Thứ Sáu, 26 tháng 3, 2010

Tay ta vượt đèo

.


TCS thời trẻ (Thế giới điện ảnh 4.2009)

Lúc Trịnh Công Sơn bước vào sân trường, tôi ngạc nhiên vì mình vẫn thấy bình thường. Không ngây người ra, không choáng váng. Không nhảy cẫng lên, hú hét như gặp “sao”. Ông mặc áo sơ mi kẻ, đội mũ mềm, đi cùng nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Thiện và Nguyễn Văn Hiên, bé nhỏ và hiền lành, như thể tình cờ bát phố qua chơi, lập tức gây cho người đối diện cảm giác yêu mến.

Cuộc gặp mặt diễn ra trong phòng hội đồng, vốn là nơi họp của các thầy cô, chuẩn bị sẵn mà như chẳng chuẩn bị gì. Thầy cô hồi hộp. Học sinh nhốn nháo. Mọi sự cũng bắt đầu suôn sẻ với lời giới thiệu của nhạc sĩ Nguyễn Văn Hiên, rồi Trịnh Công Sơn bước lên. Ông có vẻ hơi lúng túng khi nghĩ xem nên hát bài nào trước cử tọa có cả lau nhau học sinh cấp hai lẫn cấp ba. Cậu bạn tôi, giọng ca của trường, vác hai tập nhạc Trịnh dầy cộp lên. Cuối cùng ông chọn bài Ở trọ. Tôi đoán chắc lý do là vì bài hát này có vẻ vui tươi và đồng dao, thích hợp với khung cảnh nhà trường hơn là những bài tình ca ủ ê quen thuộc. Hát xong, Trịnh Công Sơn có nói về chi tiết “đi đứng ở trọ đôi chân Thúy Kiều”, gắn với câu chuyện nàng Kiều lưu lạc, vốn quen thuộc với các thế hệ học trò, như là một cách giao lưu thích hợp. Thật ra chi tiết không còn mới lạ, ai cũng biết cả, nhưng cách nói nhẹ nhàng trong cái giọng Huế cứ lơ lửng ở cuối câu “gọi tôi rất nhu mì” lại làm tất cả ngây ra rồi vỗ tay rầm rầm. Đương nhiên Trịnh Công Sơn không thể không hát bài hát được yêu thích nhất lúc ấy – Nối vòng tay lớn, rồi về chỗ để nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Thiện lên hát bài Ơi cuộc sống mến thương.

Trịnh Công Sơn vừa về chỗ, đám học sinh đã thi nhau nườm nượp lên xin chữ ký. Ông ngồi lút trong vòng vây đông đặc. Bạn tôi hỏi chú có mệt không? Nhạc sĩ chỉ nói vẻ chịu trận: “Mỏi tay quá”. Cô hiệu phó mặt hân hoan vì xúc động, cầm micro phát biểu lộn xộn: “Chúng tôi ở đây ai cũng yêu quý nhạc sĩ Trịnh Công Sơn chả kém gì Khánh Ly”. Việc “không làm chủ được cảm xúc” của cô giáo mở cửa cho đám học trò thừa cơ ào lên dúi cơ man là sổ và tập nhạc xin chữ ký. Bằng cách nào đó, hai nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Thiện và Nguyễn Văn Hiên đã mở được “đường máu” cho Trịnh Công Sơn thoát ra để đi về. Cuộc giao lưu coi như thất bại nhưng ai biết được, như thế đã là niềm vui của những đứa trẻ khi được thấy tận mắt một con người “huyền thoại” trong một khung cảnh bình thường nhất. Cái nhốn nháo của một ngày tháng Chạp năm 1994 ấy, chắc hẳn hai mươi năm trước cũng mới chỉ là mơ ước của Trịnh:

Hai mươi năm chờ đợi đã lâu

Nay sức sống tràn về mạch máu

Nuôi tim mẹ nuôi tim cha

Nuôi tim nhau, nuôi đất nước thật giàu.

Năm 1994, Trịnh Công Sơn có một chuyến lưu diễn quanh các trường đại học Hà Nội, và trường tôi là trường cấp ba duy nhất được đón ông tới. Những buổi biểu diễn đông nghịt sinh viên ở trường Bách khoa hay Sư phạm, không có ngôi sao, chủ yếu là nhạc sĩ tự hát cùng nhóm Những người bạn. Khi ấy, nhạc Trịnh được xem như đã quay trở lại với đời sống âm nhạc đương thời với những bài hát mới và, quan trọng nhất là, qua những giọng ca chỉ vài năm sau làm nên sức sống mới cho nhạc trẻ Việt Nam. Lúc đó, Hồng Nhung mới ra băng cát-xét Bống bồng ơi, dù không phải là băng nhạc đầu tiên của Trịnh sau thống nhất, nhưng phải nói rằng, từ lúc đó Trịnh Công Sơn mới thật sự bước ra khỏi vùng âm u mờ tối của huyền thoại. Khi thấy Trịnh Công Sơn nhẹ nhõm đứng trên sân khấu trường Bách Khoa hay ở Cung Văn hóa Hữu nghị Việt-Xô, hát Tôi ơi đừng tuyệt vọng, tôi nghĩ ông thật hạnh phúc. Không gì buồn với một người sáng tác là không sáng tác được, nhưng cũng không thể vui khi phải ở mãi một trạng thái, bất biến một phong cách, nhất là như người ta vẫn nói “vận vào người” những ám ảnh bi kịch thân phận quá nổi tiếng. Ông đã phải gánh bi kịch ấy cả thời tuổi trẻ của mình, gánh cho cả vài thế hệ chiến tranh. Chúng tôi sinh ra khi đã hòa bình, yêu cái âm u thuở nào của gió cát phù du bay về, nhưng chúng tôi cũng hạnh phúc vì Trịnh Công Sơn vẫn đồng hành với tuổi trẻ của mình, những bàn chân em đi nhè nhẹ… em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh…Chúng tôi vẫn nghĩ, “bọn mình cũng có Trịnh Công Sơn”.



Một bức quan trọng của TCS và Hồng Nhung, Dương Minh Long chụp thời 1994

Những năm 90 trước thời nhạc trẻ chiếm lĩnh không gian âm nhạc ấy, hát nhạc Trịnh ở Hà Nội là một kiểu gì đó có chất du ca, “chân đất”, thậm chí mang sắc thái sinh viên. Có lẽ vì trên sân khấu lớn, bài hát Trịnh Công Sơn còn thưa thớt. Người ta ngại những bài não nề, và cũng chưa đến thời ca sĩ đổ xô đi hát nhạc Trịnh để thể hiện đẳng cấp, để được gọi là sang. Ở Hà Nội cũng không có cách hát phòng trà như Sài Gòn, bọn trẻ Hà Nội cũng ít nghe lối hát nhừa nhựa, trầm đục đặc trưng của những giọng ca hát nhạc Trịnh quen thuộc. Trước khi Trịnh Công Sơn đến với chúng tôi, một năm trước, bạn tôi đi thi giọng hát hay đã hát Nối vòng tay lớn. Chưa có ai hát trên sân khấu Hà Nội khi ấy, và trong khuôn khổ cuộc thi thì càng chưa. Bạn tôi vốn được mặc định là hát hay nhất trường, nhưng lại chỉ được cái giải khuyến khích, chắc là do chọn bài hát bị “sái”. Nhưng rồi như một hiệu ứng dây chuyền, Nối vòng tay lớn trở thành phổ biến khắp Hà Nội, mặc dù cũng năm 1992, đã có bộ phim Em còn nhớ hay em đã quên lấy cảm hứng từ cuộc đời và bài hát Trịnh Công Sơn, có Lê Công Tuấn Anh đóng vai nhạc sĩ, lồng giọng hát của Trung Đức và Thùy Dung. Tôi còn nhớ, cô bạn Cẩm Hà xinh đẹp thạo tin của lớp có bình luận về vai Diễm của Trương Ngọc Ánh, lúc đó đang học lớp 11 trường Lý Thường Kiệt, là “sao mà già thế”. Các cô bạn yêu nhạc Trịnh đón đọc từng tờ tạp chí Điện ảnh viết về bộ phim, cũng như những bài viết về Trịnh Công Sơn. Không nói quá, nhạc Trịnh Công Sơn đã là nguồn giải trí quan trọng đặc biệt trong cái thời tuổi lỡ nhỡ mười sáu, mười bảy của chúng tôi. Ca từ nhạc Trịnh đã cung cấp cho chúng tôi một khả năng diễn đạt khác, một nguồn từ chương tiếng Việt phong phú, và nhất là đẹp đẽ đầy kỳ ảo khơi gợi tưởng tượng, điều ít tác giả làm được.

Nhưng hình như chúng tôi yêu nhạc Trịnh còn với một cảm xúc như tình thương dành cho người có số phận thăng trầm. Với tư duy rất trường ốc của mình, chúng tôi tiểu thuyết hóa cuộc đời của nhạc sĩ lên, cuộc đời đi qua những gai góc, đảo điên, chết chóc, nhưng lúc nào cũng giữ cho mình một “đóa hoa hồng hôn lên môi”. Cái vẻ đẹp nhân bản ấy có lẽ là phẩm chất chính khiến chúng tôi đã từng là những khán giả vô cùng trung thành của nhạc Trịnh. Ông không vì đau đớn đầy đọa mà có những dấu vết tình yêu bẽ bàng, sỉ nhục, cũng không kể công hay đòi hỏi đầy sát phạt trong ca từ bao giờ. Có những bạn bè tôi, giờ đã ở vào gấp đôi cái tuổi lần đầu gặp Trịnh, vẫn yêu nhạc Trịnh. Giờ thì hát nhạc Trịnh đã có những câu lạc bộ, những box trên web, những café luôn đông thành viên và người hâm mộ, đến để thỏa mãn cảm xúc “đồng hành” chứ cũng không mấy người thành công với nhạc Trịnh. Nhưng thành công là như thế nào, khi có được một niềm đam mê trong cuộc đời thực ra chẳng hề lúc nào cũng “thắp nến lên hai hàng”? Nhạc Trịnh đã là nhạc của thế kỷ cũ, Trịnh Công Sơn cũng đã mất 9 năm rồi, những người được gọi “anh Sơn” cũng đã ở tuổi trung niên. Hà Nội năm một nghìn tuổi đã khác rất nhiều với một thành phố “bờ xa mời gọi” một phần tư thế kỷ trước.

Trịnh Công Sơn hồi còn trẻ, đã ước vọng “khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ đi thăm, Sài Gòn ra Trung, Hà Nội vô Nam”. Những năm tháng tuổi mới lớn của chúng tôi, Trịnh Công Sơn chính là hiện thân của một mơ ước đã thành, một người “của miền Nam” nhưng cũng là một người đã đến với chúng tôi từ trước rất lâu. Lúc viết Nối vòng tay lớn, chắc Trịnh Công Sơn không nghĩ đã làm cho hành trình của chính mình trở nên phi thường: Vượt thác cheo leo, tay ta vượt đèo, từ quê nghèo đến phố lớn, nắm tay nối liền, biển xanh sông gấm, nối liền một vòng tử sinh… Lúc còn sống, ông có nói, bàn tay là phần thân thể ông nhắc đến nhiều nhất trong ca khúc, bởi trên đó có những đường chỉ ghi dấu số phận. Ông chắc không ngờ, bàn tay ông đã vượt qua được qua bao điều không viết thành lời thành nhạc.

Nguyễn Trương Quý
(Thể thao & Văn hóa 26.3.2010, tựa trên báo là Giữ một đóa hồng hôn môi)
.

Thứ Sáu, 19 tháng 3, 2010

Bí thư tỉnh ủy (2)

.

Lời nhà xuất bản


Lịch sử ghi công những người xuất chúng theo những cách cũng không bằng phẳng như con đường đi của chính họ. Câu chuyện về ông Kim Ngọc, nguyên Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Vĩnh Phúc (và sau là Vĩnh Phú) gập ghềnh, trắc trở như của những nhân tài đi qua cõi đời không dài mà đã để lại dấu ấn ngoạn mục. Điều vinh dự nhất mà lịch sử có thể làm được là gắn tên ông với danh xưng vì con người nhất – “cha đẻ của khoán hộ” – người đã mạnh dạn cho ra đời phương thức sản xuất nông nghiệp cứu sống cả hàng chục triệu người Việt Nam. Gọi ông là “cha đẻ của đổi mới trong nông nghiệp” ở Việt Nam chỉ còn là vấn đề câu chữ.


Tiểu thuyết Bí thư Tỉnh ủy dựa trên nguyên mẫu cuộc đời Kim Ngọc, tái hiện lại quãng thời gian vài năm ra đời, phát triển và kết cục của khoán hộ, tiền thân của khoán 10 sau này, cũng là quãng đời của nhân vật Bí thư Hoàng Kim cùng những đồng chí của ông đi tìm phương thuốc chữa căn bệnh nghèo đói của người nông dân. Để bạn đọc ngày nay có được một cái nhìn đối chiếu xác thực, xin giới thiệu đôi nét về ông Kim Ngọc.

- 10-10-1917: sinh ra tại thôn Đại Nội, xã Bình Định, huyện Yên Lạc, Vĩnh Phúc. Tên thật là Kim Văn Nguộc.

- 1939: tham gia Đảng Cộng sản Việt Nam.

- 1954: Phó Chính ủy Quân khu Việt Bắc.

- 1958: Bí thư Tỉnh uỷ tỉnh Vĩnh Phúc.

- 1966: Nghị quyết 68 - nghị quyết “khoán hộ” - ra đời ngày 10-9.

- 1968: hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ sáp nhập thành tỉnh Vĩnh Phú, tiếp tục giữ chức vụ Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú cho đến năm 1978.

- 12-12-1968: Thông tri của Ban bí thư Trung ương yêu cầu chấm dứt khoán hộ.

- 26-5-1979: Kim Ngọc mất tại Vĩnh Phúc.

- 8-1979: Tỉnh ủy Vĩnh Phú ra nghị quyết chấp nhận khoán hoa màu.

- 1980: Tỉnh ủy Vĩnh Phú cho khoán với cây lúa. Khoán 10 trở thành phổ biến.

- 1995: truy tặng Huân chương Độc lập hạng nhất cho ông Kim Ngọc.

- 1996: đặt tên Kim Ngọc cho hai ngôi trường quê hương ông.

- 2005: đặt tên Kim Ngọc cho đường chính của thành phố Vĩnh Yên.

- 2009: truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh.


Từ những sự kiện rất phong phú đó, nhà văn Vân Thảo đã xây dựng nên cuốn tiểu thuyết quy mô về một nhân vật Bí thư Tỉnh ủy, đem lại một câu trả lời giải đáp thế nào là một người cộng sản chân chính, cũng như điều người đó làm là thực tiễn đời sống nhân dân chứ không phải là những định nghĩa trên giấy tờ. Không chỉ là câu chuyện cụ thể của khoán hộ trong mục tiêu đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp một thời, mà còn là vấn đề nhân cách, đạo đức của người lãnh đạo thời nào cũng đáng chú ý như nhân vật chính đã khẳng khái: “Tôi đã quyết định thà chịu tội với trời còn hơn là mắc tội với đất. Tôi tin rằng lịch sử sẽ chứng minh cho việc làm của tôi”. Ngoài nhân vật trung tâm Hoàng Kim lấy từ nguyên mẫu ông Kim Ngọc, những nhân vật liên quan chủ yếu có tính hư cấu. Trên hết, Nhà xuất bản tôn trọng ý tưởng nghệ thuật của tác giả để đưa lại cho bạn đọc những gì chân thực và xúc động nhất về một con người tầm vóc lớn.


Để giúp bạn đọc có cái nhìn bao quát hơn, Tiểu thuyết Bí thư Tỉnh ủy có lời nói đầu của Giáo sư Đặng Phong và lời bạt của tác giả. Giáo sư Đặng Phong là tác giả của hàng chục ngàn trang sử kinh tế Việt Nam như Tư duy kinh tế Việt Nam 1975-1989: Nhật ký thời bao cấp, Phá rào trong kinh tế cũng như bộ 5 đường mòn Hồ Chí Minh (NXB Tri Thức). Ông từng là Tổng biên tập tờ Vật giá của Ủy ban Vật giá Trung ương. Ông là chuyên gia và giáo sư thỉnh giảng của nhiều trường Đại học ở các nước như Pháp, Anh, Mỹ, Canada, Úc, Trung Quốc, Cuba... Lý do ông nhận lời viết lời giới thiệu cuốn tiểu thuyết này là “tôi viết vì ông Kim Ngọc”.


Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.


NHÀ XUẤT BẢN TRẺ


***


Đôi lời cùng bạn đọc


Tôi biết chuyện khoán hộ của ông Kim Ngọc - cố bí thư tỉnh uỷ Vĩnh Phúc - ngay từ khi ông bị phê phán đi ngược lại đường lối tập thể hóa Xã hội Chủ nghĩa của Đảng, đưa nông dân trở về con đường làm ăn cá thể của Chủ nghĩa Tư bản. Bấy giờ tôi đang ở trong quân đội, sẵn mang quan điểm “tuyên huấn”, lại không có thông tin đầy đủ, nên tôi hoàn toàn ủng hộ việc phê phán sai lầm của ông Kim Ngọc. Gần năm mươi năm, câu chuyện khoán hộ của ông Kim Ngọc bị thời gian vùi lấp, không còn thấy ai nhắc tới.


Giờ thì đã nhiều bài báo khơi lại chuyện cũ, người ta đã tìm hiểu lại những đóng góp của ông. Con đường đẹp nhất thành phố Vĩnh Yên, tỉnh lỵ Vĩnh Phúc, mang tên ông. Nhưng một tác phẩm văn nghệ về ông thì chưa có. May mắn cho tôi, giữa năm 2007, sau khi đã có vài kịch bản được dựng thành phim về đề tài nông nghiệp, nông thôn, Trung tâm sản xuất phim truyền hình (VFC) đã đặt tôi viết kịch bản lấy nguyên mẫu là bí thư Kim Ngọc.


Vĩnh Phúc gần Hà Nội, vậy mà câu chuyện của một quá khứ buồn vui lẫn lộn hiện lên trước mắt tôi tựa như của một nơi nào xa lắc. Được sự giúp đỡ tận tình của lãnh đạo tỉnh uỷ Vĩnh Phúc, qua các tài liệu được lưu trữ của tỉnh uỷ, qua lời kể của các bậc cách mạng lão thành và bà con nông dân, tôi dần “đọc” được chân dung của một con người hiếm có. Trong khoảng không gian, thời gian của quá khứ chỉ diễn ra vài ba năm thôi đã nổi lên một nhân cách toàn vẹn của một người đảng viên cộng sản, một cán bộ lãnh đạo một lòng một dạ với dân. Những phẩm chất dường như bước ra từ định nghĩa lý tưởng: sâu sát cùng nhân dân, nhất là những người nông dân, bạn quần nâu áo vải với ông, biết họ nghĩ gì, muốn gì. Vào thời điểm những năm sáu mươi của thế kỷ trước, đất nước ta đứng trước những khó khăn chồng chất. Cuộc chiến tranh diễn ra ác liệt ở cả hai miền. Ở miền Bắc, ngoài việc dồn sức người sức của cho mặt trận, trong chính sách kinh tế chúng ta ban hành nhiều chủ trương chính sách kinh tế chưa hợp lí, thiếu tính thực tiễn. Mô hình Hợp tác xã bị điều hành kém hiệu quả khiến xã viên chỉ thành những người làm thuê. Cả một bầu không khí không thiết tha gì với ruộng đồng, dẫn tới năng suất ngày một giảm. Thực tế ngày công lao động không còn đủ nấu cháo. “Làm ăn như thế, đói là phải!” – thái độ của Kim Ngọc không chỉ dừng lại ở đốc thúc tinh thần không mà trăn trở là làm thế nào để thoát ra khỏi cái kết quả vô lý của những lý thuyết có vẻ rất có lý.


Sau khi ngày đêm bàn bạc cùng tỉnh ủy, gặp gỡ các Hợp tác xã, lắng nghe tâm sự của bà con nông dân, ông nhận ra một điều, hộ nông dân là chủ thể của đơn vị sản xuất nông nghiệp: “Phải để cho nông dân làm chủ mảnh ruộng của mình, được chủ động trong kế hoạch sản xuất”. Từ suy nghĩ này ông quyết định phải thay đổi cơ chế quản lí lao động nông nghiệp của HTX, trong đó có phương thức khoán hộ. Nghị quyết 68 NQ/TU ngày 10 tháng 9 năm 1966 của tỉnh uỷ Vĩnh Phúc ra đời trong bối cảnh như vậy.


Đặt vào những năm tháng ấy, khi mà tư tưởng bảo thủ, giáo điều, duy ý chí đang ngự trị, khi mọi chủ trương, chính sách, Nghị quyết đầy rẫy những lí thuyết xơ cứng, lệch pha với thực tế cuộc sống, tạo thành những lỗ hổng tiêu cực nhưng vẫn được coi là khuôn vàng thước ngọc áp đặt cho cơ sở phải chấp hành thì việc cho khoán hộ trong nông nghiệp chẳng khác gì loạt đại bác công phá. Ông Kim Ngọc trở thành người đứng vào vị trí chịu áp lực tổn hại đến cả sinh mệnh chính trị. Ông nói: “Nếu mất chức bí thư tỉnh ủy mà dân được no đủ thì mình cũng mãn nguyện”.


Thực tế chứng minh Nghị quyết khoán hộ đã đem lại phép màu cho địa phương. Chỉ qua hai vụ khoán hộ, năng suất từ chỗ hai tấn, đến hai tấn rưỡi trên một héc-ta đã vươn lên năm tấn, có nơi bảy tấn. Tổng sản lượng toàn tỉnh Vĩnh Phúc tăng đột biến, nhưng là con số tỉ lệ nghịch với sự chấp thuận của lãnh đạo cấp cao hơn. Ngày 6 tháng 11 năm 1968, lãnh đạo đã phê phán gay gắt chủ trương khoán hộ của ông Kim Ngọc: “...việc khoán ruộng cho hộ đã dẫn đến hậu quả tai hại là phát triển tự tư tự lợi, làm phai nhạt ý thức tập thể của xã viên, thủ tiêu phong trào thi đua yêu nước trong HTX, kìm hãm và đẩy lùi cách mạng kỹ thuật trong nông nghiệp, giảm nhẹ vai trò của lao động tập thể XHCN, phục hồi và phát triển lối làm ăn riêng lẻ, đẩy HTX sản xuất nông nghiệp vào con đường thoái hoá và tan rã… tính chất sai lầm rất nghiêm trọng vì nó không chỉ thuộc về cách làm mà thuộc về lập trường tư tưởng…” (Trường Chinh, “Kiên quyết sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, đưa phong trào hợp tác hóa nông nghiệp vững bước tiến lên”, Tạp chí Học tập, tháng 2-1969, tr.19). Ngày 12 tháng 12 năm 1968, Ban bí thư gửi Thông tri yêu cầu tỉnh uỷ Vĩnh Phú (lúc này đã gộp hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ) chấn chỉnh việc khoán hộ mà thực chất là cấm khoán hộ [1]. Mặc dù cha đẻ của khoán hộ phải làm bản kiểm điểm thừa nhận “quan điểm lập trường còn mơ hồ nên chưa quán triệt đường lối, nguyên tắc, chính sách của Đảng trong việc quản lý hợp tác xã sản xuất nông nghiệp”, nhưng thực tế lại khác, “khoán chui” diễn ra khắp các vùng nông thôn. Đến tháng 8-1979, ba tháng sau ngày ông Kim Ngọc mất, Tỉnh ủy Vĩnh Phú ra nghị quyết chủ trương cho khoán cây màu vụ đông, đến năm 1980 tiếp tục cho khoán cây lúa. Sau đó, trung ương bắt đầu cho áp dụng chế độ khoán trong toàn bộ nền nông nghiệp, với tên gọi “khoán mười”.


Câu chuyện khoán hộ đến bây giờ đã thành lịch sử, Việt Nam đã là nước xuất khẩu gạo, nhưng bài học về thời cuộc vẫn còn nguyên giá trị. Trên cơ sở những sự kiện và những hồi ức về nhân vật chính, cuốn tiểu thuyết tôn trọng sự thật tối đa nhằm cung cấp cho bạn đọc có một cái nhìn khách quan về một giai đoạn lịch sử, đồng thời tôn vinh một nhân cách vì sự nghiệp của dân, của nước, không nghĩ đến danh vọng, dám làm, dám chịu trách nhiệm, không tranh công đổ lỗi và dũng cảm đương đầu với mọi áp lực khách quan để thực hiện mục đích cho dân no ấm. Tôi xin cảm ơn sự quan tâm và động viên của lãnh đạo cũng như nhân dân Vĩnh Phúc khi viết về một “tượng đài” của quê hương cũng như của cả đất nước. Tôi nhận ra một điều, hình ảnh ông Kim Ngọc không bao giờ phai mờ trong lòng người Vĩnh Phúc. Vì vậy tôi cố gắng không để nhân vật nguyên mẫu và nhân vật trong kịch bản cũng như tiểu thuyết có khoảng cách quá xa, ngoại trừ tiểu thuyết hóa một số chi tiết để tăng thêm tính cách đa dạng của nhân vật, cũng như tên và chức danh của các nhân vật đã được thay đổi để phù hợp với một cuốn tiểu thuyết văn học. Một cuốn tiểu thuyết như thế hẳn còn nhiều thiếu sót, xin nhận được sự góp ý của bạn đọc.


Vân Thảo



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 29, năm 1968. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.542-548.

.

Thứ Năm, 18 tháng 3, 2010

Bí thư tỉnh ủy (tiểu thuyết)

.


Lời giới thiệu


Cuốn tiểu thuyết này không phải là một sự hư cấu thuần túy văn học.


Ở đây, tác giả chỉ sử dụng thủ pháp văn học để nói về một sự kiện lịch sử có thật và về một người anh hùng có thật.


Sự kiện đó là khoán trong nông nghiệp Việt Nam – một vấn đề và cũng là một sự thách đố có ý nghĩa sinh tử đối với số phận nền kinh tế Việt Nam.


Người anh hùng đó là Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc – cha đẻ của mô hình khoán. Cũng như trong mọi sự sinh nở, ông đã trải qua những thai nghén, mang nặng, đẻ đau. Rồi cũng như không ít bậc cha mẹ, ông đã không sống đủ lâu để nhìn thấy “đứa con” của mình sống sót, trưởng thành, phát triển…


Mọi cuốn tiểu thuyết, dù viết về vấn đề gì, đều có cốt lõi là những thắt nút, mâu thuẫn, và cởi nút, giải quyết mâu thuẫn. Có những loại mâu thuẫn là sự xung đột giữa cái ác và cái thiện. Nhưng mâu thuẫn mà cuốn tiểu thuyết này đề cập tới, cũng là mâu thuẫn đã diễn ra trong thực tế lịch sử kinh tế VN, lại là mâu thuẫn giữa cái thiện với cái thiện.


Tập thể hóa nông nghiệp là một ý tưởng thánh thiện. Nó ra đời ở Liên Xô với Lê-nin vào đầu thế kỷ XX. Lê-nin đã từng nghĩ rằng “nền sản xuất tiểu nông từng ngày từng giờ đẻ ra chủ nghĩa tư bản”. Vào thời đại đó thì chủ nghĩa tư bản bị coi là nguyên nhân của rất nhiều tai ương chướng họa, mà cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất là một bằng chứng hùng hồn, rồi cuộc đại khủng hoảng kinh tế 1929-1930 là một bằng chứng không kém phần tiêu biểu nữa. Nhưng chỉ vài năm sau khi thực hiện hợp tác hóa nông nghiệp ở một số nơi, chính Lê-nin đã nhận thấy cách tập thể hóa như đã làm ở Liên Xô là không ổn. Thậm chí, theo Lê-nin, Nhiệt tình cách mạng + dốt nát = phá hoại. Ở Lê-nin lại xuất hiện một ý tưởng thánh thiện khác. Ông đã nói với những người cộng sản phụ trách nông nghiệp rằng: “Không được làm cho nông dân bất bình bằng cách biến công cuộc hợp tác hóa thành một trò chơi ngu ngốc của các anh…[1] Hãy để cho nông dân được tự do sản xuất và đem bán những sản phẩm của họ…”[2]


Sau khi Lê-nin qua đời, những người kế tục ông lại trở về với quan niệm rằng muốn phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nông dân phải tiến hành tập thể hóa. Thậm chí, nếu nông dân vì lạc hậu mà chưa thấy được đấy là lợi ích của chính mình thì phải cưỡng bức họ. Công cuộc tập thể hóa đã được hoàn thành vào năm 1932. Ngay sau đó, nông nghiệp sa sút chưa từng thấy. Toàn Liên bang Xô-viết thiếu ăn. Chính người sản xuất ra lương thực lại là những người chết đói trước tiên (vài triệu người). Đến cơ sự này thì sự thánh thiện bị đặt trước những chất vấn của cuộc sống – đúng ra là của hàng triệu cái chết: Sửa đổi đi hay tiếp tục áp đặt? Stalin đã chọn đáp án thứ hai. Đất nước tiếp tục rơi vào một vòng xoáy của những khủng hoảng, nhưng được giữ kín như bưng. Đến đây thì sự thánh thiện đã bị thay thế bằng lợi ích của quyền uy. Đây không còn là mâu thuẫn giữa cái thiện với cái thiện nữa, mà là xung đột giữa cái thiện với quyền uy, giữa cái đúng của nhận thức bất lực với cái sai được che chắn bởi quyền lực.


Hai mươi năm sau, kịch bản đó lại diễn ra ở Trung Quốc, cũng bắt đầu từ những ý tưởng thánh thiện, rồi bị trả giá bằng những thảm họa của Công xã nhân dân và Đại tiến vọt (cũng vài chục triệu người chết). Thảm họa này lại đánh thức nhiều bộ óc thánh thiện đi tìm cái đúng. Nhưng cái sai đầy quyền uy đã tự vệ bằng những phong trào Cách mạng văn hóa, Chống phái hữu… Phải hơn 20 năm sau, cái đúng mới mở được đường đi, và cũng chỉ có thể đi sau những cỗ quan tài của quyền lực cũ…


Kịch bản của Việt Nam có nhiều nét khác so với hệ thống các nước Xã hội chủ nghĩa khác. Hợp tác hóa đương nhiên cũng xuất phát từ những ý tưởng thánh thiện muốn cứu nông dân, cứu nông nghiệp, cứu đất nước khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu. Nó được nhận thức như một món ăn thịnh soạn mà chế độ mới đem đến cho nông dân. Nhưng ngay khi mới “nấu” xong, món ăn này đã tỏ ra khó nuốt nổi. Song những người chuẩn bị món ăn này lại không phải là những người trực tiếp thưởng thức, nên họ không cảm nhận được sự khó nuốt. Cũng có kẻ thì vì nể nang mà cố nuốt. Nhưng cũng có người, ban đầu là số ít, đã đi từ nghi ngờ đến khẳng định: Món ăn này nấu hỏng rồi, phải nấu lại. Trên mâm cơm cơ chế của nông nghiệp thì người đầu tiên đã dừng đũa và tuyên bố như vậy chính là Kim Ngọc.


Thực hiện lời tuyên bố đó, ông đã cùng toàn tỉnh nấu lại món ăn này, đó là Khoán hộ. Món Khoán hộ được bà con nông dân tấm tắc khen ngon. Nhưng với một vài “anh nuôi” cũ thì vấn đề không còn là chuyện ngon hay không ngon, vì họ đâu có phải trực tiếp ăn món này? Với họ vấn đề là uy tín của nhà bếp. Họ tuyên bố rằng món ăn đó dù có ngon thì cũng có nhiều chất độc hại gây chết người. Vì thế, nhà bếp không được tiếp tục nấu món ăn đó nữa.


Trong trường hợp này, Kim Ngọc đã hành xử giống như Galileo Galilei: Một mặt,vì tinh thần tổ chức đối với Đảng, ông buộc phải khước từ cái đúng của mình trong hành động, nhưng mặt khác ông vẫn giữ vững niềm tin về cái đúng của mình trong tư duy.

Trong tư duy của Kim Ngọc thì “quả đất” khoán vẫn quay. Nhưng khác với tình hình ở Liên Xô, Trung Quốc, ở Việt Nam nhiều “anh nuôi” cũ lại bày tỏ sự đồng tình với ông.


Rồi phải mất 21 năm sau (từ 1968 – đến 1988), khi Kim Ngọc không còn trên trái đất này nữa, “quả đất” khoán của ông mới quay trong cuộc sống.


Điều trớ trêu và đáng tiếc đó hình như vẫn là nhịp đi thường tình của phát triển. Vì thế hình như số phận của phần lớn các nhà cải cách đều giống nhau: Cô đơn và hẩm hiu với nhưng phát hiện của mình, bất lực trước sự phủ định của cái cũ còn đại diện cho đa số, âm thầm ấp ủ niềm tin là mình đúng, đến khi cái đúng được đời công nhận và tôn vinh thì cỏ đã mọc xanh trên mồ của mình.


Cũng vì thế, khi tác giả bài giới thiệu này viết xong cuốn sách về “Phá rào trong kinh tế”, mà Khoán Kim Ngọc được nói tới đầu tiên, đã tới thắp một nén hương trên bàn thờ của ông và thầm đọc tặng ông 2 câu thơ:


Dẫu cho như thế là thiên cổ

Nghĩa sĩ mỉm cười dưới cỏ khâu.


Giáo sư kinh tế Đặng Phong



[1] Thư gừi cho Molotov để chuyển cho toàn thể Bộ Chính trị. Lê-nin toàn tập, Tập 45, trang 53.

[2] Báo cáo tại Đại Hội IX Đảng CS Nga, như trên, tr. 143.


***


Trích Chương ba mươi bảy, tiểu thuyết Bí thư Tỉnh ủy của Vân Thảo, NXB Trẻ 2010.

Đây là một đoạn khá thú vị, có dựa trên một số nguyên mẫu lịch sử.



Kim Ngọc (1917-1979)


1


Nghị quyết 68 ra đời đã được gần hai năm. Năng suất lúa vụ sau cao hơn vụ trước. Từ chỗ chỉ đạt một tấn rưỡi, tấn tám trên một héc-ta thì giờ đây bình quân toàn tỉnh đã đạt năm tấn. Hồng Vân trở thành ngọn cờ đầu đạt đến bảy tấn trên một héc-ta. Gia Đạo cũng xấp xỉ sáu tấn. Chỉ mới bốn vụ lúa, hai chiêm hai mùa và hai vụ xen canh đã làm bộ mặt nông thôn Phước Vĩnh thay đổi hẳn. Người nông dân không những đủ ăn đủ mặc mà bắt đầu tính đến chuyện xây dựng nhà cửa. Nhiều tỉnh nghe nói Phước Vĩnh nhờ có khoán hộ mà năng suất lúa tăng lên gấp đôi gấp ba nên tổ chức đến tham quan và về tổ chức thực hiện khoán theo cách riêng của mình. Không ngờ việc làm đó đã làm hại ông Hoàng Kim. Một buổi chiều ông đang ngồi làm việc thì anh nhân viên cơ yếu của tỉnh ủy bước vào.


- Thưa bí thư, có điện tối mật của Ban bí thư Trung ương, chúng em vừa nhận và dịch xong.

Ông Kim cầm lấy bức điện xem rồi ngẩng đầu lên hỏi anh nhân viên:


- Có ai biết chưa?


- Dạ chưa. Chúng em giữ nguyên tắc của cơ yếu, điện gửi cho ai, chỉ người ấy được xem.


- Cám ơn cậu.


Anh nhân viên cơ yếu chào ông Kim rồi lui ra. Đúng lúc đó bà Thường bước vào. Thấy ông Kim cầm tờ giấy trên tay với dáng vẻ suy nghĩ, bà Thường hỏi:


- Chú đang đọc gì mà có vẻ suy nghĩ thế?


- Bên cơ yếu vừa đưa điện sang báo anh Trung Chính về làm việc với tỉnh ủy.


Thế là điều dự cảm của mình đã thành sự thật. Bà Thường nghĩ và hỏi:


- Bao giờ anh ấy về?


- Ngày mồng sáu tháng này. Anh Trung Chính sẽ về trước nửa ngày để làm việc với thường vụ. Anh ấy yêu cầu triệu tập từ bí thư huyện ủy trở lên và các cán bộ đầu ngành của tỉnh để nghe anh ấy nói chuyện vào ngày hôm sau.


- Tôi đoán không sai. Sấm sét sắp đổ xuống đầu chú rồi đấy.


- Cái gì đến rồi sẽ đến có gì mà lo hả chị – ông Kim điềm tĩnh nói – Có lẽ phải triệu tập thường vụ họp đột xuất để bàn công tác bảo vệ chứ anh ấy ở lại qua đêm là phức tạp lắm.


Bà Thường hỏi:


- Chú định bố trí chỗ ăn ở ra sao? Anh Trung Chính là người rất kỹ tính chứ không giản dị như các đồng chí lãnh đạo khác.


- Có lẽ phải dọn dẹp lại cho thật sạch sẽ mấy gian nhà dành cho các ông phái viên ở trước đây cho anh Trung Chính và đoàn tuỳ tùng ở chứ chẳng có chỗ nào hơn. Việc bảo vệ phải gọi tay Thạch qua để giao nhiệm vụ cho nó. Ta họp thường vụ ngay bây giờ nhé.


Bà Thường bảo:


- Tôi thấy chẳng cần triệu tập thường vụ họp làm gì. Ăn ở thì gọi chú Phương, chánh văn phòng lên giao nhiệm vụ. Còn việc bảo vệ thì nói với chú Quốc gọi Trưởng Ty Công an đến bàn bạc công tác bảo vệ vòng trong vòng ngoài như thế nào, thế là xong. Tôi nghĩ lần này anh Trung Chính lên đây mục đích là để nói về Nghị quyết 68 và những việc làm của các Hợp tác xã đang diễn ra lâu nay. Chú nên dành thời gian suy nghĩ về vấn đề này để nếu nhỡ anh Trung Chính có hỏi còn trình bày với anh ấy.


Ông Kim nói nhẹ bẫng:

- Có gì mà phải suy nghĩ. Mình nghĩ thế nào, cứ thế mà nói. Đừng nói dối thì thôi.


- Không đơn giản như vậy đâu chú ạ. Trong buổi anh Trung Chính làm việc với thường vụ, thế nào chú Đình cũng dựa vào thế của anh Trung Chính để phê phán Nghị quyết 68 có khi còn gay gắt hơn cả lần họp tỉnh ủy để thảo luận và thông qua Nghị quyết. Cũng có thể anh Trung Chính dựa vào những ý kiến của tay Đình để nói rằng trong nội bộ thường vụ cũng có người nhận ra sai lầm của Nghị quyết 68 và việc thay đổi phương thức sản xuất của Hợp tác xã.


- Chị không phải lo lắng cho tôi.Tôi đồng ý là không phải họp thường vụ nữa. Để tôi qua báo cậu Đô cho gọi cậu Phương để giao cho việc chuẩn bị ăn ở.


....


Khi Tấn và Sản ra rồi, ông Quốc hỏi ông Kim:

- Có việc gì thế anh?


- Ban bí thư vừa điện lên báo ngày mồng sáu anh Trung Chính sẽ lên làm việc với Ban thường vụ. Ngày mồng bảy sẽ có cuộc nói chuyện từ bí thư huyện ủy trở lên và các cán bộ đầu ngành của tỉnh. Tớ đã giao cho văn phòng lo chuyện ăn ở và triệu tập các thành phần về dự vào sáng mồng bảy rồi. Tớ qua đây báo cho ông biết để gọi tay Thạch đến bàn việc bảo vệ trong những ngày anh Trung Chính làm việc ở tỉnh.


Ông Quốc tỏ vẻ lo lắng:

- Chắc sấm sét sắp đánh xuống đầu anh em mình đây.

- Có thể như thế. Còn năm hôm nữa thôi nên lát nữa ông cho gọi tay Thạch qua để bàn mới kịp. Bảo với tay Thạch ngay từ chiều mồng năm anh em bảo vệ đã có mặt ở trong khu cơ quan tỉnh ủy để triển khai công tác bảo vệ. Cũng không cần thông báo cho tay Thạch là ai sẽ lên làm việc với tỉnh ủy.


Ông Quốc hỏi:

- Anh có dự đoán anh Trung Chính sẽ đề cập vấn đề gì với tỉnh ủy không?

- Không ngoài Nghị quyết 68.


Ông Quốc thắc mắc:

- Nhưng Nghị quyết 68 đã được thực hiện gần hai năm nay rồi kia mà.

- Tính của anh Trung Chính là rất thận trọng. Chắc anh ấy chờ thu thập được đầy đủ những việc làm của các Hợp tác xã nông nghiệp để làm chứng cứ rồi mới làm việc với chúng ta. Nghe đâu ở Hải Phòng, Hải Hưng và cả Phú Thịnh cũng đang bung ra đủ các loại khoán nên có thể anh Trung Chính muốn dập tắt nơi xuất phát của phong trào để làm gương cho các nơi.


Ông Quốc thở dài chán nản:

- Không biết chuyện gì sẽ đến đây.

- Nắng chiều nào che chiều ấy, chẳng có gì mà lo. Ông cho gọi tay Thạch qua bàn ngay đi nhé. Tớ về đây.


Ông Kim vội vàng đi ra dắt xe đạp nhảy lên đi. Ông Quốc nhìn theo cái dáng cao lêu nghêu gò lưng đạp xe của ông Kim buông tiếng thở dài thương cảm.


3


Một loạt ôtô con sang trọng nối đuôi nhau đỗ trong khuôn viên tỉnh ủy. Đầu tiên là một chiếc Vôn-ga màu đen bóng loáng, kế đến là hai chiếc Mốt-cô-vích. Sau cùng là hai chiếc commăngca. Mấy chục chiến sĩ công an đứng rải rác khắp các ngã đường trong khuôn viên. Không một bóng người đi lại. Không khí trang nghiêm, nặng nề bao trùm lên từng nhánh cây ngọn cỏ.


Trong phòng khách tỉnh ủy, ông Trung Chính và người trợ lí của mình cùng mấy cán bộ trong Ban nông nghiệp Trung ương ngồi một phía. Còn các ủy viên thường vụ tỉnh ủy ngồi một phía. Không khí trong phòng khách cũng nặng nề đến nghẹt thở.


Ông Trung Chính ngừng nói đứng lên đi lại trong phòng như để suy nghĩ những điều mình sẽ nói tiếp. Đi được mấy vòng, ông dừng lại nhìn chăm chú vào bức chân dung của Mác, Lê-nin lồng trong một khung gỗ hình bầu dục treo ở trên tường. Mọi con mắt nhìn theo từng cử chỉ của ông. Lát sau ông trở về ngồi vào chỗ cũ, chiêu một ngụm nước do người trợ lí đưa cho rồi tiếp tục nói bằng cái giọng khúc chiết sắc lạnh của mình:

- Những điều tôi vừa nêu lên với các đồng chí là có cơ sở chứ tôi hoàn toàn không áp đặt cho các đồng chí. Khi các đồng chí phái viên về phản ánh những hiện tượng diễn ra trong các Hợp tác xã của tỉnh các đồng chí, lúc đầu tôi nghĩ đó chỉ là hiện tượng tự phát nhất thời của nông dân, thế nào các đồng chí cũng nhận ra và chấn chỉnh. Nhưng khi tôi nhận được bản dự thảo về quản lí lao động của các đồng chí, tôi đã đoán được con đường các đồng chí sẽ đi. Tôi đã yêu cầu các đồng chí phái viên trao đổi một cách chân tình với các đồng chí để các đồng chí nhận ra sai lầm của mình. Thế nhưng không những các đồng chí không chấn chỉnh mà còn đi xa hơn. Đó là ra Nghị quyết chính thức để các cơ sở Đảng chỉ đạo cho nông dân thực hiện những việc làm hết sức vô nguyên tắc của các đồng chí. Các đồng chí có biết đưa được nông dân đi vào con đường làm ăn tập thể là một trong những thành quả hết sức lớn lao của Đảng ta không. Đáng ra các đồng chí phải nêu cao trách nhiệm trước Đảng, làm cho kinh tế tập thể ngày càng phát triển vững mạnh thì ngược lại các đồng chí đã có những chủ trương sai trái, đi ngược lại hoàn toàn với con đường tập thể hóa Xã hội chủ nghĩa. Trong việc làm này đồng chí Kim phải chịu trách nhiệm phần lớn vì đồng chí là bí thư tỉnh ủy nhưng lại hành động hết sức tùy tiện.


Ông Kim từ đầu cuộc họp đến giờ cố gắng nhẫn nhịn. Khi phát biểu, ông chọn từng chữ, từng lời để né tránh sự bắt bẻ của ông Trung Chính. Vốn tính tình trung thực, thẳng thắn, có gì là nói bung ra ngay. Nói hết, nói không một chút nể nang. Nhỡ nói sai làm người khác không vừa lòng thì xin lỗi một cách chân thành. Giờ đây ông cố ép mình lại để đắn đo hơn thiệt trước khi nói là một cực hình đối với ông. Khi nghe ông Trung Chính bảo mình hành động tùy tiện, ông thấy cần phải nói thẳng chính kiến của mình liền đứng bật lên như một chiếc lò xo:

- Thưa đồng chí. Đồng chí bảo đồng chí không áp đặt mà phê phán chúng tôi là có cơ sở. Tôi nghĩ cái cơ sở do một vài đồng chí phản ánh lại với đồng chí đã bị bóp méo theo cách nhìn nhận hết sức chủ quan và bảo thủ của các đồng chí đó. Còn thực tế thì sau khi có Nghị quyết 68, bộ mặt của các Hợp tác xã nông nghiệp trong tỉnh Phước Vĩnh đã thay đổi hoàn toàn. Từ chỗ năng suất mấy năm trước đây năm nào cũng chỉ đạt từ một tấn rưỡi đến một tấn tám trên một héc-ta một vụ thì nay đã đạt được trên dưới năm tấn một héc-ta. Có hợp tác xã như Hồng Vân ở huyện Vĩnh Hòa đã đạt bảy tấn trên một héc-ta. Tổng sản lượng năm qua đạt 222.000 tấn, tăng hơn năm ngoái đến 4000 tấn. Chỉ tiêu lợn cân cho Nhà nước vượt từ 100 đến 150%. Tổng đàn lợn của tỉnh chúng tôi hiện tại có 307.000 con. Vì sao các đồng chí không chịu nhìn nhận thực tế đó mà quy cho chúng tôi hết tội này sang tội khác. Các đồng chí ngồi ở trên cao mà phán xuôi phán ngược, sai chỗ này, đúng chỗ kia. Còn chúng tôi suốt ngày lội ruộng với xã viên, chúng tôi hiểu nên làm thế nào để cho nông dân không phải đói…


Đôi mắt sắc lạnh của ông Trung Chính nhìn thẳng vào ông Kim :

- Nói như vậy là đồng chí kết tội cho Trung ương quan liêu có phải không?


Ông Kim vẫn đứng nguyên đáp lại:

- Tôi không nói Trung ương quan liêu. Nhưng tôi xin mạnh dạn nói thật với đồng chí, trong tình hình hiện nay dân cần thóc gạo hơn là cần những tín điều và lí thuyết xa xôi. Trong khi cào cỏ cải tiến, xe cải tiến, bình bơm thuốc trừ sâu và máy tuốt lúa đạp bằng chân chưa sản xuất đủ để cung cấp cho nông dân mà đã đem chuyện cơ giới hóa, điện khí hóa, hóa học hoá ra nói với nông dân thì làm sao họ hiểu nổi.


Ông Trung Chính như chạm phải nọc. Ông hỏi giọng gay gắt:

- Theo đồng chí, chủ nghĩa Mác – Lê-nin và con đường làm ăn tập thể Xã hội chủ nghĩa là những tín điều và lí thuyết vu vơ có phải không?


Ông Kim không một chút nao núng:

- Có lẽ hai chữ tín điều tôi vừa nói là sai. Nhưng nếu đồng chí không kết tội tôi thì tôi xin nói thật, ở một mức độ nào đó chúng ta đang rơi vào chủ nghĩa giáo điều. Hơn mười năm trước đây Đảng ta đã một giá quá đắt cho lí thuyết giáo điều trong Cải cách ruộng đất. Đồng chí phê phán Nghị quyết 68 của chúng tôi là sai lầm, mở đường cho nông dân trở lại con đường làm ăn cá thể. Là biểu hiện những lệch lạc về quan điểm, lập trường. Tôi thì tôi cho rằng, Nghị quyết 68 là một Nghị quyết xuất phát từ tình hình thực tế của Hợp tác xã nông nghiệp hiện nay và đã đúc kết thành lí luận hẳn hoi…


Ông Trung Chính cắt ngang:

- Trước khi lên đây, tôi đã đọc lại một lần nữa Nghị quyết 68 của các đồng chí và cố tìm hiểu cái lí luận đã được đúc kết từ thực tiễn của các đồng chí như thế nào rồi. Dưới cái vỏ bọc nghe rất ngọt ngào là một số vấn đề về quản lí lao động nông nghiệp trong Hợp tác xã hiện nay, nhưng nội dung bên trong thì khoán ruộng đất cho hộ, để cho dân tự do khai phá đất chân rừng, gò đồi, sử dụng đất canh tác chia cho xã viên nuôi lợn. Việc làm sai trái như vậy mà đồng chí cho rằng đã đúc kết thành lí luận hẳn hoi ư?


Ông Kim nói khẳng khái:

- Tôi xin khẳng định lại một lần nữa là Nghị quyết 68 của chúng tôi hoàn toàn xuất phát từ thực tiễn của tình hình của các Hợp tác xã nông nghiệp trong những năm qua. Thực tiễn đã chỉ ra sự vô lí là khi xây dựng Hợp tác xã quy mô, ta vẫn dùng đơn vị hộ để tính toán quy mô, diện tích, công cụ sản xuất. Nhưng khi tiến hành sản xuất lại tách hộ ra khỏi tư liệu sản xuất. Nghị quyết 68 của chúng tôi lấy yếu tố con người quyết định mọi thắng lợi, vì vậy con người phải được giao quyền tự chủ sáng tạo. Nếu không làm thế, vẫn tiếp tục duy trì quản lí lao động theo kiểu dong công phóng điểm thì các mối quan hệ kinh tế trong Hợp tác xã hoạt động kém hiệu quả. Chúng ta biến nông dân thành những người làm công, chính xác hơn là làm thuê cho tập thể. Nghị quyết 68 của tỉnh ủy chúng tôi là muốn đưa hộ xã viên trở về vị trí là một đơn vị kinh tế tự chủ trong Hợp tác xã nông nghiệp, không biết chúng tôi sai ở chỗ nào?


Ông Trung Chính không hề tỏ ra xúc động trước những lời lẽ có vẻ ngang bướng của ông Kim. Ông nói hết sức bình tĩnh:

- Các đồng chí sai ở chỗ nào ư? Nghị quyết 68 thể hiện nhận thức về cuộc đấu tranh giữa hai con đường còn lêch lạc, mơ hồ. Không nhận thấy hết tính chất phức tạp, lâu dài của nó. Các đồng chí nên nhớ rằng, giai cấp địa chủ và tư sản tuy đã bị đánh tan về cơ bản, nhưng tàn dư tư tưởng của nó còn rơi rớt lại. Chỉ cần có cơ hội tốt là chúng ngóc đầu dậy. Vì vậy cuộc đấu tranh giai cấp trên mặt trận tư tưởng chưa hề chấm dứt mà nó vẫn tiếp tục diễn ra dưới mọi hình thái khác nhau. Với chủ trương khoán hộ của Nghị quyết 68 sẽ tạo điều kiện cho đầu óc tư hữu của nông dân có cơ hội phát triển, tính tập thể của xã viên giảm dần. Phương thức quản lí kinh tế tập thể Xã hội chủ nghĩa của các đồng chí biểu hiện quan điểm hết sức sai lầm là sản xuất cách nào cũng được, miễn là sản phẩm xã hội được tăng. Lập luận của các đồng chí là khoán cho hộ mới tận dụng được sức lao động, tránh được đi muộn về sớm, làm cho xã viên chủ động, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cá nhân. Khoán cho hộ là một cách khuyến khích bằng lợi ích vật chất khiến cho xã viên hăng say lao động. Tất cả chỉ là ngụy biện. Ba khoán cho hộ thực chất là trở lại cách làm ăn cá thể. Nó phá vỡ nội dung của phong trào Hợp tác xã nông nghiệp. Làm cho Hợp tác xã chỉ còn là hình thức. Nó không những sai lầm về phương pháp quản lí mà còn trái với đường lối Hợp tác hóa nông nghiệp của Đảng và Nhà nước. Các đồng chí nên nhớ rằng, Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp là một tổ chức kinh tế tập thể Xã hội chủ nghĩa cho nên việc quản lí Hợp tác xã phải theo đúng phương thức sản xuất Xã hội chủ nghĩa.


Ngừng lại một lát lấy khăn lau mặt, ông Trung Chính nói tiếp:

- Tôi thừa nhận với các đồng chí là trong mấy năm qua vấn đề quản lí lao động trong một số Hợp tác xã có nhiều thiếu sót. Trình độ các Hợp tác xã chênh lệch nhau khá nhiều. Bên cạnh số Hợp tác xã có khí thế vươn lên, số Hợp tác xã yếu và kém còn chiếm tỉ lệ khá lớn. Theo sự phân loại của 62 Hợp tác xã làm thí điểm vận động dân chủ thuộc Thanh Hóa, Hải Hưng và ngoại thành Hà Nội, số Hợp tác xã loại khá chiếm 24,1%, trung bình chiếm 48,5% và số Hợp tác xã yếu kém chiếm 27,4%. Nhiều nơi việc quản lí tư liệu sản xuất của Hợp tác xã làm chưa tốt, để hư hỏng, mất mát nhiều. Tuy trong thời gian qua công tác quản lí Hợp tác xã có nhiều tiến bộ nhưng các mặt quản lí sản xuất, quản lí lao động, quản lí tài vụ và phân phối đều yếu, thậm chí có khuyết điểm sai lầm. Trong nhiều Hợp tác xã tình hình thiếu dân chủ về mặt tài chính, sổ sách không phân minh hoặc chỉ phân minh về hình thức, nạn tham ô lãng phí khá phổ biến. Việc phân phối không được công bằng, hợp lí, không khuyến khích lao động. Những yếu kém tồn tại tôi vừa nói là tất yếu của sự phát triển. Do các đồng chí không nắm được điều này nên đã vội quy kết cho cơ chế đang hiện hành không biết bao nhiêu tội. Nào là tập trung quan liêu bao cấp, nào là hạn chế quyền tự chủ sản xuất của người nông dân và còn bao nhiêu tội khác. Từ chỗ nhận định hết sức chủ quan đã dẫn đến chủ trương sai lầm rất đáng tiếc. Tôi đề nghị các đồng chí trong Ban thường vụ phải nghiêm khắc kiểm điểm chủ trương sai trái của mình. Riêng đồng chí Kim phải viết bản tự kiểm điểm vai trò bí thư tỉnh ủy của mình với Ban bí thư. Ngoài ra phải viết một bài mang tính chất tự phê bình về chủ trương khoán hộ của mình gửi đăng trên Tạp chí Học tập của Đảng để cho các tỉnh khác rút kinh nghiệm, không lặp lại con đường sai lầm của tỉnh Phước Vĩnh.


Ông Kim định đứng lên nói nhưng bà Thường kín đáo nắm tay ông giữ lại. Bà biết rõ cơn sóng gió đang ào ạt trào dâng trong lòng ông Kim. Nếu để nó bung ra có thể dẫn đến đổ bể tất cả. Khi ông Kim chịu ngồi yên rồi, bà Thường đứng lên nói giọng cay đắng:

- Thưa anh Trung Chính. Anh có cho phép tôi nói với anh đôi lời với tư cách là người một thời đã thân quen với anh không?


Ông Trung Chính cười gượng:

- Thế cô nghĩ rằng tôi đã thành người xa lạ đối với cô rồi hay sao?

- Anh không những thành người xa lạ đối với riêng tôi mà còn xa lạ cả với mọi người. Thú thật là tôi không còn nhận ra anh nữa.


Ông Trung Chính nói một câu gượng gạo:

- Tôi có khác gì đâu, chỉ có già đi thôi.


Bà Thường nói chua chát:

- Cái già bên ngoài của anh không đáng ngại. Điều đáng ngại là anh trái tim của anh đang già cỗi và đã biến thành sắt đá mất rồi. Anh có biết ngày còn hoạt động bí mật, anh, anh Việt, anh Dũng ở trong nhà tôi ai là người nuôi các anh ăn, ai làm liên lạc, ai bảo vệ các anh? Ngoài nông dân ra chẳng có ai cả. Không sợ máy chém, không sợ tù tội khổ sai, nuôi nấng bảo vệ các anh để các anh làm cách mạng giải phóng cho họ. Sao bây giờ anh quay ra vô tình, thờ ơ với cuộc sống còn đói nghèo thiếu thốn của họ đến vậy? Sao anh không dám vứt mẹ các nguyên tắc đang ràng buộc họ để cho họ được thoải mái làm ăn, để họ còn nuôi con nuôi cái và đóng góp cho cuộc kháng chiến chống Mỹ. Sao vậy anh Trung Chính? Sao vậy? Anh trả lời cho tôi đi.


Mọi con mắt lo lắng đổ dồn về phía bà Thường. Ông Trung Chính cảm thấy có một luồng khí lành lạnh xuyên qua da thịt mình. Ông vô cảm với cuộc sống của người nông dân một thời nuôi nấng che giấu cho ông ư? Trái tim ông đã già cỗi rồi ư?

...

Thứ Ba, 9 tháng 3, 2010

Trình diễn thơ 2008

.
Nhân dịp xong ngày thơ 2010, tôi đăng lại các poster của mấy năm trước, những cái tôi còn tìm được. Sau đây là poster của năm 2008, chủ đề Trình diễn thơ. Nội dung trên cơ sở quá trình hình thành và phát triển của hình thức trình diễn thơ, chủ yếu sôi động vào 2, 3 trở lại đến thời điểm đó. Sau Sân thơ Trẻ năm đó, gần như việc trình diễn thơ không còn sôi động thành phong trào như trước.

Poster có 2 dãy, đặt song song hai bên sân Thái Học. Dãy 1 là bắt đầu từ sự hình thành và các chương trình ban đầu, từ phải sang trái (vì ở ngoài sân là xem từ ngoài vào).



Dãy 2 là "Một dòng chảy đương đại", xem từ trái sang phải, với các thông tin song song với dãy 1. Thực chất xem từ dãy nào trước cũng được. Text chủ yếu là từ bài viết của Hoàng Hưng, Trịnh Lữ, Nguyễn Quang Thiều, thông tin của Như Huy, một số bài báo... Ảnh của Nguyễn Hữu Bảo, Nguyễn Đình Toán, Nguyễn Việt Thanh, Nguyễn Huy Tiến, Hoàng Hưng.




Còn đây là từng tấm trong 2 dãy, tựa đề rút từ tên các buổi trình diễn đã có từ trước.

Phan Huyền Thư, Dạ Thảo Phương và Jean-Michel Maulpoix. Rất thích tấm này, dáng ngồi của hai nhà thơ nữ rất đàn bà, rất arty.


Một số thành viên nhóm Ngựa trời: Thanh Xuân, Nguyệt Phạm và Phương Lan.


Nguyễn Thúy Hằng (cùng Linh Dung và Thanh Lâm?). Ba bạn này đã khiến mốt đầu trọc tuy không mới mà thành hot suốt một năm trước đó. Trong buổi thơ năm trước nữa (2007), Linh Dung và Thanh Lâm cùng Ngọc Đại biểu diễn bài Đũa tre, làm các báo cũng phát sốt lên. Dưới đây là quan sát của Trịnh Lữ:

“… Rồi Nguyễn Thuý Hằng xuất hiện, đi như cái bóng ngang qua sân khấu từ phải sang trái, cố tình cho người xem thấy cái hình nhìn nghiêng toàn thân đàn bà của mình, những nét lượn phía trước, những đường cong phía sau, dù chỉ nhẹ nhàng thôi, mà đầu thì cạo trọc như chú tiểu trong chùa.


Một lúc nữa thì có hai người đàn bà đồng dạng phối cảnh như vậy theo nhau đi ngang hệt như tác giả đã đi, như hai phiên bản một nhỏ một to hơn của Nguyễn Thuý Hằng, cũng trọc đầu, áo quần bó chẽn thân mình như trong kịch câm, chỉ khác là tác giả thì áo quần in hoa, còn hai cái bóng kia thì tối sẫm cả. Họ cứ đi ra đi vào một hai lần như vậy rồi thì lần lượt từng người dừng lại ở giữa sân khấu, lột một chiếc nịt tất của mình ra vắt lên lưng cái ghế vàng, rồi đi chân tất cộc lệch thế ra khỏi sân khấu. Khi cả ba cái bóng đã xong việc lột tất thì họ biến cả đi, và trên phông sân khấu xuất hiện một khuôn hình video màu cỡ nhỏ, chiếu cảnh Nguyễn Thuý Hằng cầm kéo tự xén nốt cái đầu đã cắt trọc nhưng còn lởm chởm của mình. Cận cảnh gương mặt nhìn nghiêng, tua tủa những vạt tóc ngắn đầy những vết kéo. Như vậy một lúc lâu. Không nghe thấy một lời nào. Rồi thì chấm dứt…”




Còn năm 2008, màn của Dương Tường (có phụ trợ của Phan Huyền Thư và Dạ Thảo Phương) với bài Phải tội đàn bà, quấn giấy toilet có đề thơ trên đó quanh người làm mọi người phát cuồng.



Ly Hoàng Ly và một nhà thơ Latinh. Bến Lạ, thực tế là tên một bài thơ của Đặng Đình Hưng được dùng làm tên buổi trình diễn thơ được xem như đầu tiên ở VN do Như Huy tổ chức ở SG 30.5.2001. Tấm ngoài cùng là ảnh Nguyệt Phạm, dùng như tấm bìa.



Một trong những chất liệu được sử dụng để trình diễn là ca trù. Bên cạnh đó, 2 cơ quan là Hội đồng Anh và L'Espace cũng nhộn nhịp tổ chức các buổi trình diễn. Trên là hình Nguyễn Vĩnh Tiến, Trương Quế Chi, Vi Thùy Linh.


Mình thích tiết mục của Hoàng Hưng, đọc thơ trên nền nhạc của cello và flute.


Cũng mấy năm trước, có một đợt rộ lên lôi nhau ra vẽ mặt. Trên là Phương Lan và lời viết của phu quân - Trịnh Cung.


Trịnh Lữ có một bài viết hay về trình diễn thơ, ghi lại những quan sát về buổi trình diễn của Nguyễn Thúy Hằng (ở trên) và Nguyễn Vĩnh Tiến.


“… Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Tiến ngả hẳn vào lưng chiếc ghế, khoanh tay, ngoẹo đầu, nhắm mắt. Bên phải anh, một nhạc công bắt đầu kéo cây vĩ cầm. Bên trái anh, một nhạc công khác gẩy một cây đàn tứ. Đèn chiếu hồng hồng.

Nhà thơ bỗng như vừa tỉnh giấc, giơ ngón tay trỏ lên xem bên này bên kia như người liếm tay dò chiều gió, rồi bắt đầu lên tiếng. Anh không đọc, không ngâm, mà hát bài thơ của mình, với nhiều điệu bộ như muốn minh hoạ và tạo nhấn. Anh ngồi. Anh đứng. Quay bên này bên kia. Giơ hai tay lên trời nhiều lần. Giậm chân nhiều lần.

Những câu hát nhặt khoan, lúc như tự vấn, lúc như quát tháo, hình như là với chính mình, mà cũng có lúc như là với người nghe. Hai cây đàn, một tây một ta, hoà đệm theo giọng hát đầy kịch tính, tạo nên một ấn tượng âm thanh và thị giác phảng phất vẻ chiếu chèo nông thôn đồng bằng Bắc Bộ. Nhà thơ hát về một con ma ngủ, nghe thấy những câu nó cứ bắt tôi phải nằm yên, phải thế này thế nọ, rồi trong tai thì phải có tay mà tay thì phải có mắt thế nào đó, tôi không thể nhớ lại chính xác được…”

Trịnh Lữ



Ly Hoàng Ly trong một buổi trình diễn ở Pháp. Những tấm hình xếp như tổ ong màu xám là sửa từ chính tấm hình màu.
.
Còn đây là bản nháp của tôi:





Dưới đây là một số hình chụp lúc chuẩn bị và thi công:














Nhà thơ Dương Tường đến ráp chương trình.



Ma Ngủ (tên bài thơ trình diễn) - Nguyễn Vĩnh Tiến.
.

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ