Thứ Năm, 30 tháng 9, 2010

Cái chết và sự thay thế của một "Gu Hà Nội"

(Tham luận gửi hội thảo khoa học về “Bản sắc văn hóa Hà Nội trong văn học nghệ thuật thế kỷ XX” do Đại học Mỹ thuật Việt Nam và Nhà xuất bản “Tri thức” tổ chức tại Đại học Mỹ thuật Việt Nam, 42 Yết Kiêu, Hà Nội, ngày 23/9/2010).

Tiểu luận dưới đây của tôi muốn tìm một sự đối chiếu giữa môi trường cảnh quan đô thị của Hà Nội và môi trường cho hoạt động văn hóa của thành phố này. Hà Nội hiện tại được phát triển từ khung sườn của một đô thị trải qua nhiều thế kỷ, cơ bản là thành phố đầu thế kỷ XX. Còn các khái niệm văn hóa của nó, gắn với sự phát triển kinh tế-xã hội, cũng đang trong cuộc đấu tranh cũ-mới. Người ta vẫn quy cho Hà Nội một mỹ cảm đặc trưng, vậy cái mỹ cảm đó, cái “gu” thẩm mỹ của người Hà Nội, đang biến hóa ra sao trong cuộc biến chuyển không gian lớn nhất trong lịch sử thành phố?Một phần của tiểu luận này rút từ một bài viết có tên “Hà Nội thời Đại Số” trong tập tản văn Hà Nội là Hà Nội, NXB Trẻ, 2010 của tôi.

CÁI CHẾT VÀ SỰ THAY THẾ CỦA MỘT “GU HÀ NỘI”

Nguyễn Trương Quý


KHÚC DẠO ĐẦU CỦA MỘT ĐÔ THỊ HIỆN ĐẠI

… “Sáng nay, lúc 6 giờ tôi đã bị lạnh ngoài phố! Bầu trời trong và nhạt, thành phố vui vẻ thức dậy và hằng hà sa số cây cối náo động lên do tiếng ríu rít của ngàn vạn con chim; quấn trong một áo khoác dầy, tôi nghĩ mình còn ở Paris… vào một buổi sáng đầy nắng.” Đoạn văn ngắn trên như nhặt ra từ một tiểu thuyết lãng mạn Pháp, đầy ắp niềm hạnh phúc và khao khát khám phá. Thành phố đáng yêu đấy chính là Hà Nội vào một ngày tháng Mười một năm 1928, dưới mắt Jean Tardieu, con trai vị họa sĩ hiệu trưởng trường Mỹ thuật Đông Dương (Thư Hà Nội, gửi Jacques Heurgon). Dĩ nhiên nói đến đây, chúng ta nghĩ, thân phận ông chủ đến xứ thuộc địa, thì có gì mà không vui vẻ! Nhưng chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, hình như lâu lắm rồi chúng ta không còn cảm nhận về một Hà Nội đầy tiếng chim kia, bầu trời trong trẻo kia như xa tít.

Cô gái Hà Nội, tranh của Victor Tardieu (1870-1937)

Tranh của Victor Tardieu ở giảng đường Đại học Đông Dương, nay là Đại học Quốc gia Hà Nội

Đọc tiếp văn của cái tay “thực dân” ấy - một cử nhân văn chương Pháp – thì Hà Nội như một nơi điều dưỡng tuyệt trần trên thế giới, với những con phố dài rợp bóng cây xanh, những khu phố của người bản địa đầy màu sắc, tiếng guốc rộn ràng của các cô gái gõ trên nền gạch lát đường làm nên bản hợp tấu của nốt thăng và sol giáng. Trên nền cảnh duyên dáng đó, con sông Hồng mở ra một tầm ngút mắt như hậu cảnh, chỉ có những cánh buồm của những con thuyền lướt qua hoặc cây cầu Long Biên chiếm vị trí nổi bật trơ trọi khi ấy.

Hà Nội có thanh lịch hay diễm huyền, chắc là nhờ một không gian trong lành như mô tả. Hà Nội trở thành nơi mộng ước được đến để yêu như tâm tưởng bất chợt của thi sĩ:

…Đi đi anh đưa em vào quán rượu

Có một chút Paris để anh làm thi sĩ

Hay nửa đêm Hà Nội

Anh là thằng điên khùng

Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới…

(Dạ Khúc, Thanh Tâm Tuyền)

Hồ Tây khoảng năm 1954 trên tạp chí Life

Hà Nội được sánh với Paris, Hà Nội có nửa đêm để nhà thơ nhớ trong lúc sầu đời. Nhưng đấy là Hà Nội của thế kỷ trước, Hà Nội của những kẻ tha hương và ly tán. Năm 1954, Hà Nội chỉ có 530 nghìn dân trên diện tích 123km2. Hà Nội bây giờ có số dân 6,5 triệu, bao gồm cả tỉnh Hà Tây - xứ Đoài cũ, rộng gấp 27 lần năm 1954, trở thành một vùng dân cư đông đúc chưa từng có trong lịch sử của đô thị này. Với sự kiện trở thành một thành phố có quy mô lớn như vậy, một mặt khẳng định ưu thế của quá trình đô thị hóa của một nước đang phát triển dồn vốn đầu tư vào một trung tâm đầu não, một mặt làm đậm thêm sức hút của một thành phố được bồi lắng qua rất lâu.

Sự thay đổi của Hà Nội, với lối nói “hoành tráng”, là sự vươn mình, với người khác, đó là những sự bung ra xộc xệch, căng thẳng và không đồng bộ. Lơ lửng trong tâm lý chung là một bầu không khí luôn nóng: Ngày mai của Hà Nội sẽ là cái gì? Di sản lâu đời của thành phố này gây dư âm luôn khiến người ta ngoái lại. Người ta sợ Hà Nội sẽ giống một thành phố xấu xí nào đó, nên trong cái cách yêu Hà Nội bây giờ có sự cực đoan của “tinh thần Hà Nội”. Nhưng cực đoan thế đã đủ để giữ Hà Nội sẽ đẹp như một thời nào chưa, thời có cơ sở để so sánh chứ không phải là một tương lai mờ mịt còn chưa thành hình hài đặng yên tâm. Cái gì còn lại từ những năm tháng nên thơ nói đến ở trên, dần dần như những mặt hồ lặng lẽ, những khoảng âm để làm đắm chìm bất cứ cơn cáu giận nhỏ nào. Liệu chúng có đủ để hạ cơn cáu giận mang đặc trưng rất Hà Nội thập niên đầu thế kỷ 21 đang có hay không?

MỘT CÁI NỀN VẬT CHẤT SIÊU ĐẮT

Nếu lần ngược lại những bản quy hoạch thủ đô từ thời những năm 1990 đến đầu thế kỷ 21, ta sẽ thấy nhiều dự định lớn được đề ra, nhưng điều chưa làm được và cũng là điều khó nhất – xác định một trung tâm CBD (Central Business District) đối sánh với khu hạt nhân lịch sử từ thời Pháp trở về trước để lại. Với một thành phố “đầu to” như Hà Nội, xây dựng một trung tâm thương mại sầm uất mới theo thể thức hiện đại là một cách đưa ra hình ảnh dễ được chấp nhận với số đông, và nhất là giảm tải được cho khu phố cũ đã chật hẹp và càng ngày càng không tương thích về giao thông với các phương tiện gia tăng đột biến. Xây dựng các trung tâm hành chính không phải là khó bởi những công trình loại này có đời sống tương đối biệt lập với sinh hoạt phố phường thị dân, nhưng trung tâm thương mại lại đòi hỏi các dịch vụ giao thông và kết nối với cư dân chặt chẽ. Thiếu vốn và biến động kinh tế khu vực cũng như toàn cầu đã khiến cho những tham vọng theo hướng này bị phá sản. Hà Nội cũng như Sài Gòn lại quay trở về cách thức cài cắm các cao ốc thương mại vào khu phố Pháp, nơi có mạng lưới giao thông bàn cờ và tương đối mạch lạc, bất chấp hậu quả kẹt cứng vì lưu lượng xe cộ và đường ống, đường cáp liên tục phải duy tu (bằng cách đào bới quây “lô cốt” và chăng thêm dây như mạng nhện).

Quy hoạch giao thông Hà Nội năm 1981 với sự tư vấn của chuyên gia Liên Xô song không được thực hiện

Đường Xã Đàn - trị giá một tỷ đô, nhưng vẫn toàn nhà ống, mặt tiền toàn treo mành tre.

Hiện nay, sau khi không còn giữ được ý tưởng lấy Hồ Tây làm hạt nhân, có thể thấy hình thái mặt tiền tủ kính chung Hà Nội theo hai hướng: bám theo sông Hồng và lan dần từ khu Mỹ Đình về phía Tây. Chắc hẳn diện mặt thoáng của sông Hồng và các thửa ruộng của hai huyện Từ Liêm, Hoài Đức bám theo trục Láng-Hòa Lạc là những khu vực triển khai dễ dàng hơn nhiều so với những khu dân cư lộn xộn của quận Đống Đa, Hai Bà Trưng, Thanh Xuân hay Cầu Giấy. Kết quả tốn kém của đường vành đai 1 phải giải tỏa dân cư đông đúc (tức đường Xã Đàn, lên đến 1 tỷ đô-la cho 1km) có thể là một nguyên nhân khiến chủ đầu tư, ở đây là nhà nước, ngần ngại và chuyển sang ưu tiên những hướng khác. Điều này được chứng minh qua chính khung giá nhà đất do nhà nước ban hành - với những khu vực có giá hai mươi triệu một mét vuông song giá thị trường luôn cao hơn nhiều – thì việc tìm những vùng đất không quá xa, giá đền bù rẻ và việc triển khai hạ tầng cơ sở mới hấp dẫn hơn nhiều. Tuy nhiên những khu mới đó đại bộ phận là các khu dân cư cao tầng không có gì khác biệt với nhau và cũng không có tham vọng làm nên khác biệt.

Nói hơi dông dài một chút để thấy rằng, giá trị của môi trường sống của Hà Nội ngày hôm nay rất đắt. Thoạt nhìn vào hệ thống giao thông chắp vá, hạ tầng cơ sở lạc hậu, thì ta có cảm giác thậm vô lý. Song xét về quy luật cung cầu kinh tế, thì môi trường này đang đủ sức nuôi đông đảo người, mặc dù cái sự nuôi này ở mức bóc ngắn cắn dài. Ai cũng phấp phỏng lo một ngày mai bất thường, nhưng những nhà hoạch định cũng chưa đưa ra được một hình ảnh nào đặng làm yên lòng số đông. Hà Nội giống như một rổ trứng to, ai cũng biết là nên để trứng – tích lũy xã hội – vào nhiều rổ, nhưng các rổ – các địa phương vệ tinh, các giá trị đầu tư khác ngoài nhà đất và dự trữ vàng, đô-la – lại không đủ sức hấp dẫn.

Vậy hãy nhìn vào cái rổ to là Hà Nội. Trước năm 1954, Hà Nội chưa có khu công nghiệp nào ngoài một vài nhà máy lẻ tẻ đặt ở rìa phạm vi nội thành cũ. Trong quá trình công nghiệp hóa, với hệ thống sản xuất quy mô tập trung, các khu công nghiệp được hình thành theo kiểu vành đai. Tuy nhiên, vành đai của Hà Nội chính là các khu dân cư nông nghiệp và làng nghề, cũng như hệ thống sông hồ bao bọc vùng đất cao ráo Đại La cũ. Điều gì phải đến đã đến: các khu công nghiệp nặng với công nghệ lạc hậu và đường lối kinh tế sai lầm trở thành các vết loang ô nhiễm khi thải trực tiếp ra các con sông như Tô Lịch, Nhuệ, Kim Ngưu và lấp cạn dần các mặt hồ ngoại vi. Lực lượng lao động của các nhà máy và dân cư gắn với chúng không thừa hưởng được các kỹ năng sản xuất do thay đổi công nghệ, rút cuộc trở thành bần cùng hóa về mặt mội trường sống, trở thành những khu loang lổ da báo, “dân trí thấp”. Chưa tính được xem liệu tổng đầu tư cho hệ thống khu công nghiệp này và lợi nhuận thu về trong suốt nhiều thập niên có bù lại được số tiền đã và dự kiến phải chi để làm sạch lại các con sông nói trên, nhưng đến nay, mọi sự vẫn chưa mấy sáng sủa. Hai con sông huyết mạch của vùng phên giậu Hà Nội xưa - Nhuệ và Đáy, là nơi tiếp nhận nước của những con sông nội thành trên, cũng đi vào tình trạng chết dần. Trung bình mỗi ngày 2 con sông này phải tiếp nhận hơn 800.000 m3 nước thải, trong đó chủ yếu là từ 150.000 cơ sở công nghiệp. Hình dung ra rộng hơn để thấy, với việc Hà Nội mở rộng trên một cái nền là hệ thống “sông đen”, khó mà hình dung ra được những khu đô thị mới trong lành và có những mặt gương giải nhiệt cho vi khí hậu. “Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đến năm 2020” của Bộ Tài nguyên – Môi trường dự tính cần số tiền 3.335 tỷ đồng để cứu hệ thống sông Nhuệ - sông Đáy.

Năm 2005, Hà Nội có lượng bụi gấp 4 lần cho phép ở các con đường nóng của các quận cửa ngõ như Đống Đa, Long Biên. Bốn năm sau, con số ấy đã là 11 lần ở những khu vực này và gấp 2-5 lần trên diện “trung bình” hơn. Không cần đợi nhìn vào mấy con số khô khan và đầy cảnh báo thảm họa môi trường đó, người ta ai cũng có thể thấy Hà Nội đang ô nhiễm nặng nề. Lượng bụi do sản xuất công nghiệp tăng lên, song chủ yếu do tốc độ xây dựng, lượng ôtô, xe máy và rác thải sinh hoạt tăng đột biến. Năm 2007, Hà Nội có 270 nghìn ôtô và con số này tăng lên cứ hai nghìn chiếc mỗi tháng, trong khi lượng 2,5 triệu xe máy vẫn chưa đến ngưỡng bão hòa. Với lượng xăng dầu tiêu thụ khổng lồ và diện tích mặt đường chỉ có 2m2 để lưu thông cho mỗi xe, đường phố Hà Nội sẽ không lâu nữa thành một môi trường tồi tệ cho con người – nơi nhiên liệu hóa thạch hao tổn chỉ để di chuyển với tốc độ chậm chạp trên đoạn đường ngắn và con người kẹt cứng trong nạn nhân mãn gây ức chế.

TIẾNG GUỐC, TIẾNG CÒI

Cũng trong Thư Hà Nội, Jean Tardieu viết về một thú vui âm thanh: Ông ta vào cửa hàng guốc trên phố cổ, lần lượt gõ 40 đôi guốc lên vỉa hè để thử xem khác nhau ra sao. Cả Tây lẫn Ta đều cười, những đứa trẻ và bà già vui vẻ trước sự hớn hở của một ông “thực dân” da trắng về thứ âm thanh phát ra từ sự va đập giữa gỗ và gạch. Tiếng guốc trở thành ẩn ức về không gian bình an, thong thả. Nó kéo dài đến gần 30 năm sau, âm thanh hằn trong trí nhớ của người nhạc sĩ tha hương cũng vẫn là “thanh bình tiếng guốc reo vui” (Hướng về Hà Nội – Hoàng Dương, 1954).

Chợ Đồng Xuân những năm 1960. Nhịp điệu của hình dáng kiến trúc của ngôi chợ xây từ cuối thế kỷ XIX vẫn là điểm nhấn trong không gian thương mại đô thị Hà Nội.

Đầu thế kỷ 21, không khí Hà Nội lút giữa bầu âm thanh của còi xe và tiếng ồn máy đầm bêtông từ các công trình xây dựng. Cho nên người ta không lấy làm ngạc nhiên khi nghệ sĩ âm thanh đương đại bây giờ lấy chất liệu từ tiếng ồn. Chẳng hạn, “noise music” trở thành hẳn một loại hình sắp đặt âm thanh của một số nhạc sĩ-họa sĩ như Vũ Nhật Tân, Nguyễn Mạnh Hùng. Sản phẩm nghệ thuật đó là ánh xạ của một đời sống âm thanh, bao hàm từ mức độ ô nhiễm, thói quen sinh hoạt và văn hóa giao tiếp của cư dân đô thị hiện đại. Độ ồn của đường phố Hà Nội xấp xỉ 90-100dB, là ngưỡng có thể gây điếc nếu nghe lâu dài. Một bộ phận phụ trợ của chiếc xe máy là còi đã trở thành hẳn một mặt hàng bán riêng và chiếm trọn một dãy phố. Chẳng hạn, dù bạn có đi xe “ghẻ” mà muốn lắp còi báo động, xin mời ra phố Huế là có. Hà Nội ngày xưa có một đoạn phố Hàng Bồ có tên là Hàng Dép, chuyên bán guốc dép, cái thứ tạo âm thanh khiến các tao nhân Tây Ta ngẩn ngơ nửa đầu thế kỷ trước vừa nói ở trên. Căn cứ theo quy mô buôn có bạn, bán có phường, nửa cây số khúc dưới phố Huế bây giờ phải đáng được gọi là phố Hàng Còi. Còi xe, tiếng ống xả xe máy, nhạc chuông điện thoại, với người Hà Nội giờ là những âm thanh của đời sống thường nhật “thanh bình”. Tiếng còi to là một âm thanh nhân tạo thay cho giọng nói để báo hiệu và giành đường đi, đã góp phần biến đổi cách ứng xử của cư dân.

Trong công thức xây dựng thuộc địa, Đông Dương trở thành một mẫu Liên bang đầy màu sắc và Hà Nội trở thành thể nghiệm xinh xẻo để tái hiện một Paris. Nếu xem bản đồ quy hoạch của Ernest Hébrard năm 1924 và của Louis Pigneau1943, ta sẽ thấy từ Đông sang Tây thành phố là những chuỗi đại lộ nối với nhau bằng những quảng trường ngôi sao, những ngã sáu đường như hoa nở, những đường song song bố trí đẹp mắt thành từng cụm mật độ đều nhau.

Bản đồ quy hoạch khu vực Phủ Toàn quyền của E. Hébrard, 1924

Bản đồ quy hoạch Hà Nội 1943 của Louis-George Pigneau

Thời Tardieu, Hà Nội chỉ có 120 nghìn người, ít hơn cả Hải Phòng (130 nghìn). Hà Nội chưa trở thành một trung tâm công nghiệp hay sản xuất lớn, mà chỉ như một tỉnh lẻ Pháp, nhưng cái bóng dáng Paris ngả lên đó, gây cho những người trí thức Pháp tha hương một sự so sánh. Niềm vui của một anh cử nhân văn học đi làm nghĩa vụ quân sự ở xứ thuộc địa là được thưởng thức một vở kịch của người bạn – nhà văn Roger Martin du Gard, người sau này sẽ được giải Nobel văn học năm 1937 – tại Nhà hát Lớn Hà Nội, với giám đốc nhà hát đóng vai chính. Nhưng không ai ngờ rằng đằng sau bức màn nhung êm ả của sân khấu thuộc địa là một xã hội dự báo những biến động long trời lở đất chỉ vài năm sau. Chắc hẳn nhiều trí thức Pháp có mặt ở Hà Nội cùng thời Tardieu cũng cảm nhận tương tự với ông về việc họ không bao giờ có thể được bình đẳng chia sẻ niềm vui con người không phân chia màu da, giai cấp. Nhưng Tardieu nhận ra, sự khép kín của người bản xứ ngoài việc e sợ, còn phản ánh sự hạ cố của tâm lý Nho giáo khi phải tiếp xúc với thứ ngoại bản. Trở đi trở lại trong những trang viết ấy là một môi trường sống hài hòa tuyệt đối với thiên nhiên, con người hiển hiện trong đó cũng nhịp nhàng với con người trong tranh Victor Tardieu hay các họa sĩ học trò trường Đông Dương.

Sức hấp dẫn của đời sống ấy là do một môi trường còn khá gần với nông nghiệp, như những bức tranh in khắc mà Henry Oger cho thực hiện năm 1908. Cái bí ẩn của đời sống một thành phố có bề dày lịch sử ẩn sau cái vẻ lành hiền đầy cây xanh và tiếng chim kia, đi quá một cây số là thấy ruộng đồng ao chuôm, gây cho tác giả người Pháp một mối cảm nhận càng ngày càng rõ nét về không gian văn hóa của nó, với những nghệ sĩ mà ông làm bạn hay làm quen như họa sĩ Lê Phổ, Nam Sơn. Tardieu không biết rằng, bên cạnh những người như cha của ông đang gieo những cái hạt nghệ thuật cho xứ sở xa lạ này, thì ông đang can dự vào việc hình thành nên cái nền tảng văn hóa đô thị mà 80 năm sau ở đây người ta đang tìm lại.

Mưa bay mặt hồ. Ảnh: Đỗ Huân. Ông là một trong những tác giả ảnh chụp nhiều về Hà Nội thời trước và sau 1954. Hà Nội trong ảnh Đỗ Huân góp mặt vào việc tạo nên một cách nhìn Hà Nội còn kéo dài đến nay.

Tấm bưu thiếp xinh đẹp có hai mặt về Hà Nội một thời, một mặt là khu phố cổ và những di tích cũ, một mặt là khu phố Pháp, là hình ảnh đã và đang đóng khung một gu thẩm mỹ cho người Hà Nội. Sự phá vỡ của hình trạng những khung cảnh trên cũng là sự rạn nứt của gu thẩm mỹ trên. Tiếng guốc thay bằng tiếng còi, nhà ngói thấp tầng thay bằng nhà ống bêtông nhôm kính, biệt thự Pháp thay bằng cửa hiệu kiểu kios, xe đạp thay bằng xe máy… những hình ảnh trong tranh phố của Bùi Xuân Phái trở thành lịch sử là những sự biến mất vật chất. Từ vật chất ấy, một tinh thần cũng thay đổi.

ỨNG VIÊN THAY THẾ

Chẳng phải đợi đến lúc người ta trưng biển kiểu cổng chào “khu phố văn hóa”, thì Hà Nội đã có những khu phố nhiều cơ quan văn hóa đặt trụ sở. Dốc Hào Nam chạy từ đê La Thành toàn cửa hàng sắt thép lam lũ, vậy mà một bên là Nhạc viện, một bên là khu quây quần các viện nghiên cứu văn hóa như Viện nghiên cứu văn hóa dân gian, Viện mỹ thuật, tạp chí Văn hóa nghệ thuật. Gần đấy một con dốc lại còn có trường Đại học Mỹ thuật công nghiệp và Đại học Văn hóa, có cả khoa viết văn vốn là trường viết văn Nguyễn Du xưa. Để giúp bạn đọc hình dung rõ hơn, dốc Hào Nam ngày xưa thực tế là hai bờ con mương thoát nước đen ngòm. Nhưng ở đây, mật độ người có bằng cấp nghệ thuật trên mét vuông chắc cao nhất nước. Cũng ở Hà Nội, nói đến khu văn công Mai Dịch một thời, ai cũng nghĩ đấy cũng là nơi nhiều người đẹp nhất nước. Có đâu mà trường múa đua với trường xiếc, liếc sang trường sân khấu rộn ràng như thế? Nhưng tham vọng làm một campus nghệ thuật ở nơi quá xa nội thành một thời chỉ gợi nhớ cảm giác về một khu “hàn lâm văn hóa” heo hút, nơi gần một nghĩa địa cùng tên, xe điện và xe bus không tới.

Nhưng cũng có những khu văn hóa tự phát, chẳng có quy hoạch mà thành nhưng đóng vai trò quan trọng trong hình thành đời sống văn hóa, làm nên gu thẩm mỹ của người Hà Nội. Cà phê Lâm nhờ công tích cực của những họa sĩ ăn chịu mà thành một loại huyền thoại. Theo sau là nhiều quán cà phê khác tiếp bước gu của nó: quán chật hẹp, tranh ảnh cũ, bàn ghế thấp, gợi nhớ không khí một Hà Nội thiếu thốn và chú trọng vào phẩm chất đồ uống / người giao tiếp thay vì hình thức tân kỳ. Cà phê Quỳnh ở phố Bát Đàn của diễn viên Như Quỳnh chấm dứt hoạt động phần vì lý do sinh sống của gia chủ, phần vì sức hấp dẫn của mô hình “nhỏ và buồn” đã không còn đủ sức sinh dưỡng như thời là phong cách chủ lưu của quán-văn-hóa Hà Nội.

Thay thế cho mô hình đó, giới trẻ làm dấy lên mô hình “nhỏ và đông”. Ở Hà Nội, các khu phố Triệu Việt Vương, Bảo Khánh - Hàng Hành, Nguyễn Du hoặc cạnh Nhà thờ Lớn, là sự tiếp nối một gu ngày cũ. Những quán xá ấy vẫn đảm bảo một đặc tính “cách điệu” của việc giao tiếp xã hội, để người ta hít thở cảm giác của một cà phê có dấu vết Pháp, một bối cảnh có dấu vết nghệ thuật. Cung cấp cho người ta cảm giác được thưởng thức một truyền thống, những không gian này dựa vào “view” là Nhà thờ Lớn, những ngôi biệt thự song lập, những mặt hồ, những cây thấp tạo bóng râm, để cùng bồi đắp bề dày cho khung cảnh Hà Nội. Bản thân những khung cảnh ấy không quá đặc biệt, song cách sinh hoạt của con người trong đó đã biến chúng thành hình thái vật chất cho “gu Hà Nội”.

Trên bình diện cả nước, có lẽ Hà Nội là nơi có hoạt động mỹ thuật mạnh nhất. Sự ủng hộ của nhiều trung tâm văn hóa nước ngoài cũng như các địa điểm như Nhà Sàn Đức, Tadioto… đối với các loại hình mỹ thuật đương đại là một đối trọng với các gallery gần Bờ Hồ. Một hình ảnh Hà Nội kiểu Mỹ thuật Đông Dương chỉ còn là cái đẹp mộng mơ không còn hiển thị trong mỹ thuật hiện tại, nhưng bút pháp, cách xử lý màu sắc, ánh sáng của tranh giá vẽ vẫn còn là chuẩn mực, hay tính bố cục có phần cân đối, lớp lang trong diễn đạt ý đồ của loại hình trình diễn vẫn ghi điểm ưu thế cho cách tư duy của con người sống trong môi trường Hà Nội.

Uống nước bên hồ Tây khoảng năm 1954, ảnh trên tạp chí Life

Trong số nhiều nỗ lực về mặt ý tưởng, việc cố gắng nhắc lại hình ảnh của “tấm bưu thiếp cũ” là một mỹ cảm Tân Cổ Điển áp dụng cho Hà Nội. Về ca khúc, thứ Hà Nội được hào phóng dành cho làm cầu nối mỹ cảm đến công chúng rộng rãi, cho đến giờ vẫn duy trì những hình tượng về những giá trị cũ được nhắc lại. Ban nhạc Gạt Tàn Đầy dùng thể loại rock nhưng nói đến “Phở” như là một cách diễn đạt mỹ cảm của một Hà Nội mà họ đang sống. Nhạc sĩ, ca sĩ trẻ Nguyễn Đức Cường viết “Nồng nàn Hà Nội” với tiết tấu trẻ trung vẫn nhắc đến những:

Đưa em qua thăng trầm bao tháng năm đã úa màu, gọi tên từng phố cổ.

Chiều nhạt nhòa Hồ Gươm, ngọt ngào hoa sữa thơm.

Gọi mùa thu về thật lâu để ta biết nồng nàn

Thực chất đó chính là hình ảnh của một Hà Nội mà ta đã nhận diện ở trên, cũng là Hà Nội trong vệt hàng trăm ca khúc quen thuộc.

Cây vông bên Hồ Gươm. Ảnh: Đỗ Huân.

Trong số những không gian kiến trúc có thể coi là mới và sôi động nhất của Hà Nội là những khu đô thị mới, mỹ cảm Tân Cổ Điển này cũng chi phối. Dự án đề xuất đặt 36 con phố mang tên thủ đô các nước ở một khu đô thị mới, là một nỗi hoài tiếc về một mỹ cảm đã lụi tàn. Các khu đô thị mới cao giá nhất như Ciputra Thăng Long, The Manor Mỹ Đình… đều khai thác phong cách kiến trúc Tân Cổ Điển, thậm chí bị giới KTS phản đối dữ dội. Tuy nhiên, việc chúng vẫn là hình mẫu chưa có chiều hướng suy giảm chứng tỏ nhu cầu hồi tưởng, láy lại không gian của một khu phố Pháp ở những vùng mới này (tuy ý tưởng thiết kế ban đầu không tô đậm khía cạnh kết nối với kiến trúc Hà Nội thời Pháp). Các công trình văn phòng, trụ sở ở trung tâm đến giờ đều có xu hướng theo trường phái Tân Cổ Điển để đảm bảo độ an toàn trong quy chế quy hoạch cảnh quan: Trụ sở Bộ Tài Chính, Pacific Place, KS Hilton Opera, v.v… Những nhà hàng ưa phong cách nội thất cung đình và hồi cố về một không gian cổ được mở rộng bước gian và lắp thiết bị hiện đại.

Trụ sở Bộ Tài chính mới xây dựng năm 2008.

Trong lối sống, người Hà Nội tìm cách thiết lập không gian văn hóa cho mình cũng nằm trong mỹ cảm Tân Cổ Điển, hoặc hẹp hơn là Tân Phục Hưng. Khái niệm Cổ Điển và Phục Hưng ở đây không còn mang nghĩa hẹp chỉ loại hình kiến trúc phương Tây như định danh, mà ở bối cảnh Hà Nội còn là một vẻ đẹp cũ tạo được khuôn thức cho đời sau sao chép. Việc chính quyền cũng như các phương tiện thông tin đại chúng làm đậm nét chủ điểm kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội chính là sự khẳng định tính chủ lưu của mỹ cảm Tân Cổ Điển kiểu Hà Nội.

Có thể những người muốn tìm tòi một phương án hiện đại và tiên tiến cho Hà Nội sẽ phải suy nghĩ về một thực tế, họ sẽ phải đóng vai trò một trường phái Bauhaus của Walter Gropius, Ludwig Mieh Van de Rohe, một cái nôi của chủ nghĩa quốc tế. Đối trọng của họ là tinh thần cổ điển kéo dài từ sau thế chiến thứ nhất đến thời Đức Quốc xã. Họ sẽ hoặc chấp nhận mình như những con quái vật cài cắm trong không gian Tân Cổ Điển Hà Nội mới, hoặc chọn một nơi chốn mới, nơi Hà Nội cũ khuất xa chân trời.

9.2010

Tham khảo

Jean Tardieu.

Thư Hà Nội, NXB Phụ Nữ, 2006.

Pierre Clément và Nathalie Lancret (chủ biên)

Hà Nội - Chu kỳ của những đổi thay, tập san nghiên cứu kiến trúc đô thị và xã hội, Dự án Đào tạo chuyên ngành đô thị Hà Nội, hợp tác giữa Hội đồng vùng Ile-de-France (Pháp) với UBND TP. Hà Nội. Người dịch: Mạc Thu Hương, Trương Quốc Toàn, NXB Khoa học và Kỹ thuật - Hà Nội, 2003

Nguyễn Trương Quý.

Hà Nội là Hà Nội, tản văn, NXB Trẻ, 2010.

Sinh viên Việt Nam, báo.

Người Hà Nội hít bụi gấp 4 lần mức cho phép, 9.2005.

Gia đình Xã hội, báo.

Đường vành đai Hà Nội bụi gấp 11 lần tiêu chuẩn, 18.1.2010.

Vietnamnet.

Sông Nhuệ, sông Đáy có nguy cơ bị ’’khai tử’’, 25.4.2007. (dẫn lại theo http://www.khoahoc.com.vn/doisong/moi-truong/tham-hoa/14505_Song-Nhue-song-Day-co-nguy-co-bi-khai-tu.aspx)

An ninh Thủ đô, báo.

Sông Nhuệ, sông Đáy ô nhiễm nặng, 25.7.2008.

Quy hoạch Thủ đô Hà Nội: Những bài học từ quá khứ, 19.8.2010

VTC News.

“Điểm mặt” các cơ sở xả nước thải ra sông Nhuệ, 18.3.2009

Thể thao & Văn hóa, báo.

Nhìn lại Quy hoạch Hà Nội từ hơn 100 năm trước, 17.8.2010

Đăng nhận xét

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ