Tết xa nhà

Chục năm trước, khi tôi đang gà gật trên chuyến xe dài như vô tận từ cửa khẩu Cầu Treo, Hà Tĩnh sang Viêng Chăn, thỉnh thoảng tôi choàng dậy khi có tiếng nhạc lăm vông tưng bừng quanh những đống lửa từ làng mạc hai bên đường. Người Lào đón Năm mới dương lịch. Tết cổ truyền Lào tận mãi tháng Tư. Lúc này Hà Nội đang mưa phùn gió bấc, đang nghìn nghịt người đi mua sắm cuối năm. Tết âm lịch năm đó đến sớm, ngay cuối tháng Giêng. Bạn bè xui, đi Lào đi, dễ đi lắm. Lào có lẽ không có gì nhiều để nghiên cứu, gần Việt Nam thế mà! Tôi cầm theo cuốn Lonely Planet, đọc được loáng thoáng những nơi cần thăm rồi cất đi vì không đủ kiên nhẫn.

Càng đi sâu vào đất Lào, không khí càng khô nóng hơn. Đang từ Đông Trường Sơn mưa rét, Tây Trường Sơn đón chúng tôi với cảm giác ngây ngấy, khan khan. Tháng Giêng mà Viêng Chăn nóng như mùa hè Hà Nội. Trong ánh nắng gay gắt, tháp Thạt Luổng không rõ có phải dát vàng thật không bừng bừng như ngọn lửa giữa quảng trường mênh mông. Đứng chụp ảnh ở góc nào cũng rơi vào tình trạng mặt người đen thui vì cái phông cảnh rực rỡ kia.

Những dãy phố nhà hai tầng, những tòa nhà công thự xây theo kiến trúc những năm 50 lập tức khiến tôi thích thú. Chúng giống một Hà Nội tôi từng biết. Những màu vàng sẫm, màu ôliu, màu xanh cỏ úa của những mảng tường và cửa sổ nan lá sách của một thời kiến trúc đô thị thuộc địa nho nhỏ. Những đường gờ, những tấm ôvăng chạy dài, những hàng hiên che vỉa hè nối nhau tạo nên những bóng râm trông ra những quảng trường hay ngã tư nhỏ vắng vẻ. Khung cảnh giống như một bức ảnh thời thơ ấu. Chỉ thiếu cái lạnh và những hàng cây sấu lá sẫm màu là thành Hà Nội.

Sau hai ngày nhanh chóng khám phá hết thủ đô Lào, tôi ngược lên Luang Prabang, cố đô của vương quốc Vạn Tượng (Lan Xang) rồi vương quốc mang tên kinh đô này. Theo những gì tôi tranh thủ đọc được, Lào vốn hợp thành từ ba vương quốc, và Luang Prabang là nơi triều đại quân chủ cuối cùng tồn tại trước khi chấm dứt vào năm 1975. Hoàng cung nhỏ bé đến ngạc nhiên, mang kiến trúc kết hợp giữa dinh thự thuộc địa và chùa Lào. Những đồ đạc đơn sơ, những bộ xa lông phong cách nửa thế kỷ trước, những số phận cung đình đã bị diệt vong bởi các cuộc chiến tranh.

Điều đặc biệt của thành phố này là nó khiến ta nhớ về nhiều nơi. Một hoàng thành nhỏ bé nằm bên một con sông nhỏ như sông Hương gợi nhớ đến Huế. Một khu phố hai tầng nhỏ nhắn vuông vắn bên sông Mê Kông giống Hội An. Và những con dốc của các khu phố du lịch cùng làng bản xung quanh, giống Sapa. Thành phố nằm ở mỏm đất nơi ngã ba sông Nậm Khăn và Mê Kông, có đến cả mấy trăm ngôi chùa san sát nhau quây quần dưới chân ngọn núi Phou Si. Đi vài bước lại gặp chùa. Những tháp mộ và stupa lô nhô khắp nơi. Thành phố tuy vậy lại không có cảm giác ủ dột hoang phế như những kinh đô di sản Đông Nam Á khác.

Ấy chính là nhờ không khí của ngày lễ Năm mới tại đây, nơi có những khu phố du lịch với những thanh niên da trắng mà cuộc đời dường như nhất-thiết-phải-tới châu Á, và dãy dài xe hơi hạng sang đậu dọc lề đường. Có một buổi tiệc mừng Năm mới diễn ra hôm qua, còn lại những khung bạt chưa dỡ, hệt như khung cảnh mở đầu bài hát Happy New Year của ABBA: “Sâm banh đã cạn và pháo hoa đã hết. Anh cùng em, chúng ta vẫn đây. Mất mát và buồn bã làm sao. Khi bữa tiệc đã kết thúc, và buổi sớm nay sao xám xịt. Không hề giống ngày hôm qua…”

Luang Prabang nằm ở vĩ tuyến ngang với Bắc Bộ nước ta, lại ở trên cao nguyên, nên nhiệt độ mát mẻ hơn hẳn Viêng Chăn. Những làn sương bảng lảng trên những triền dốc ở đây giống những mùa đông Hà Nội hoặc Sapa. Những con đường ít xe cộ, những đôi trai gái bước thong dong dưới những rặng hoa đại, những chạm khắc mặt Phật cho đến vũ nữ đều thấm vẻ từ bi, man mác như những ngôi làng cổ Bắc Bộ.

Đan xen vào giữa khung cảnh di sản là những ảnh hưởng Tây phương. Biển báo đường dành cho người đi bộ có hình cô gái mặc váy áo truyền thống và búi tóc. Nhà hàng nấu kiểu Pháp. Những quán bar nho nhỏ có hàng hiên nhìn ra phố. Không có nhiều cô gái mắt xanh mỏ đỏ nhưng có những ông Tây già ngồi ôm những cậu trai bản địa. Nếu như ở Viêng Chăn chúng tôi phải đợi bốn mươi lăm phút mới có món ăn đầu tiên và duy nhất thì ở Luang Prabang tốc độ nhanh nhẹn hơn nhiều, chỉ mười lăm phút tôi đã có cả một bàn ăn sáu bảy món. Ở đây xem ra toàn cầu hóa nhiều hơn, từ đồ ăn cho đến các dịch vụ “giao lưu tình cảm”. Nhưng về cơ bản, vẫn là một thành phố trầm lắng. Người bạn đồng hành có vẻ đã chán nên về trước. Tôi còn muốn đi vào rừng và cưỡi voi xem sao.

Cái lạnh cao nguyên khiến tôi ngây ngấy sốt. Tôi bỏ ý định cưỡi voi, quay về một mình. Khí hậu khắc nghiệt và hai mươi ba tiếng đồng hồ từ Lào về Hà Nội theo lộ trình cũ khiến tôi ngán ngẩm. Tôi quyết định mua vé máy bay. 180 đôla là khá đắt với tôi lúc ấy. Tôi hi vọng là ngoài tờ 100 đô trong ví, tôi có thể mua bằng số tiền Kip còn lại. Lúc ấy tôi chưa dùng thẻ tín dụng quốc tế. Thật lạ lùng, vào lúc đó, tôi chưa hề có một ý niệm về việc chuẩn bị tư trang, cứ đi là đi. Trên chuyến xe từ bến xe về trung tâm Viêng Chăn, một anh chàng người Mỹ bắt chuyện giết thì giờ. Chuyện về những chỗ đã đi ở Lào. Tôi hỏi hắn có cưỡi voi không. Hắn nhún vai: “Tao không thích cách người ta đối xử với loài vật như thế.” Vậy là mày giống một nhà hoạt động môi trường. Hắn gật gù, “Tao ăn chay”. Nhìn tướng tá gồ ghề, đầu bịt khăn hoa, tai đeo khuyên, người xăm trổ của tay này, tôi lấy làm thú vị về sự nghịch lý. May mà tôi chưa nói là mình định cưỡi voi.

Tôi bước vào quầy vé của Vietnam Airlines ở tòa nhà Lao Plaza, đặt ngay vé đi Hà Nội. Tôi rút tiền ra. Tôi choáng váng vì tờ đô la mình có là đồng… một đô. Thế là tôi phải cay đắng hủy vé, mất oan số tiền phạt trong khi chưa kịp cầm trên tay cái gì hết. Tôi giận mình đến muốn khóc. Tại sao tôi không chịu làm thẻ tín dụng quốc tế? Tại sao tôi lại chủ quan đến vậy… Tôi vẫn cứ là trẻ con, là đồ nhà quê, v.v...

Tôi lủi thủi ra bến xe và bắt chuyến về Hà Nội trong cái nóng Trung Lào. Hai mươi ba tiếng đồng hồ trên xe, tôi thấm thía hơn lúc nào cảm giác mong về nhà. Cạnh chỗ tôi, một bà già người Lào say xe nôn tóe loe, rồi cánh Tây balô cãi nhau với lơ xe Việt khi bị xếp xuống cuối xe để nhường cho đám buôn chuyến lèn hàng. Gần một ngày đêm trên ôtô lèn chặt người, tôi không còn cách nào khác là ép mình đọc hết sạch cuốn sách Lonely Planet về Lào. Một thao tác ngược đời vì khi rời đất nước này, tôi mới có thời gian đọc thật kỹ, từng đoạn, từng trang… Rồi tôi thấy đây là cuốn sách hay nhất trong những cuốn mà tôi đã đọc trong loạt sách này. Tác giả đã sống ở Lào gần mười năm. Những dẫn chứng thú vị như người Pháp thời cai trị Đông Dương đã kết luận: Nếu người An Nam trồng lúa để nó lớn, người Miên nhìn lúa lớn thì người Lào nghe lúa lớn. Những câu chuyện về Hoàng gia Lào đã bị đày đến chết ở một cái hang ở tỉnh Sầm Nứa, trong khi sử chép họ tham gia Hiệp thương chính trị… Đất nước thanh bình với những ngôi nhà mái dốc xinh xắn như minh họa truyện tranh trẻ con, hiếm hoi thấy nhà bê tông mái bằng, hóa ra cũng có một lịch sử nhiều đau khổ và loạn lạc. Tôi cay mắt khi nhớ lại tòa nhà Hoàng cung bé tí quét vôi trắng ở cạnh ngã ba sông Mê Kông và Nậm Khăn.

Để rồi từ đó, tôi lâu lâu lại nhớ cảm giác chơi vơi bên bờ Mê Kông lộng gió của một ngày đầu năm, nơi tôi đã ngỡ như mình đã suy niệm được điều gì trọng đại lắm. Tôi mới chỉ nhìn thấy những khuôn mặt Phật mà vội đánh dấu “đã đến trước khi chết”. Cho đến lúc đắm mình trong câu chữ của cuốn sách, tôi mới thấy, nhỡ chuyến bay có thể là điều không may, không có thẻ tín dụng có thể là kém cỏi, nhưng cơ hội đắm mình trong một cuốn sách hướng dẫn du lịch, để rung cảm với số phận một đất nước, thì rất khó lặp lại.


N.T.Q
Đăng nhận xét

Bài đăng phổ biến

Nhãn

Hiển thị thêm

Lưu trữ

Hiển thị thêm