Chủ Nhật, 30 tháng 1, 2011

Nhật ký Carrie

Ai xem Sex and the City thì cũng đều biết chị gái Carrie Bradshaw. Đây là cuốn sách viết về thời trước khi Carrie lên New York và thành một sexpert, dọn dường cho việc Carrie sẽ sống ra sao sau này. Carrie Bradshaw thực ra là trại từ Candace Bushnell với 2 phụ âm đầu viết tắt C.B. Cuốn sách này có nội dung cũng dễ chịu, thích hợp để các bạn gái mới lớn nhâm nhi về tình ái, về việc thể hiện tài năng, và càng thích hợp để các bạn gái đã lớn hồi tưởng thời "tưởng có thể chết vì yêu" :-). Dưới đây trích đăng một chương rất thú vị. Quyển sách sắp ra mắt bản tiếng Việt của NXB Trẻ do Phạm Hải Anh dịch. Một chi tiết bên lề là chị gái C.B yêu cầu phải dùng hình ảnh chị ấy thời 17 tuổi khi giới thiệu về tác giả.


CHƯƠNG MƯỜI

Giải thoát cho tôi

Bố mẹ tôi gặp nhau ở thư viện.

Sau khi ra trường, mẹ tôi làm thủ thư. Bố đến mượn sách, nhìn thấy mẹ, và yêu.

Sáu tháng sau họ cưới nhau.

Ai cũng nói mẹ tôi trông giống Elizabeth Taylor, nhưng hồi đó họ bảo tất cả các cô gái xinh đẹp là giống Elizabeth Taylor. Dù sao, tôi luôn hình dung ra Elizabeth Taylor ngồi e ấp sau chiếc bàn gỗ sồi. Bố tôi, đeo kính, cao lêu nghêu, tóc hung cắt kiểu húi cua lởm chởm, tiến đến gần bàn, trong khi mẹ tôi/Elizabeth Taylor đứng lên để giúp đỡ. Bà mặc chiếc váy xoè nở đầy những chùm bông vải xù màu hồng.

Cái váy nằm đâu đó ở buồng kho, trong cái túi kéo khoá chặt, đựng những quần áo cũ còn lại của mẹ, gồm cả váy cưới, xăng đan, giày balê, và cái loa khắc nổi tên mẹ, Mimi, thời mẹ còn là thành viên đội cổ vũ ở trường trung học.

Lúc nào tôi cũng thấy mẹ mặc đẹp, đầu tóc chỉnh tề và trang điểm cẩn thận. Một thời gian, bà tự may lấy quần áo cho mình và rất nhiều đồ cho chúng tôi. Bà chuẩn bị nguyên một bữa ăn theo sách nấu ăn của Julia Child. Bà trang trí nhà cửa bằng những đồ cổ địa phương, có cái vườn xinh nhất, cây thông Nô-en đẹp nhất, và còn làm chúng tôi ngạc nhiên với giỏ quà Phục Sinh cầu kỳ, ngay cả khi chúng tôi đã qua cái thời tin vào thỏ Phục Sinh Bunny.

Mẹ tôi cũng như tất cả các bà mẹ khác, nhưng tuyệt hơn một chút, vì bà thấy việc bày biện nhà cửa tươi sáng hết mức là một nỗ lực đáng giá, và bà làm mọi thứ trông thật thoải mái.

Cho dù dùng nước hoa Vai Ngà và nghĩ quần bò là thứ nông dân, bà vẫn cho rằng phụ nữ nên đi theo con đường tuyệt vời mà người ta gọi là nữ quyền.

Mùa hè trước khi tôi bắt đầu học lớp hai, mẹ và các bạn mẹ bắt đầu đọc cuốn Đồng lòng của Mary Gordon Howard. Đấy là một quyển tiểu thuyết dầy cộp, được tha đi lôi về từ câu lạc bộ trong những chiếc túi vải bạt lớn đựng đầy khăn tắm, kem chống nắng và thuốc bôi côn trùng cắn. Mỗi buổi sáng, khi an vị trên những chiếc ghế dài quanh hồ bơi, lần lượt các bà lôi cuốn Đồng lòng ra khỏi túi.

Cái bìa sách vẫn còn khắc nổi trong trí não tôi: một mặt biển xanh với chiếc thuyền buồm lạc lõng, bao quanh là bộ ảnh đen trắng chụp tám thiếu nữ. Đằng sau là ảnh của chính Mary Gordon Howard, theo tiểu sử, là một phụ nữ quý tộc; trong đầu óc non nớt của tôi, bà giống George Washington mặc bộ complê bằng vải tuýt và đeo ngọc trai.

“Chị đã đọc đến đoạn vòng tránh thai chưa?” một quý bà thì thầm với bà kia.

“Suỵt. Chưa. Đừng bỏ qua nhé.”

“Mẹ, vòng tránh thai là gì?” tôi hỏi.

“Đó không phải là cái trẻ con phải lo, con ạ.”

“Thế khi con lớn, con có phải lo về nó không mẹ?”

“Có thể có. Có thể không. Lúc đó có lẽ đã có phương pháp khác rồi.”

Cả mùa hè năm đó tôi cố gắng tìm hiểu cuốn sách đó có gì mà thu hút sự chú ý của các bà trong câu lạc bộ đến mức bà Dewittle chẳng hề biết cậu con trai David của mình đã ngã khỏi ván nhảy và phải khâu tới mười mũi trên đầu.

“Mẹ ơi!” lát sau tôi lại gọi, cố gắng làm bà chú ý. “Sao Mary Gordon Howard lại có hai cái họ ạ?”

Mẹ tôi đặt quyển sách xuống, ngón tay đánh dấu đoạn đang đọc dở. “Gordon là tên mẹ bà ấy thời con gái, còn Howard là họ bố của bà ấy.”

Tôi để ý điều này. “Nếu bà ấy lấy chồng thì sao ạ?”

Mẹ tôi có vẻ hài lòng về câu hỏi. “Bà ấy lấy chồng rồi. Bà ấy đã kết hôn ba lần.”

Tôi đã nghĩ được cưới ba lần là điều tuyệt diệu nhất trên thế giới này. Thời đó tôi chưa biết một người lớn nào từng ly hôn, dù chỉ một lần.

“Nhưng bà ấy chưa bao giờ lấy họ chồng. Mary Gordon Howard là một nhà nữ quyền ưu tú. Bà ấy tin rằng phụ nữ phải có khả năng tự khẳng định mình và không bao giờ được để đàn ông tước đi cá tính của họ.”

Tôi đã nghĩ điều oách nhất quả đất này là làm một nhà nữ quyền.

Trước khi biết cuốn Đồng lòng, tôi chưa bao giờ nghĩ nhiều đến quyền năng của sách. Tôi đã đọc cả tấn truyện tranh, rồi tiểu thuyết của Roald Dahl và bộ Narnia du ký của C.S.Levis. Nhưng mùa hè đó, ý nghĩ một cuốn sách có thể thay đổi con người bắt đầu vẫy gọi bên bờ ý thức của tôi. Tôi đã nghĩ rằng mình cũng muốn thành một nhà văn và nhà nữ quyền.

Nô-en năm đó, khi chúng tôi ngồi quanh bàn thưởng thức bánh Khúc Củi Nô-en mà mẹ mất hai ngày để chế biến, mẹ ra tuyên bố. Bà sẽ quay lại trường học lấy bằng kiến trúc sư. Chẳng có gì thay đổi, ngoại trừ việc bố sẽ thỉnh thoảng phải nấu ăn tối cho chúng tôi.

Vài năm sau, mẹ tôi xin được việc ở công ty Kiến trúc Beakon & Beakon. Mỗi khi tan học, tôi rất thích đến văn phòng của mẹ, một ngôi nhà cổ ở trung tâm thị trấn. Phòng nào cũng trải thảm êm ái, thoảng mùi giấy mực thơm thơm. Có một cái bàn xiên xiên ngộ nghĩnh, nơi mẹ tôi làm việc, vẽ những cấu trúc thanh thoát bằng bàn tay chính xác và đẹp. Bà có hai người phụ tá, đều là trai trẻ, có vẻ ngưỡng mộ bà, và tôi không bao giờ nghĩ rằng người ta không thể thành nhà nữ quyền nếu mặc quần tất, đi giày cao gót và vén tóc ra sau bằng chiếc kẹp tóc xinh đẹp.

Tôi đã nghĩ nữ quyền là cách ta kiểm soát cuộc đời mình.

Năm mười ba tuổi, tôi thấy trên tờ báo địa phương tin Mary Gordon Howard sẽ đến nói chuyện và ký tặng sách tại thư viện công cộng chỗ chúng tôi. Mẹ đã không còn đủ sức để ra khỏi nhà, nên tôi quyết định mình sẽ đi và làm bà ngạc nhiên với cuốn sách có chữ ký. Tôi tết tóc đuôi sam, thắt nơ vàng ở cuối bím tóc. Tôi mặc chiếc váy in hoa Ấn Độ màu vàng và đi xăng đan xỏ ngón. Trước khi đi, tôi vào thăm mẹ.

Bà nằm trên giường với tấm màn khép hờ. Như thường lệ, có tiếng tích tích máy móc từ chiếc đồng hồ của ông, và tôi liên tưởng đến những chiếc răng nhỏ xíu của cỗ máy, nhai từng mẩu thời gian với mỗi chuyển động lạnh lùng.

“Con sắp đi đâu đấy?” mẹ tôi hỏi. Giọng bà, từng ngọt ngào như mật, giờ yếu như tiếng kim xào xạo.

“Đến thư viện ạ,” tôi nói, rạng rỡ. Tôi thèm muốn chết được nói cho mẹ bí mật của mình.

“Tốt đấy,” mẹ nói. “Trông con xinh quá.” Mẹ thở một hơi nặng nhọc rồi tiếp. “Mẹ thích cái ruy băng của con. Con kiếm nó ở đâu ra thế?”

“Trong hộp đồ khâu cũ của mẹ ạ.”

Mẹ gật đầu. “Ông ngoại mua những cái ruy băng đó cho mẹ từ Bỉ đấy.”

Tôi chạm vào cái ruy băng, không biết mình có nên lấy nó không.

“Không, không,” mẹ nói. “Con cứ lấy đi. Nó là để dùng vào việc ấy mà. Hơn nữa,” mẹ nhắc lại, “con trông xinh quá.”

Bà bắt đầu ho. Tôi rất sợ âm thanh đó – cao và yếu, giống như tiếng thở hắt vô vọng của một sinh vật bất lực hơn là tiếng ho thật sự. Bà bị ho cả năm trước khi phát hiện ra bệnh. Y tá bước vào, dùng răng kéo đầu xi lanh, trong khi lấy hai ngón tay vỗ vỗ cánh tay mẹ tôi.

“Thế, được rồi, chị yêu quí, được rồi đây,” cô y tá an ủi, trong khi nhẹ nhàng cắm kim tiêm. “Bây giờ chị sẽ ngủ. Ngủ một chút rồi khi dậy, chị sẽ thấy dễ chịu hơn.”

Mẹ nhìn tôi và nháy mắt. “Mẹ nghi lắm,” bà nói, trong khi bắt đầu lơ mơ.

Tôi lên xe đạp và đạp năm dặm xuống Phố Chính đến thư viện. Tôi bị muộn, và trong khi nhấn bàn đạp, một ý nghĩ bắt đầu hình thành trong đầu tôi rằng Mary Gordon Howard sẽ giải thoát cho tôi.

Mary Gordon Howard sẽ nhận ra tôi.

Mary Gordon Howard sẽ nhìn thấy tôi, và biết, từ trong tiềm thức, rằng tôi cũng là một nhà văn và nhà nữ quyền, một ngày kia tôi sẽ viết cuốn sách làm thay đổi thế giới

Đứng hẳn lên bàn đạp để đạp thật hăng, tôi đã hi vọng ngút trời về một sự biến đổi vĩ đại.

Khi đến thư viện, tôi quẳng chiếc xe đạp vào bụi rậm rồi chạy lên gác đến phòng đọc chính.

Mười hai hàng phụ nữ ngồi trên những chiếc ghế gấp. Mary Gordon Howard vĩ đại đứng trước mặt họ, nửa người dưới của bà khuất sau cái bục. Bà hiện diện như một nữ chiến binh, trong bộ đồ cứng nhắc màu giáp trụ được tôn bật lên với hai miếng độn vai khổng lồ. Tôi bắt gặp một sự chống đối ngấm ngầm trong không khí, và lủi vào sau một cái giá sách.

“Vâng?” bà quát vào một phụ nữ ngồi hàng đầu đang giơ tay. Đấy là Agnosta, bà hàng xóm nhà tôi. “Bà đang nói cái gì luôn hay và tốt?”

Bà Agnosta bắt đầu một cách dè dặt. “Nhưng nếu người ta không bất mãn với cuộc sống của mình? Ý tôi là, tôi không chắc cuộc sống của con gái tôi phải khác với của tôi. Thực ra, tôi rất thích con gái tôi trở nên giống như tôi.”

Mary Gordon Howard cau mày. Tai bà đeo hai viên đá xanh lớn. Và khi bà đưa tay lên chỉnh lại hoa tai, tôi để ý thấy trên cổ tay bà một chiếc đồng hồ hình chữ nhật, đính kim cương. Chẳng hiểu sao, tôi đã không ngờ là Mary Gordon Howard đeo lắm nữ trang thế. Rồi bà hạ thấp đầu xuống như một con bò mộng và nhìn chòng chọc vào bà Agnosta như thể bà này sắp thay đổi. Trong một giây, tôi thực sự lo ngại cho bà Agnosta, người rõ ràng là chẳng biết mình đang lạc vào cái gì, mà chỉ muốn tìm kiếm một chút văn hóa để làm buổi chiều có ý nghĩa hơn.

“Đấy, bà bạn thân mến, bởi vì bà là một bông thủy tiên cổ điển,” Mary Gordon Howard tuyên cáo. “Bà quá yêu bản thân mình, bà tưởng rằng một người phụ nữ chỉ có thể hạnh phúc nếu cô ấy ‘giống như bà’. Bà chính là cái mà tôi đang nói đến, khi ám chỉ dạng đàn bà là chướng ngại cho sự tiến bộ của phụ nữ.”

Phải, tôi nghĩ. Nó cũng khá đúng sự thật. Nếu vào tay bà Agnosta, tất cả phụ nữ sẽ nướng bánh và cọ toilet suốt ngày.

Mary Gordon Howard nhìn quanh phòng, miệng bà vẽ một đường đắc thắng. “Và bây giờ, nếu không còn câu hỏi nào nữa, tôi sẽ rất vui được ký tặng sách cho quí vị.”

Không có câu hỏi nào nữa. Tôi đoán là khán giả đã quá sợ.

Tôi xếp hàng, ôm khư khư cuốn Đồng lòng của mẹ vào ngực. Bà Detooten, giám đốc thư viện, tôi biết bà từ khi còn bé tí, đứng cạnh Mary Gordon Howard, đưa sách cho bà ta ký. Mary Gordon Howard ký vài lần với vẻ khó chịu. Cuối cùng, bà ta quay sang bà Detooten, cằn nhằn, “Những bà nội trợ u mê, tôi e là như thế.” Lúc đó tôi chỉ còn đứng cách hai người. “Ồ, không,” tôi muốn cãi lại. “Hoàn toàn không phải thế đâu ạ.” Và tôi ước gì có thể kể cho bà ta nghe về mẹ tôi và cuốn Đồng lòng đã thay đổi đời mẹ thế nào. Bà Detooten co rúm người, ngượng đỏ mặt, quay lại và nhìn thấy tôi. “Sao, đây là Carrie Bradshaw,” bà kêu lên với giọng vui vẻ quá mức, như thể tôi là người mà Mary Gordon Howard có lẽ thích gặp lắm.

Ngón tay tôi quắp chặt lấy quyển sách. Tôi gần như không thể nhúc nhích cơ mặt, và tôi hình dung mình trông thế nào với đôi môi cứng đờ giữa một nụ cười nhút nhát, ngẩn ngơ.

Khi tôi bắt đầu nghĩ được đến bà, bà Gordon liếc nhìn sang phía tôi, quan sát bộ dạng con bé, rồi quay ra ký tiếp.

“Carrie sẽ thành nhà văn đấy ạ,” bà Detooten nhanh nhẩu.

“Thật thế hả Carrie?”

Tôi gật đầu.

Đột nhiên tôi được bà Gordon chú ý. Bà ta đặt bút xuống. “Và tại sao thế?” bà hỏi.

“Dạ, cháu xin lỗi?” tôi thì thầm. Mặt tôi nóng ran.

“Tại sao cháu muốn thành nhà văn?”

Tôi nhìn bà Detooten cầu cứu. Nhưng bà Detooten trông còn khiếp đảm hơn cả tôi. “Cháu… Cháu không biết ạ.”

“Nếu cháu không tìm ra lí do thật chính đáng để làm, thì đừng làm,” bà Gordon ngắt lời. “Làm nhà văn thì phải có gì đó để nói. Và phải là những điều thú vị. Nếu cháu không có gì thú vị để nói, thì đừng làm nhà văn. Làm cái gì đó có ích hơn đi. Bác sĩ chẳng hạn.”

“Cám ơn bà ạ.” Tôi thì thầm.

Bà Gordon chìa tay ra đón lấy quyển sách của mẹ. Trong một thoáng, tôi đã nghĩ hay là giật nó lại và chạy biến khỏi đây, nhưng tôi quá sợ. Bà Gordon ngoáy tên mình bằng nét chữ sắc và nhỏ rí.

“Cám ơn cháu đã đến, Carrie,” bà Detooten nói, khi quyển sách được đưa lại cho tôi.

Miệng tôi khô khốc. Tôi thin thít gật đầu, loạng choạng đi ra.

Tôi không đủ sức lấy xe đạp nữa. Tôi ngồi phệt xuống vỉa hè, cố gắng lấy lại lòng tự trọng. Những cơn sóng độc địa của nỗi xấu hổ vùi lấp tôi, tôi đợi cho nó qua đi, đứng dậy, cảm thấy mình gần như mất phương hướng. Tôi lên xe đạp, đạp về nhà.

“Nó thế nào, con?” mẹ thầm thì hỏi, lát sau khi bà đã tỉnh. Tôi ngồi trên chiếc ghế gần giường mẹ, nắm tay bà. Mẹ tôi luôn chăm sóc tay mình cẩn thận. Nếu chỉ nhìn tay mẹ, không thể nghĩ rằng bà đang bệnh.

Tôi nhún vai. “Họ không có cuốn sách con muốn.”

Mẹ gật đầu. “Có thể lần sau.”

Tôi không bao giờ kể cho mẹ tôi đã gặp thần tượng của bà, Mary Gordon Howard, như thế nào. Tôi không bao giờ kể với mẹ, Mary Gordon Howard đã ký vào quyển sách của mẹ. Chắc chắn tôi cũng không nói với bà rằng Mary Gordon Howard không phải nhà nữ quyền. Làm sao có thể thành nhà nữ quyền khi đối xử với các phụ nữ khác như đất bùn. Thế thì cũng chỉ như đứa con gái nhỏ nhen kiểu Donna LaDonna thôi. Tôi không bao giờ kể cho bất kỳ ai về vụ va chạm đó. Nhưng nó ở lại trong tôi, như một cú đánh khủng khiếp mà ta có thể đẩy ra khỏi trí óc nhưng sẽ không bao giờ quên hẳn. Mỗi khi nghĩ về nó, tôi vẫn còn cảm thấy nhen lên nỗi xấu hổ. Thế mà tôi đã muốn Mary Gordon Howard giải thoát cho tôi.

Nhưng đấy là chuyện đã qua lâu rồi. Tôi không còn là cô bé đó nữa. Tôi không việc gì phải xấu hổ. Tôi trở mình, ép cái gối dưới má, nghĩ về buổi hẹn với Sebastian. Và tôi cũng không cần được giải thoát nữa.

Thứ Sáu, 28 tháng 1, 2011

Mở mắt là ra chợ

Người Hà Nội mở mắt ra là nghĩ đến việc đi chợ. Đi chợ để ăn quà sáng, mua thức ăn cho bữa trưa và chiều. Ngay cả đến dân văn phòng chỉ nấu bữa tối cũng không cưỡng được việc đi chợ mua đồ tươi sống hàng ngày. Vì ai cũng biết ở Hà Nội thì chả dại gì đi mua đồ đông lạnh cất tủ nấu dần trong khi ở chợ những thứ tươi ngon ê hề ra. Hàng tươi sống và hơn thế nữa, sự tiêu dùng tùy ứng làm nên tập quán sinh hoạt của dân Hà Nội. Từ đó hình thành nên cả một lối sống, một văn hóa hàng quán chợ búa, thứ mà không có thì chắc thành phố chỉ còn là một nơi toàn cơ quan làm việc buồn tẻ với những người gặm đồ khô cho qua bữa.

Người ta nói chợ Hà Nội đang mất. Nhìn vào thực tế, những cái chợ to đang dần biến thành các trung tâm thương mại hoành tráng: Chợ Cửa Nam, Chợ Hàng Da, Chợ Dừa, Chợ Mơ, những cái chợ pha trộn giữa hàng bán sạp và hàng ngồi nhấp nhổm vỉa hè. Dân Hà Nội thì cũng ít tự nấu nướng tại nhà mà dần chịu đi ăn hiệu hơn. Rồi các ngành quản lý cho đến truyền thông cũng đều thiên vị cho cánh thực phẩm “được đóng dấu” và đóng gói bày ngăn ngắn trong các kệ dán mác “sạch”. Siêu thị hay cửa hiệu cửa kính mặc nhiên được xem là đảm bảo vệ sinh (thì có đủ quy trình kiểm soát đấy thôi), nhưng độ tươi kiểu cá quẫy trong thùng vải sơn với lại tôm nhảy tanh tách thì chỉ có ra chợ. Ra chợ là nắm được hàn thử biểu nền kinh tế xã hội sát sao nhất. Giá vàng giá đô chỉ số chứng khoán có thể không phải ai cũng đủ sức lo toan tới, nhưng giá thịt cá hay rau muống là thứ linh hoạt theo cái sự tươi của chúng, ảnh hưởng đến tất cả mọi người hàng ngày.

Đi xuyên một cái chợ là người ta có thể thâu nhận được văn hóa đường phố, từ những cái suồng sã nhất đến những cái tinh vi nhất. Chợ là một nơi cạnh tranh, nơi không ai tự huyễn hoặc được bản thân. Đấy là nơi mỗi người bán phải trổ tài thuyết phục đám đông về món hàng của mình để không bị ế, nơi những người mua phải vận dụng kinh nghiệm mà mua đúng thứ mình cần không thừa không thiếu. Thứ cạnh tranh này luôn có bộ mặt thực chất, lừa đảo móc túi như cơm bữa nhưng người ta có thể chỉ mặt đặt tên tệ nạn đó, chứ không như những cuộc cạnh tranh phù phiếm về nhan sắc hoặc cao đạo như kiến thức, lắm khi núp dưới những mỹ từ rổn rảng mà nửa tin nửa ngờ. Lắm khi cũng mất tiền oan mà chẳng biết. Ở chợ, mất tiền thì sờ lên ví là biết. Mua phải con cá ươn là biết, đành tự sỉ vả mình chứ về nhà biện minh với chồng sao đây? Kỹ năng đi chợ phần nào phản chiếu một loại kỹ năng sinh tồn săn bắt hái lượm từ xửa xừa xưa. Thay vì vơ đại những bao gói đóng sẵn trong ngăn lạnh siêu thị, bà nội trợ săm soi từng lạng đỗ, kiểm tra từng xăng ti mét vuông miếng thịt dọi như một con sư tử tha mồi về cho bầy con thơ.

Những cái chợ to đều đã được chuyển thành trung tâm thương mại, chợ nhỏ, chợ xanh, chợ cóc vẫn bám trụ ở hang cùng ngõ hẻm. Tập quán sinh hoạt “mở mắt là đi chợ” của người Hà Nội duy trì đã đủ lâu để dân nơi đây không chịu đi xa đến các trung tâm mà xách đồ về. Cộng thêm việc đường phố Hà Nội rất bất tiện cho việc cuốc bộ, bởi vì chính đường phố đã biến thành… chợ. Nhưng như thế lại có nghĩa là tiện cho việc đi chợ. Điều này lý giải tại sao việc thu gom hàng rong vào địa điểm tập kết lại khó đến thế, và cái gì dân sinh hà hơi tiếp sức là y như rằng sống khỏe.

Người ta ưa thanh cảnh hóa không gian sinh sống của dân Hà Nội theo các hướng tôn vinh các địa điểm di tích tâm linh hay văn hóa lịch sử, chứ ít chịu trưng bày cái chợ như là một đại biểu cho sự phồn vinh của đô thị này. So với sự tiện bề gom lại một rọ để xếp hạng này nọ của các di tích, cái chợ là nơi khó lường, mỗi phút ở bên mẹt rau quả là một màn trình diễn thú vị nhất cho ngành dân tộc học và du lịch. Câu ca dao “Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An” hãy còn bị tranh cãi về bản quyền cái tên, thậm chí còn bị vạch vòi là hàm ý ăn theo hoặc mỉa mai, nhưng danh xưng Kẻ Chợ thì ắt là Hà Nội.

Cái Kẻ Chợ, tức khu 36 phố phường xưa cũ, hình thành trước hết là nhờ các khu dân cư làm nghề sản xuất chuyên từng mặt hàng họp nhau lại thành phố buôn bán. Cách bố trí theo dãy đan thành ô chẳng khác gì những sạp hàng khổng lồ trong một cái chợ lớn. Tất nhiên không đến nỗi muốn mua con gà phải cuốc bộ từ Lò Sũ ở mạn Đông Nam lên tận Hàng Gà ở Tây Bắc khu phố cổ, hoặc muốn mua cái chụm cái vại phải lộn lại cả dặm đường, nhưng tinh thần tiện lợi ùa ra mặt đường nổi lên như một đặc tính còn duy trì đến tận ngày nay. Nó làm nên cốt cách của lối sinh hoạt phố phường Hà Nội. Khi được sắp xếp ổn định và trật tự, nó hài hòa với quy mô gia đình truyền đời trong một tổng thể phố nghề quan hệ chặt chẽ, đa phần là người cùng làng ở những vùng quê lân cận lên Hà Nội làm ăn từ lâu. Sự hài hòa ấy trước hết thể hiện ở kiến trúc khá đồng nhất với nhau, các không gian có diện tích vừa đủ cho dân số sinh tồn. Trong một không gian nhịp nhàng như thế, những phần “trang sức” như thú ăn chơi, kiểu làm dáng này nọ cũng mang nhịp độ nhẩn nha tương ứng.

Bây giờ không còn thuần những dãy phố cổ chuyên bán một mặt hàng, nhưng phố nào ở Hà Nội mà có buôn bán thì cũng đều thừa hưởng tinh thần bám vỉa hè, bám mặt đường mà kinh doanh. Cái thời đồ thủ công chiếm ưu thế mới sinh ra được những dãy phố khéo tay hay nghề đã thay bằng thời phố dịch vụ. Cốt cách tự tin về hàng chất lượng đã không còn quan trọng bằng khéo mồm giữ khách. Đã bán đồ Trung Quốc thì hiệu nào chả giống hiệu nào! Hiện giờ thì phở chửi cháo quát còn vượng, nhưng càng ngày càng bị nhắc tới nhiều chứng tỏ kiểu làm ăn như vậy sắp mất vị thế đến nơi. Khẩu vị đa dạng hơn, nhu cầu nhiều hơn, thêm vào đấy người Việt nào nhạy bén chút cũng có khả năng đứng ra kinh doanh trong cái thời “không giàu là có tội”.

Cung cách sống chợ búa in đậm lên cách ứng xử dân Hà Nội, vừa giúp thay đổi sự trì trệ kiểu công chức hàng chục năm, vừa là thứ làm cho tính cách dân ở đây phải thực tế, linh hoạt biến đổi với thời cuộc. Nhiều người dị ứng với những thứ xoe xóe cạnh khóe đầu đường xó chợ, nhưng cái chửi nhau ở chợ có điếc tai xô xát nhưng là cái mâu thuẫn rành mạch, rõ ràng. Rõ ràng rành mạch như con cá quả đang giãy đành đạch trong thau bà bán hàng, tuy có lúc bị cân điêu nhưng mà chắc chắn tươi chứ không mơ hồ cứng đông như khúc cá ép túi nylon trong ngăn đá siêu thị.

Nguyễn Trương Quý

Thứ Sáu, 21 tháng 1, 2011

Bước chân năm tháng đi về

Một trong những con đường lâu đời nhất Hà Nội nhưng lại mới chỉ có tên chính thức ba mươi năm nay là đường Nguyễn Trãi. Con đường này mới chỉ được đặt tên từ năm 1980, nhân dịp kỷ niệm 500 năm ngày sinh của vị danh nhân thế giới. Thời Pháp thì Hà Nội đã có phố Nguyễn Trãi là con phố nhỏ bên cạnh chợ Hàng Da, từ tháng 6.1964, được đổi tên là phố Nguyễn Văn Tố. Vậy là Nguyễn Trãi cũng được đặt tên cho con đường như hiện có khá muộn mằn. Con đường này dài khoảng 4km từ Ngã Tư Sở đến Hà Đông nằm trên trục đường Quốc lộ 6 đi tỉnh Hà Tây cũ, lên Thủy điện Hòa Bình và còn lên Tây Bắc nữa, từng là con đường rộng nhất Hà Nội, đi qua khu công nghiệp cũng lớn nhất Hà Nội thời xưa, chạy qua năm bảy trường đại học.

Có thể nói đường Nguyễn Trãi là đường của đủ mọi loại người, từ những anh thợ máy cơ khí Công cụ số 1, chị thợ giày Thượng Đình cho đến sinh viên Kiến trúc, Tổng hợp, từ dân khu làng xóm Nhân Mục đến cán bộ ở nhà tập thể Thanh Xuân, từ người đi xe hơi, xe đạp đến xe bus, xe điện… Bộ mặt của con đường lúc nào cũng nhôm nhoam, cũng bụi mù tăm tít. Con đường ấy như trong bộ phim tài liệu Hà Nội trong mắt ai của Trần Văn Thủy, được liên tưởng với thân phận những dân đen con đỏ mà Nguyễn Trãi vẫn nhắc đến trong văn chương của mình. Đấy là con đường mưu sinh, của anh xe thồ, chị nhà quê chạy chợ từ những huyện phên giậu xưa của Hà Nội thuộc vùng Hà Đông trù phú. Vào những thế kỷ trước, đây là con đường lai kinh ứng thí của bao sĩ tử trấn Sơn Nam, từng được kể tới trong Thượng kinh ký sự của Lãn Ông Lê Hữu Trác. Khi ấy, Lãn Ông đi đến Thịnh Liệt rồi vòng lên làng Nhân Mục, theo cầu Triều Khúc qua đường Nguyễn Trãi ngày nay để lên Kẻ Chợ.

Đường Nguyễn Trãi chạy theo hướng hơi chếch Tây Nam – Đông Bắc, nối nội thành với phía Tây, có cái tiện là phân làn xe thô sơ tách hẳn ra ở hai bên bằng hàng cây xà cừ phía Bắc và dải phân cách phía Nam. Có lẽ đường Nguyễn Trãi khi được cải tạo vào thời Thủy điện Hòa Bình là công trình chi phối nguồn lực xã hội miền Bắc đã là đường đầu tiên ở Hà Nội phân làn rõ rệt thế. Gọi là tiện bởi vì người đi xe đạp ở con đường này xem ra vẫn là đông nhất ở Hà Nội bây giờ, dù càng ngày lượng xe máy càng áp đảo. Làn xe thô sơ phía Bắc trước đây vốn là đường tàu điện đã bị gỡ đi gần 20 năm nay. Nhưng phân làn vậy, chứ sểnh ra tí là người ta rẽ luôn ra đường ngoài, vừa láng hơn, ít ổ gà hơn, mà lại đỡ ấm ách cảnh phân biệt đối xử!

Có cái tiện thì cũng có cái dở. Các nhà quy hoạch mãi đến gần đây mới làm thêm được đường Láng-Hòa Lạc song song với đường Nguyễn Trãi, nhưng vì cách nhau đến gần hai cây số nên vẫn không giảm được mấy tính chất độc đạo của đường này. Thêm nữa là tất cả các công trình, cơ quan cho đến mấy khu tập thể lớn đều bám theo mặt đường chứ không phát triển chiều sâu và mật độ đường nhánh cũng thưa. Vì thế đến giờ để từ Hà Nội vào Hà Đông cũng vẫn phải đi theo lộ trình của nhiều thế kỷ trước.

Mặc dù nói là con đường cổ, nhưng cũng khó nhìn thấy di tích hay dấu vết cổ nào hai bên đường. Lý do dễ hiểu là làng xóm xưa kia thường nằm ở cách xa đường, được bao bọc bởi những lũy tre dày và một cánh đồng rộng. Những ngôi đình làng hay chùa chiền nằm ở trong làng, vì thế sau thời kỳ đô thị hóa, những làng xóm này nằm khuất sau những dãy phố bê tông san sát nên không thấy cái mái chùa nào hiện ra mặt đường. Đây cũng là đất đồng bằng nên không có một điểm cao nào vượt lên, cũng không có sông ngòi nào cắt ngang qua đường. Ở hai đầu mút con đường là hai con sông nổi tiếng: sông Tô Lịch và sông Nhuệ. Một thời chúng là hai con sông huyết mạch chia nước sông Hồng, nhưng giờ gần như là sông chết.

Những con đường cửa ngõ thường là nơi tập kết xe khách, những người nhỡ độ đường và giang hồ tứ xứ. Những chỗ giáp ranh vốn dễ cho đám người ăn gió nằm sương ẩn hiện. Ngày xưa khi phường cô đầu Khâm Thiên quá tải, người ta đẻ thêm xóm nữa ở Thái Hà Ấp, rồi lan ra tới Ngã Tư Sở và Cầu Mới, là khu đầu đường Nguyễn Trãi ngày nay. Những cái “nhà trò” này có giống như một loại karaoke đèn mờ hay không thì không biết, nhưng những cô gái đợi khách dọc đường đoạn này cứ như ma, sau các gốc cây xà cừ trước đường vào ký túc xá Mễ Trì của ĐH Quốc gia, và nổi tiếng nhất là đường bê tông Thanh Xuân.

Tôi có một đứa cháu họ xa, nhà ở Hà Đông, nói như ngôn ngữ viết tường trình là do hoàn cảnh xô đẩy, đã kiếm sống bằng cái nghề ấy ở đường bê tông Thanh Xuân một dạo. Rồi nó bị bắt vì tội lừa một vị khách, và bị đăng lên báo Công An. Đại để là họ hàng cũng chẳng sốc gì lắm, ở một vùng quê giáp ranh đã quen với khối sự nhôm nhoam và lộn xộn của đô thị hóa. Rồi cũng nhẹ nhàng như chuyện nó đi đứng đường, nó lấy chính cái anh công an làm công tác phòng chống tệ nạn xã hội và ma túy đã làm việc với nó. Cứ như phim Mỹ vậy. Anh này quê ở một tỉnh miền núi Tây Bắc, đã có một đời vợ, con thì đã lớn. Cô dâu thì có nhan sắc lại trẻ trung, chú rể hơn bố vợ hai tuổi, kể cũng hơi ngại ngần cho bà con khi phải xưng hô, nhưng thử hỏi có kết cục nào ngọt hơn thế! Nó mang tiền về nhà, đi xe Vespa GTX hồng ánh nhũ ngay từ hồi xe ấy hãy còn đắt đầu bảng, rồi xây nhà cho bố, lần nào về cũng có đồng quà tấm bánh cho ông bà. Con đường tình ta đi cũng có hậu ra phết đấy chứ!

Đường bê tông này nay đã được mở rộng rồi đặt tên là Khuất Duy Tiến, nằm trên trục vành đai 3, cắt ngang đường Nguyễn Trãi bằng một ngã tư mênh mông, nên đất ẩn náu của các cô cũng không còn. Đứa cháu tôi giờ có muốn quay lại nghề cũ cũng hơi khó! Con đường Nguyễn Trãi là nơi có bến xe Sơn La, nơi các chuyến xe từ miền ngược đổ khách xuống đây, từ những vùng nóng về ma túy, nơi các anh chị đao búa móc nối trước khi triển khai kế hoạch làm ăn mới. Nhưng cũng oái oăm, xen kẽ với những thứ nhem nhuốc ấy là những trường đại học lớn của Việt Nam, những khu ký túc xá đông đặc, những dãy phố sinh viên chen chúc các quán cà phê rẻ tiền và hiệu cầm đồ. Con đường Nguyễn Trãi cùng những phố Lương Thế Vinh, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân… chưa bao giờ có vẻ thơ mộng để làm nên cho những mối tình sinh viên. Lúc nào cũng chỉ thấy những dãy quán nước tạm bợ, những cậu cử tương lai ngồi vêu mặt bùng tiết. Cái con đường và khung cảnh đã tạo nên phong cách sinh viên rất đặc trưng như thế.

Các khu tập thể ở khu Thanh Xuân Bắc và Nam một thời cũng là những mô hình thí điểm áp dụng công nghệ xây dựng mới, bê tông tấm lớn và có chức năng dịch vụ tổng hợp nội bộ. Dọc đường này là những trụ sở các cơ quan ngành xây dựng, rồi trường Đại học Kiến trúc trứ danh như là điểm kết thúc cho con đường Nguyễn Trãi ở địa chỉ cũng rất mơ hồ: Km9. Đến đây phải giải thích cho rõ: Ngày xưa quốc lộ 6 kể từ chỗ bắt đầu là Giám (tức vườn hoa Giám ở cạnh Văn Miếu) đến cửa bưu điện Hà Đông là 11 cây số, mà con đường Nguyễn Trãi chiếm đoạn cuối. Do đó các cơ quan trên đường này đều lấy mốc là Km8, Km9… Đi qua trường Kiến trúc là sang đất tỉnh khác, tức tỉnh Hà Sơn Bình hay Hà Tây ngày trước.

Trường Kiến trúc ban đầu là một công trình liên hợp những dãy nhà ba tầng kiểu hành lang bên song song với nhau. Sau này vào năm 1994, người ta cải tạo lại thành khép kín và có một mặt tiền khá hoành tráng với ngôn ngữ kiến trúc biểu hiện, có mái dốc dán ngói và phù điêu chạy trước mặt tiền. Để chuyển tiếp với con đường Nguyễn Trãi trước mặt, kiến trúc sư đã thiết kế một cổng giả, lấy lại hình ảnh cổng làng Bắc Bộ với vài cây cau, tiểu cảnh đá và mặt nước. Nhưng không biết thực hư thế nào, khi hai vị hiệu trưởng đều qua đời khi đương nhiệm, đến vị thứ ba thì lâm bệnh nặng, mới có người nói, cái cổng đó đón con đường Ao Sen đâm thẳng trước mặt dẫn vào sảnh, mà phòng hiệu trưởng lại ở ngay sảnh vào. Như thế là phong thủy không tốt, ban giám hiệu liệu mà sửa đi. Rồi như bây giờ ai cũng có thể thấy, cổng mới của trường ở cách đó hơn trăm mét. Và tất nhiên, cái cổng giả kia đã bị phá đi. Vị hiệu trưởng tất nhiên là còn sống (có thế mới thành chuyện). Hàng rào đã được xây để bịt lại và cây xanh đã mọc kín như hiện nay. Ai qua đường Nguyễn Trãi ngày nay, sẽ không còn thấy dấu vết gì về một cổng trường cũ, chỉ còn những kiến trúc sư tương lai đứng ngồi đợi xe bus…

Nguyễn Trương Quý

* Bài đăng Tạp chí Quy hoạch Đô thị số Xuân (số 3, 2011)
** Tên bài lấy từ lời bài hát Nhớ về Hà Nội của Hoàng Hiệp.


Chủ Nhật, 16 tháng 1, 2011

Lời cuối

Hôm nay đi viếng bố một người bạn. Đã nhàm tai với những lời điếu như "một người ông hiền từ, một người cha gương mẫu, một người chồng chân chính...", thấy hôm nay thật chân thực và cảm động. "Bố kính yêu ơi, bố đã sống một cuộc đời không giàu sang danh vọng gì... Lời cuối của bố trước lúc ra đi chỉ là 'cuộc đời này mong manh lắm'..."

Mong manh nhưng cũng đủ hơn ba phần tư thế kỷ. Cầu cho người đã khuất siêu thoát. Cầu cho những người tôi yêu mến luôn hạnh phúc và may mắn.

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ