Thứ Hai, 28 tháng 12, 2009

Rau tươi sách sạch

.
Tự nhiên thấy sao không viết những ghi chép này nọ về đời sống Hà Nội, những gì mình biết, mình thấy, đơn giản, không đặt nặng sự vụ nào. Viết ngăn ngắn cho vui. Sau đây là bài thứ nhất.
--------

Sài Gòn mới là nơi đi đầu trong phong trào nhà sách, phố sách hình như cũng có, nhưng phố sách tiện lợi như Đinh Lễ-Nguyễn Xí thì chỉ Hà Nội mới có. Phố sách mà như chợ xanh, chợ cóc, ấy mới vui. Cũng có bầy hàng tươi sống ra như mẹt rau chợ sớm mà trí thức elite vẫn lăn vào mua. Mà gần như chỉ có xuất phát từ tiêu chí "rẻ hơn giá bìa" - tức là từ cái kẽ hở giá bán được chiết khấu trừ phần trăm phát hành.

Nhưng tại sao lại là Đinh Lễ và Nguyễn Xí? Đơn giản lắm. Đinh Lễ là phố phía sau nhà Bưu điện Bờ Hồ, có trụ sở cơ quan phát hành báo chí Trung ương, cứ 5 giờ sáng là dân đưa báo đến lấy từ đây ra giao khắp các sạp Thủ đô. Mà chữ sách dẫu không liền chữ báo một vần cũng chẳng khéo là ghét nhau, nên sách cũng tiện mà có mặt. Nguyễn Xí là phố nối từ Đinh Lễ sang Tràng Tiền, bên sườn của Tổng công ty phát hành sách Việt Nam, vốn là cửa hàng sách Quốc văn ngày xưa. Phố Tràng Tiền ngày trước có ba hiệu sách nổi tiếng là Quốc văn, Ngoại văn và Hiệu sách nhân dân. Hiệu sách Ngoại văn nay là tòa nhà văn phòng 17 Ngô Quyền, còn chừa một gian làm cửa hàng sách đối diện khách sạn Dân Chủ. Hiệu sách nhân dân dễ nhận ra vì có cái biển hộp gần như duy nhất ở Hà Nội ngày xưa, hình hộp đứng có 3 mặt kính màu, mỗi mặt một thứ tiếng của chữ SÁCH, là tiếng Nga, Anh và Pháp. Nay hộp đó vẫn còn, và hồi ấy dễ nhớ vì nó có mặt tiền hoành tráng nhất phố, lại thêm việc đứng bên cạnh cửa hàng ăn uống Bodega, mà người ta hay đọc linh tinh là Bò Dê Gà. Cửa hàng này có từ thời Pháp, sau thành Mậu dịch quốc doanh. Hai cửa hàng Quốc văn và Ngoại văn cách nhau có một dãy phố có kiến trúc hai tầng gần giống hệt nhau, kiểu Art-Deco, với dòng chữ đắp nổi to trên tầng hai là để nhận ra được, vì lúc ấy phố Ngô Quyền cũng vắng như phố Nguyễn Xí. Nay thì chỉ còn hiệu sách Nhân dân đổi tên thành Hiệu sách Thăng Long là còn giữ kiến trúc cũ với cái mái hiên đua hàng cột ra tận mép vỉa hè, nhưng bị lút giữa các hiệu kính và gallery. Nói chung phố Tràng Tiền bây giờ không có dấu hiệu là một phố kinh doanh tốt, cho dù có người cứ ví nó với đường Đồng Khởi ở Sài Gòn. Có lẽ vì Tràng Tiền vẫn cứ phảng phất chất "mậu dịch quốc doanh" như năm nào.

Nhưng thôi, nói về phố sách. Thì đấy, các hiệu sách trên phố này có thâm niên lâu thế mà giờ phải chào thua hai phố sách, như siêu thị thua chợ xanh ngay sát nách. Cũng không hẳn vì giá rẻ, mà vì sự tiện lợi. Dân bán sách Xí-Lễ dù chưa chắc đã đọc các sách họ bán nhưng nhắm mắt cũng biết sách nào cần phải bày ra sạp ở mặt tiền. Nói đến dân bán sách ở đây, phải nhắc tới bà Mão, cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến phong trào kinh doanh sách liên kết nở rộ và hình thành phố sách. Thời bà Mão là cách đây gần chục năm, các thể loại sách nở như nấm sau mưa, không khác thời phim mì ăn liền, nhưng bây giờ khi cái bọn đọc sách ẩm ương cũng như giới khán giả đã đua đòi đọc "giải cấu trúc", "dòng ý thức" hay là xem "art-house", cãi nhau Chơi vơi Bi ơi đừng sợ với Đừng đốt... thì bà Mão đành yên vị ở trên gác hai nhà số 5 Đinh Lễ, lùi về hậu trường như chốn đại lộ Hoàng hôn mà chịu thua đám con cháu vừa khỏe mồm chào hàng vừa nhanh chân thuê mặt phố bên dưới. Các nhà văn giờ vừa ngấm ngầm hãnh diện vừa nhăn mũi nhìn sách mình bày la liệt trên các "mẹt" của hai góc phố - đại lộ Danh vọng những năm này. Hồi lên cơn sốt hồi ký của diễn viên Lê Vân - ở đây phải trưng biển: Ở đây không có Lê Vân - Yêu và Sống. Tức là quyển này bán chạy kinh hoàng, đến mức các nhà bán sách khản cả cổ vì trả lời rằng sách đã bán hết, nhà in chưa kịp mang về. Thôi thì ông trưng biển luôn cho được việc. Cái tên Lê Vân phát ra từ miệng người Hà Nội dạo ấy nhiều hơn cả thời chị đóng cô Duyên trong Bao giờ cho đến tháng Mười hay chị Dậu. Thật là một danh vọng tái xuất độc đáo mà chắc nữ nghệ sĩ cũng chẳng ngờ.

Bọn bán sách thì cũng vốn là dân bán hàng Hà Nội. Mà đã là dân bán hàng Hà Nội thì cái mồm chẳng phải nể nang gì ai. Tất nhiên là cũng có sự khác biệt. Ví dụ chị Hoa ở ngay sát đầu ngõ vào nhà bà Mão vốn chuyên bán những sách tưởng có vẻ khó bán hơn, nhưng thế mà khôn. Sách của Nhã Nam trắng phau phau, sách Tinh hoa khó nhằn của Trí Thức, sách dầy hự của đám liên kết không hiểu ai mua, chị ấy xử lý được tất. Những quyển cành cao nào các hàng khác chê, rất có khả năng nhà chị này (hiệu sách Minh Trí) bán. Những sách best-seller kiểu Harry Potter hay Chạng vạng của Trẻ thì thôi không bàn, vì cấm có hiệu nào không bán, kể cả ngang nhiên bày sách giả ra.

Còn người đi mua sách, cái thú nhung nhăng tạt qua hàng này, chạy sang hàng kia, không lo bị mấy cô mặc áo dài trông nhà sách canh chừng với xầm xì không ra tiếng (mà tưởng như trật tự viên đeo băng đỏ) thật là thích. Bọn bán hàng Xí-Lễ cũng biết thừa người ta có đọc qua thì mới mua, cũng biết cái mặt hàng của mình chẳng phải thứ chóng ôi thiu với lại ép mà mua được. Số lượng người mua và đọc sách ở Hà Nội xét cho cùng cũng chỉ ở mức nhất định. Mua dền dền là nhẵn mặt ngay, thế nên không biết điều mà xẵng với khách thì chỉ sớm mất khách (Sách hay thì đâu nhiều, mà đã hay thì hàng nào chả bán!) Cho nên cứ để khách đứng đó, hàng có nhiều khách đứng lật giở sách là chứng tỏ hàng có lộc. Đã cất công buôn văn bán chữ thì chịu khó gật gù với cái sĩ diện tôi-có-văn-hóa-cao của giới mua sách Hà thành (sĩ diện ở đây nghĩa là cái thể diện của trí thức).

Định nghĩa khu phố văn hóa nếu mà lấy tiêu chí số đầu sách trên số nhân khẩu thì Xí-Lễ ắt đầu bảng cả nước. Hai con phố bé tí, thế mà những cái ngõ bên trong đầy hự sách, những ông bà chủ trẻ nhau nhảu mồm miệng giữa ba bề tứ phía sách. Có điều lấy làm lạ là các cơ quan xuất bản lớn tìm cách chen chân vào đây mà không được thì lâu lâu vẫn có nhà sách tư nhân mới trưng biển. Bọn bán sách ở đây không có cái cảnh vẻ kiểu dò mã số sách trên máy tính với in roèn... roẹt... phiếu tính tiền như hiệu sách lớn, mà nó nhớ ngay sách nằm ở đâu trong đầu. Muốn mua bao nhiêu cũng có, kể cả trên giá đang hết, nó ới nhau một phát, lúc sau có cậu người nhà khuân một chồng ra như kiện quần áo. Còn khi khách cứ hỏi những sách ấm ớ, đã hết hút hàng từ lâu, bọn này chỉ như lườm cái rồi chỏng lỏn đáp: Hết rồi. Nhiều lời hơn thì cười vẻ khinh thị: Giờ này ai còn bán sách ấy. Còn khi mà đã đúng mùa thì "cho năm Chỉ là con đĩ với ba Ăn phở cùng một Ở trên giường nhé."

Kể cũng lạ. Các nhà chủ trương đặt tên phố thời nào, tính toán thế nào mà phố mang tên hai võ tướng thời Lê với phường đúc tiền lại thành bán sách. Còn phố mang tên thi hào dân tộc thì nồng nàn cà phê hoa sữa. Ừ thì có sao, nhân vật đi làm nghề phấn hương mời rượu thì cha đẻ cũng được thơm nồng đầu phố đêm đêm. Đánh nhau mãi, tiền bạc mãi thì cũng phải đến lúc yêu sách chứ. Mà sách bầy ra mẹt càng vui, người viết sách mong sách mình cũng như mớ rau được chị bán hàng chăm chút mà vẩy nước yêu thương như nước cam lồ Bồ Tát cho tươi. Ờ, nhưng mà rau thì quảng cáo sạch mới bán được, chứ sách chớ nên bảo sạch, sạch là nhạt nhẽo, vô thưởng vô phạt, không bán được đâu.
.

Đức tin nhìn từ Hà Nội

.
Đợt vừa rồi tôi nảy ra ý định đi thăm một loạt chùa chiền miền Bắc. Chỉ là kiểm chứng lại cảm nhận của mình về những nơi đã từng đến khoảng mười năm trước, để hi vọng hiểu sâu hơn chút nào đấy về một quá khứ của nền văn hóa mình đang sống.

Bạn tôi có hỏi: “Tại sao lại sinh ra quan tâm đến mấy thứ đó?” Tôi giải thích như trên, và rồi câu chuyện nối tiếp sang chuyện đình chùa giờ bị trùng tu xấu, sự cẩu thả và qua quýt đến mức báo động ở cấp độ toàn diện. Những tảng đá chân cột chùa Trăm Gian thay vì tạc hình cánh sen hẳn hoi thì chỉ là những đường khắc rãnh vụng về. Những hệ cột xà kẻ sơn verni vàng rực như nhà trọc phú. Hai nhà đón khách ngoài cổng sửa lại thô kệch đến đáng ngạc nhiên, những tấm ván gỗ làm tầu mái nhiều mắt lỗi như cốppha dùng cho xây dựng, loại dùng vài lần là chẻ củi đun. Chùa Thầy, thắng cảnh có một không hai, thì nhà thủy đình tàn tạ giữa hồ nước đục nổi váng, mặc dù hồ khá rộng. Xung quanh, những xóm nhà dân rầm rộ xây cao tầng, mái chóp, sơn tường xanh đỏ la liệt tạo nên bức phông màn cọc cạch với các kiến trúc cổ. Cách đó, trên đường vào có thể thấy những ống khói nhà máy xi măng Tiên Sơn nghi ngút nhả lên trời. Tiếng rầm rập của các phương tiện vận tải không che chắn đất cát, tiếng còi xe ầm ĩ sầm sập quất vào mặt vào tai du khách.

Đấy chỉ là một vài ví dụ rất dễ thấy khi hành hương. Tôi lại hỏi bạn tôi: “Mối quan tâm của tôi như vậy có lẩm cẩm không?” Bạn tôi nói: “Không.” Dĩ nhiên là nhiều người quan tâm là đằng khác. Bây giờ, người ta năng đi lễ bái cầu cúng, như thể phong trào. Nhưng nhìn vào việc đi tìm nguồn di dưỡng tinh thần của xã hội, thấy cũng nhao nhác như tình trạng lưu thông trên đường phố. Cảm tưởng như người Việt Nam ngày càng dễ tin hơn bao giờ hết, nhưng tin một nơi chưa đủ, họ phải “phối kết hợp” những niềm tin đó ở nhiều “cửa”, nhiều “khóa”, nhiều “căn” để chắc chắn thêm cái vị trí họ đang đứng. Càng đi tìm kiếm niềm tin theo cách ấy, họ càng hoang mang và niềm tin từ chỗ tuyệt đối vào những điều thiêng liêng đã phải có sự đảm bảo bằng vật chất. Nhưng chẳng ai chịu thừa nhận mình đang chông chênh, đang mất đi rất nhiều niềm tin, nhất là sự khủng hoảng mất niềm tin ở chính mình và giá trị “Thiện” của cộng đồng.

Người ta thấy những chốn linh thiêng ngày nào được đối xử một cách đầy giản tiện: sơn phết cho hoành tráng bất kể giá trị bảo tồn ra sao, tận dụng những cách thức kiếm tiền bằng vốn tự có đầy ranh ma: đồ mang từ nơi khác về dán nhãn hàng thủ công mĩ nghệ địa phương, lừa cho khách vào hàng ăn rồi hét giá cật lực, đến nỗi nghe đến trẩy hội chùa Hương là người ta phải e dè. Có người nói dân mình ranh ma một cách dại dột, hoặc họ nhận thức kém. Điều này chưa chắc đúng. Bản tính con người bao giờ cũng tự ý thức được lợi hại của việc mình gây ra, nhưng có điều, hình như người ta đang ngại nghĩ, ngại cật vấn mình, ngại tính toán cho thấu đáo, họ lo rằng càng nghĩ càng bới bèo ra bọ, tự dưng dựng nên chướng ngại vật cho bản thân. Họ sợ mình mất cơ hội kiếm ăn, cơ quan quản lý chẳng ủng hộ họ đưa ra khuyến cáo dự phòng. Nếu cái rủi ro nào đấy có xảy ra, ắt nó đâu nhanh đến trong nhiệm kỳ của mình! Hoặc rất có thể, cái chủ quan duy ý chí “ta nhất định thắng” từ thời chiến tranh vẫn còn làm u mê đầu óc người cầm cân nảy mực. Và nếu có chút băn khoăn vì cái rủi ro nào đấy có thể xảy ra, thì, chậc, có lẽ nó trừ mình…

***

Nếu ai đã xem bộ phim tài liệu Hà Nội trong mắt ai (đạo diễn Trần Văn Thủy, thực hiện năm 1983) thì còn nhớ lời một nhân vật thanh niên đi học ở Tây về, phát biểu rằng Hà Nội cũ kỹ và chẳng có gì đẹp cả. Vậy mà cái Hà Nội cũ kỹ ấy đã thành một hoài niệm đẹp đẽ của những người Hà Nội hôm nay. Hiện lên trong những thước phim màu trầy xước, trong tiếng đàn ghita của nghệ sĩ mù Văn Vượng, là một thành phố yên bình, bé nhỏ và khắc khoải về những giá trị bị xem là khá ngây thơ với thời nay. Toát lên từ bộ phim là một tinh thần công dân, một niềm tin nào đấy ở một Hà Nội “phần hai” to lớn, có điểm tựa từ một quá khứ vững chãi. Còn Hà Nội hôm nay, cái phần hai của Hà Nội thời trăn trở những “chuyện tử tế” ấy, ra sao? Trong truyện ngắn “Những ngày ở Việt Nam” của cây bút trẻ Phan Việt, dưới góc nhìn của một du học sinh lâu năm về nước, cô nhìn thấy sự đổi khác của Hà Nội không chỉ ở những cảnh vẻ xây dựng, mà cái chính yếu là sự rỗng hụt: "Sáu năm trước, tôi rời Hà Nội, Khi tôi đi, mọi thứ ở đây đều rõ ràng và chắc chắn... Lúc tiễn tôi ra sân bay, ai cũng mừng cho tôi, ai cũng tự hào vì tôi. Còn tối hôm qua, ai cũng nói rằng họ lo lắng vì tôi… Cứ động vào đâu cũng thấy rơi, thấy vỡ, thấy nổ, thấy sập, thấy chen lấn xô đẩy, thấy thấp thỏm cuống cuồng, thấy khó hiểu mất lòng. Và chết." (trích tập Nước Mỹ, nước Mỹ).

Những bộ phim và sách vở ấy đã đụng phải điều quan trọng nhất, quan trọng hơn cả di sản vật thể, những mái đình hay tượng Phật quý giá, hơn cả những Hồ Gươm hay Văn Miếu, là tinh thần của con người đối xử với nơi chốn hay bảo vật đó. Chúng ta ăn sẵn những chỗ ngon lành như Hồ Gươm để “ghi dấu ấn” cho những lễ lạt tốn kém bằng những quy hoạch “vẽ rắn thêm chân” mà thả nổi cho những Hà Nội “mở rộng”. Chúng ta cứ nói hay nói tốt nhưng sản phẩm què quặt, chẳng khác người đàn bà bán điêu nơi chợ búa theo cách nói bình dân. Chùa Hương nổi tiếng vì nạn bắt ép du khách sử dụng dịch vụ du lịch, vì động giả, chùa giả, vì hàng thịt chó hay đặc sản thú rừng chen chúc cửa Thiền. Mà người ta còn phát giác thịt thú rừng cũng chỉ là giả, lợn thịt bị đập bẹt mõm, kéo dài ra, hun khói thành cầy vòi. Với cơ man những chuyện như thế hàng năm trời, chỉ có thể dùng từ “ô uế” để nhận xét. Khi chúng ta xem nhẹ việc giữ gìn của nả cha ông thì thật khó tin là hành động thắp hương của chúng ta hứa hẹn một ngày mai kế thừa có giá trị xác tín.

***

Quay trở lại những thắng tích, nói cho công bằng thì mọi thứ đang có vẻ lành lặn hơn, trơn tru và láng lẩy hơn. Nhưng câu chuyện trùng tu được các báo phê phán, cho thấy tâm thế không hạnh phúc, công trình bóng bẩy nhưng không còn là những di tích khiến người ta hạnh phúc vì được chiêm bái một cái gì thiêng liêng của quá khứ văn hóa tổ tiên để lại. Nó chỉ còn là những cái xác màu mè phủ lên bằng những ý chí tâm linh. Người ta hăm hở tìm cách đến được tận nơi, sờ vào chân ông Phật hay chạm cái đầu rùa để lấy may, bằng một thái độ cảm động thì ít, kiếm chác thì nhiều. Người ta khinh nhờn tinh thần của chính mình bằng cách ném cho Phật, Thánh những đồng tiền lẻ hòng mua lấy một chút cỏn con duy tâm.

Trên đường vào chùa Thầy, ở thị trấn Quốc Oai có một thắng tích thâm u là động Hoàng Xá. Ven đường tỉnh lộ bụi mù mịt là mặt đầm sen dưới chân núi, với ngôi thủy đình mộc mạc soi bóng như chốn ẩn lánh sót lại đáng ngạc nhiên. Bên trong là động đá, với những pho tượng Phật nổi tiếng có từ 200 năm, và “nổi tiếng” vì vụ phát hiện một lúc mất 10 pho nhưng tìm lại được vào năm 2001. Trước đó ba năm liền, mỗi năm, trộm vào lấy cắp tượng một lần. Tuy nhiên, những gì của năm 2009 mà người vào thăm có thể thấy là lòng động vẫn trống hoang hoác, chỉ còn lại những bệ đá trơ trọi. Tám năm trôi qua, nơi này lại thuộc về Hà Nội, nhưng sự lạnh lùng đến buốt tâm trí người thăm viếng vẫn hiển hiện như bằng chứng cho một sự suy tàn của đức tin không bù lấp được.
.
Nguyễn Trương Quý
Bài viết từ tháng 4, đã đăng báo Thể thao & Văn hóa, lấy từ blog cũ.
.

Chủ Nhật, 27 tháng 12, 2009

Hà Nội thời đại-số

.

… “Sáng nay, lúc 6 giờ tôi đã bị lạnh ngoài phố! Bầu trời trong và nhạt, thành phố vui vẻ thức dậy và hằng hà sa số cây cối náo động lên do tiếng ríu rít của ngàn vạn con chim; quấn trong một áo khoác dầy, tôi nghĩ mình còn ở Paris… vào một buổi sáng đầy nắng.” Đoạn văn ngắn trên như nhặt ra từ một tiểu thuyết lãng mạn Pháp, đầy ắp niềm hạnh phúc và khao khát khám phá. Thành phố đáng yêu đấy chính là Hà Nội vào một ngày tháng Mười một năm 1928, dưới mắt Jean Tardieu, con trai vị họa sĩ hiệu trưởng trường Mỹ thuật Đông Dương (Thư Hà Nội, gửi Jacques Heurgon). Dĩ nhiên nói đến đây, chúng ta nghĩ, thân phận ông chủ đến xứ thuộc địa, thì có gì mà không vui vẻ! Nhưng chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, hình như lâu lắm rồi chúng ta không còn cảm nhận về một Hà Nội đầy tiếng chim kia, bầu trời trong trẻo kia như xa tít.


Đọc tiếp văn của cái tay “thực dân” ấy - một cử nhân văn chương Pháp – thì Hà Nội như một nơi điều dưỡng tuyệt trần trên thế giới, với những con phố dài rợp bóng cây xanh, những khu phố của người bản địa đầy màu sắc, tiếng guốc rộn ràng của các cô gái gõ trên nền gạch lát đường làm nên bản hợp tấu của nốt thăng và sol giáng. Trên nền cảnh duyên dáng đó, con sông Hồng mở ra một tầm ngút mắt như hậu cảnh, chỉ có những cánh buồm của những con thuyền lướt qua hoặc cây cầu Long Biên chiếm vị trí nổi bật trơ trọi khi ấy.


Hà Nội có thanh lịch hay diễm huyền, chắc là nhờ một không gian trong lành như mô tả. Hà Nội trở thành nơi mộng ước được đến để yêu như tâm tưởng bất chợt của thi sĩ:


…Đi đi anh đưa em vào quán rượu

Có một chút Paris để anh làm thi sĩ

Hay nửa đêm Hà Nội

Anh là thằng điên khùng

Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới…

(Dạ Khúc, Thanh Tâm Tuyền)


Hà Nội được sánh với Paris, Hà Nội có nửa đêm để nhà thơ nhớ trong lúc sầu đời. Nhưng đấy là Hà Nội của thế kỷ trước, Hà Nội của những kẻ tha hương và ly tán. Năm 1954, Hà Nội chỉ có 530 nghìn dân trên diện tích 123km2. Hà Nội bây giờ có số dân 6,5 triệu, bao gồm cả tỉnh Hà Tây - xứ Đoài cũ, rộng gấp 27 lần năm 1954, trở thành một vùng dân cư đông đúc chưa từng có trong lịch sử của đô thị này. Với sự kiện trở thành một thành phố có quy mô lớn như vậy, một mặt khẳng định ưu thế của quá trình đô thị hóa của một nước đang phát triển dồn vốn đầu tư vào một trung tâm đầu não, một mặt làm đậm thêm sức hút của một thành phố được bồi lắng qua rất lâu.


Sự thay đổi của Hà Nội, với lối nói “hoành tráng”, là sự vươn mình, với người khác, đó là những sự bung ra xộc xệch, căng thẳng và không đồng bộ. Lơ lửng trong tâm lý chung là một bầu không khí luôn nóng: Ngày mai của Hà Nội sẽ là cái gì? Di sản lâu đời của thành phố này gây dư âm luôn khiến người ta ngoái lại. Người ta sợ Hà Nội sẽ giống một thành phố xấu xí nào đó, nên trong cái cách yêu Hà Nội bây giờ có sự cực đoan của “tinh thần Hà Nội”. Nhưng cực đoan thế đã đủ để giữ Hà Nội sẽ đẹp như một thời nào chưa, thời có cơ sở để so sánh chứ không phải là một tương lai mờ mịt còn chưa thành hình hài đặng yên tâm. Cái gì còn lại từ những năm tháng nên thơ nói đến ở trên, dần dần như những mặt hồ lặng lẽ, những khoảng âm để làm đắm chìm bất cứ cơn cáu giận nhỏ nào. Liệu chúng có đủ để hạ cơn cáu giận mang đặc trưng rất Hà Nội thập niên đầu thế kỷ 21 đang có hay không?

...

© Nguyễn Trương Quý


(trích Hà Nội thời đại-số)
.

Thứ Sáu, 25 tháng 12, 2009

Gần sông Babylon

.
Nô-en tìm thấy bài Gần sông Babylon, tác giả Linh mục Nguyễn Khắc Xuyên do Khánh Ly hát, đầu tiên nghĩ là lạ, chẳng lẽ bài này phổ lời Việt mà sao nhạc khác quá. Vì có một bài disco rất nổi tiếng của Boney M là Rivers of Babylon, lời như sau:

RIVERS OF BABYLON
Boney M

By the rivers of Babylon, there we sat down
Ye-eah we wept, when we remembered Zion.
By the rivers of Babylon, there we sat down
Ye-eah we wept, when we remembered Zion.

When the wicked
Carried us away in captivity
Required from us a song
Now how shall we sing the lord's song in a strange land

Let the words of our mouth and the meditations of our heart
Be acceptable in thy sight here tonight
Let the words of our mouth and the meditation of our hearts
Be acceptable in thy sight here tonight

Xem trên youtube



GẦN SÔNG BABYLON

Nguyễn Khắc Xuyên


Gần sông Babylon

Ta ngồi ta khóc ta nhớ Sion

Gần sông Babylon

Ta ngồi ta khóc ta nhớ Sion


Trên cây dương liễu ấy

Ta treo đàn ta

Bọn dẫn ta đi đày xa

Chúng xin ta ca

Chúng xin ta ca một khúc hân hoan

Hãy ca cho ta

Một khúc Sion


Gần sông Babylon

Ta ngồi ta khóc ta nhớ Sion

Có lẽ nào ta hát thánh ca

Trong nơi đất lạ

Có lẽ nào ta hát thánh ca

Trong nơi đất lạ

Gần sông Babylon

Ta ngồi ta khóc ta nhớ Sion


Nội dung dịch có thể nói là khá chuẩn. Rút cục hỏi đến wiki, thì ra cả lời bản Boney M hát cũng là từ bài thánh thi số 137 của Kinh Cựu ước, là lời của dân Do Thái khi trốn khỏi sự chiếm đóng Jerusalem. Có nhiều version nhạc, nhưng âm nhạc rộn ràng của thời cuối những năm 1970 thật là đặc biệt. Có thể thấy nhạc của NKX như Khánh Ly hát là kiểu thánh ca, chậm buồn và du dương, nhưng khuôn mẫu. Còn bản disco thì phóng túng và với sự biểu diễn của một nhóm nhạc da màu ở nước Đức - nơi nhiều ca sĩ và nhóm nhạc đình đám xuất hiện khoảng 10 năm trước khi bức tường Berlin đổ - trên nền chủ đề Thiên chúa giáo, là một thứ cocktail hấp dẫn. Chỉ ở một xã hội giải trí và có hẳn style thời trang (tóc xù, quần côn, áo thụng, mắt đánh đen bầm như gấu trúc...), yêu nhảy nhót (bản thân người da màu đã là những người có khiếu về các điệu nhảy có tiết tấu nhanh, tưng bừng), mới ra được một sản phẩm phức hợp mà rất đơn giản, dễ thu nhận như thế. Nên cũng không lạ khi nó "xuyên biên giới" cũng như nhiều bài hát khác của Boney M. Gần đây, trong bộ phim Mamma Mia!, có đoạn Meryl Streep hát cùng 2 bà bạn bài Super Trouper rất là tuyệt vời. Đoạn này vừa gợi lại một thời trẻ của ba nữ nhân vật trong phim, với ăn mặc và cách nhún nhảy rất ABBA, vừa làm người ta có cảm xúc vì cái cảm giác phóng túng, tự do của một thời đã mất (vì đã già, vì đã không còn lựa chọn khác).

Còn về lời ca - chất du mục và tha hương của nó là yếu tố khiến nhiều người đồng cảm, vừa là tâm sự của họ, vừa khơi gợi trí tưởng tượng và tò mò về một sự tích cổ xưa, những địa danh exotic: Babylon, Zion...

L.M. Nguyễn Khắc Xuyên có bút danh Hồng Nhuệ (ghép từ sông Hồng và sông Nhuệ vì quê ở Thanh Oai, Hà Đông), là một tác giả viết nhiều sách khảo cứu và viết một số bài hát chủ đề Thiên chúa khác như Cao cung lên. Ông mất năm 2005, chôn ở gần nhà thờ Núi Nha Trang.

Lâu lắm rồi nhỉ, không ai hát hay mở băng Boney M nữa. Hồi đi Campuchia, lúc leo lên xe tuk-tuk vào Angkor Wat, tự nhiên mình buột mồm "One way ticket... ú ù..." thế là được nghe anh lái Campuchia hát cả bài! Có cái lời Việt gì đấy mà "tôi ở nhà quê mới ra, thấy que kem bốc hơi tưởng nó sôi..." Còn hồi nhỏ hơn, hồi băng video phổ biến, các đám cưới hay mở băng nhạc Boney M nhưng hình toàn bãi biển người mẫu bikini, da rám nắng, kiểu các băng "Ngọc Sơn người mẫu", nhạc thì sến chảy nước trong khi các cô hết nằm lại ngồi. Ở quê cứ mở tô hô ra, các cụ các cháu cứ xem. Đâm ra mình cứ ấn tượng nhạc Boney M là sexy và tắm biển!

Kết cái câu trong bài Hai năm tình lận đận, cái bài có những câu hơi buồn cười: Hai năm tình lận đận, hai đứa cùng xanh xao, nhưng câu này thì mới đáng: Chuông nhà thờ đổ lạnh, tượng Chúa gầy hơn xưa!
.

Thứ Tư, 23 tháng 12, 2009

Về tản văn

.
Gửi xong bài đã sửa đi rồi, nghĩ mình có quyền đi chơi Nô-en không?

Thấy khoan khoái vì lâu thật là lâu mới cảm thấy dễ chịu vì đã đẻ ra được cái bài "trả nợ" mà thấy ưng ý. Liệu nhân vật có thấy ưng không? Có thể lúc nào đấy ta sẽ chán, nhưng là chuyện ngày mai. Nhưng xem lại thời gian biểu từ nay đến Tết, nghĩ sẽ là thiếu suy nghĩ trầm trọng nếu đi chơi. Mà biết đi đâu, cái muốn đi thì không đi được.

Những việc phải làm từ ngày Nô-en:
- Khởi sự các poster cho Sân thơ Trẻ (cái này đã tưởng dứt tình rồi nhưng thế nào lại vẫn còn... các nhà thơ có yêu thơ được như tôi không?). Cái này sẽ hành hạ cho đến Tết.
- Sửa một bản thảo dầy hự cho xuống trung bình (làm sao mà nhanh được).
- Đọc một bản dịch rất là hứa hẹn có vấn đề về văn phong (đã trót quảng cáo theo timeline).
- Dịch cho xong 400 trang...

Tại sao? Tại sao lại sập bẫy các việc thế này? Buồn nhất là quyển self-help nào cũng có lời khuyên. Mà thực ra chẳng ai khôn nổi.

Nghĩ về cái truyện ngắn suýt nữa liều mạng gửi đi. Cọc cạch như một loại kịch bản véo chỗ này đắp chỗ kia, chả có tí tình tự nào sất. Đọc khô không khốc.

***

Nói về kịch bản, hôm nọ xem bản dựng Bi ơi đừng sợ của bạn Di. Ưu điểm là quay đẹp, kỹ thuật tinh tế, không bị đánh bóng quá mức. Ưu điểm khác (mà cũng có thể là nhược điểm, tùy người xem, hehe): nhiều cảnh nóng giẫy nẩy. Không biết có bị cắt bớt đi không, nhưng câu thế cho bà con háo hức. Nhược điểm thì không tiết lộ, nó đã nằm ở ngay cách đặt vấn đề rồi.

Vậy thì nếu mình làm, mình sẽ làm thế nào? Cũng như một người viết, mình sẽ ưu tiên chọn chi tiết nào, tình huống nào? Tư duy tản văn vs. tư duy fiction ra sao? Cái từ prose trong tiếng Anh có trùng với tản văn như mình viết không?

Những người viết tản văn hay là prose ở VN thì sao:
- Lê Thị Liên Hoan: những cái tác giả này viết thực tế là thể loại gì? Ắt là hư cấu nhiều, nhưng là cái hư cấu từ thời sự đời sống trong một bối cảnh cụ thể. Mỗi bài hay nhói ra một vui vui lấp lánh, nhưng đến cuối thì cụt. Cảm giác nhiều khi ẩu, nên không trọn vẹn thành những tản văn có chiều sâu mà chỉ là những bài tạp bút có đầu đề gây sốc (Thư của trứng gà gửi chứng khoán - là cái tên rất vui)
- Nguyễn Ngọc Tư: tản văn có giọng hấp dẫn, dụng công nhiều của người viết truyện. Những cái nào có tứ lạ và ít tính từ thì hay hơn. Khi tác giả ít tưng tửng thì cảm động và chân thật.
- Nguyễn Việt Hà: đúng ổ rồi, thường xoay từ một tứ có tính luận đề rồi phục bút ở cuối để vỗ mặt lại. Không cần rườm chi tiết nhưng có võ để bài binh bố trận.

- Đỗ Doãn Phương: có cái lạnh lùng sắc cạnh, nhưng nhiều khi co vấn đề lại, hơi thiếu sức sống đâm ra đọc buồn.
- Nguyễn Quang Thiều: rất giỏi ở cái gì đó nhừa nhựa, nhiều liên tưởng nhục thể. Cái tôi rất mạnh.
- Quốc Bảo: có giọng sang cả, ăn chơi. Nhưng không thấy lãng mạn bay bổng lắm.
- Nguyễn Huy Thiệp: lẽ ra cái truyện Cà phê Hàng Hành không thể xếp vào truyện ngắn trong tập cùng tên. Nó là một loại ký thì đúng hơn. Có những câu gợi nên liên tưởng mở bay bổng nhưng rồi không đào tận cùng, người đọc quên mất.

- Phạm Thanh Hà: khi không phải dụng công đóng vai (em đàn bà hay là remote hoặc bàn phím) thì chị Hà viết hay hơn. Chị Hà viết dài hơi mổ xẻ hợp vì cách liên tưởng phong phú, viết ngắn thì hay bị vo.
- Phan Thị Vàng Anh: chị Vàng viết nhiều người phục, không bàn nữa. V.A là người số 1 về cách đặt câu hỏi. Mặc dù V.A trùm trò đưa giải pháp nhưng mình vẫn nghĩ đặt vấn đề từ một đống lùng nhùng sự kiện mới như V.A mới là khó - không mấy ai làm được. "Cái này thì phải hỏi con V.A" - đấy là câu nhiều anh chị bạn bè mỗi khi bí vấn đề.
- Nam Đan (Thận Nhiên): viết bay bướm, tình tứ. Thích nhất bài viết về Nguyễn Trung Cang - Thương nhau ngày mưa.
- Phạm Tường Vân: Chị Vân viết mà không bức xúc thì hay. Bức xúc thì lại giống Mở Miệng rồi. Có bài Phở chỉ là phần rất nhỏ trong cuộc đời là bài đầu tiên mình đọc.

- Đỗ Trung Quân: mới chỉ đọc những tản văn trên các báo về kiến trúc (Nhà Đẹp), cảm giác là mình nhiều khi ghen tỵ vì bác này viết cảm xúc mà rất tự nhiên. Nhưng nếu chỉ đèm đẹp thì không có sức nặng lắm, không ám ảnh. Có bác Đỗ Hồng Ngọc viết trên báo đọc khá hay nhưng khi đọc cả tập thấy nhạt nhẽo.
- Đỗ Kh.: mình rất thích đọc tản văn của bác này, hóm hỉnh. Nhất là đụng đến những vấn đề hóc búa mà đi được rất khéo. Cách viết của Đỗ Kh. ảnh hưởng đến nhiều người viết VN, không rõ có chủ ý hay là do tương tác thông tin.

Những tác giả khác như Vương Trí Nhàn, Hoàng Phủ Ngọc Tường... lại mang màu sắc thời đàm hoặc tiểu luận, không cùng "e" với những prose của các tác giả trên.

Tản văn nếu cứ mưa mùa hạ, gió bấc mùa đông, hoa ngày Tết thì sao? Chả làm sao, nhưng tản văn tốt thì nên là những cấu trúc "ô mai chua cay mặn ngọt", bắt buộc độc giả không được lười, phải động đậy các liên tưởng để rồi có vị hậu. Thủ pháp bẫy là hay, nhưng bẫy mãi cũng khiến người đọc bực, vì tâm lý bị dưới cơ khiến người ta khó chịu.

Vấn đề còn ngùng ngoằng lắm.
-...
.

Thứ Sáu, 18 tháng 12, 2009

Nhớ lúc sắp Nô-en

.
Hồi lớp 4-5 gì đó, tôi rất say mê đọc báo. Lúc ấy không hiểu sao nhà có nhiều báo với tạp chí như Văn nghệ quân đội (tháng nào cũng có), thỉnh thoảng có tờ Văn nghệ, còn lại là mấy tờ Thiếu niên tiền phong. Truyện ngắn là đọc say sưa nhất. Những tờ như Nhân dân, Quân đội nhân dân thì lại ít thấy, và cũng chẳng đọc, chỉ nhớ phong cách phiên âm tên các vị nguyên thủ rất buồn cười, và tôi còn nhớ mình thích tìm hiểu tên gọi và thủ đô các nước nữa.

Lớn hơn thì tôi thích đọc tờ Điện ảnhĐiện ảnh Việt Nam. Sau mới biết một tờ là do ông Vũ Bão tổ chức làm. Nhớ lại thì mấy tờ đó chỉ toàn ảnh đen trắng rồi có những mục viết kiểu "đời thăng trầm của nữ minh tinh Rita Hayworth" chẳng hạn, li kì và đẫm mùi tình sử. Có cái hay là giới thiệu khá nhiều chuyện bếp núc làm phim của VN.

Có lần lớn hơn thì phải, lúc ấy cũng đổi mới rồi, không biết nhà tôi ai tha về một quyển Du lịch Việt Nam. Hồi ấy kiểu như cũng tươi mát tí cho nhân dân, núp dưới dạng phổ biến chuyện lạ thế giới, tờ này có một bài về tắm khỏa thân ở Tây. Đáng nói là nó có một cái ảnh bãi tắm truồng, ảnh đen trắng thôi nhưng cũng trưng ra hình đàn ông hở chim đàn bà hở vú (tất nhiên là hở hết). Gay cấn phết đấy, với một đứa dậy thì. Nhưng bố mẹ chắc chẳng có thì giờ mà đọc. Thế rồi, một hôm có một chị nào vào nhà, khách hàng hay gì đó của chị lớn. Chị này vào vớ lấy chỗ tạp chí, rồi khi về nhất định xin tờ Du lịch. Chị ấy bảo có cái bài về thời trang (!!!) Hì hì, thằng cu này đã đọc kỹ lắm, làm gì có cái hình thời trang nào tử tế ngoài mấy cái váy Vi Thị Đông quê chết đi được, với lại nó đã có cái khoái cảm hư hỏng là quan sát cái sự đọc tạp chí của chị kia, biết thừa chị ấy khựng lại đủ lâu ở trang tắm tiên. Tôi ghét cái thái độ giả đò của chị gái, trông horny lắm rồi mà cứ đậy. (Hồi đấy đầu óc tôi đã nghĩ gớm lắm). Thôi thì tờ tạp chí ra đi. Cười.

Một kỷ niệm khác, thực ra chỉ là một chuyện nhỏ tí, vẫn về báo. Một lần chị tôi mang về một số báo Người công giáo Việt Nam số Tết. Tôi nhớ là năm 1987 thì phải. Tôi vẫn nhớ cảm giác về một tờ báo có những bài man mác buồn và là lạ, đặc biệt là có một truyện ngắn viết về một mối tình. Chàng và nàng gặp nhau ở Hà Nội thời những năm 1940-50 gì đấy. Hai người có quan hệ lãng mạn, nàng là dân đi đạo. Nhưng rồi nàng di cư vào Nam, để lại người kể chuyện nhớ nhung trong những đêm Giao thừa Hà Nội, khi tiếng chuông nhà thờ đổ dồn trong tiết trời lạnh giá. Tôi chẳng nhớ được chi tiết gì, chỉ nhớ nó cứ dội lại mỗi khi giao thừa hay Noel, trong trời Hà Nội mưa rét, tôi nhớ nhớ có một truyện ngắn mình đã đọc, bâng khuâng...

Nhưng điều tôi nhớ hơn ấy là đến năm học sau, tôi đem tờ báo ấy ra bọc vở. Ngày xưa việc bọc vở và dán nhãn vở là rất quan trọng. Tôi rất giỏi môn thủ công và mỹ thuật, tôi có hoa tay thật - có lẽ vì thế sau này tôi đi học vẽ, thi trường MTCN với KT là vì thế. Hồi ấy cô giáo chủ nhiệm của tôi (cấp 1) nổi tiếng khó tính và ghê gớm bà la sát. Tên cô là Mão. Chẳng hiểu sao mà cả chị tôi cũng từng học cô ấy và đến bố mẹ tôi cũng có vẻ ngán cô, gọi cô là Mão Mèo. Mặt cô khắc khổ và nghiệt. Tôi có nhiều ác cảm với cô hồi ấy nhưng không nói ra.

Đến giờ tôi vẫn nhớ. Chẳng hạn có lần tôi cắt chữ thủ công, cô xem mà không tin là tôi cắt. Cô bắt tôi khai là ai đã cắt hộ. Tôi không chịu nhận, cô bắt ở lại cắt chữ khác. Về nhà tôi mới ấm ức khóc. Bố mẹ tôi lồng lên, bảo để đến trường chứng minh cho cô thấy con trai mình khéo tay thế nào. Đại khái rồi thì cô cũng thấy là tôi làm được thật. Còn nhiều vụ khác, chẳng hạn tôi cũng không hiểu vì sao điểm trung bình năm học của lớp bao giờ cũng chỉ có 2 đứa con gái được 8,0 và tôi cố gắng bao nhiêu cũng chỉ xếp thứ 3-4 và chỉ 7,8. Tôi không hiểu những điểm 9, 10 mình đã đạt được nó đi đâu về đâu mà chẳng ảnh hưởng gì đến kết quả cuối cùng? Điều đáng sợ nữa là cô biến những đứa tổ trưởng, tổ phó, bàn trưởng... thành người giám sát các bạn khác, hoặc là giám sát nhau. Nói là giống Stasi thì hơi quá, nhưng cảm nhận của tôi là rất hãi. Bởi vì cô có lối tiếp nhận thông tin rất khủng bố. Cô bêu tên và gióng giả những đứa nào trót phạm lỗi, những cái lỗi có lẽ là vớ vẩn mà đứa trẻ nào hiếu động cũng mắc phải. Rồi cô sẽ phê vào sổ liên lạc mới khiếp. Cái sợ nữa mà tôi nhớ là đứa nào từng hư mà có được một chút gì khá khẩm là cô thánh thót như ghi công cải tạo... Đó chỉ là những chuyện rất li ti, nhưng tôi nghĩ nó đã hằn vào óc tôi nhiều năm trời, có thể liên quan đến việc hình thành tính cách tôi về sau nữa.

Quay lại chuyện bọc vở. Quyển vở bọc bằng tờ báo Người công giáo VN là vở bài tập. Có một lần nộp vở rồi, cả lớp ngồi dưới làm bài để cô chấm bên trên. Tôi để ý thấy lúc đang chấm, cô cầm một quyển lên đọc cái bìa. Ồ, quyển của mình. Cô đọc rồi nhìn nhãn vở. Cô hỏi tôi, giọng khá là ân cần: Em bọc vở bằng báo gì thế? Cô bảo có cái truyện hay, cho cô gỡ ra đọc rồi bọc lại nhé.

Tôi nhớ ra, mặt ngoài quyển vở là đúng trang có truyện ngắn kia. Cà lớp nhìn tôi như thể ghen tị vì tôi có được ân huệ. Tôi cảm thấy cũng hơi sướng sướng trong bụng, hóa ra cô cũng phải lụy mình. Hay thực ra là hơi vui vui vì thấy cô tự nhiên có phút mềm yếu bởi một cái truyện ngắn mà mình cũng bâng khuâng.

Sau này khi đã lên cấp hai, tôi không đến thăm cô, mà chỉ thỉnh thoảng gặp cô khi về trường lấy sổ sách gì đấy. Cô cũng già đi, và lúc ấy tôi cũng không thấy mặt cô nghiệt lắm! Có điều tôi vẫn cứ buồn, nghĩ nếu cô đừng tỏ ra cứng nhắc hồi ấy thì việc đi học của bọn tôi sẽ vui biết bao? Chúng tôi cũng toàn đứa ngoan cả đấy chứ. Và cô nào có biết, có đứa học trò đã để bụng rất lâu thế không?

Bây giờ, có hai thứ khiến tôi cứ nao nao mỗi kỳ Giáng sinh hay Giao thừa, ấy là truyện ngắn nọ mà cô giáo tôi đã gỡ từ bìa vở ra đọc, và mấy câu trong bài Gửi người em gái của Đoàn Chuẩn - Từ Linh mà tôi cứ nghĩ là có liên quan gì với nhau chăng:

Đêm tân xuân, Hồ Gươm như say mê.
Chuông reo ngân, Ngọc Sơn sao uy nghi
Ngàn phía đến lễ đền, chạnh lòng tôi nhớ tới người em

Mỗi đêm như thế đi ra đường, tôi ước trời đừng bao giờ sáng. Ngày hôm sau đã hết nao nao rồi.
.

Thứ Ba, 15 tháng 12, 2009

Mặc như sao

.
Lẽ ra không được viết blog (đang nợ rất nhiều, thực ra là cắn rứt lương tâm là chính), nhưng nghĩ, ờ, đời là đời của mình, viết gì thì viết, nhịn để làm gì. Cái gì nặn ra được thì nặn.

Dạo này ngó nghiêng văn học Anh, phim Anh hơi nhiều nhiều. Hôm trước có vé phim của Hội đồng Anh, chiếu Looking for Eric, thấy nói về bóng đá với MU, rủ thằng cháu đi. Nó vốn là fan của MU. Phim gần 2 tiếng, có Eric Cantona đóng, cũng dí dỏm, nhưng thú thực là mình ngủ gật mấy chỗ vì mệt hay sao ấy. Đến giờ mình kết luận được rằng, phim Anh thì xem bằng màn hình TV ở nhà thú hơn là ra rạp lớn (trừ Harry Potter thì lai Mỹ rồi), truyện Anh thì đọc gật gù bên gối hay uống trà nhấm nháp chứ không đọc ào ào được. Tất nhiên bóng đá Anh thì khác, càng đông càng nhộn.

Hôm nay vừa mới xem hai phim Anh liền là Elizabeth và The Avengers, thấy cũng thú vị mà không rõ tại sao review trên imdb với rotten tomatoes lại bad thế. Thích cái không gian rất thanh lịch kiểu Anh, thích những kiểu sci-fi mang màu sắc art-deco cơ khí mới đầu thế kỷ. Và thích nhất là Uma Thurman, với những bộ quần áo đẹp ghê gớm. Có lẽ cô này là diễn viên ăn mặc đẹp nhất trên phim, từ mấy phim đóng với John Travolta, phim của Quentin Tarantino, chuyên trị những vai kỳ dị. Cô này có đôi mắt xa nhau dị thường.

Hóa ra Elizabeth này là phim trước của The Golden Age mà mình đã xem. The Golden Age thì lộng lẫy hơn, nhưng cảm giác Cate Blanchet đóng lúc này (2007) hơi ý thức rõ về thành công và tầm cỡ của mình nên đóng ít cảm xúc hơn Elizabeth (1998). Nói chung các phim cổ trang có nhiều tình tiết chắc cũng thêu dệt cho gay cấn, đánh bóng các nhân vật lịch sử chính diện cho đẹp lòng dân, kiểu ngọc nào chả có vết, miễn là vì dân vì nước. Phim này có Daniel Craig đóng một vai cha cố, nói được có ba câu, cầm đá đập chết một thằng và rồi cũng bị đập đến chết - một vai phụ của phụ. Thế mới biết để lên sao hạng nhất, chỉ cần vài bước và một vài năm bản lề cùng những cách thức tiếp thị. Gần chục năm sau, thành James Bond ầm ĩ rồi. Không biết bọn Anh với Mỹ đã ấm chỗ đẳng cấp có dè bỉu anh này khi mới nổi là "đồ cóc nhái nhảy lên làm người" không nhỉ, thấy có đợt rộ lên tẩy chay Bond mới. Hay đấy là thủ thuật PR ngược? Dân Úc thành công trong điện ảnh đâu có mới.

Phim Munich có anh này đóng, cùng một anh người Úc khác là Eric Bana, nhưng lại vào vai người Do Thái, nhân viên Mossac gì đấy, cũng vai phụ. Phim về đề tài khủng bố, ám sát với bạo lực, nhưng ôi thôi, các anh này từ đầu đến cuối phim ăn mặc đẹp kinh dị như người mẫu CK với lại Prada. Đi ám sát mà dàn hàng ngang trên đường năm sáu ông, mặc toàn jacket với vest nhung, chả khác kiểu Sex and the City bốn chị vung vẩy trên vỉa hè New York. Một chị bạn kêu, sao bọn Mỹ cứ toàn mặc áo dệt kim sát cổ bên trong áo sơmi, mà cứ là phải hở ra để thấy cái cổ áo trong, đến tởm. Bọn Mỹ nghĩ đàn ông không mặc áo mayô trắng sát cổ trong áo sơmi thì cũng như đàn bà không mặc bras ấy. Mà diễu bao nhiêu phim, cứ hễ các ông bố tốt với nhân viên văn phòng là sẽ màn làm việc vất vả, ngả người ra ghế xoay, nới lỏng cà-vạt, tèn tén ten, hở ra cái "bra" trắng trắng sát cổ liền. Ợ.

Nhưng Munich thì bối cảnh toàn châu Âu những năm 70-80, toàn áo body với quần ống vẩy. Mẹ kiếp, diễn viên toàn cao 1m90, mặc cái gì chả đẹp. Eric Bana chưa thấy đóng phim nào gọi là xuất sắc cả, anh này cũng chỉ như một kiểu tóc vàng mặc quần, đẹp trai mà mặt chỉ một kiểu cảm xúc. Xem The other Boleyn girl, đóng Henry VIII chán quá (cũng tại vì phim này xử lý mối quan hệ của ông vua này với các bà vợ dở). Phim Munich này, lẽ ra phải cho cái giải costume design là cùng, chứ đề cử phim hay nhất thì hơi quá. Chẹp, áo cổ lọ màu xanh hải quân bên trong, áo sơmi chấm bi, rồi khoác áo vest nhung túi có nắp, đội mũ beret (không hiểu cái mũ có cái lưỡi gọi là gì, không phải kêpi), vai khoác túi da, mắt to cảnh giác thì ít, đượm buồn thì nhiều, diễu qua diễu lại mấy cái phố lát đá, y sì quảng cáo trên tạp chí hay là cửa kính trưng bày shop thời trang ở Parkson.

Nghĩ thử làm hàng nhái, xem có giống các anh Brad Pitt dẫn con đi dạo phố không:



Bị bảo giống cò đất, thôi lấy cái nữa kiểu như biết paparazzi phục.


.

Thứ Sáu, 11 tháng 12, 2009

Đôi chân còn vững

.
Nghe bài You'll see của Susan Boyle cover lại từ bản Madonna hát hồi năm 1995 gì đó, nhớ lại cảm giác nghe bài này Thu Phương hát cả lời Anh lẫn Việt năm 1997 trong cái băng Unbreak my heart. Một cái giọng ảo não, uể oải, rất là đời. Có câu tiếng Việt đặt vào cũng đắt ra trò: Rồi mai tim em héo mòn, đôi chân còn vững. Sau có bài Mắt buồn cũng nổi:

Người yêu ơi anh đâu có biết
Ngày chia ly mưa giăng mắc trên đường về

Hồi đầu không thích Thu Phương lắm, có lẽ vì nhớ lúc chị này hát trên TV trông mặt cứ thượt ra, có cái nốt ruồi có vẻ điêu, lại toàn hát những bài nhạt nhẽo, hàng chợ cúng cụ sao ấy. Sau đến hồi Làn Sóng Xanh version 2 (nghĩa là sau version 1 với bộ ba Lam - Linh - Nhung) thì Thu Phương mới được kỳ vọng thay thế. Thậm chí cái Duyên dáng Việt Nam 6 hay 7 gì đấy, các nhà tổ chức cũng muốn đẩy TP lên thành cái đinh thay cho Mỹ Linh vốn làm mưa làm gió hồi DDVN 5 với Trên đỉnh Phù Vân. Nhưng làm sao bốc được với cái bài Về đây nghe em. Mãi sau này, TP hát ở Thúy Nga, thì mới gây được cú bốc chất ngất với hai bài Cho tôi lại từ đầuQuê hương tuổi thơ tôi ghép chung thành một tiết mục, với đoạn lên tông ở cuối rất là ngẫu hứng, khác hẳn với lối hát vo tròn cứng đơ kiểu hải ngoại.

Hồi TP sang hải ngoại rồi, thấy um sùm ly dị với lại vừa cầm sắt lại cầm cờ, rồi thấy đĩa chợ Giời có TP hát nhạc Duy Mạnh, cũng như những thứ hầm bà làng, nghĩ chán quá. Cũng chẳng nghe mấy nên không quan tâm nữa.

Cho đến hôm nọ, ở một chỗ thấy mở đĩa, nghe cái giọng quen thuộc mà buồn não nuột trong điệu Rumba, ngoảnh ra xem màn hình thấy TP hát bài gì đó giữa 1 dàn vũ công trên sân khấu chắc hải ngoại. Giờ vẫn không biết là bài gì, đoán là nhạc La-tinh kiểu của Shakira.

Lại có một đĩa những bài của Trịnh Công Sơn, chắc thu từ thời 2001, các sao Việt hát cả lời tiếng Anh. Đĩa này chất lượng hát cũng được, ngoài Hồng Nhung hát Hạ trắng, Cẩm Vân hát Một cõi đi về, Trần Thu Hà hát Tình nhớ, thì TP hát Biển nhớ. Đại để là cũng ghi được một cảm giác. Thấy nhộn nhộn vì lời tiếng Anh cũng rất là mượt nhé:
You're leaving me
I'm sitting here alone...
Tomorrow you'll leave
You take away my life
Đại khái thế. Nhớ hồi năm 2001 gì đấy, lúc LSX hay là nhạc trẻ kiểu dốc Hào Nam bắt đầu ũ rủ, TP cũng không còn ra được hit nào. Bây giờ ca sĩ đi hát ở Mỹ tá lả, đổi gió cũng nâng được một cơ số ca sĩ thành diva, nên TP ăn khách ở bên đấy chẳng lạ, vì một cái giọng hiếm như thế.

Nhưng xem lại cả sự nghiệp, TP không có một đĩa nào có tính tìm tòi cả. Nếu Thanh Lam có Cho em một ngày, Mây trắng bay về, Mỹ Linh có Tóc ngắn, Trần Thu Hà có Nhật Thực với Đối Thoại, Hồng Nhung thì cũng có mấy đĩa này khác, còn TP thì không. Có những bài hit nhưng cảm giác là cứ như ngọc thô, hoặc là cảm giác có máu lửa hơn thì sẽ khác. Nghe TP, thấy hơi nhơ nhớ những cái giọng của một thời những năm đầu 1990 ở HN, các ca sĩ làng nhàng như Hồng Thanh, Tuyết Tuyết, Minh Thúy... cũng như TP thực ra hát có bài cả, nhưng thiếu đầu tư vì cũng chẳng có người phối âm với làm bài có sáng tạo. Lúc đó toàn thấy đệm organ (thế là đỉnh lắm!), nghe lợt phợt đến ốm. TP may mắn hơn là cái giọng bản năng hơn, lại chịu khó lăn lộn. Tiếc hay thực ra cũng chẳng thể tiếc, nhưng cách thành ngôi sao của một thời đi từ những cảm quan khá đơn giản. Nhạc trẻ HN thời trước có cảm giác mang tinh thần tập thể hơn thì phải - nhìn nhau mà hát.

Nhớ hồi TP mới đẻ đứa thứ hai, lên TV hát bài gì đó ở... rạp xiếc trong chương trình Bạn yêu nhạc thì phải. Hôm ấy cả lũ ngồi ăn sinh nhật, thằng bạn mình cười hì một cái rất thông cảm: TP trông thế chắc phải tập (thể dục) ác lắm! Vài tháng sau thì thấy báo viết "TP ở lại Mỹ".
.
Get this widget | Track details | eSnips Social DNA


You'll see - Thu Phương
.

Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2009

Người kể chuyện giữa hai bờ đại dương

.
Nhân dịp nhận được cuốn Chơi cùng cấu trúc, cuốn sách khổ xinh xẻo, mượn đường đăng bài thứ hai của mình trong đấy. Cảm ơn bạn Lâm đã mang sách, tiền và đãi các tác giả một bữa cà phê sành điệu bên hông Nhà hát Lớn đúng kiểu tiệc trà Woody Allen.



Bộ phim đầu tiên của Woody Allen mà tôi xem là Mighty Aphrodite vào năm thứ hai đại học. Khi ấy bộ phim mới ra đời, và muốn được tỏ ra là mình bắt kịp gu của thế giới, tôi rủ hai bạn học đi xem cùng. Bộ phim ngoài việc có thứ tiếng Anh khá phức tạp vì nhân vật nói liên tục nên tôi đọc phụ đề không kịp, còn là bộ phim rất khác với loại phim Hollywood thông thường mà tôi vẫn biết. Cả buổi xem phim là nỗi bực dọc khi khán giả đa phần là người nước ngoài tại rạp Fansland - rạp chiếu phim nước ngoài thường xuyên ở Hà Nội dạo những năm 90 - cười rộ lên khi tôi chưa hiểu gì cả. Buổi xem phim không thành công ngoài cảm nhận về diễn viên chính bốc lửa và những đạo cụ kỳ quặc liên quan đến nghề của nhân vật là gái điếm kiêm diễn viên phim khiêu dâm. Ấn tượng nhất là một cái vòi phun nước trong bể cá cảnh có hình cái dương vật. Quay đến cảnh đó, đám Tây trong rạp cười rầm rầm...


Điều tôi không ngờ là cái ý định về gu phim đó lại nói đúng một điều: phim của Woody Allen là loại phim kén khán giả. Và ai đã thích phim của ông thì sẽ rất thích, số khán giả này chủ yếu là trí thức ở đô thị và dân châu Âu. Cái lạ của phim Allen là ông vẫn chọn diễn viên ngôi sao đình đám của Hollywood, nhưng trong phim của ông, họ biến đổi, hoặc là chất ngôi sao của họ không làm lu mờ bản sắc phim Allen.


Allen làm phim đều như vắt chanh: từ khi bắt đầu tham gia làm phim năm 1965, gần như năm nào ông cũng có phim. Không có phim nào là loại bom tấn, nhưng cái tên Woody Allen bây giờ được người ta nể trọng bởi ông cứ đi theo lối của mình, và cũng nhiều lần khiến người ta phải thừa nhận. Người ta ở đây thực tế là Viện hàn lâm Điện ảnh Hoa Kỳ, vốn mới chỉ trao cho ông ba giải Oscar trong số 21 lần đề cử. Còn châu Âu thì họ đã hâm mộ và tôn sùng ông từ lâu. Với số lần đề cử Oscar trên, ông trở thành đạo diễn xếp thứ năm trong số những đạo diễn được đề cử nhiều nhất, và vô địch về số lần được đề cử kịch bản gốc hay nhất – 14 lần. Còn các diễn viên thì sẵn sàng xếp hàng để được đóng phim của ông, nhất là vai phụ! Bởi vì số diễn viên trong phim ông được đề cử Oscar đều đặn đến mức người ta đã thành thói quen chờ đợi xem mỗi mùa giải là có Meryl Streep và phim của Woody Allen không (đây là hai nhà vô địch về đề cử Oscar, nhưng Allen còn là cơ hội cho các diễn viên dòng phim nghệ thuật bước lên đài vinh danh).


Phim của Allen là những câu chuyện nhỏ, những bộ phim không dài, thường dưới 100 phút, và kinh phí không thấm tháp gì so với những phim tốn hàng trăm triệu. Đắt nhất của ông là phim The Curse of the Jade Scorpion (2001) với 26 triệu đôla Mỹ, nhưng lại là một bộ phim thất bại. Những phim còn lại của ông chỉ tầm vài triệu đôla Mỹ. Trung bình mỗi phim trong sự nghiệp của mình, Allen đã giúp nhà sản xuất thu về 12 triệu đôla tiền vé. Thống kê một chút để thấy phim của ông cũng không hẳn là thứ phim độc lập cực đoan, làm ra chỉ để đi dự liên hoan phim và gây chú ý trên diện hẹp.


Nhưng điều gì đã khiến phim của ông thu hút được khán giả, dù không ồ ạt? Đó là những câu chuyện rất bình thường ở xung quanh ta, nơi trong mỗi căn hộ thành phố, những tâm hồn luôn tìm cách thỏa mãn khao khát của mình mà nhiều khi lạc lối. Góc nhìn của Allen soi thấu khía cạnh tưng tửng, vẻ lạnh lùng của đời sống đô thị, nơi con người dửng dưng đi lướt qua nhau, nhưng lại mất hẳn tỉnh táo khi rơi vào mê hồn trận của dục vọng. Phim không có những đại cảnh mà là những góc quay hẹp, cận cảnh nhiều, lời thoại lắm. Dụng công hài hước của Allen là làm lóe sáng những khoảnh khắc bất chợt của thường nhật, tạo dựng nên những nút thắt bất ngờ rất độc đáo.


Cái nhìn phản tỉnh


Xem phim của Allen, ta sẽ thất vọng nếu muốn được no nê những màn rực rỡ và hoành tráng, mà lại cũng chẳng có kỹ xảo gì. Phim của ông toàn là những màn thoại lửng lơ, những hoạt kê chẳng đâu vào đâu, những vụn vặt ngày thường, như thể những màn kịch phi lý. Có điều cái sự phi lý ấy luôn ẩn chứa báo động về thói vô trách nhiệm, sự thờ ơ và cái ác thản nhiên bộc lộ. Một đôi như tri âm tri kỷ yêu nhau rồi cũng bỏ nhau chỉ vì xung khắc tính cách, vì cái tôi của mỗi kẻ quá lớn (Annie Hall, 1977), một anh trí thức có cô vợ xinh đẹp hiền thục nhưng vẫn không khỏi thèm thuồng cô em vợ hấp dẫn (Hannah and her sisters, 1986), một tay huấn luyện viên tennis leo lên địa vị thượng lưu tìm cách trừ khử những rào cản đối với dục vọng của mình, dù là người tình quyến rũ (Match Point, 2005).


Nếu kiếm tìm một sự nhân hậu hay độ lượng trong giải pháp cho xung đột truyện phim của Allen thì ta cũng sẽ nhầm. Sự khắc nghiệt bóc trần bộ mặt hào nhoáng sạch sẽ của giới trí thức trung lưu, để rồi tất cả đều là thủ phạm kiêm nạn nhân. Những cái vui, nét hóm hỉnh, sự trào lộng thường là nằm ở sự mâu thuẫn của tình huống và đối tượng sa vào cái bẫy do chính họ tạo ra. Đến khi xong chuyện rồi, những nhân vật ấy vẫn như ngơ ngẩn tự hỏi, mình đã làm gì sai? Những nụ cười để lại từ phim Allen là cái cười thất bại của con người phàm tục, chứ không phải là cái cười hả hê chiến thắng giòn giã thường thấy trong truyền thống phim comedy Hollywood. Nhưng Allen không đẩy nhân vật vào tình huống lố bịch, và càng không tham vọng rao giảng gì hết. Vì vậy khán giả của những vở kịch phi lý của Samuel Beckett hay gián cách của Bertolt Brecht dễ đồng cảm với những bộ-phim-truyện-ngắn của Woody Allen. Gọi là phim-truyện-ngắn bởi phim của ông như những vở kịch ba hồi, hay một truyện ngắn có cái twist (thắt mở nút) mạnh. Những điều đó khiến phim của Allen rất châu Âu và dường như không dành cho công chúng của những siêu phẩm mùa hè.


Anh hề trí thức


Tuy nhiên, chính bởi nhu cầu phản tỉnh của trí thức luôn hiện hữu như một đặc tính của giới này, nên bản thân tình huống Allen bày ra trong phim đã mang vai trò giải pháp. Thói tự mãn, bằng lòng với giá trị kinh điển không có đất trong truyện phim. Thủ pháp giễu nhại được Allen sử dụng khá nhiều. Những màn giao tế xã hội cliché, những đối thoại đạo đức giả được Allen dành cho những cách thể hiện láu lỉnh - xem thì tưởng rất thật thà, nhưng một hồi ta bỗng băn khoăn: tại sao lại để nhân vật chỉ tầm phào chuyện ba lăng nhăng thế? Annie Hall (Diane Keaton đóng) và Alvy Singer (Allen đóng) tranh luận với nhau chỉ toàn bắt bẻ bắc cầu, chuyện nọ xọ chuyện kia, rồi người xem dần nhận ra họ đồng sàng dị mộng đang đi ngược chiều nhau, kẻ thích cuộc sống sôi nổi phù hoa California, kẻ lại trung thành với lối sống chữ nghĩa của New York. Hành động gần như chẳng có gì, chỉ có sự xuất hiện của vài nhân vật phụ. Vậy mà bộ phim đã đánh vào điểm yếu muôn thuở của con người: nỗi lo âu về sự bền vững của các giá trị ta vẫn tôn thờ. Tình yêu của Annie với Alvy là một thứ tình nghệ sĩ, tình đô thị qua đường, không đủ sức biến thành đam mê như kiểu tình yêu truyền thống Love Story của Eric Segal (Arthur Hiller dựng thành bộ phim nổi tiếng năm 1970).


Những giễu nhại về thời trang, sự phù phiếm của quần áo – cho Diane Keaton ăn mặc phá cách gây thách thức (mặc quần áo của đàn ông rộng thùng thình), rồi sự dị hợm của đời sống tiệc tùng Hollywood dưới con mắt của Allen, cho thấy ông chơi một ván bài kỳ dị. Có điều, đúng như ông đã ngầm giễu cợt, những cái sự đùa bỡn kia sau khi phim ra đời lại được xã hội giải trí đổ xô tung hô: mốt quần áo kỳ cục của Diane, cách đối thoại dấm dẳng pha vẻ lẩn thẩn nghệ sĩ tính. Ngay từ bộ phim thời kỳ đầu ông tham gia viết kịch bản và diễn xuất như Casino Royale (1967), tinh thần giễu nhại phóng túng kiểu Rabelais đã được ông khai thác triệt để. Nếu ai đã xem bộ phim về điệp viên 007 này của Hollywood gần đây, sẽ lấy làm sửng sốt vì tính tinh quái của bộ phim phản-James Bond 40 năm trước: James Bond già bị cơ quan tình báo Anh buộc tuyển người thay thế mình, các nhân vật lịch sử được lôi ra hàng loạt để tung hứng như Mata Hari từng có con với Bond, hay những nhân vật giả lịch sử gợi hình tượng Hitler, Fidel Castro, Mao Trạch Đông, v.v… Vai trò của Woody Allen lớn đến mức bộ phim ông không đạo diễn này được xếp vào số những trước tác của ông. Những cách xử lý tình tiết chồng chéo và rối rắm thời kỳ đầu được Allen đơn giản dần về sau, nhưng cái chất trào lộng tưng tửng thì không thay đổi. Trong đó, Allen thường tham gia diễn xuất với tư cách một người tình xấu trai nhưng duyên ngầm, hành động kỳ cục nhưng luôn có lý. Nhược điểm ngoại hình của Allen: mặt già nhăn nheo, dáng gù, mắt cận thị nặng, mũi to khoằm kiểu Do Thái, lại khiến người xem nhớ lâu và xếp vào hàng những anh hề buồn nổi danh cùng với Charlie Chaplin.


Võ của ông là quẳng nhân vật vào những tình huống phải lựa chọn, nhưng không theo kiểu hét vào mặt nhau những câu thoại nặng ký khiến đôi bên tỉnh ngộ để mở nút như phim tình cảm thông thường. Ông để người xem cảm giác là hình như nhân vật cứ nói thế thôi, rồi hình như họ nhận ra sự thật ở một thời gian khác ngoài diễn tiến được trưng ra trên màn ảnh. Trong bộ phim Vicky Cristina Barcelona (2008), hai cô gái người Mỹ Vicky tóc nâu (Rebecca Hall) và Cristina tóc vàng (Scarlett Johansson) trong mối quan hệ tình ái với tay họa sĩ Barcelona (Jarvier Bardem) đều bị tình cảm cuốn đi ào ạt, họ mê muội trước vẻ quyến rũ nam tính của anh ta, đến mức Cristina chấp nhận tham gia cuộc tình tay ba với người vợ cũ María Elena (Pelenope Cruz) của tay họa sĩ. Họ chỉ có thời gian tự vấn khi ở một mình, nhưng Allen lướt qua những khoảnh khắc tự nhận thức đó rất nhanh. Rồi ta thấy nhân vật chia tay cuộc tình, chấp nhận tổn thương. Ta không thấy họ đã nghĩ ngợi hay tính toán ra sao, chỉ biết mọi sự đã về quỹ đạo thường thường của đời sống cũ.


Ngoại tình trong phim của Allen là một chủ đề được nhắc lại nhiều lần. Có thể nói ám ảnh phạm tội còn rơi rớt ở những anh trí thức không nhằm vào việc đối tượng của anh ta hấp dẫn đến đâu, mà như một thói quen ứng xử, một tiện nghi trong cuộc đời con đực của anh ta. Con người thành thị yếu đuối đến mức trôi nổi theo các quan hệ, mà Manhattan (1979) là một thiên truyện đặc trưng cho cách lột tả tâm lý ấy. Nhân vật chính do Allen đóng, là một kịch tác gia tên là Isaac từng hai lần ly dị, cặp với nữ sinh 17 tuổi Tracy (Mariel Hemingway đóng), song khi thời điểm phim bắt đầu thì quan hệ này đã ở vào bên kia dốc. Lập tức như một nhu cầu, Isaac tán tỉnh bạn gái Mary (Diane Keaton) của người bạn thân Yale, cũng là một cặp ngoại tình khác. Cặp bài trùng Allen-Keaton tiếp tục khắc họa một quan hệ đơn-giản-chỉ-là-quan-hệ, trong cảnh huống các cá nhân chỉ là những mảnh vỡ dính vào nhau bằng một thứ hồ dán loãng toẹt. Kết cục, Mary trở lại quan hệ với Yale, lúc này đã ly dị vợ, Tracy đi sang Anh học như ý đồ ban đầu của Isaac muốn để rảnh tay quan hệ với Mary. Mất trắng tất cả, Isaac cứu vãn tình thế bằng cách nài nỉ Tracy ở lại nhưng bất thành… Tất cả như một mớ bòng bong, mặc dù sau xáo trộn thì mọi sự vẫn chẳng thay đổi mấy. Isaac cũng như Elliot trong Hannah and her sisters, hay Chris trong Match Point, không một chút mảy may áy náy về ràng buộc hay giới hạn đạo đức. Ở đây họ là những vai hề - hề vốn là những nhân vật tự tung tự tác bước qua lằn ranh kỵ húy và đạo đức để châm biếm hay trào lộng – nhưng là hề kiểu Allen.


Allen mặc dù hay dùng thủ pháp dẫn chuyện, hoặc cho nhân vật tranh cãi nhiều, nhưng tránh diễn dịch. Dẫu vô địch về khoản bắt diễn viên thoại nhiều, nhưng chưa hề thấy Allen bắt họ thành những biểu tượng, những cái loa phát ngôn thay mình. Và ông – một tay hề mặt buồn – dù tham gia đóng cũng không rao giảng gì, vì dường như nhân vật của ông đều chỉ có tư cách nạn nhân. Phim của Allen vì thế không có người hùng. Các nữ diễn viên xinh đẹp hạng A tham gia phim của ông cũng hiếm khi được tô vẽ thành sex symbol hay mỹ nhân nghiêng lệch màn ảnh, mà thường phải hóa thân thành các nhân vật có vấn đề về tâm lý, hơi khùng khùng hoặc tha hóa về nhân cách. Dù sao phái đẹp vẫn được Allen ưu ái, bằng chứng là vẻ đẹp và những nét nhân hậu của phụ nữ là những điểm sáng trong các phim của ông. Phải nói đến tài năng của các nàng thơ trong phim Allen: một Diane Keaton tưng tửng làm người xem cười cái nét hậu đậu của mẫu nhân vật dành riêng cho bà, một Mia Farrow gắn chặt với những vai hiền lành tội nghiệp đến đau xót, một Scarlett Johansson nóng bỏng khao khát khám phá… Nhân vật của Allen đi một chặng đường hơn ba mươi năm nhưng hình như không hề hạnh phúc hơn, nỗi sầu muộn vô cớ vẫn như một dấu hỏi không trả lời được.


Nếu không có Allen


…thì thành phố New York mất một người kể chuyện về nó. Những phim của Allen giống như những tranh minh họa của tờ The New Yorker, khá là khó hiểu với người nơi xa nếu như họ không tắm mình vào không gian văn hóa đương diễn ra của đô thị ấy. Tên phim của Allen trải trên những bối cảnh tương đối hẹp: Manhattan, New York Stories, Bullets Over Broadway… Những bức tranh minh họa và biếm họa ấy, cũng như phim của Allen về thành phố lớn nhất nước Mỹ này, đúc rút từ đời sống văn hóa nhộn nhịp, nơi nước Mỹ gần với thế giới còn lại nhất, dĩ nhiên có Cựu Lục địa, vốn đối đầu nhau ngấm ngầm trên bình diện văn hóa. Woody Allen như một cây cầu nối hai bờ Đại Tây Dương. Bản thân ông không thích bờ Tây và Los Angeles, vì thế chẳng bao giờ đến dự lễ trao giải Oscar trừ mỗi một lần để kêu gọi thế giới hãy đến New York làm phim sau vụ khủng bố 11/9. Ông hướng về châu Âu như một nguồn cảm hứng trí tuệ, và những bộ phim gần đây đã chọn bối cảnh ở bên kia đại dương. Ở đâu ông cũng bắt được ngay cái thần thái của khung cảnh: London lạnh lẽo bề ngoài nhưng hừng hực dục vọng u uất bên trong làm nền cho mối tình bất hạnh của Nora (S. Johansson) trong Match Point; Barcelona nắng ấm đầy sắc màu khiến nhân vật muốn nhao ra ngoài tận hưởng đến quẫn trí như làm nên cơn điên dại của María.


Và nếu không có Allen thì âm hưởng của dòng phim độc lập, mang phong cách hài lập dị, hẳn sẽ mất đi một tượng đài đồ sộ. Tính đa thanh trong tác phẩm của Allen là kết quả của văn hóa truyền thông như các talkshow truyền hình ra rả ngày đêm, các quảng cáo liến thoắng khắp nơi, nhạc Jazz - niềm say mê của ông và cả khía cạnh Do Thái trong xuất thân của Allen ở một thành phố đặc biệt như New York. Nhân vật của ông nói đến sex như bàn về một vở kịch Broadway chứ chẳng phải là gì đáng dằn vặt nhiều. Nhưng đằng sau cái vẻ nhẹ nhõm, giản đơn, sạch sẽ ấy, là cả nỗi trống vắng của con người hiện đại, khi họ nhận ra mình đã đổi thay mà không biết liệu nơi chốn quen thuộc có còn vừa vặn với mình không? Kết thúc bộ phim Vicky Cristina Barcelona, hai nữ nhân vật chính ra sân bay để về New York. Cô gái trầm tính bảo thủ Vicky về với người chồng sau cuộc ngoại tình ngắn ngủi để biết từ nay mình thiếu cái gì, còn Cristina sôi nổi phóng túng sau những tháng ngày đam mê vẫn dường như chẳng biết mình cần gì…


Nguyễn Trương Quý

.

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ