Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2014

Phong Yên

Ta đi nhưng biết về đâu chứ
Đã dấy phong yên lộng bốn trời
(N.B)

Yên rất hay đi uống bia với hội con trai ở cùng nhóm. Con gái văn phòng đi uống bia giờ không lạ. Nhưng Yên thường chủ động rủ cả bọn ra quán. “Sao không rủ Thu?” Phong hỏi. Yên hờ hững, “Con mẹ ấy nghiện việc. Ngày này cũng cắm mặt vào máy tính đến tám giờ tối thì thằng nào lấy cho.”

Khác với vẻ khô khan của Thu, Yên da trắng, ngực to, môi cong, mắt lúng liếng. Yên có mặt chỗ nào là không khí tưng bừng chỗ ấy, làm mọi người cứ nghĩ Yên là trưởng nhóm tài chính chứ không phải Thu. Hồi Phong mới đi Tây về, làm trưởng nhóm nghiên cứu, Yên đã rất hưởng ứng các vụ ăn chơi do anh bày ra. Hội bia này toàn tầm cùng tuổi, cả hai đứa kỹ thuật viên có vợ con vẫn sống như thanh niên, uống đến nửa đêm về chẳng sao. Nhưng dưới mắt Yên, bọn con trai ấy ăn hại. Trừ Phong ra. Khác với các trưởng nhóm khô như ngói hoặc cau có ra cái vẻ lãnh đạo Tây học, Phong hay tếu táo đùa cợt. Thu khó chịu, “Đùa thô”. Cuối ngày thứ Sáu, Yên xông vào phòng Phong, phanh cúc áo ngực ra, khúc khích cười, “Anh ơi, mình hại đời nhau đi”.

Tất nhiên là Phong chẳng dại. Đùa tí cho vui thôi. Yên vẫn cười, vẫn uống bia như không có gì xảy ra. Đi hát karaoke, Yên chẳng biết đùa hay thật, ngồi rịt vào cạnh Phong, tay đi lạc lung tung. Phong chẳng vừa, cũng cấu véo lại, ý muốn bắn tín hiệu chỉ đùa thôi đấy. Chỉ đến lưng chừng thôi nhé, không làm gì quá xa. Mắt Yên cứ long lên sáng như mắt mèo. Phong về đến nhà lúc hai giờ sáng, áo sực mùi nước hoa của Yên.

Đầu tuần sau, Phong đến cơ quan thấy thiêu thiếu gì. Cả ngày làm việc bận rộn vẫn chừa ra một cảm giác trống. Mãi đến lúc ăn trưa, anh mới nhận ra là Yên vắng mặt. Chị Hoa nhân sự thông báo, Yên xin nghỉ để chuẩn bị lấy chồng. Lấy chồng? Chị chỉ biết cô này xin nghỉ một ngày thôi. Phong thấy hoang mang tợn. Thế những lần lả lơi, đùa cợt? Vừa mới ba hôm trước là gì? Rồi đâm bực.

Cả hội uống bia thì bỗng dưng buồn, mơ hồ nỗi lo nhóm vui vẻ từ nay tan tác.

**

“Đây là Trác, anh xã tương lai của em.” Yên vẫn điệu cười khanh khách khi dắt tay chồng sắp cưới vào quán bia. Phong và bốn đứa còn lại to mắt lên nhìn “tình địch”. Yên nhanh tay phát thiệp cưới cho cả bọn. Đến chỗ Phong, Yên nhìn xoáy vào mắt anh. “Anh là phải đi đưa dâu nữa đấy nhé. Tiễn người yêu về nhà chồng chứ lị!” Yên cười khanh khách, bíu lấy tay Phong. Chồng chưa cưới của Yên cười ha hả, nâng cốc lên giục cả hội “keng cái nào”. Phong bị cuốn vào không khí chộn rộn, nhưng vẫn kịp nghĩ. “Mình là người yêu của nó bao giờ?”

Trác tướng mạo to lớn, cổ đeo vòng xích vàng, kiểu dân đi đường dài, rất hợp với phong cách ồn ào của Yên. Không rõ tuổi bao nhiêu, xưng tôi với Phong ngay từ đầu. “Nói thật với Phong, tôi đã qua nhiều nghề lắm, từ lái xe chở hàng ở Nga đến bán quặng rồi. Đi đào vàng tôi cũng đã, ở khách sạn năm sao tôi cũng từng.” Trác nói réo rắt như ngâm thơ. Yên cười phớ lớ, nháy mắt với Phong. “Văn chưa!”

Bia xong, cả hội rủ nhau đi hát karaoke. Cái xe hơi đen bóng tế nhị đỗ ở bãi xe ngã tư bên cạnh. Trác gọi thêm bạn, một gã người gầy quắt, môi thâm. Thằng Lộc có vẻ khó chịu, quay sang lầm bầm với Phong. “Anh ạ, chồng con Yên bựa. Bạn thân gì như cô hồn.” Cách chọn bài khá lạ. Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung… Phong tròn mắt nhìn gã đàn ông to như con gấu nỉ non. ...Trong tình yêu quê hương có một tấm lòng, dành cho em người mà anh yêu quý vô cùng… Đến đoạn này, Trác đặt tay lên ngực trái, hướng về phía Yên. Hội con trai rú lên, vỗ tay đôm đốp. Yên cười khanh khách.

Khi Trác đã đi sang đường để đánh xe tới đón, Yên huých tay Phong. “Vẫn còn kịp đấy!” Phong thúc đầu gối vào khuỷu chân cô từ phía sau, làm cô khuỵu xuống. “Chờ hôm cưới sẽ đứng lên phản đối rồi rủ nhau trốn nhé.” Yên cười nhẹ, “Sao không ngay và luôn đi.”

Nhưng cũng chỉ nói thế. Rồi ai về nhà nấy. Thật ra cũng chẳng biết là Yên rút cục ở đâu, Chị Hoa kể hình như Trác chưa mua nhà, hai đứa đi thuê một căn hộ ở bãi An Dương, hôm tới đón dâu về đấy. Mỗi ngày lại lộ thêm một thông tin bất lợi về cuộc hôn nhân. “Thế tóm lại là chồng nó quê đâu?” Thu bực bội vì nỗi mình là sếp trực tiếp mà không nắm được tình hình. Chị Hoa thì thào, “Thanh Hóa”. Lộc thắc mắc, “Sao hôm nọ hát toàn bài về vùng mỏ?”

Thằng Lộc cũng thành nguồn tin cho Phong. “Mỗi hôm đi một xe. Hôm nay thấy đi một con Mẹc. Hay là dân đi đòi nợ thuê nhỉ.” Thằng Minh cười khẩy, “Khéo là ông lái xe thôi.”

Mọi người đoán già đoán non. Phong cười, “Thì hỏi thẳng đương sự xem nào.” Thu nhấp nhổm rình lúc Yên đến, bức xúc hỏi về Trác. Yên trả lời đầy vẻ ngạc nhiên. “Anh ấy có công ty xây dựng, làm ăn chung với mấy người bạn mà.” Nói rồi Yên hối hả xin về để đặt cỗ cưới. Mọi người có vẻ xuôi xuôi. Thu vẫn không dễ đầu hàng, “Làm công ty xây dựng mà lại phải thuê nhà?” Chị Hoa gạt đi, “Thôi, nó lấy chồng thì phải tự chịu trách nhiệm với quyết định của nó. Bọn mình bàn được cái gì? Chả liên quan.”

Thu mím môi, “Liên quan đấy. Nó vay em tiền.” Cả hội xúm lại. “Nhiều không?” “Cũng vài chục triệu.” Nói rồi Thu nhìn xéo sang chỗ Lộc. Thì ra Yên vay lung tung mỗi người một ít, có lẽ chỉ trừ chị Hoa và Phong. Tình hình xem ra không đơn giản như mọi người vẫn tưởng.

**

“Bố mẹ chú rể sao trẻ thế nhỉ?”

“Đâu, đấy là hai người họ hàng đại diện nhà trai. Cái Yên bảo bố chồng mất rồi. Mẹ chồng đang ở Nga với anh trai mà.”

“Thế cưới con cũng không về được một chuyến?” Chị Hoa lắc đầu chê trách.

Sự lèo tèo của đằng nhà trai ở đám cưới càng khiến cả hội bán tín bán nghi về tính “chính danh” của Trác. Tương phản với sự lo lắng của đồng nghiệp, Yên cười nói rộn ràng, tay cầm cốc bia, tay xách vạt váy đi bên cạnh Trác quanh phòng cưới, theo sau là bố mẹ cô dâu. Đến bàn của hội cùng văn phòng, chị Hoa nghiêng đầu ngắm cô, “Thế là gạo đã thành cơm rồi nhỉ.” Mẹ Yên diện áo dài nhung huyết dụ, hân hoan chắp tay. “Gạo nhà này mà nấu chậm tí nữa có mà mốc hết.” Yên cười xóe lên, “Mọi người xem, có phải là mẹ em đã lên kế hoạch đuổi bằng được em ra khỏi nhà không?” Cả bàn cười trừ. Yên lách qua hai hàng ghế, đến chỗ Phong đúng lúc thợ chụp ảnh giơ máy lên. Yên thì thào với Phong, “ba mươi chưa phải mồng một nhá. Vẫn kịp đấy.” Phong hơi hồi hộp, anh có cảm giác là cả bàn đã nghe thấy hết. Nhưng ai nấy đã chú tâm vào món cá sốt ngũ liễu vừa được rưới nước sốt.

Phong vẫn theo xe đưa dâu về tận chỗ Trác và Yên thuê. Căn hộ tuềnh toàng, quần áo vẫn chất trong mấy cái vali chưa dỡ ra. Chị Hoa chép miệng, “Như tập thể nhà binh.” Thu nhíu mày, nhìn quanh, rồi giục mọi người ra về. Yên quơ tay giật cái màn đính nơ hồng, quay xuống, “Mọi người uống nước đã, đợi anh Trác đi mượn ấm.” Mọi người vờ như không nghe thấy, lố nhố tiến ra cửa.

Yên nháy mắt với Phong, “Có cần chìa khóa sơ-cua không em đưa?” Phong lúng túng. Yên dúi một cái chìa vào tay Phong, nhìn xoáy anh rồi cười phá lên, cố ý cho cả hội lúc này đã ở cầu thang bên dưới nghe thấy, “Thôi bai bai cả nhà, em đi nấu gạo thành cơm đây.” Chuỗi cười lanh lảnh vẫn vẳng xuống tai cả nhóm. Chị Hoa rùng mình, “Con này có điệu cười như ma làm.” Phong giữ cái chìa khóa trong tay, lành lạnh nhơm nhớp. Anh đánh rơi keng một cái xuống sàn. Phong chống chế, “Cái chìa khóa cổng thế nào lại rơi khỏi chùm.” Thu nhìn anh nghi hoặc.


Minh họa: Kim Duẩn


**

Mấy tháng nay, Thu nhận thấy Yên làm việc không tập trung. Số liệu nhầm loạn cả lên. Thu bực bội vô cùng. Đang phải bù đầu với đánh giá nhân sự giữa năm mà giờ cái con này giở quẻ. Chị Hoa liếc đống tài liệu, cúi xuống thì thào, “Nó nghén đấy.” Thu sửng sốt, hé mắt nhìn về phía dãy bàn của nhóm mình. Chị Hoa đứng bên cạnh, phân tích, “Mày ngồi làm cùng nhóm mà không thấy bụng nó lùm lùm lên rồi à. Da thì xanh thế kia. Tao thấy nó đi toalet mấy lượt rồi đấy. Chắc nôn.”

Thu bật cười, bà này quá mẹ chồng. Đúng là cô bận quá, không để ý gì xung quanh cả. Nhưng Thu cũng tự kiểm điểm, mình hơi xa cách với đồng nghiệp thật. Có lẽ nên quan tâm giúp đỡ Yên hơn. Cô sực nhớ hôm qua thấy Yên nói điện thoại rất lâu với ai đấy ở hành lang, lúc vào mắt đỏ hoe. Thu bận đi họp nên quên khuấy không hỏi.

Thu vẫn duyệt cho Yên được tăng lương. “Phải giữ gìn cẩn thận trong ba tháng đầu nhé. Phải bảo chồng đưa đón chứ?” Yên mệt mỏi, “Chồng em đi công trình bên Lào mấy tháng mới về.” Trong đầu Thu xoẹt ý nghĩ, “Thế mấy tháng mày ăn uống… một mình à?” “Cuối tuần mẹ em ở Quảng Ninh lên.” “Giỏi, cứ như vợ bộ đội ngày xưa, chồng về phép là có chửa liền.” Yên cười ranh mãnh, nhưng Thu lại thấy lo lắng kinh khủng. Nhà Yên có mỗi hai chị em gái, đứa em đang học đại học, chẳng biết gì. Giờ đi khám rồi ốm đau này nọ, phải có thằng đàn ông đưa đi chứ? Hỏi về Trác thì lần nào Yên cũng vòng vo, hết bảo chồng em sắp về rồi lại bảo sắp mua nhà. Chị Hoa sốt ruột, vặn vẹo, “Thế ảnh nhà đâu? Hợp đồng giao nhà đâu?” Yên vui vẻ rất khả nghi, “Nhà trả góp, năm sau mới giao nhà mà chị.” Cả bọn còn lại lườm nhau, thế thì món tiền Yên vay mua nhà còn lâu mới đòi được.

Đột nhiên Thu chăm chăm nhìn. Trên tay Yên có vết thâm. Cô rụt tay lại, bất thần cau mặt nhưng rồi ngay lập tức đổi thái độ, cười ồn ào, “em bị đập vào cạnh bàn ấy mà.” Chị Hoa lườm, “Thật không? Hay chồng đánh?” “Gớm, cái bà này toàn bi kịch hóa vấn đề. Chồng em cũng hay nắm tay vợ sôi nổi vụng về lắm.” Chuyện nhạt mà giọng Yên lanh lảnh tưởng không có gì sống động bằng. Thu nghĩ có gì uẩn khúc.

Sau khi xem lại những ngày nghỉ và thư từ công việc của Yên, Thu bỗng dưng nảy ra ý nghĩ xâu chuỗi các sự việc. Cô điền tất cả những gì liên quan đến Yên vào phần mềm quản lý. Nó cho ra một kết quả không làm cô bất ngờ.

Nhưng Thu ngại. Chị Hoa tỏ vẻ từng trải, “Ba mặt một lời.” Chị Hoa kiếm cách mời Phong và Yên vào phòng. Chị nói gần nói xa, “Hai đứa có gì với nhau thì bảo để bọn tao còn giúp.” Yên khúc khích cười. Phong hơi sửng sốt, có lẽ vì sự quan tâm. Thu thấy chị Hoa giống cán bộ hòa giải, bỗng nhiên thấy mình thật dở hơi.

Yên cắn một miếng cóc chín, nhồm nhoàm nói, “Đã máu thì đừng hỏi bố cháu là ai. Đã có thai thì đừng hỏi ai là bố cháu, anh nhở”, rồi đưa tay véo má Phong một cái. Phong cũng chỉ cười bí hiểm, càng làm Thu nghĩ mình hớ. Chị Hoa dặn không được nói gì với ai nữa. Thu nhét bản tổng kết vào máy hủy tài liệu.

Trưa hôm sau, Thu vừa ngồi vào bàn, mở hộp cơm ra, chị Hoa xộc vào khoang. “Mày chẳng giữ mồm cho nó gì cả!” Thu nhướn mày, “Sao lại là em? Em đi họp từ sáng đến giờ.” Nhìn ra khung cảnh xung quanh, Thu đã hiểu cơ sự. Yên đang bị mấy cô gái vây quanh. Cô cười ranh mãnh, “Khổ lắm, không phải chồng em thì anh Phong chắc?” Cả đám ồ lên, “Thảo nào…” Chị Hoa trợn tròn mắt, quày quả đi về chỗ, “Bó tay với các cô.”

Cả cơ quan râm ran đồn đại cái bầu của Yên là kết quả của Phong. Chồng con Yên có vẻ giang hồ lắm, chẳng may đến tai nó thì phiền. Phong chỉ nhún vai, “Ngu gì mà nuôi tu hú đẻ nhờ!” Thu giận kinh khủng, sao lại có thể có giọng điệu khốn nạn thế. Đã vậy, Thu không thèm giúp gì nữa. Cô chẳng thèm nhìn mặt Phong, trừ bất đắc dĩ trao đổi công việc, lạnh lùng và cộc lốc. Chị Hoa uất ức, “Phải làm cho ra nhẽ chứ.” Làm kiểu gì khi nạn nhân vui hơn hớn thế kia. Hỏi thì nguây nguẩy “em ổn mà”. Đã thế mặc xác.

Cứ thế mấy tháng trôi qua. Ngày Yên đi đẻ, mấy chị em rủ nhau vào viện thăm. Yên sinh con trai, nằm thu lu trên cái giường hai bà bầu nằm ghép. Đứa em gái Yên đeo kính cận dầy cộp, đang ngồi dí mắt vào chơi games trên điện thoại ở cuối giường. Thu thoáng ân hận. “Đã ăn uống gì chưa?” “Đang đi mua cháo rồi chị ạ.”

Phong xách cặp lồng vào phòng. Cả bọn giật mình. Chị Hoa nhìn Thu ý nhị, nở nụ cười không giấu vẻ hài lòng. Thu ngượng ngượng khi cất lời hỏi thăm Phong. Yên nhắc em gái, “Đi học xong thì về dọn nhà cho chị nhé. Anh Phong đưa chìa khóa cho nó với.” Cả bọn im lặng nhìn Phong gỡ cái chìa khỏi chùm móc ở đỉa quần. Thu nén tiếng kêu “A” khi nhớ lại lần cuối gặp ở hôm cưới Yên.

Chẳng còn biết làm gì, mấy người phụ nữ chuyền nhau bế đứa bé sơ sinh, thi nhau nựng rồi khen giống mẹ. Thu nghĩ, cũng chẳng biết giống ai, chả nhẽ khen giống bố! Yên cười vui vẻ, “Hôm nào bố cháu về, nhà cháu làm đầy tháng, mời các bác đến đánh chén món Lào ra món Ý nhé!”

Thế là thế lào

Nguyễn Trương Quý
(Phụ Nữ TP.HCM Xuân Giáp Ngọ)

Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Tết xa nhà

Chục năm trước, khi tôi đang gà gật trên chuyến xe dài như vô tận từ cửa khẩu Cầu Treo, Hà Tĩnh sang Viêng Chăn, thỉnh thoảng tôi choàng dậy khi có tiếng nhạc lăm vông tưng bừng quanh những đống lửa từ làng mạc hai bên đường. Người Lào đón Năm mới dương lịch. Tết cổ truyền Lào tận mãi tháng Tư. Lúc này Hà Nội đang mưa phùn gió bấc, đang nghìn nghịt người đi mua sắm cuối năm. Tết âm lịch năm đó đến sớm, ngay cuối tháng Giêng. Bạn bè xui, đi Lào đi, dễ đi lắm. Lào có lẽ không có gì nhiều để nghiên cứu, gần Việt Nam thế mà! Tôi cầm theo cuốn Lonely Planet, đọc được loáng thoáng những nơi cần thăm rồi cất đi vì không đủ kiên nhẫn.

Càng đi sâu vào đất Lào, không khí càng khô nóng hơn. Đang từ Đông Trường Sơn mưa rét, Tây Trường Sơn đón chúng tôi với cảm giác ngây ngấy, khan khan. Tháng Giêng mà Viêng Chăn nóng như mùa hè Hà Nội. Trong ánh nắng gay gắt, tháp Thạt Luổng không rõ có phải dát vàng thật không bừng bừng như ngọn lửa giữa quảng trường mênh mông. Đứng chụp ảnh ở góc nào cũng rơi vào tình trạng mặt người đen thui vì cái phông cảnh rực rỡ kia.

Những dãy phố nhà hai tầng, những tòa nhà công thự xây theo kiến trúc những năm 50 lập tức khiến tôi thích thú. Chúng giống một Hà Nội tôi từng biết. Những màu vàng sẫm, màu ôliu, màu xanh cỏ úa của những mảng tường và cửa sổ nan lá sách của một thời kiến trúc đô thị thuộc địa nho nhỏ. Những đường gờ, những tấm ôvăng chạy dài, những hàng hiên che vỉa hè nối nhau tạo nên những bóng râm trông ra những quảng trường hay ngã tư nhỏ vắng vẻ. Khung cảnh giống như một bức ảnh thời thơ ấu. Chỉ thiếu cái lạnh và những hàng cây sấu lá sẫm màu là thành Hà Nội.

Sau hai ngày nhanh chóng khám phá hết thủ đô Lào, tôi ngược lên Luang Prabang, cố đô của vương quốc Vạn Tượng (Lan Xang) rồi vương quốc mang tên kinh đô này. Theo những gì tôi tranh thủ đọc được, Lào vốn hợp thành từ ba vương quốc, và Luang Prabang là nơi triều đại quân chủ cuối cùng tồn tại trước khi chấm dứt vào năm 1975. Hoàng cung nhỏ bé đến ngạc nhiên, mang kiến trúc kết hợp giữa dinh thự thuộc địa và chùa Lào. Những đồ đạc đơn sơ, những bộ xa lông phong cách nửa thế kỷ trước, những số phận cung đình đã bị diệt vong bởi các cuộc chiến tranh.

Điều đặc biệt của thành phố này là nó khiến ta nhớ về nhiều nơi. Một hoàng thành nhỏ bé nằm bên một con sông nhỏ như sông Hương gợi nhớ đến Huế. Một khu phố hai tầng nhỏ nhắn vuông vắn bên sông Mê Kông giống Hội An. Và những con dốc của các khu phố du lịch cùng làng bản xung quanh, giống Sapa. Thành phố nằm ở mỏm đất nơi ngã ba sông Nậm Khăn và Mê Kông, có đến cả mấy trăm ngôi chùa san sát nhau quây quần dưới chân ngọn núi Phou Si. Đi vài bước lại gặp chùa. Những tháp mộ và stupa lô nhô khắp nơi. Thành phố tuy vậy lại không có cảm giác ủ dột hoang phế như những kinh đô di sản Đông Nam Á khác.

Ấy chính là nhờ không khí của ngày lễ Năm mới tại đây, nơi có những khu phố du lịch với những thanh niên da trắng mà cuộc đời dường như nhất-thiết-phải-tới châu Á, và dãy dài xe hơi hạng sang đậu dọc lề đường. Có một buổi tiệc mừng Năm mới diễn ra hôm qua, còn lại những khung bạt chưa dỡ, hệt như khung cảnh mở đầu bài hát Happy New Year của ABBA: “Sâm banh đã cạn và pháo hoa đã hết. Anh cùng em, chúng ta vẫn đây. Mất mát và buồn bã làm sao. Khi bữa tiệc đã kết thúc, và buổi sớm nay sao xám xịt. Không hề giống ngày hôm qua…”

Luang Prabang nằm ở vĩ tuyến ngang với Bắc Bộ nước ta, lại ở trên cao nguyên, nên nhiệt độ mát mẻ hơn hẳn Viêng Chăn. Những làn sương bảng lảng trên những triền dốc ở đây giống những mùa đông Hà Nội hoặc Sapa. Những con đường ít xe cộ, những đôi trai gái bước thong dong dưới những rặng hoa đại, những chạm khắc mặt Phật cho đến vũ nữ đều thấm vẻ từ bi, man mác như những ngôi làng cổ Bắc Bộ.

Đan xen vào giữa khung cảnh di sản là những ảnh hưởng Tây phương. Biển báo đường dành cho người đi bộ có hình cô gái mặc váy áo truyền thống và búi tóc. Nhà hàng nấu kiểu Pháp. Những quán bar nho nhỏ có hàng hiên nhìn ra phố. Không có nhiều cô gái mắt xanh mỏ đỏ nhưng có những ông Tây già ngồi ôm những cậu trai bản địa. Nếu như ở Viêng Chăn chúng tôi phải đợi bốn mươi lăm phút mới có món ăn đầu tiên và duy nhất thì ở Luang Prabang tốc độ nhanh nhẹn hơn nhiều, chỉ mười lăm phút tôi đã có cả một bàn ăn sáu bảy món. Ở đây xem ra toàn cầu hóa nhiều hơn, từ đồ ăn cho đến các dịch vụ “giao lưu tình cảm”. Nhưng về cơ bản, vẫn là một thành phố trầm lắng. Người bạn đồng hành có vẻ đã chán nên về trước. Tôi còn muốn đi vào rừng và cưỡi voi xem sao.

Cái lạnh cao nguyên khiến tôi ngây ngấy sốt. Tôi bỏ ý định cưỡi voi, quay về một mình. Khí hậu khắc nghiệt và hai mươi ba tiếng đồng hồ từ Lào về Hà Nội theo lộ trình cũ khiến tôi ngán ngẩm. Tôi quyết định mua vé máy bay. 180 đôla là khá đắt với tôi lúc ấy. Tôi hi vọng là ngoài tờ 100 đô trong ví, tôi có thể mua bằng số tiền Kip còn lại. Lúc ấy tôi chưa dùng thẻ tín dụng quốc tế. Thật lạ lùng, vào lúc đó, tôi chưa hề có một ý niệm về việc chuẩn bị tư trang, cứ đi là đi. Trên chuyến xe từ bến xe về trung tâm Viêng Chăn, một anh chàng người Mỹ bắt chuyện giết thì giờ. Chuyện về những chỗ đã đi ở Lào. Tôi hỏi hắn có cưỡi voi không. Hắn nhún vai: “Tao không thích cách người ta đối xử với loài vật như thế.” Vậy là mày giống một nhà hoạt động môi trường. Hắn gật gù, “Tao ăn chay”. Nhìn tướng tá gồ ghề, đầu bịt khăn hoa, tai đeo khuyên, người xăm trổ của tay này, tôi lấy làm thú vị về sự nghịch lý. May mà tôi chưa nói là mình định cưỡi voi.

Tôi bước vào quầy vé của Vietnam Airlines ở tòa nhà Lao Plaza, đặt ngay vé đi Hà Nội. Tôi rút tiền ra. Tôi choáng váng vì tờ đô la mình có là đồng… một đô. Thế là tôi phải cay đắng hủy vé, mất oan số tiền phạt trong khi chưa kịp cầm trên tay cái gì hết. Tôi giận mình đến muốn khóc. Tại sao tôi không chịu làm thẻ tín dụng quốc tế? Tại sao tôi lại chủ quan đến vậy… Tôi vẫn cứ là trẻ con, là đồ nhà quê, v.v...

Tôi lủi thủi ra bến xe và bắt chuyến về Hà Nội trong cái nóng Trung Lào. Hai mươi ba tiếng đồng hồ trên xe, tôi thấm thía hơn lúc nào cảm giác mong về nhà. Cạnh chỗ tôi, một bà già người Lào say xe nôn tóe loe, rồi cánh Tây balô cãi nhau với lơ xe Việt khi bị xếp xuống cuối xe để nhường cho đám buôn chuyến lèn hàng. Gần một ngày đêm trên ôtô lèn chặt người, tôi không còn cách nào khác là ép mình đọc hết sạch cuốn sách Lonely Planet về Lào. Một thao tác ngược đời vì khi rời đất nước này, tôi mới có thời gian đọc thật kỹ, từng đoạn, từng trang… Rồi tôi thấy đây là cuốn sách hay nhất trong những cuốn mà tôi đã đọc trong loạt sách này. Tác giả đã sống ở Lào gần mười năm. Những dẫn chứng thú vị như người Pháp thời cai trị Đông Dương đã kết luận: Nếu người An Nam trồng lúa để nó lớn, người Miên nhìn lúa lớn thì người Lào nghe lúa lớn. Những câu chuyện về Hoàng gia Lào đã bị đày đến chết ở một cái hang ở tỉnh Sầm Nứa, trong khi sử chép họ tham gia Hiệp thương chính trị… Đất nước thanh bình với những ngôi nhà mái dốc xinh xắn như minh họa truyện tranh trẻ con, hiếm hoi thấy nhà bê tông mái bằng, hóa ra cũng có một lịch sử nhiều đau khổ và loạn lạc. Tôi cay mắt khi nhớ lại tòa nhà Hoàng cung bé tí quét vôi trắng ở cạnh ngã ba sông Mê Kông và Nậm Khăn.

Để rồi từ đó, tôi lâu lâu lại nhớ cảm giác chơi vơi bên bờ Mê Kông lộng gió của một ngày đầu năm, nơi tôi đã ngỡ như mình đã suy niệm được điều gì trọng đại lắm. Tôi mới chỉ nhìn thấy những khuôn mặt Phật mà vội đánh dấu “đã đến trước khi chết”. Cho đến lúc đắm mình trong câu chữ của cuốn sách, tôi mới thấy, nhỡ chuyến bay có thể là điều không may, không có thẻ tín dụng có thể là kém cỏi, nhưng cơ hội đắm mình trong một cuốn sách hướng dẫn du lịch, để rung cảm với số phận một đất nước, thì rất khó lặp lại.


N.T.Q

Thứ Bảy, 11 tháng 1, 2014

Đường cong ngựa, dáng mỹ nhân

Có bạn ở báo Giáo dục & Thời đại năn nỉ mình viết một bài theo chủ đề oái oăm kinh khủng: mối liên hệ giữa ngựa và phụ nữ. Đúng là năm Ngọ, mà phụ nữ thì như hoa Xuân, vậy là có bài này đủ hai thành phần.

Trong bối cảnh văn học nghệ thuật đương đại, ngựa ít được nhắc tới. Phần vì ngựa không còn được dùng ở đô thị mà nông thôn cũng vắng bóng. Phần vì ngựa ở Việt Nam không có những dấu ấn sang cả như trong các thú chơi quý tộc hay nhà giàu Âu Mỹ. Những hình tượng “khách đà lên ngựa người còn nghé theo” đã quá xa xôi, chỉ còn được lôi ra trong giờ giảng văn khi thầy cô dạy Truyện Kiều. Ngựa của thời hiện đại là “người ngựa, ngựa người” hay “đầu trâu mặt ngựa”. Và “đồ đĩ ngựa”. Dĩ nhiên đối tượng so sánh hiếm hoi đặc biệt ở đây là phụ nữ lẳng lơ, trắc nết, những người thực ra được ngầm hiểu là có hấp lực ghê gớm về tình dục. Với những người này, họ cũng gợi hình ảnh những đường cong thường có ở những con ngựa sung mãn. Ngựa trung thành nhưng có lúc bất kham, có khi đá hậu. Những cô gái hoang dã tựa như con ngựa chưa được thuần, như cách nói của nhà văn Gabriel García Marquez: “hai người chị gái rất ồn ào, vừa tới tuổi dậy thì, giống như hai con ngựa non không lúc nào chịu đứng yên”. (Tiểu thuyết Ký sự về một cái chết đã được báo trước).

Bắt đầu từ mái tóc. Khi người phụ nữ muốn tỏ ra hiền thục, chờ đón thụ động (thực ra có khi đã ủ mưu sẵn), họ xõa tóc rủ xuống. Nhưng khi họ buộc vênh vểnh lên như cái đuôi ngựa, lại ra vẻ khiêu khích và sẵn sàng tham chiến. Khi họ chạy với mái tóc tung bay, họ giống loài ngựa phi nước kiệu trên thảo nguyên. Hình tượng con ngựa phóng khoáng tung bờm có vẻ tự do. Khi ngựa cúi đầu nhẩn nha gặm cỏ, dáng vẻ buông thả trên những cặp chân cao tựa như những cô gái đang chăm chút bản thân. Những đường lượn mềm mại trên cơ thể khi chuyển động tựa như những làn sóng. Có thể thấy sự mê say theo đuổi những khối cơ uyển chuyển này trên vô vàn bức tranh hội họa từ Đông sang Tây. Người ta đã biết dòng tranh vẽ ngựa của danh họa Từ Bi Hồng đầu thế kỷ 20. Còn ở những bảo tàng và bộ sưu tập tranh cổ điển hay Baroc khắp châu Âu, chủ đề tráng sĩ và anh hùng cưỡi ngựa tràn ngập. Những con ngựa được vẽ thành tranh, được tạc tượng như một đối tượng thẩm mỹ đặc biệt. Ngựa trở thành động vật được vẽ trên tranh nhiều chỉ sau con người.

Với tranh thủy mặc Trung Quốc, những đường nét mềm mại của lông bờm, đuôi hay các múi cơ trên mình ngựa vẽ bằng nét vờn tương phản với những đường rắn rỏi, kỷ hà của các cặp giò hay sống mũi. Ở tranh cổ điển châu Âu, là sự cuồn cuộn đầy sức sống trong thủ pháp đánh sáng mạnh mẽ, tạo nên hình thể ngựa như đang dồn hết nỗ lực trong những bối cảnh chiến trận, bên cạnh người hùng trung tâm. “Tôi cho rằng, cảm giác chinh phục cùng khống chế trong một số trường hợp không hề phân biệt đối tượng. Đối với phụ nữ cũng vậy, chinh phục phụ nữ giống như chinh phục ngựa, càng khó khăn, tôi lại càng thấy hứng thú.” Lâu lâu trên mạng có những truyện kiếm hiệp kỳ tình giả cổ, mang những cái tựa li kì. Chinh phục đàn bà như chinh phục ngựa.

Cái yếu tố bí ẩn của loài ngựa, loài vật chỉ phát ra những âm thanh bí ẩn xa lạ với người thường, giống như vẻ mặt mơ hồ bí ẩn của những người đàn bà xa lạ “buồn không nói” trong tranh Tô Ngọc Vân. Ở những bức tranh ấy, nhân vật biểu đạt tâm tình, thái độ, thân phận lẫn cá tính qua đường nét cơ thể. Cách các cô vươn tay, rẽ tóc, nghiêng người, có khi nào là một phảng phất của cái hất đầu, dậm chân, phi nước kiệu… của những hình ngựa đẹp?

Ngựa không khi nào nằm, mà cả đời khỏe mạnh sống trên những đôi chân cao. Người ta cũng chỉ thấy mỹ nhân “trường túc bất tri lao”, phô dáng hình uyển chuyển trên đôi chân thẳng tắp, là xứng đẳng cấp hoa hậu người mẫu. Ngựa mà nằm hay khuỵu gối là ngựa đã hỏng, đã tàn hơi. Mỹ nhân nằm bệnh ở chừng mực nào đó cũng gây cảm hứng, dáng nằm của các nàng cũng được các nghệ sĩ khắc họa rất nhiều, nhưng những đường cong cơ thể ấy chỉ phát huy vẻ đẹp khi chuyển động. Người phụ nữ Việt thời đầu thế kỷ 20 thường có chiều cao khiêm tốn. Cuộc cải cách áo dài của các họa sĩ Cát Tường và Lê Phổ giữa những năm 30 đã du nhập một thứ quan trọng của Paris: đó là guốc cao gót. Thứ này khiến phụ nữ Việt thành thị mặc áo dài phải chuyển động trên gót được kê cao, khiến cho dáng đi trở nên “ngực tấn công, mông phòng thủ”.

Và thời này, đôi guốc hoặc giày đế cao này có tên guốc phi mã, còn được quảng cáo trên báo chí: Bấy lâu đáy bể mò kim/ Kiểu giày phi mã nay tìm đã ra. Còn tác giả Vương Hồng Sển trong Sài Gòn Tạp pín lù cũng mô tả: “Ngày nay các cô tân thời đi guốc ‘Phi mã’, guốc cao gót để dễ ẹo bên nầy ẹo bên kia cho đúng mốt” (Bài Cô Ba Trà kể lại cuộc đời...). Cũng hóm hỉnh khi những chủ hiệu tung ra loại guốc có tên dễ liên tưởng đến dáng chạy của loài ngựa mà không thấy cô gái tân thời nào chê, và bán có vẻ chạy, hoặc ít nhất đã thành biểu tượng đỏm dáng một thời Hà thành. Cứ nhìn vào hình những cô gái mà vạt áo dài như cùng bay theo mái tóc trong tranh các họa sĩ Mỹ thuật Đông Dương 80 năm trước, chẳng khác gì những chú ngựa phi nước kiệu, người ta sẽ hiểu cái lý của sự so sánh này.

Nguyễn Trương Quý

Thứ Năm, 9 tháng 1, 2014

"Người mà anh yêu quý vô cùng" (Xuân 2014)

(Bài đăng báo Tuổi Trẻ Xuân Giáp Ngọ với đầu đề "Lấp lánh tài hoa")

Năm tháng qua đi, những bài hát của những năm tháng cũ còn vẳng lại đến giờ là nhờ cây cầu kỷ niệm của các thế hệ. Không dễ để các thế hệ sinh ra vào đầu thế kỷ này đồng cảm với những lời quá diễm lệ của “vương khói trầm luân cay nồng, xé tơ tằm cho nát lòng” (Lỡ cung đàn – Hoàng Giác, 1947) hay gân guốc chi li “Ta lo phân phải chăm bao đầu lợn ấy. Muốn bông lúa to phải lo chọn giống gì” (Bài ca năm tấn – Nguyễn Văn Tý, 1965). Nhưng vượt ra khỏi khuôn khổ những bài hát phổ thông, chúng đã trở thành những trang sử ký nho nhỏ ghi lại thăng trầm thời cuộc.


Ở vào tuổi trên dưới 90, các tác giả của chúng vẫn sống bình lặng ở một góc nào đấy của Hà Nội hay TP. Hồ Chí Minh, chậm rãi nghe những giai điệu của mình cất lên đây đó trên những làn sóng phát thanh truyền hình hay đôi ba những đĩa nhạc của các ca sĩ muốn thử sức dòng nhạc một thời. Họ ít khi xuất hiện trước công chúng, nhưng thời gian hẳn là giám khảo công bằng nhất cho giá trị tác phẩm. Với người viết bài này, những ca từ và giai điệu của các ca khúc một thời vẫn là những dẫn chứng thú vị về phẩm chất văn hóa của đời sống còn tiếp diễn đến giờ.

Trọn vẹn với mối tình đầu

Từng là thầy dạy nhạc cho các bạn cùng lứa từ rất sớm, có thể xem Nguyễn Thiện Tơ như đại diện cho sự nhanh nhạy của các chàng trai trẻ Hà thành khi tiếp thu văn hóa Tây phương thông qua phương tiện rất hấp dẫn là âm nhạc. Ông đã sớm hành nghề bằng chơi nhạc, dạy nhạc và có những sáng tác vô cùng chững chạc và mang tính kinh điển từ lúc chưa tới đôi mươi. “Nhớ tới đêm đầy ánh sáng, hương trong gió tràn mênh mang. Giây phút như ngừng thôi rơi, tiếng kinh muôn lời…” (Giáo đường im bóng, lời Phi Tâm Yến, 1938). Nếu các nhạc sĩ khác nổi tiếng đa tình và cái sự huê tình của họ cũng làm nên huyền thoại phù hoa của mảnh đất Hà Nội xưa, thì Nguyễn Thiện Tơ năm nay đã 93 tuổi, vẫn cùng sống bên người bạn đời, nàng thơ đầu tiên và duy nhất, người đã khiến chàng trai ngoại đạo “đắm đuối trên làn sóng, mắt nàng huyền mơ”. Khung cảnh bài ca không còn vay mượn thánh tích Tây phương mà đã mang màu sắc hoàn toàn Việt Nam, nhờ những chi tiết “Hồn thánh thót mưa dầm, buồn với âm thầm”. Đến giờ, Giáo đường im bóng vẫn là tình ca Việt có nét chủ đề Thiên chúa giáo trong trẻo hơn cả.


Người bạn thân thiết và từng có một vài sáng tác chung với Nguyễn Thiện Tơ, nhạc sĩ Hoàng Giác, lại có một câu chuyện khác về mối tình đầu đời. Kém người bạn mình 3 tuổi, Hoàng Giác cũng có một bóng hình của thời hai mươi tuổi, như mọi mối tình Hà Nội những năm tháng mà chất trang nhã tình tứ kiểu Pháp vẫn trong khuôn khổ lễ giáo Nho phong. Cho đến giờ, cả hai vợ chồng Hoàng Giác vẫn vui vẻ nói về “người xưa” của nhạc sĩ, nay vẫn sống cùng thành phố, và còn là bạn già của nhau nữa. Bà Kim Châu, vợ nhạc sĩ hóm hỉnh so sánh mình với người trước: “mình quê mùa lắm, không hiện đại như bà ấy vẫn đi nhảy đầm, mặc váy đâu”. Sự lịch lãm, tế nhị của họ trong ứng xử của tuổi U90 chắc hẳn bắt nguồn từ tình cảm trong trẻo mộc mạc của bảy thập niên trước, và giữ được qua chìm nổi thời gian. Cái rộn ràng tươi mới của Mơ hoa (1944) “Cô hái hoa tươi, hãy dừng bước chân, trên đường thẳm xa, tôi nhắn cô em đôi lời…” mà Hoàng Giác gửi gắm hình bóng người thiếu nữ “từ Hà Đông ra, dáng người cô ấy thon nhẹ, mà tôi liên tưởng đến những cô gái gánh hoa hàng sáng ở chợ Ngọc Hà” đã bước vào ký ức tập thể như một niềm mơ ước nho nhỏ mà trường cửu của con người về cái đẹp.




Đã viết về những số phận họ đồng hành

Cũng ở cùng thành phố, trong căn nhà ở phố cổ Hàng Thùng, là một nhạc sĩ lừng danh với những ca khúc “nhạc đỏ” – danh từ giờ đã phổ biến để gọi những ca khúc chủ đề chiến đấu và xây dựng đất nước. Nhưng trong những bài ca nhiều sắc thái tuyên truyền cổ động của ông, lấp lánh chất trữ tình rất riêng, có thể gọi ra chất Hoàng Vân. Tưởng như những năm này hơi khó để hát lên những bài địa phương ca hay ngành ca – đặc sản của các nhạc sĩ Hoàng Vân, Nguyễn Văn Tý… Nhưng hãy đến những buổi liên hoan hay phút ngẫu hứng của các buổi đám cưới, karaoke, những giai điệu của các ông vẫn được hát. Người ta hát không vì tiếc nuối thời bao cấp khốn khó. Người ta hát không đơn giản vì thói quen. Người ta hát bài đã chọn vì tiếng lòng được chuyển tải nhờ giai điệu và ca từ đẹp. Vì cái vẻ hào sảng, tự tin một thời họ đã có. “Vùng than thân yêu ơi, trong tình yêu quê hương có một tấm lòng, dành cho em người mà anh yêu quý vô cùng…” (Tình ca người thợ mỏ, 1981).

Khác với vẻ sướt mướt, kể lể của nhiều ca khúc tiền chiến lãng mạn, những ca khúc thời hậu chiến của Hoàng Vân (sinh năm 1930)  hay Nguyễn Đức Toàn (1929) vẫn khiến người nghe ngày nay quên mất độ tuổi thực của bài hát và của chính tác giả. Chúng rắn rỏi, bay bổng, và thậm chí còn mở đường cho những bài ca mang phong cách nhạc trẻ sau những năm tháng nặng tính kinh viện, như ca khúc Chiều trên bến cảng viết năm 1978. Bài ca với câu nhạc ngắn, đầy chất Pop, có ảnh hưởng của dòng ca khúc chính trị từ những ban nhạc Đông Đức tới biểu diễn ở Việt Nam năm trước đó, nhưng hơn hết là chính từ trăn trở của các nhạc sĩ, thậm chí là thách đố nhau, làm thế nào để viết được bài hát nhạc trẻ? Mặc dù vẫn mang màu sắc tuyên truyền, tình yêu sóng đôi với nhiệm vụ, nhưng những ca từ “ta gần nhau hơn, qua bao lần xa cách. Qua mỗi chuyến đi xa, càng thấy bao nhiêu điều mới lạ, về đất nước, về con người, và tình yêu. Ôi đất nước ta yêu, dẫu đã bao ngày vất vả…” đã phả hơi thở mới đầy mời gọi, thúc giục và đam mê, điều chỉ vài năm trước đó thực hiếm hoi. Người nhạc sĩ có chất giọng trầm ấm như một diễn viên sân khấu vẫn sống ở khu tập thể Nam Đồng và say mê hội họa, thứ ông đã học ban đầu ở trường Mỹ thuật Đông Dương gần 70 năm trước.

1958

NS Nguyễn Đức Toàn cùng nhà nghiên cứu Jason Gibbs tại nhà riêng NS, 2009

“Chỉ còn anh và em, cùng tình yêu ở lại”

Những bài ca của những nhạc sĩ cao niên vẫn còn sống với chúng ta, lạ lùng thay, chứng minh được sức sống của chúng nhờ cái đẹp mà các tác giả theo đuổi suốt cuộc đời. Chiếc khăn piêu của Doãn Nho (sinh năm 1933) viết từ năm 1956 đã giành được giải Bài hát của năm của chương trình Bài hát Việt 2012 qua tiếng hát Tùng Dương, và thậm chí còn là bài hát góp phần đưa cậu bé Quang Anh lên ngôi quán quân Giọng hát Việt nhí 2013, gây nên cơn sốt hát và nghe lại ca khúc sắp “lục tuần” này. Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu cũng đã 90 tuổi nhưng năm ngoái vẫn ngồi ghế giám khảo Tiếng hát mãi xanh, vẫn làm người xem cười và phục vì sự dí dỏm mẫn tiệp. Đến giờ, hẳn không ai dám nói Thuyền và biển, Thơ tình cuối mùa thu (đều của Phan Huỳnh Điểu phổ thơ Xuân Quỳnh) là “của mùa thu cũ” (lời Thơ tình cuối mùa thu).

Những nhạc sĩ Tô Vũ (sinh năm 1923), Nguyễn Văn Tý (1924), Nguyễn Văn Quỳ (1925), Tô Hải (1927), Văn Ký (1928), Phạm Tuyên (1930), Hồ Bắc (1930), cùng nhiều nhạc sĩ ở vào tuổi U90 trong Nam ngoài Bắc hay xa quê hương, những gì họ để lại là bằng chứng cho một thế hệ vô cùng tài tình trong vốn tiếng Việt, để từ những bỡ ngỡ ban đầu, đã thành những ca từ giàu sức biểu cảm, như những trang sử ký dẫu chịu sự sàng lọc khắc nghiệt của thời gian, vẫn lấp lánh vẻ tài hoa của người đã tạo ra chúng. Họ đã chia sẻ tình yêu về những người bình dị xung quanh, người thiếu nữ láng giềng, người thợ mỏ vào lò, cô gái đồng quê lội bùn cấy hái, để rồi chính những nhân vật của họ bây giờ vẫn dạt dào hát những bài ca về chính mình, về những “người mà anh yêu quý vô cùng”…

Nguyễn Trương Quý

Thứ Hai, 6 tháng 1, 2014

Đôi tất trắng đàn ông

(Bài viết ủng hộ tạp chí TTVH Đàn Ông số 100)

Cách đây 8 năm, nhiều người đi ăn cưới vẫn mặc quần âu sẫm màu, giày đen và tất trắng. Các cửa hàng bán tất (miền Nam gọi là vớ) khá nhiều tất trắng. Một nhà văn từng chế giễu hiện tượng rất nhiều ông ăn mặc lối ấy, gọi là chân sản phụ hay chân bó bột. Đúng là cho đến lúc ấy, thế giới chỉ thấy Michael Jackson đi tất trắng cùng giày đen nhảy điệu Moonwalk trong các video ca nhạc. Người ta giải thích, ông hoàng nhạc Pop đi tất như thế là để làm điểm nhấn cho khán giả nhìn vào bước nhảy của mình. Đàn ông Việt có lẽ ám ảnh về việc chứng minh mức độ vệ sinh sạch sẽ của mình sau những năm tháng nghèo khó bằng những đôi tất trắng phau “vợ tôi vừa mới giặt” và “nhà tôi có dùng bột giặt cực mạnh”.

Bây giờ thì mua tất trắng hơi bị khó. Toàn những màu lịch thiệp xam xám, ghi ghi. Cứ như thể đã có một cuộc cách mạng về thời trang đàn ông. Cái gì đã làm nên điều ấy? Đàn ông Việt thường ít thay đổi trừ khi sự thay đổi ra tấm ra món, thật hoành tráng và dễ thấy, như cách đây vài tuần, tôi vẫn nghe thấy người mua hàng ở một siêu thị quần áo nhắc nhau: “Nhớ tìm cái áo kiểu NATO ngày trước”. Trời ạ, tôi xúc động như thể trở về quá khứ 20 năm trước, khi mà toàn thể đàn ông miền Bắc khao khát áo jacket có tên NATO (có vẻ giống áo đồng phục của sĩ quan khối quân sự Bắc Đại Tây Dương) cũng như áo lông Đức. Quả thực, những cái áo dày cồm cộp màu xanh rêu này vừa khéo nhắc lại thời chiến tranh đã qua, vừa mang đường nét ngoại lai Tây phương lúc ấy hãy còn rất xa xôi sau những thập niên Việt Nam bị cấm vận. Thay đổi từ áo bay bộ đội lên áo NATO mang quy mô khác hẳn đổi màu tất. Vì thế để đàn ông Việt coi một đôi tất trắng là phản thời trang thì đòi hỏi một tầm cỡ tinh tế hơn. Vào cái thời truyền hình cáp chưa có, các show thời trang chủ yếu khoe đồ lót hay váy dạ hội phụ nữ, thì một tạp chí có màu sắc thời trang cho đàn ông như Thể thao & Văn hóa Đàn Ông là một sản phẩm khiến người ta dần dần nhận ra, nên và không nên mặc cái gì. 

Tờ tạp chí này ra đời để đàn ông Việt Nam thấy báo chí giải trí không chỉ có mỗi bóng đá, xổ số và chuyện vụ án, mà còn có vô số cái khác: ăn mặc, đi lại, xe cộ. Các thứ giải trí không còn tăm tối như bóng đá để cá độ, xổ số để đánh đề, vụ án để nhấm nháp cái sự hoành tráng của các băng đảng bị truy quét; nó là sản phẩm của một thời hòa bình, xã hội đã có tích lũy và con người đã biết hưởng thụ. Nguyên việc đưa hình người đàn ông đỏm dáng ra bìa tạp chí cũng đã thể hiện một tư duy mới mẻ ở một xã hội tưởng như đậm đặc nam quyền nhưng lại quen mặc đồng phục màu áo lính, chẳng đếm xỉa đến sự khác biệt của mỗi cá nhân. Việc các cô gái đẹp khoe dáng trên bìa tạp chí đã khá quen thuộc, nhưng một doanh nhân sành điệu xuất hiện ở trên đó khẳng định một cái nhìn khác trong truyền thông. Nó gây cảm giác “chính danh ngôn thuận”, thay vì một thời dân làm ăn thậm thụt những câu chuyện không rõ thực hư, rò rỉ qua những bài phóng sự quá đậm tính văn chương trên báo Lao Động hay Tiền Phong. Cùng với tờ Đàn Ông, một loạt những tờ khác cũng ra đời sau đó, tạo nên một làn sóng khắc họa hình ảnh đàn ông Việt Nam đĩnh đạc và hấp dẫn. Ít nhất thì người ta cũng thấy đàn ông nước nhà trên các hình ảnh hoặc phim quảng cáo cũng to cao đẹp trai, răng trắng đều cả hai hàm, cơ bắp nở nang, đặc biệt là mặc comlê không đến nỗi như khoác đồ đi mượn.

Nhờ một quá trình như thế, những thứ tiểu tiết kiểu những đôi tất trắng mới dần biến mất khỏi tủ quần áo của họ. Nó là một sự đánh dấu một lớp người biết quan sát tinh tế hơn, biết nhìn ra xung quanh và hội nhập. Tất nhiên, một đôi tất trắng chẳng phải là điều lớn lao gì mà những tạp chí đàn ông hay kiến thức về thế giới mang lại cho đàn ông Việt Nam. Còn vô vàn những góc cạnh khác: chuyện làm ăn kinh tế, các bài học tài chính, sự hình thành thị trường chứng khoán, những câu chuyện về sức khỏe và bài tập thể dục… Cuộc sống đầy những bất trắc mà người đàn ông phải đối diện, và tạp chí đàn ông trước hết phải là nơi đưa ra những lời giải cho họ, có vậy mới khiến họ bỏ tiền ra mua. Mấy người mua tạp chí về để ngắm những kẻ lạ hay đọc những thứ chẳng liên quan đến mình?

Nói cho cùng, mua một tờ tạp chí đàn ông cũng là mua những giọng điệu đặc biệt mà tờ ấy tạo ra. Chia sẻ, cảm thông, kiêu bạc, những giọng điệu nhiều khi giúp cho một vài ý tưởng lóe lên trong đầu người đọc giữa lúc họ lật giở bên bàn cà phê hoặc cơm trưa văn phòng. Nó mà mang cái giọng đồng ca như muôn vàn tờ khác thì đã không chạy được đến hơn 100 số, nghĩa là ngần ấy người đàn ông được lên hình bìa, và chắc họ không đi giày đen tất trắng.

Nguyễn Trương Quý
(TTVH Đàn Ông số 100)

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ