờ trắng sẵn là thế nào! Lúc nào hắn ta cũng phải tự diễn biến rằng văn hóa đọc không bao giờ lụi, dù có xuống cấp cũng chỉ là nhất thời, và việc mình đang làm là vĩ đại. Có thế, những trang điểm sách mới chinh phục nổi đám đông kiêu ngạo thờ ơ với sách nhưng lại khuỵu gối trước hào quang của các mỹ nhân trên sân khấu hay màn bạc. Người ta nói, sắc đẹp làm nghiêng nước nghiêng thành huống hồ đốn ngã người thường, chứ có ai nói văn chương nghiêng lệch được gì vào thời các trang báo đã nhiều phần ghẻ lạnh người anh em gần gũi của mình. Đến báo giấy còn vất vả tự cứu lấy mình trước sự lấn lướt của báo mạng kia!

Tất nhiên cũng đã có mỹ nhân in sách. Nàng có cuộc ra mắt sách khiến bất cứ nhà văn nào cũng ngạc nhiên rằng sách lại có thể chen chân với nhan sắc. Nhưng việc cứ phải lẵng nhẵng đính kèm cái thẻ “chân dài” vào bìa sách đã khiến cho nó khó chen vào mục điểm sách của những nhà phê bình nghiêm túc kia. Ở đấy, những bài điểm sách không có cách nào là vin vào câu chữ, vào cốt truyện, vào những gì thuộc về đặc tính của văn chương.

Đến đây, lại rẽ ra nhánh văn chương phổ thông và văn chương tạm gọi là tiền phong, thứ một số nhà phê bình tương đắc và được số ít độc giả tìm hiểu. Nhưng khái niệm hàn lâm đã không còn được chuộng, mà người ta có vẻ thích đọc đa dạng hơn. Phổ thông hay cao cấp lắm khi cũng lẫn vào nhau, Murakami và Mạc Ngôn từng là hai tên tuổi ăn khách ở Việt Nam và thế giới, nhưng đã cạnh tranh giải Nobel và ông Tàu đã thắng ông Nhật năm rồi đó thôi. Tình hình văn học còn như thế, chả trách bây giờ thắt lưng Hermes và túi LV tràn ngập đường phố Hà Nội, dù có thể là hàng Tàu đồng hương tác giả đoạt Nobel kia. Một hai năm gần đây, khi đã no nê và bão hòa việc đi shopping, cái túi xách nào hàng hiệu cũng đã nhàm, cũng dễ bị vớ phải hàng dởm, thì chọn mua một cuốn sách an toàn hơn hẳn, và nhất là làm sang một cách rất căn bản, nó tạo cho bạn một phong cách “hàn sĩ” đúng điệu. Mua cuốn gì, đọc thế nào, hàn thử biểu của các nhà điểm sách lúc này mới tỏ ra có ảnh hưởng. Lúc kinh tế sa sút, sách vở rút cục vẫn chung tình đến tội nghiệp, như một bà vợ luống tuổi vẫn không cằn nhằn gì khi ông chồng lăng nhăng khắp nơi đã về mái nhà xưa.

Tương ứng với phân loại văn chương, thì điểm sách phổ thông chủ yếu trên các tạp chí thời trang, nhất là thời trang phụ nữ, thì mỗi trang tạp chí điểm độ 3-5 cuốn, nghĩa là mỗi cuốn được độ 150-200 chữ, nghĩa là kịp thuật lại đề tài, tên tác giả và tại sao nên đọc. Nó ngắn đến nỗi các nhà điểm sách phải vò đầu bứt tai để có vẽ chân dung cuốn sách thì phải bỏ bớt mắt trái hay mắt phải, hay là chỉ vẽ mỗi cái miệng, nếu như cuốn sách được ví với một con người. Xin mách nước cho các độc giả của những mục này: căn cứ vào cách dùng tính từ của người điểm sách mà có thể suy ra năng lực của hắn ta. Những tính từ khiến bạn phải chú ý hơn bình thường, điều này chứng tỏ cuốn sách có thể đọc được hơn so với cuốn khác cũng hắn điểm. Nếu tất cả đều dùng những tính từ bạn đã thấy trăm lần thì tức là hắn bất tài, chứ không hẳn là sách dở.

Trong số các nghề ít người theo, thì điểm sách còn tồn tại là nhờ cái thói yêu sách cộng thêm chút điệu đà kẻ sĩ. Dăm ba bạn đọc ruột ra vào blog hay phần nào trên Facebook bàn tới bàn lui làm cho câu chuyện rôm rả hơn chút. Dẫu hơi hiu quạnh, nhưng cũng có vẻ đáng tin hơn cái lối nhấn Like trên Facebook nọ. Bạn đọc của những mục này lâu dần tụ lại thành một xóm, những câu lạc bộ yêu sách (bookaholic gì đó), đắm chìm trong mê cung ngôn từ và họ có “niềm vui khi điên mà chỉ những người điên mới biết được” – lời của nhà thơ Anh John Dryden được lấy làm đề từ cuốn Forrest Gump của Winston Groom. Theo biểu hiện bên ngoài, những người điểm sách và đồng bọn yêu sách đi theo không khác gì những kẻ điên bởi vì xung quanh không mấy ai chia sẻ được. Chỉ có mỗi ông Nguyễn Tuân nhớ đến họ khi nói: “Khi tôi chết, nhớ chôn tôi cùng một thằng phê bình!” Người thì bảo Nguyễn Tuân ghét bọn điểm sách, cáu quá mới nói thế, có người lại thi vị hóa bằng cách thêm vào vế nữa chẳng giống kiểu ông Tuân tí nào: “Để cùng đàm đạo văn chương”. Không biết chuyện trên có thật hay chỉ là giai thoại, nhưng ở nghĩa trang Văn Điển, bên cạnh mộ nhà văn là mộ của vợ ông. Vợ ông thì hình như không điểm sách hay viết phê bình bao giờ! Đến nguyện vọng của cây bút lớn còn bị bỏ qua như thế, trách gì số người điểm sách mỗi ngày một tụt chỉ tiêu.

Nguyễn Trương Quý
(Tạp chí Đẹp tháng 3-2013)

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ