Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2009

Hán Hồ

.

.
Bây giờ gần như làm việc gì trên máy tính mà không có internet thì không làm được, mặc dù nhiều việc kia rõ ràng độc lập với thế giới mạng. Được ở một cái nhà rất to (tuy trống hoác), phố lớn, nhưng mà internet không, TV cũng chẳng, nên coi như mình đi di dưỡng tinh thần!

Sài Gòn lần này vào, trời mát mẻ, chỉ hoe hoe nắng "cho dzừa lòng nhau" (phóng tác từ thơ ai nhỉ, Hồ Dzếnh thì "Trời không nắng cũng không mưa, chỉ hiu hiu rét cho vừa nhớ nhung", còn Nguyễn Bính: "Hàng cây nói với lề đường, những khi đổ lá là thường nhớ nhau"). Tiếc là không có xe máy, vả lại đang chưa xong việc nên cũng chưa muốn đi đâu. Sao mà giờ lười thế, hồi đầu thì hăm hở sục sạo... Được bác Goldmun hỏi trên FB, sáng nay đã thấy mùa thu Sài Gòn chưa. Dạ thưa, đã thấy Trưng Vương khung cửa mùa thu rồi. Nhưng ngày nghỉ, không thấy cái vạt áo nào bay tốc lên trong gió rất sẵn và mây vần vũ này. Thật nao lòng, khi em ra đi, Hà Nội trời mưa hoàng hôn trên thành phố heo may vào hồn, khi đến Tân Sơn Nhất, em thấy mây đầy trời, đâu đâu cũng long lanh thu phương Nam chạnh nhớ bao niềm thề... Thấy em viết văn hay không, chả kém ca từ Phạm Đình Chương nửa thế kỷ trước nhỉ.

Ở SG thì dịch vụ gì cũng sẵn, mặc dù cảm giác là chi phí ban đầu cao. Nhưng tiện nhất là không bị giới hạn thời gian và địa điểm, không bị yêu cầu ra về nếu như không gọi thêm đồ uống, không bị canh me khi ngồi lâu quá. Hôm qua là một ngày đầy ắp văn hóa, sáng cà phê thứ bảy với anh Tạ Mỹ Dương (MC), bác Dương Thụ nhà đăng cai, các bác Nguyên Ngọc, Lưu Trọng Văn với các cây (bồ) đề kiến trúc quy hoạch như cụ Thao, cụ Huấn, thầy Kính... chiều thì một nhân vật khác gặp riêng. Tối, sau khi ăn một suất bít-tết (cảm ơn anh Dương đã chiêu đãi và chị So cùng bạn Xanh nữa) thì sấp ngửa chạy ra cảng Sài Gòn xem ĐFS nhà bạn Lâm, xem các bạn thời trang định nghĩa Freedom (tên chương trình) là gì. Theo như cảnh kết của ĐFS đấy thì tự do là một cô Tây bế hai con búp bê (hai đứa bé) chia đôi lời ru cho hai chàng trai nước Việt ôm nhau, mắt sáng ngời nhìn về hướng máy ảnh. Nói chung là thấy làm thời trang là thứ phải có duyên, nó phải thể hiện điều gì đó mà người bình thường như mình không nghĩ đến - không có năng lực để tạo nên sự duyên dáng của con người thông qua cái vỏ ngoài - điều làm cho người khác thấy dễ chịu và vui vẻ.

Đôi khi muốn về ngay HN để ngồi viết ra cái gì đấy, nhưng thể nào cũng sẽ có nhiều việc phải làm để rồi chẳng xong cái gì cả. Nhưng ở đây lại cảm thấy như mình thiếu thiếu dụng cụ để làm cho tốt. Mới chỉ đến lúc ngày nghỉ nên không dính quả tắc đường, dù thấy lô cốt cứ giăng giăng, thấy nhà cửa và cuộc sống cũng tẻ tẻ như mọi nơi. Bắt chước lối bi kịch u uất của vài người tha hương, thấy tự nhiên có cái nỗi buồn kiểu "hành ca":

Về đâu ta biết về đâu chứ
Mặt đất đâu đâu cũng Hán Hồ

hay là cái câu gì nữa của Tô Thùy Yên mà không nhớ ra. Nhưng thực tế là cảm thấy đầu óc đang rất nhẹ nhõm, muốn đi chơi loăng quăng. Nếu đời mình chỉ có một việc và một kênh tư duy thì thích. Thấy rút cục ông Chế Lan Viên nói chẳng sai:


Những ngày tôi sống đây là ngày đẹp hơn tất cả

Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn


Thời các ông ấy, khổ bỏ cha, nhưng đúng là các ông ấy sống bằng cái đẹp tự dệt lấy, cái hạnh phúc như thế (lâng lâng đỉnh cao muôn trượng, năm châu bốn bể đều là anh em), thời khác biết nhiều hơn, phải chăng hơn, nhưng nhìn đâu cũng là Hán Hồ!

Viết xong thấy nắng bừng lên, đường bỗng ầm ầm xe. Nhại Nguyễn Bính tiếp nào:

Chiều nay sau một cơn mưa lớn

Sài lộ bừng lên dưới nắng vàng

Tại vì vần trắc rơi vào chữ thứ hai câu dưới nên chẳng thay bằng Sài Gòn hay Sài Thành thay cho Hà Nội trong nguyên câu thơ gốc được. Mà Sài Gòn cũng chẳng thay Hà Nội được, trên thực tại dĩ nhiên là thế.

Ảnh trên đầu và dưới đây là hình cái nhà cổ nhất Sài Gòn hiện còn - là tòa nhà do Nguyễn Ánh cho dựng năm 1790 để linh mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Behaine) ở. Lúc đầu nhà này ở chỗ Thảo Cầm Viên bây giờ, đến năm 1900, được chuyển về cùng với tòa Giám mục ở vị trí số 180 Nguyễn Đình Chiểu, Q.3 bây giờ. Ảnh chụp từ năm 2007, cũng "một mùa thu trước xa lăm lắm" :-)





















.

Thứ Năm, 24 tháng 9, 2009

Khi Người Yêu Tôi Khóc

.
Get this widget | Track details | eSnips Social DNA

Khi người yêu tôi khóc, trời cũng giăng sầu
Cho từng cơn mưa lũ xoáy trong tâm hồn
Khi người yêu tôi khóc, thành phố buồn tênh
Em ơi tôi nói một lần ưu ái trên cung ngà hắt hiu

Mây từ đâu bay đến mờ khuất chân trời
Em, tại sao em đến cho anh yêu vội
Xin một lần yêu cuối là những lẻ loi
Em ơi hãy nói vạn lời sầu đắng
Như em vừa trách anh

ĐK:
Em, một đêm cúi mặt
Để cay đắng rơi thành giọt lệ đời
Anh, niềm đau đến muộn
Từng chiều lặng yên nhìn mưa bão tới
Khi hồn anh rã rời, ngày vui xé đôi, tình ngỡ xa xôi
Anh xin trọn đời gói thân trong một lần hối tiếc mãi thôi

Khi người yêu tôi khóc, xin rất im lìm
Như từ lâu tôi giấu những cơn muộn phiền
Xin đừng đem nước mắt gội xóa niềm đau
Cho yêu thương đó
Anh còn được giữ trong tâm hồn rất lâu

Bài này được trộn với Trả Lại Em Yêu trong đĩa Xóa Tên Người Tình của Khánh Ly và Elvis Phương, nghe thật hay. Đấy là một đĩa nhạc hay, vậy mà hồi trước mình hơi thờ ơ. Những lúc buồn, nghe một bài hát thong thả, buồn buồn, hơi có chút não nùng, lại có gì đó giống như Tonight I celebrate my love for you (có khập khiễng không nhỉ, nhưng nghe cứ thấy day dứt thế nào ấy). Vì có lẽ là hai giọng song ca nam nữ, nhưng như nhiều lần, Khánh Ly hát lời của người con trai, trong khi Elvis Phương hát xen kẽ bài còn lại.
.

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2009

Chọn gầm giường

.
Mặt đã tróc những cái vẩy xước, nhưng mí mắt thì vẫn hụp xuống vì bị tụ máu, bọng mắt vẫn hơi thâm. Nói chung là nhìn mặt vẫn dài dại. Nghe thì hơi kinh nhưng cũng đang mong là sạch sẽ dung nhan sớm để còn đi làm đi ăn chứ. Nói cứ như thể người đẹp quý bà chờ đêm chung kết đăng quang.

Nếu ai chưa rõ vì sao mình thành Chí Phèo thì nguyên nhân là tại cái đèn xanh trên ngã tư Trần Phú - Hùng Vương. Một cái xe như là Morning đằng trước đi đến già nửa ngã tư bỗng đảo ngoằng một cái làm một con Spacy đâm vào. Mình vừa kịp nhận ra thì cũng lao vào nốt. Sao lại chậm phản ứng thế, tay bóp phanh đâu rồi!

Cảm giác mình ngã xuống thật kinh khủng, mà lại chán hết sức. Đứng dậy thì thấy: tay đã xước toe toét, kính rơi cả mắt ra. Mặt thì như trên. Còn cô gái đi Spacy thì môi bị sứt, chảy máu như phim chưởng.

Hò hét chửi rủa thì lái xe xuống, cộng thêm bà con giải thích phân trần rằng lúc đèn xanh, có một thằng nào vượt đèn đỏ chiều Hùng Vương nên cái Morning phải tránh. Ơ hay, việc gì phải tránh cái đứa đi sai, để cho hai người đi đúng bị xòe. Đau khổ nhất là mình đã đến giờ, nên tự biết mình còn chưa chết chưa gãy gì thì cố mà đi.

Nhưng thôi, không ức chế về giao thông HN, cũng như nhận lời trách ai bảo đi nhanh, và việc xui xẻo đầu tháng (đúng là từ đầu tháng đến giờ, thấy không như ý lắm).

Đang phải đọc gấp bản thảo một cuốn có vẻ rất thú vị về Maya, mà chỉ còn có 2 ngày. Không biết làm thế nào vì còn những hơn 500 trang, đã hứa và xin hoãn đi hoãn lại rồi. Chẳng lẽ vác vào SG đọc tiếp?

Tiết thu đã bắt đầu được mấy ngày. Đi loanh quanh cũng thích, nhưng không khí này sẽ cực kỳ hại vì đường Hà Nội đợt này lắm bụi. Nhân bộ phim từng tham gia viết kịch bản ra bản nháp, xem thì chẳng biết liệu hoàn chỉnh sẽ ra sao. Buồn cười vì cuối cùng những cái mình viết cũng thốt ra từ miệng diễn viên, mà ngay tập đầu lại là mình xớ vào. Bối cảnh thì nhà của các nhân vật rất sang, sang hơn mình hình dung, nhưng các quán cà phê với nhà hàng thì lại không được tương xứng. Nhân vật của phim này lại đi ra đường hơi bị nhiều. Điểm được là diễn viên chính xinh đẹp và cũng gây bất ngờ. Có tập xem cũng cười đau bụng, nhờ kịch bản của một bạn khác trong nhóm:
- Giấu nó vào gậm giường mau! (Hai chị gái già phải cấp tốc sơ tán một anh trai bất tỉnh trong nhà, trong khi chồng sắp về) Nhưng thằng này to quá, mà mày mua giường chẳng có gầm gì cả!
- Giời ạ! Mua giường chọn kiểu chứ ai chọn gầm!

Không biết có ai cười nổi tập của mình không! E hèm, cũng thành biên kịch chuyên nghiệp rồi nhỉ. Mặc dù vừa xem vừa nghĩ, sao lúc đấy mình lại có thể viết chuối thế nhỉ?
.

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2009

Cánh đồng hoang vu

.


Một màu xanh xanh, chấm thêm vàng vàng, cánh đồng hoang vu...

Thấy thèm lại đi lang thang trên những cánh đồng Thạch Thất - Sơn Tây. Hoặc một chỗ nào thoáng.


Rặng cây xanh rì kia là rặng duối.

Tuần trước, đi trong cơn mưa, ruộng và cây xanh nhức mắt. Thấy ghen tỵ với những người như Monet, không bao giờ chán thiên nhiên, mỗi điểm màu là một động đậy, mỗi hình dáng tự nhiên là tập hợp của vô số tán sắc. Một vùng vắng người đến những muốn nằm xuống cái bãi xanh kia thật lâu. Một tập hợp những màu xanh cao thấp đến muốn kiếm cái bút lông quệt những vệt sơn dầu lên toan đã dàn dầu lanh lót sẵn.



Lần nào đi chơi vùng này cũng chập chờn mưa nắng. Cho nên màu sắc khung cảnh lúc nào cũng lòe nhòe hơi nước, những bụi cây sẫm rì, những thửa ruộng hoe hoe sáng, những mặt sông hồ lờ đờ màu hồ thủy. Đi dạo thì thích thú, lúc nào cũng có cảm giác mình không phải chen chúc với ai để chụp ảnh hay là vướng mắt cảnh lố nhố mua bán. Cũng không vất vả bờ bụi kiểu "phượt", đây chỉ thong dong đi và đến, rồi sang chỗ khác, vài cây số là tới nơi.

Những mái nhà màu nâu chen những vườn cây nhãn lá xanh đen, rồi chuyển sang bức tường đá ong vàng, rồi lại bờ ao đầy bèo. Không nghe thấy tiếng chim vì tiếng gió hú trên đồng, đẩy những cành tre ken két, những tiếng ầm ĩ gần như không có.

C.ổ.n.g l.à.n.g



Ao ở cổng làng có đổi mới: nhiều sen, nhưng lại thêm nhiều ghế đá công viên, cùng hàng cột đèn điện thành thị quá.





Qua cái cổng lại thấy một đám lúa xanh trổ đòng đòng như cái thảm.

Đ.ì.n.h



Đình Mông Phụ nhìn ra sân trung tâm làng. Phía ngoài tứ trụ là cái quán nước. Học tập Hội An, giờ nhà nào có nhà thờ họ cũng mở cửa đón khách hết. Các cụ già trông coi mời chào rất niềm nở: Các bác vào chơi nhà cháu cho vui.



Mõ hình con cá.

C.h.ù.a



Chùa Mía là ngôi chùa có nhiều tượng nhất Việt Nam - 287 pho. Chùa có bố cục chữ Tam, chia làm ba cấp: Hạ, Trung, Thượng. Chạm khắc ở các kết cấu cũng rất đẹp và còn giữ được nguyên gốc thời Lê Trung Hưng, chủ yếu là ở chùa Trung và Thượng. Chùa Hạ chỉ là nơi ngồi tụng niệm là chính.



Ngoài việc tượng không bị sơn son thiếp vàng bóng nhoáng thì chùa cũng ít dùng đèn điện.



Chùa Thượng có 5 cái động đắp bằng đất, nhưng rất tinh xảo và bay bổng. Những cây cột cái đã bị mọt, song chính cảm giác xù xì lại là cái khiến người xem đồng cảm với độ lâu đời của kiến trúc.



Thấy đề bảng quốc ngữ là động Quan Âm Thị Kính, nhưng chữ Hán trên nóc là Tây Trìu (phải hỏi lại) Sơn. Bên trong là tượng Thích Ca nhập niết bàn, phía trước là Thị Kính bế con. Ở cái động chính giữa mới nhiều tượng hơn, song động này được chú ý nhiều vì hai pho tượng trên có tính cổ điển chuẩn mực cao trong hệ tượng gỗ. Còn rất nhiều tượng khác nhưng sẽ để dịp khác.

N.h.à t.h.ờ



Nhà thờ xây năm 1953, song cũng có những nét Roman đáng chú ý. Bên trong đồ gỗ giản dị và mộc mạc.

N.h.à d.â.n



Cổng nhà bà Ấm Mùi ở thôn Đông Sàng.



Chạm chim đậu cành đào ở nhà anh Hùng, con cụ Chín Giáp, là nhà cổ nhất làng (xác định là năm 1649, theo anh Nguyễn Xuân Diện đọc từ bản văn cúng trên tấm gỗ tại nhà này).



Hoa văn trên cửa thông gian bên với chái nhà.

Đ.ề.n





Đền Và đang sửa nên cũng lanh tanh bành, nhìn ra rừng lim và cánh đồng trong mưa thật buồn.



Đã có hai con sư tử đá kiểu Trung Quốc và hàng cột gạch to uỵch sơn trắng toát xây thêm trước tam quan đền. Có hẳn bản thông báo dự án tu bổ hoành tráng.

Về thị-xã-từng-là-thành-phố:



Cầu bắc qua hào nước khá cạn.



Đây là con hào hộ thành, có cây xanh rất đẹp, lan can thì xấu.





Đường lát gạch xi măng mầu con sâu, cũng có vẻ hợp với tường thành đá ong còn sót lại. Cây xanh thật là xanh, lá rơi vàng lối đi, mưa gió não nùng... Lại đi tiếp.

Viết lúc nhớ cảnh, nhớ người và bận óc.
.

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2009

Có những người đi không về

.

Một Hà Nội nhìn từ câu chuyện nhạc tiền chiến và Đoàn Chuẩn


Có những người đi không về

Xa xôi rồi quên ước thề

(Lỡ cung đàn – Hoàng Giác)


Hình dung sót lại về một “Hà Nội ngày xưa”, cái Hà Nội mà ai nấy đều tỏ ra cảm phục và tiếc nhớ đó, tuy không có còn bao nhiêu hình ảnh hay vật chứng để làm chỗ dựa, nhưng lại có rất nhiều không gian văn nghệ để hồi tưởng.


Một trong số những thứ mang “không khí Hà Nội” được bảo lưu lâu nhất, chính là “nhạc tiền chiến”, hay là các ca khúc lãng mạn ra đời vào những năm 1940-1950. Bản thân chủ đề Hà Nội không xuất hiện nhiều trong đó, nhưng đời sống con người cũng như các nhạc sĩ đều gắn với nơi này.


Ca khúc tân nhạc được thừa hưởng một số kết quả của cải lương và ca ra bộ nhưng phải nhờ đến không khí văn nghệ và sự gọt giũa của văn nghệ Hà Nội những năm 1930, chúng mới thành hình một hiện tượng có tính thẩm mỹ và có khí quyển riêng. Đó cũng là nguyên nhân mà đến giờ, tuy nhạc sĩ và ca sĩ có thể ở mọi miền, trừ ca khúc diễn tả âm sắc địa phương, nhưng đều hát và phát âm câu nhạc theo giọng Hà Nội.


Những ca khúc tân nhạc đầu tiên phải nhờ đến không gian văn hóa thời nở rộ của giao lưu Đông-Tây và nỗ lực của những thanh niên Tây học Hà Nội mới được ra mắt. Khác với những người viết văn làm thơ cùng thời nhiều khi nặng gánh mưu sinh cũng như xuất thân bần hàn, những tay nhạc này thường là con nhà khá giả ở thị thành. Văn Cao có thể xuất thân con ông cai thợ điện nghèo nhưng ông vẫn là người của một tầng lớp không thể nói là nghèo hèn (những ca khúc và thơ hồi ấy của ông ghi dấu một đời sống đã trải nghiệm những thú vui lịch lãm – Một đêm đàn lạnh trên sông Huế, ôi nhớ nhung hoài vạt áo xanh). Sáng tác của họ cũng là đời sống bản thân: những rung động đầu tiên, những trăng gió bướm ong, những cô láng giềng bên hàng tường vi, một cô em gái bên sông… chẳng khác mấy so với Thơ Mới. Nhưng thức nhạc có tính Tây phương lại đưa đẩy những hồn cốt tiêu dao Á Đông làm cho những ca khúc này có tính phù thế, thoát ly hơn cả người anh em Thơ Mới.


Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc, ông Nguyễn Trãi đã nói như vậy bằng kinh nghiệm của một người dòng dõi quý tộc nhà Trần, có sở học hàn lâm và trải qua thăng trầm binh lửa cũng như triều chính. Thời nào có nhạc của thời ấy. Một thời xã hội tư sản rậm rịch phiêu lưu trong hào quang của thời công nghiệp mới sinh ra họa phái Ấn tượng, mà nhiều người từng cho là phù phiếm và chạy theo hình thức nhàn tản salon, nhưng lấp lánh những vẻ đẹp trong trẻo và mơ màng của những tâm thế nghệ sĩ lãng mạn. Với nhạc tiền chiến, những ca khúc dòng nhạc này đã có một quãng thời gian ngắn ngủi để sinh ra và chóng đạt được những kết quả không tầm thường tí nào trong bối cảnh một xã hội nhiều hạn chế. Trong Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng, hai thầy cảnh sát Min Đơ, Min Toa than vãn về cái cảnh không bói đâu ra một chỗ nào vi phạm để phạt tiền trong một khu phố Hà Nội. Bỏ qua cái ý châm biếm thì người đọc thảng thốt: chả lẽ Hà Nội đã từng có lúc ngăn nắp đến vậy!


Một đời sống êm đềm, những giới thị dân trung lưu sống đúng thứ bậc của mình, kể cả những thủ đoạn, những cách biệt giàu nghèo,.. là chất liệu nền để bắt đầu những chàng có tính nghệ sĩ tay chơi (theo nghĩa lãng mạn) réo rắt vài gam nhạc “tán gái”. Cũng là cái não nuột “chẳng được như hoa vướng gót ai” của chàng thi sĩ thua Xuân Tóc Đỏ trong vụ tán cô Tuyết con cụ cố Hồng, nhưng tính chặt chẽ của nhạc luật Tây phương chốt chúng lại trong những điệu nhạc nhảy, rồi chúng đến với cuộc đời êm ả ngọt ngào như chất men đưa người đến với người, như một ngày thu năm 2002, người ta đưa tiễn Đoàn Chuẩn về với Từ Linh vậy.


Trong số những nhạc sĩ tiền chiến, Đoàn Chuẩn là một chân dung mang cốt cách đời sống phong lưu Hà thành rõ nhất, dù ông sinh ra ở Hải Phòng và sản nghiệp của gia đình ông – vốn là nhà buôn nước mắm Vạn Vân ở Cát Hải – giàu có từ đó, nhưng mỗi bước đường phiêu lưu hay có đi kháng chiến, vẫn là dùng dằng với thành phố như tổ ấm “tiếc đời gấm hoa ta đành quên mầu sắc núi rừng” (Đường về Việt Bắc, 1948). Trong dòng nhạc này, ông tỏ ra Hà Nội hơn cả, vừa tài hoa nhưng cũng khá là chơi bời tài tử. Không gồ ghề đeo đuổi những mục đích học thuật hay đem âm nhạc cải cách xã hội, âm nhạc của Đoàn Chuẩn chỉ đơn thuần là những khúc tình ca giọng Đô trưởng, đẹp và mỹ miều đến từng chữ.


Đoàn Chuẩn cùng vợ khoảng 1952


Ông là một người Hà Nội của những phố nhà giàu, có đến 6 cái ô tô xịn nhất lúc đó với những hiệu như Buick hay Citroën, sinh ra để hưởng một cuộc sống như cái thú, dù rằng cuộc sống những năm tháng sau này chỉ là những vệt mờ buồn xám. Ông sống như một người của Hà Nội yêu cái đẹp như thể là một lẽ tự nhiên, vì bản thân mình cũng là một người đẹp trai, hào hoa và cảm thụ cái đẹp dễ dàng như những người Hà Nội vẫn được sống chung với những giá trị ấy. Trong hành trình yêu cái đẹp của Đoàn Chuẩn, không thấy cái dấu vết cố sức hay dụng công vất vả như nhiều người tỏ ra biết yêu cái đẹp hơn người khác, ngập chìm trong những mỹ từ và hoa văn trang trí thị dân.


Bởi thế, 16 ca khúc còn lại cũng chỉ như một cuộc chơi của tác giả. Tính tình và cuộc sống của một anh chàng Hà Nội ham chơi vẽ ra cái câu chuyện của những mối tình, những chia ly thường thấy của những bài hát ấy. Có lẽ phải lâu lắm một không khí thị thành “sành điệu” ăn chơi hồn nhiên – tôi nói ý này nhìn ở khía cạnh có tính thúc đẩy xã hội theo hướng biết chọn lọc và thưởng thức những mặt tiên tiến - mới tái lập trong văn nghệ Hà Nội. Sau này cũng đã có một thời “hoàng kim” của những tình ca Hà Nội, nhưng vẻ sang trọng và quyến rũ không còn mấy đậm đà. Hà Nội của Phú Quang, Dương Thụ và nhiều người khác nữa là một Hà Nội tuy định danh rõ ràng nhưng mang một khuôn mặt có nét đăm chiêu khắc khổ với dấu ấn thời gian và những e dè thu mình trong thời cuộc, một Hà Nội mất đi cái cá tính ban đầu sau những thời đạn bom, thời hòa bình mang đầy tính thời sự. Với một người yêu Hà Nội như Dương Thụ, ấn tượng luôn là một thành phố bụi, thành phố của những ô cửa sổ lầm lụi mở ra những “mảnh trời xanh trong vắt” của ký ức, thì hẳn nhiên đã không thể có một Hà Nội đầy ma lực như bầu trời thu quyến rũ của Đoàn Chuẩn, với những “đàn bướm kia đùa vui trên muôn hoa, bên những bông hồng đẹp xinh”...


Nói về Đoàn Chuẩn từ góc độ cuộc đời và sáng tác cuả ông, ta có thể nhận thấy ở đây cách sống của một thế hệ thanh niên Hà Nội. Thế hệ nào dường như cũng có những chàng trai nghệ sĩ tài hoa, đôi khi là những hiện tượng mà quần chúng xem như ăn chơi đua đòi hay các giới lãnh đạo thấy những trào lưu vượt khuôn khổ. Tuy nhiên nhìn vào những mặt tích cực, nhiều nhân vật đã để lại cả một đời sống tinh thần hấp dẫn, thậm chí cả một chân dung văn hóa, mà sau này, với tính chất “mua vui cũng được vài trống canh”, những Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm “khi con hát có tang trở vẫn bắt hát”, hay cậu Chiêu Hổ đến khía cạnh thưởng lãm thú chơi cũng khiến đời sau phải tìm tòi nghiên cứu, ở xã hội vốn không đề cao những nghề phục vụ giải trí như ở ta, lại đem đến những giá trị xã hội học thú vị. Với Đoàn Chuẩn và nhiều nghệ sĩ thời đó, việc bộc lộ cá tính là một lẽ gì tự nhiên và một điều kiện để làm nảy sinh những mối cảm xúc khơi nguồn cho sáng tác. Ở đây, cái Hà Nội tuy thật bé nhỏ và quẩn quanh với “vài ba dáng điệu” (thơ Xuân Diệu) nhưng đã là mảnh đất xuất hiện những cá tính sáng tạo riêng biệt. Những cá tính ấy với đời sống xã hội và không gian văn hóa của mình, đã là mặt hàng xuất khẩu có giá trị bậc nhất cho một Hà Nội được ngưỡng mộ và hoài niệm.


***


Tại sao những phòng trà Sài Gòn, hay những chương trình ca nhạc mang tựa đề “những ca khúc sống mãi với thời gian”, vv… vẫn cứ thích hát những bài ca ấy? Người ta có thể không thích, không say mê, nhưng khi nhắc đến vẫn xem như một vẻ đẹp có tính cổ điển. Hẳn nhiên là tính kỷ niệm đối với những thế hệ đã tìm thấy mình trong đó, mong hồi tưởng lại một thời trẻ đối với người già, hay thói tò mò ưa khám phá của người trẻ… là lý do để chúng vẫn cứ được hát ra từ miệng của những ca sĩ còn trẻ (về tuổi tác). Nhưng có lẽ, chúng ta thấy thích một không khí có mùi exotic, một thời lãng mạn đi qua, những vẻ đẹp não nùng hợp với tâm lý người Việt, có vẻ vừa cao sang vừa tao nhã. Một thời đã có những giá trị được viết ra, đầy hồn nhiên và mơ mộng. Những Đoàn Chuẩn – Từ Linh viết chỉ để tán gái và thổ lộ mối hận tình, chưa cần biết hát ở đâu, lúc cạn tình thì cũng không cố viết nữa. Vẫn ngọt ngào như lời chào của những liền anh liền chị Quan họ, vẫn nhấm nhẳng dồn nén như tiếng phách ca trù, nhưng nhạc tiền chiến khoác lên mình bộ trang phục văn minh phương Tây từ một sự cưỡng bức sang tiếp biến văn hóa, tạo ra một hiện tượng không dễ thấy trên thế giới, đến mấy chục năm sau vẫn chờ được làm mới. Sài Gòn với một đô thị có tính điển hình hơn trong lối sống so với Hà Nội, việc vẫn tiếp tục cảm hứng từ những dòng nhạc xưa cũ, có một tầng lớp thị dân yêu thích ủng hộ, họ tìm thấy những khuôn mẫu ứng xử và điệu tâm hồn mình trong đó. Với người Hà Nội, ngoài việc thỏa mãn những hồi tưởng ký ức, còn là một kiểu tái xác lập giá trị của mình trên cơ sở những thứ theo họ là có tính cổ điển từ đây.


Jason Gibbs, một nhà nghiên cứu âm nhạc chuyên về nhạc Việt Nam, cho rằng chất lãng tử hiệp sĩ là một mẫu số chung của nhạc knight-errant (trang hiệp sĩ phiêu lưu), cái mầu sắc chinh chiến và chia ly thông qua những biến động chính trị trên thế giới cũng như tại mỗi nước nhuốm vào lời lẽ, vào nét nhạc. Knight-errant là loại nhạc “tài tử với giai nhân sẵn nợ”, những hiệp sĩ này thường “hát về tình yêu, đứng dưới lầu ngà của những nàng trinh nữ xinh đẹp, một hình ảnh phân biệt giới và cũng định hình họ như những biểu tượng. Người phụ nữ ở bên trong, chỗ mà những giá trị trinh bạch và thánh thiện của họ được bảo vệ” (Finson, Những tiếng nói đã ra đi: Chủ đề trong ca khúc phổ thông Mỹ thế kỷ 19. New York: Oxford University Press, 1994). Ở Việt Nam, khi nhạc tiền chiến ra đời, chưa có một thị trường đúng nghĩa cũng như một đời sống ổn định lâu dài để chúng được tung ra và có sản phẩm kế cận bình thường. Đô thị miền Nam trước năm 1975 đã phần nào dung dưỡng những ca khúc này trong một bầu không khí xã hội tiêu thụ, nhưng là một vệt kéo dài và có sự lặp lại, cho nên mới có những “30 năm đời vẫn hát” đi lại những ca khúc ấy, vẫn là những “tìm dư âm cũ nhớ nhau mà thôi” (Phạm Mạnh Đạt).


Nhạc tiền chiến, một thời nhắc đến là đầy ngụ ý, nào là những gì có tính huyền thoại, nào là những cấm cản tạo nên bí ẩn đầy ma lực, nào là những vẻ phong lưu tình tứ bấy lâu thiếu thốn, giờ đã có vẻ dễ dàng tự xoay xỏa chỗ đứng. Những đêm nhạc của ban ATB ở phòng trà Long Phụng vẫn sống được bằng kho nhạc ấy. Trong tình cảnh dễ bị nhận diện là copy & paste của nhạc trẻ, thì xem ra lui tới những thành trì của nghệ thuật lùi lại vào chục năm, lại như là an lành? Đến một ca sĩ thời trang kiểu Đàm Vĩnh Hưng cũng chịu bỏ những thứ “xin hãy hôn anh thật lòng” nhái nhạc Nhật để cập bến Đà Giang của Văn Phụng thì đủ biết là người nghe nhạc Việt Nam đi đâu lâu cả đời về lại nhận ra chỗ thân thuộc cũ (ý văn Phạm Thị Hoài).


Những năm đầu thập niên 1990, thời bắt đầu nở rộ phim truyện video, cùng lúc những tác phẩm nghệ thuật trước năm 1945 được khám phá lại trong tinh thần Đổi mới, những Gánh hàng hoa, Lá ngọc cành vàng, Số Đỏ... rầm rộ ra mắt. Người ta nghe say sưa những băng nhạc Giai điệu một thời, những tác giả lụ khụ tái xuất giang hồ làm vui lòng công chúng đang khát sự lãng mạn trong bối cảnh một xã hội mới vỡ tung ra trong những quan hệ kinh tế thị trường có những nét thô sơ man rợ. Người viết không hiểu sao, nhớ một bộ phim giờ ít người nhắc đến có tựa khá mùi mẫn: “Nơi tình yêu đã chết”. Đại loại phim dựa trên cuộc đời của Trần Lệ Xuân, chủ yếu nhắc đến thời trẻ ở Hà Nội, những chuyện tình tay đôi tay ba, lằng nhằng như mọi phim tình cảm phóng tác... Nhưng ở đâu ra một anh họa sĩ trường Mỹ thuật Đông Dương, vừa là ý trung nhân của cả bà mẹ lẫn cô con gái (nhân vật nữ chính), anh này sau tham gia vệ quốc quân! Chưa hết. Làm thế nào đó mà khi đã thành bà lớn, nhân vật của chúng ta lại tình cờ gặp cố nhân giữa đất Sài Gòn! Giữa hai mảnh quá khứ và hiện tại mà phim diễn tả có vẻ chẳng logic ấy, là cảnh chàng mặc áo trấn thủ đi kháng chiến, ôm guitar hát “Giờ còn mong chi, người hát theo đàn. Giờ còn mong chi, hợp cánh hoa tàn”… Ôi, sau bao tao loạn, sóng gió bất bình, buông vào một bài “Cung đàn xưa” như thế cũng có tình lắm thay! Tự nhiên xem phim thấy mềm nhũn cả ra.


Đêm nhạc từ thiện do báo Công an TP HCM đứng ra tổ chức ở phòng trà 2B Lê Duẩn, tất cả ca sĩ (phần lớn còn trẻ), không kể thêm Duy Quang là khách mời, đều hát những bài tuổi thọ đã cao niên lắm. Khán giả thì đa dạng từ những đóa hoa huệ héo tàn nhưng vẫn kiêu hãnh ngẩng đầu búi cao trên cổ áo xẻ rộng đeo chuỗi hạt trai, những mái tóc muối tiêu mặc áo chim cò, cho đến những thanh niên đôi mươi đầu xịt gôm chải dựng… Trời mưa như trút nước và phòng trà có tiếng sang trọng cũng dột, nước chảy như thác giữa khán phòng đúng chỗ những VIP. Nhưng xem ra nhiệt tình của dân hâm mộ nhạc tiền chiến đủ sức duy trì nó cho đến nhiều đời nữa. Ở Sài Gòn nóng như đổ lửa thế này, đường lúc nào cũng nườm nượp xe, chỗ nào cũng chạy rầm rầm đến nhức đầu, thì cái không khí bình yên giả tưởng kia là một món giải khát có chứa aspirin chăng?


Nguyễn Trương Quý
Tia Sáng 11.2004
.
CanhHoaDuyenKiep1984
CanhHoaDuyenKiep19...
Hosted by eSnips

Cánh Hoa Duyên Kiếp (hay Dạ Lan Hương), Khánh Ly, CD Lá Đổ Muôn Chiều - Tình khúc Đoàn Chuẩn-Từ Linh, 1984-1988.
.

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2009

Our Allen-style

.
Thường thì theo quán tính, người ta hay chọn nhau thành cặp vì tiêu chí "hợp ý tâm đầu". Nhưng cái lý thuyết này rất dễ hỏng trong thực tế, vì không phải giống nhau mà đã vui. Khi chẳng có gì khác lạ thì hết muốn khám phá, nữa là muốn nói chuyện.

Tuy vậy, người Việt gặp nhau mà muốn kéo dài câu chuyện thì thường nói về cái gì? Ngoài chủ đề gia đình, con cái, tiền bạc, thì đến chuyện chính sách kinh tế ảnh hưởng đến chứng khoán, hay các vụ làm ăn, và nói chung là cơ man bức xúc bên bàn nhậu. Nói như kiểu Đỗ Kh. trong Văn minh quầy quán (Ký sự đi Tây) thì cỡ Tổng thống, Thủ tướng hay tổng trưởng, đều là "con" (tiếng Pháp) hết. Người Việt nói chung nếu không phải dân viết lách thì chẳng ma nào ngồi tán chuyện về cuốn sách mới đọc hay bài hát nào hay. Phù phiếm lắm! Thật đúng là chẳng cái gì vừa xa lạ vừa sáo rỗng bằng việc trích dẫn ai đấy, ví dụ có hồi đi làm cơ quan tin học cũ, đang hồi ăn uống, có một cậu nói "chính trị gia làm cho lịch sử sinh động hẳn lên" rồi vỗ vai mình: "Thiệp nói thế phải không?" Đang nhồm nhoàm rau bí xào tỏi với bê tái chanh, sao lại dẫn dụ mấy cái này vào đây, mặt ai nấy phừng phừng lên, thật sinh động.

Hôm rồi, khai trương quán La Cantine Opera, ngồi với một cặp vợ Việt chồng Ireland. À, Irish mà lại viết báo, viết truyện ngắn cho Timeout nhé. Ừ, cũng hay, bằng vốn tiếng Vinglish nhăng cuội và mớ thông tin tào lao, mình cũng gọi là trao đổi được dăm câu về văn học Ireland, với những Samuel Becket (Oh, he's my favourite writer), rồi phim Ulysses với hai mươi phút diễn viên nam chính nằm trên giường với tiếng ngoài hình (cố gắng tái hiện mấy chục trang chỉ có 1 câu không dấu phẩy, dấu ngắt câu)... Rồi cũng buôn được chuyện người Irish có bao nhiêu phần trăm tóc đỏ, vv... Đại khái là cũng ra một cuộc đối thoại, trong khi vợ bạn này nói chuyện với chủ xị nhà hàng.

Rồi về nhà, nghĩ rằng, nếu có bạn Tây nào hỏi mình về Nguyễn Du với Truyện Kiều, chắc mình có thấy vui không nhỉ? À mà bạn này có hỏi về Số đỏ (Dumb Luck) với lại mấy truyện Hồ Anh Thái dịch, thêm vào việc hỏi xem ai là nhà văn nổi bật nhất có thể recommend hiện nay... Nghĩ cũng chẳng khác một cảnh trong phim Woody Allen, ba bốn người tán một chuyện có vẻ sách vở, rồi lại tản ra kết chuyện với người khác, nào là phim Chơi vơi đi Venice, rồi em Đỗ Hải Yến cứng đơ đơ hay mềm mềm thế nào, giá em ấy cứ đứng nghiêm, mắt nhìn thẳng, đừng mở miệng ra thì tốt hơn, nào là tí nữa cả hội mình đi xem bạn Di quay Bi ơi, đừng sợ ở Gầm Cầu. Nói chung là... danh từ riêng và tên riêng xuất hiện ầm ầm.

Nửa đêm, hội "Allen" lại đi ra phim trường. Có mỗi cảnh rót bia mà đạo diễn bắt quay đến 5 đúp thì hết bia, phải đi mua. Nữ biên kịch đi cùng nói, cho mình làm thì chắc xong béng rồi, nhưng làm như mình thì có mà ăn cám. Định bon chen vào làm vai quần chúng, nhưng thấy máy quay có thu hình vào đâu nên quyết định thôi, mình chỉ là nhà bình phẩm. Mà có bình phẩm được đâu, thu tiếng trực tiếp, xin đừng mở miệng.
.

Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2009

Bốn bánh bay lên đỉnh (2)

.

.

Khi ai cũng đi xe đạp rồi đến xe máy, cấu trúc “phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ” vụn vặt chẳng thành vấn đề, con đường rộng nhất Hà Nội thời trước đổi mới là đường Giải Phóng có chiều rộng 35m với hàng chục đường cắt ngang không làm ai khó chịu. Nhưng có gì bức xúc bằng ngồi trong chiếc Mercedez S65, đã bị đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đắt tới mấy trăm nghìn đôla, lại còn phải bò từng trăm mét một để tránh luồng giao cắt. Nói vậy, đã đẳng cấp xe xịn thì không ai mang ra đường Giải Phóng (không lẽ để xuống nghĩa trang Văn Điển), mà phải nhè những chỗ dập dìu tài tử giai nhân như Nhà Thờ, Vincom, Lý Thường Kiệt hay đường Thanh Niên. Và đã ra dáng xe khủng thì phải rất kềnh càng, ra cái điều đường phố Hà Nội sao mà bé toen hoẻn cho con Lincoln dài gần 6 mét của chúng mình quay đầu. Phố Lý Thường Kiệt, thời Pháp là “Đại lộ” Carreau, rộng có 12m, cứ hai trăm mét lại một ngã tư, nhưng lại hóa ra có lý để diễu xe. Con phố này nhiều quán cà phê của giới văn phòng, trung tâm gossip của thành phố, lại có mấy cơ quan cấp đăng ký xe, thành sàn diễn thời trang cho xe cộ. Đây đích thực là phông cảnh cho bộ mặt phồn vinh của Hà Nội, như là việc đã thuê xe Rolls Royce làm đám cưới thì phải chạy một vòng quanh Bờ Hồ ra Tràng Thi, hướng lên Ba Đình soi bóng nước Hồ Tây rồi quặt về Phan Đình Phùng, len lỏi quanh phố cổ để kết thúc nơi bậc thềm Nhà hát Lớn. Cốt để dân Hà Nội hôm sau đọc báo mạng hay vào diễn đàn ôtô mà lác mắt.


Thỏa mãn tâm lý đổi đời, cộng thêm việc cự ly đi lại ngắn ngủn, người ta dùng ôtô với công năng không hơn gì xe máy, nghĩa là chở con đến trường, vào siêu thị, ăn sáng hoặc đón vợ trên những khoảng cách vài cây số. Nói đến đây dễ đụng phải cái gọi là “quyền dân chủ” – tài sản hợp pháp thì phải được sử dụng chứ, ai cấm người ta đi ôtô chỉ 500m từ nhà ra làm tách cà phê Highland 49.000 đồng! Cố gắng rũ bỏ tâm lý ghen tỵ nhưng nói thực, tôi cũng phải lấy làm “thỏa mãn” khi đọc những tin như là xe tiền tỷ bị ngập trong bùn ở hầm chung cư dịp lụt cả tháng trời hồi năm ngoái. Chẳng lẽ xe Audi không thể chia hoạn nạn với xe máy trong cơn lụt thế kỷ ư? Mà tâm lý kẻ thua kém là cứ đòi xe tiền tỷ đã thiệt hại thì phải bẹp rúm, mới sướng con mắt và đã cái miệng sặc mùi trà đá phảng phất ý đồ lập lại công bằng xã hội.


Nhưng có đi xe ôtô trên những con đường nút cổ chai ở Hà Nội mới biết, niềm hãnh diện hoành tráng bao nhiêu thì nỗi nhọc nhằn cũng chẳng bé. Tắc đường xe xịn cũng như xe trâu, trong khi xe máy thi nhau vượt lề, len lỏi theo lối du kích để về nhà kịp bữa tối thì dù có bạc tỷ cũng đành phải chết đứng như Từ Hải. Cái máy kềnh càng do ông Ford sáng chế tương hợp với hệ thống xa lộ mênh mông của nước Mỹ, ắt là không đề huề với lối xưa xe ngựa hồn thu thảo, hoặc phố Pháp một thời thong dong xe điện. Mai kia Hà Nội có biến thành đại đô thị với nhiều tầng đường bê tông trên cao thì cái thời này, xe trăm ngàn đôla nhích từng mét một, mãi là một thời để nhớ. Quần chúng cứ dè bỉu nhà giàu hãnh tiến, nhưng có kẻ nào mong thụt lùi lại cảnh chẳng ai sắm nổi cái xe đạp. Đọc truyện hay xem phim Mỹ thì cũng thấy, dân họ đã hết cơn sốt xe hơi đâu! Các tạp chí ăn chơi vẫn cứ đăng đầy ảnh các sao bước ra từ cửa xe ba buồng đen bóng để ra thảm đỏ. Mấy hãng GM hay Ford suýt phá sản cũng làm cho sàn chứng khoán New York điên đảo, sứt mẻ cả bộ mặt kinh tế siêu cường.


Vào thời buổi các nhà khoa học ra sức báo động trái đất nóng lên, câu chuyện tiết kiệm nhiên liệu với khí thải vẫn không làm giảm được nhiệt tình mua xe hơi. Bức tranh thị trường xe hơi Việt Nam như đại diện cho chủ nghĩa phi lý: mang tiếng toàn cầu hóa nhưng giá xe đắt gấp hai, ba lần vì thuế chồng thuế, ngành thuế coi xe hơi là một thứ hàng tiêu thụ đặc biệt, tiếng là có sản xuất nhưng tỉ lệ nội địa hóa của các liên doanh xe hơi vẫn không vượt quá 10%. Tất cả mọi sự cho thấy tâm lý xã hội vẫn xem xe hơi là thứ xa xỉ. Vì thế, lẽ tự nhiên là ai cũng cực kỳ nhạy cảm với mọi chuyện quanh cái xe ôtô. Người đẹp đi thi hoa hậu bỗng gây chú ý chỉ vì từng lái xe Porsche Cayenne trị giá 5 tỷ đồng gây tai nạn liên hoàn hai năm trước. Rõ là việc nào đi việc nấy, nhưng cái nhãn hiệu choang choang kia cùng con số tiền tỷ kia khiến người đọc báo xốn xang hơn cả nhan sắc chủ nhân. Đám đông tọc mạch xem xe hơi là biểu tượng cho một cuộc sống đáng thèm muốn, nhưng cũng là tội đồ có trách nhiệm trong việc ghi đậm hố ngăn cách giàu nghèo.


Trong một thành phố đầy rẫy sự cộc lệch thì dẫu có nghịch mắt, xe hơi là cơn mê điên cuồng mà tất yếu của một thế hệ người Việt đang lên. Qua rồi thời ngọc trong đá, anh tài gàn dở bất cần thị phi, giờ đây đại trượng phu phải lạnh lùng độ nhau qua vôlăng mới khiến người khác nể sợ. Ngôn ngữ của đời sống xe hơi còn chưa phổ biến trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, nhưng vấn đề chỉ là thời gian. Xe ôtô với lợi thế như một cái vỏ bọc di động, thực chất làm đậm hơn khát vọng cá thể hóa phương tiện đi lại mà xe máy chưa đủ thỏa mãn. Nó như một không gian riêng của ta di chuyển trong thành phố, nên mua xe sang là khẳng định giá trị của không gian ấy. Ngồi trong xe hơi là ta được che chắn, được cố thủ trong những tấm kính lọc ta khỏi đường phố Hà Nội đang tuôn ra những dòng xe máy như kiến cỏ vây quanh ta. Bồng bềnh trong cái hộp nội thất bọc da, máy lạnh thổi mát rượi và nhạc khoan thai thánh thót, bạn mỉm cười nhắc lại câu khẩu hiệu tranh cử của Obama: Yes, we can.


Nguyễn Trương Quý
(TTVH cuối tuần 11.9.2009)

Minh họa: Chiếc xe Lincoln trên ở đầu đường Lê Duẩn, ngang qua Bách hóa 5 Nam Bộ.
.

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2009

Ba cái phim

.
Nhân lúc vô (tích) sự, mở TV thấy chiếu Người đua diều, mới nhớ là mình đã có đĩa rồi mà mãi chưa xem. Truyện thì đã từng mua và đọc hai chương nhưng rồi tặng lại ai đó.

Rõ ràng là phim làm tử tế, nhưng xem không thấy thích lắm, mặc dù nổi tiếng (đề cử Qủa cầu vàng 2007, đề cử nhạc nền Oscar). Ngoài việc tiết tấu không ra chậm cũng không nhanh, cứ tà tà kể kể, thì hình như là mình không thấy thích vì nó cứ gợi lại một tứ phim số phận đâu đó, cách kể cứ bắt khán giả phải cảm động, hơi cố tình giản dị và cố tình đau đớn. Chẳng rõ có phải vì mình sinh ra và lớn lên ở một cái nước cũng phức tạp về lịch sử, nên xem hay bị so sánh. Biết vậy là dớ dẩn nhưng không tránh được, xem không thoải mái lắm. Tuy tránh được những cái sến nhưng phim vẫn cứ bị nhấn nhá quá. Cái đạt nhất có lẽ là lấy bối cảnh thăng trầm của đất nước bỏ lại và hành trình tìm về Afghanistan, nhưng nhân vật có đời sống riêng, không minh họa lê lết ám tả chính trị lộ liễu. Câu chuyện của trẻ con ghét nhau rồi hại nhau muôn thuở, nhưng trăm lần như một, người may mắn hơn sẽ lại phải trả giá về tinh thần, dằn vặt đau đớn... Nói chung là có người bảo đấy toát lên chất thơ, nhưng mình thì thấy hành hạ tâm lý người xem vì đoán trước cả rồi.

Nhớ lại một phim cũng cùng dòng phim chính trị có chất sử thi (tạm đặt tên thế), là The Last King of Scotland, với Forest Whitaker và James McAvoy đóng. Một anh chàng sinh viên da trắng Scotland thời những năm 1970 vô phương hướng đến xứ mù cang chải Trung Phi, nhân lúc có vị lãnh tụ cách mạng mới nổi bản địa thu nạp về làm sang cho triều đình ông ta, anh này thỏa sức vui chơi với tư cách bác sĩ da trắng phục vụ cho lãnh tụ dân tộc da đen. Đương nhiên là anh này sẽ tỉnh ngộ khi thấy cái tàn bạo của chế độ, mà quay ra chống đối. Rồi chàng ta bị tra tấn tàn bạo... nhưng cũng may mắn thoát về nhà. Những cảnh tra tấn thì máu me kinh khủng, cũng như nhân vật "lãnh tụ" được đóng rất hay - tàn bạo mà thông minh có cờ. Xem thì lôi cuốn, nhưng cứ nhoi nhói cảm giác rằng đang được xem một lối quan sát của một người sẽ "từ cõi chết trở về" trước một thực tại đau thương rồi sẽ thành quá khứ bỏ lại.

Hôm vừa rồi ở Đà Nẵng, vào Megastar xem phim giết thì giờ nhân tránh mưa, đắn đo giữa The Proposal của Sandra Bullock với State of Play của Russell Crowe. Sợ đau đầu nên xem phim nhí nhố của chị gái già Sandra với phi công Ryan Reynolds. Cũng vui vui, tuy đầu voi đuôi chuột nhưng được cái có nhiều chi tiết biết xử lý để dù tổng thể đoán được nhưng vẫn khiến người ta phải theo dõi. Sandra Bullock đúng là sở trường phim hài tình cảm nhưng kịch bản phim này nhạt quá, phí hoài, mặc dù chị này hơn 40 nhưng phom người vẫn ngon lành. Chắc phim cố gắng show hàng diễn viên nên dàn cảnh chị 40 cậu 25 nude đâm sầm vào nhau, hơi phô.

Cũng không ai review như mình, từ phim nghiêm túc giải này nọ tụt dần về phim cởi quần áo, thật đầu voi đuôi chuột!
.

Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2009

Bốn bánh bay lên đỉnh

.

(TT&VH Cuối tuần 4.9.2009) - Thế nào là một người giàu ở Hà Nội? Có nhiều tiêu chí: nhà to, đất đẹp, cổ phiếu blue-chip... Nhưng nhất thiết phải có ô tô con. Dân gian vẫn bình phẩm, nhà giàu mà đi xe máy Tàu có khác gì áo gấm đi đêm, đồ “nhà giàu húp tương”! Dù đường phố cũ kỹ của Hà Nội mà người Pháp quy hoạch chỉ có hai làn xe, nhưng đấy mới là catwalk của ô tô bây giờ! Ô tô con phóng bon bon trên đường cao tốc thì chẳng ai ngắm, mà lại cứ phải chen chúc với xe máy mới ra được đẳng cấp.

Không biết sau này, các sử gia theo lối phân chia giai cấp sẽ viết thế nào, chứ ở Hà Nội bây giờ, đẳng cấp là hoặc đội mũ bảo hiểm, hoặc không. Tất nhiên đầu trần ra khỏi nhà cũng có khi là đi xe buýt, nhưng có ai tưởng tượng doanh nhân nào lại không đi xe con? Nếu đi xe máy, dân tình suy diễn ngay rằng anh ta đang thực hiện chiêu bài “đánh bóng hình ảnh” theo lối bình dân hóa.

Cuộc sống khi dính vào xe hơi là một hệ thống tầng tầng lớp lớp chẳng khác đạo Bà-la-môn, đo bằng nhãn hiệu xe và số chấm. Chấm - có lẽ là từ lóng đa nghĩa nhất thời nay, nhưng chung quy là lột tả được tinh thần tối giản của công nghệ cao, từ máy ảnh, chứng khoán, GPS cho đến xe hơi. Cả đám đều có mùi văn minh cả, nhưng với người Hà Nội lúc này, chấm nghĩa là chấm của xe hơi. 1 chấm của xe hơi biểu thị cho 1.000 phân khối dung tích xi-lanh, dĩ nhiên càng to càng hoành tráng. Chung quy cũng vẫn là kích cỡ. Người ta kiêng hỏi đàn ông về chiều cao và cỡ giày của họ (dễ suy ra kích cỡ thứ khác!), nhưng nếu có điều kiện, mau mau hỏi xe của họ mấy chấm!

Xe hơi không chỉ là chuyện tiền của, đương nhiên mua được cái xe vài chục nghìn đô-la chẳng thể là nghèo, mà còn là chuyện củng cố thêm sức mạnh nam tính của đàn ông, thể hiện khả năng tinh thông công nghệ cao cũng như ganh đua với sự tiên tiến. Ông Thomas Friedman thật khéo tiếp thị cho cuốn sách Thế giới phẳng của mình, giờ đây đàn ông cả thế giới ai cũng biết Chiếc Lexus và cây ôliu. Diễn dịch nôm na, đàn ông đáng mặt ở Hà Nội là phải lái Lexus và uống Dirty Martini có thả vài trái ôliu cho đúng hình tượng toàn cầu hóa.

Nhưng chuyện nổi bật nhất liên quan đến Lexus ở Hà Nội năm vừa rồi lại mang màu sắc bi kịch. Chuyện nữ sinh viên cầm dao cắt cổ người tình được các báo dẫn cũng chẳng đặc biệt hơn các vụ án tình khác, nhưng điều khiến dư luận xôn xao từ quán nước đến internet chủ yếu là chi tiết nàng hạ sát chàng vào sớm tinh mơ trên một chiếc Lexus. Chết đường chết chợ bị xem là xoàng, nhưng chết trên nệm da xe Lexus có giá hai tỷ đồng bởi tay người đẹp khiến thiên hạ nóng mắt, đấy mới là tình tiết nặng ký để liệt người quá cố vào hàng đại gia!

Nào đã hết. Xe xịn ở Hà Nội và Việt Nam nói chung phải có biển độc. Có những quy ước vòng vèo không có ý nghĩa gì với Tây Tàu nhưng lại làm mưa làm gió trong giới cần dùng các phương tiện để đánh bóng thương hiệu: tứ quý, tứ lộc (bốn con sáu), tứ phát (bốn con tám), lộc phát (68), rồi số gánh, số kép, hay Sinh Tài Lộc Phát (1368). Cách phát âm của những con chữ này chỉ xảy ra trong tiếng Việt, ấy vậy mà dân chơi gán ghép bằng được với những sản phẩm phương Tây. Mong làm ăn phát tài là một chuyện (cũng chẳng có nghĩa lý khi họ đã quá giàu để tậu xe siêu sang), mà chuyện lớn hơn là ngầm cho thiên hạ biết vua chúa xưa cũng chỉ đến như họ. Trên thế giới có nhà giàu ưa rót tiền tài trợ đội đá bóng, lập quỹ từ thiện, mở bảo tàng nghệ thuật, nuôi dàn nhạc giao hưởng, thì đại gia Hà Nội với Sài Gòn chẳng kém cạnh, săn biển số “đẹp” với số thuê bao điện thoại di động “tài lộc”. Bảo là phù phiếm ư, thì ngựa Xích Thố xưa kia, trải ba chủ thì cả mấy ông này chẳng qua được hạn thiệt thân, dớp nặng như thế nhưng cái danh Xích Thố cũng như nhãn hiệu xe sang, thiên hạ độc nhất, chẳng cần biển mà lưu danh hậu thế như một nhân vật lịch sử.

Xem ra chuyện xe cộ cũng chẳng khác dụng cụ săn bắt hay gươm đàn nửa gánh của nam nhi những nghìn năm trước. Lần lượt những gì có khả năng giúp người ta chạy nhanh nhất trở thành chứng chỉ sành điệu cho chủ nhân. Thực tế xe máy cỡ Vespa đời mới hay mấy xe hầm hố Harley Davidson giá đắt ngang một chiếc xe ôtô “1 chấm” vẫn khiến người đời trố mắt ngoài đường, vào bãi gửi vẫn long lanh cả một góc như ông hoàng bà chúa. Nhưng cái mũ bảo hiểm đã làm cho xe máy xịn kém duyên. Vấn đề không còn là việc đội mũ thì nhà quê, mà xe máy đã phổ thông hóa quá, đi xe máy dẫu 400 phân khối vẫn bị lẫn vào đám đông lam lũ, mà như thế không thể mọc mũi sủi tăm gì nếu muốn tỏ ra là dân chơi có tiền. Vì vậy, dù ô tô ở Việt Nam chịu mức giá cao gấp đôi, gấp ba ô tô cùng loại ở chính quốc, làn sóng con gà tức nhau tiếng động cơ vẫn góp phần làm chật cứng đường phố Hà Nội.

Nhưng ô tô chắc chắn có một tác dụng về mặt cấu trúc nhà cửa Hà Nội: thay vì những cái nhà ổ chuột bằng vàng bề ngang chỉ nhỉnh hơn ba mét, thì những ai sắm ô tô (số này ngày càng nhiều) ắt phải nghĩ đến hoặc là đã có sẵn một nơi cho nó ngụ. Tức là cái nhà của anh ta phải đủ to, chiều ngang nhà phải hơn bốn mét, ngõ vào không thể dưới ba mét rưỡi. Ai mà biết được nhà nước quy hoạch tới lui, giải tỏa mãi không nổi, thì chỉ cần nỗ lực yêu xe như con, quý xăng như máu, người Hà Nội lại “xã hội hóa” với nhau, tự mở đường cho rộng ra, biến những cái nhà hộp diêm mỏng dính vốn hợp với xe máy của mình thành toàn nhà có tiêu chuẩn quốc tế. Kiến trúc Hà Nội sau 1.000 năm lại có cơ may vãn hồi trật tự từ từng đơn vị nhỏ nhất của nó.

Thói đời vốn nhìn cái gì cũng không xa quá cái phương tiện đi lại. Ngày xưa vua chúa khăng khăng bắt đường thiên lý với thập đạo chỉ vừa cái trục xe ngựa của mình, hễ nhà cai trị nào làm to rộng quá mức thì bị sử quan phê là hoang phí vô độ. Thời kháng chiến, từ trong rừng ra, thấy đường vừa cho một làn ô tô đã có thể khải hoàn “đường ta rộng thênh thang tám thước”, tám thước ta ở đây bằng ba mét hai. Những hình ảnh dào dạt cảm xúc như “đường lộng gió thênh thang năm cửa ô” là tầm nhìn của năm 1972, khi người Hà Nội còn điên đảo với tốc độ của MiG với B-52 trên trời, ô tô là chuyện chẳng thấm tháp gì. Tám năm sau, người Việt Nam hân hoan với tốc độ của “chân dép lốp mà bay vào vũ trụ”, tiến lên thời đại tên lửa cần gì ôtô. Lúc này cả xã hội đi chung một tốc độ, làm gì có xe hơi riêng, các loại chuyên xa Volga đen bóng cũng là tiêu chuẩn nhà nước hết. Tuần tự nhi tiến, cơn khát xe riêng bùng phát nhanh chóng bỏ qua xe đạp rồi xe máy, giờ đây con người nhao lên tìm nguồn cảm hứng tiến bộ cho riêng mình ở chiếc xe bốn bánh. Bằng lái xe giờ đây cũng oai chả kém chứng chỉ tiếng Anh; lấy được cái bằng cũng tốn thời gian, tiền bạc chả kém gì công phu luyện nghe nói đọc viết TOEFL!

(Còn nữa)

Nguyễn Trương Quý

.

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ