Chủ Nhật, 30 tháng 5, 2010

Còn được mặc đẹp là thắng rồi

.


Thế giới rộng lớn và có rất nhiều việc phải làm. Đường sắt cao tốc mà làm có lợi thì tốt quá. Giáo dục trừ được tiêu cực nhân vụ thầy Khoa thì quá tốt. Nói chuyện phim ảnh lúc này có vẻ phù phiếm. Nhưng mình đang tò mò về một phim mà chắc nhiều người bĩu môi: Sex and the City 2. Và cũng muốn nói cho vui. Khi có chuyện nhức đâu, người ta cần vui để hạ hỏa hơn bao giờ hết.

Thật ra hồi phim này ra phần 1 chiếu rạp, mình đã có một bài chê rồi. Nó dở nhiều bề, nhưng lại thu được đến 415 triệu đô tiền vé (sản xuất hết 65tr). Hai năm qua, thế giới vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế, nhưng bốn chị gái 45-50 tuổi này vẫn làm mưa làm gió với thời trang và son phấn. Trong cách nhìn của giới xem vẫn cho đây chỉ là hạng phim chick-flick nhảm nhí, kém xa series TV 94 tập đình đám hồi năm 1997-2004. Nói chung thường là cái cười khinh thị, không đáng xách dép cho phim mới được Cannes của anh đạo diễn đồng tính người Thái Lan Achipathong.

Nhưng xét về khía cạnh lợi nhuận và bài toán kinh tế, những người sản xuất phim này (có cả chị Sarah Jessica Parker diễn viên chính góp vốn sản xuất) đã tính cả. Bằng chứng là hai ngày đầu ra mắt, phim đã thu về 27,3 triệu đô, đầu bảng phòng vé. Tất nhiên là vẫn kém hồi phần 1, ngày đầu được luôn 26,8tr (lần này có 14,2tr). Dự đoán là đến ngày thứ Hai tới, nó sẽ thu được 70 triệu. Chi phí sản xuất phần 2 này là 95tr. Tóm lại là cũng ra tiền, dù phần này chưa biết có ăn thua gì không, mà báo chí đã chê tơi bời. Review của khán giả thì cho điểm cực thấp, chỉ được 3,6/10 ở IMDB, 3,8 trên Rotten Tomatoes, 1,5/4 của Capsule AP. Thậm chí 2/10 ở NME, và 1/5 ở The Independent với lời tựa Please don't Carrie with this rot (Xin đừng đem Carrie tới cùng chuyện nhảm nhí / thối rữa này), giễu tagline của phim, Carrie on - cũng đồng âm với carry on - mang Carrie trở lại.

Đại để là phim như thế này làm thế nào cũng khó. Rút cục đúng như lời nhận xét trên NME, các nhân vật giờ đây chỉ như những nhân vật hoạt hình, bịa tạc và điêu thuyền. Khi mà bị nhồi vào bao nhiêu là quần áo và áp lực phải show off cho đủ (vai Carrie của SJP phải mặc 47 bộ trang phục, chưa kể là dự định mặc tới 60 bộ, trung bình 3 phút mặc một bộ, làm nên kỷ lục vai diễn mặc nhiều quần áo nhất từ trước tới nay!), thì cũng như các phim 3D, không còn đủ thì giờ để tạo chiều sâu cho vai diễn. Thêm nữa là các chị này cũng già để tiếp tục giấc mơ những cô gái hoang dại, sống cho đam mê cá nhân. Phần 1 thì người ta đã dị ứng với chị Samantha 50 tuổi "đi lại từ đầu", nay cả chị Carrie cũng rồ lên tìm cách thoát khỏi một anh Big đã hoàn thành nhiệm vụ cho chị ấy một cuộc sống như tiên, chỉ ngồi nhà viết chuyên mục, ra sách và đi tiệc tùng, lại chẳng đòi có con. Mới có hai năm đã thấy tù túng và tẻ nhạt. Đúng là chẳng biết điều!

Nhưng thể nào thì về mặt thương hiệu, phim đã thắng. Trong cái lúc kinh tế sa sút, người ta cần những hình tượng hào nhoáng, có chút điên rồ phù phiếm để huyễn tưởng mình. Cái đẹp và cái xa xỉ lúc này như một thứ ma dược khiến người ta rửa trôi được hiện thực khốn khó. Sự vô lý đùng đùng, ngớ ngẩn kiểu bốn chị gái người Mỹ xăm xăm đến vùng Hồi giáo, khiêu khích với lại xung đột văn hóa, làm người ta la ó "phim như hạch" nhưng lại trấn an người ta ở khía cạnh ngu si hưởng thái bình, có sơ hở, có sự vô lý là có cửa cho mình can dự vào!

Nếu dựng một câu chuyện cảm động, logic và nhiều thông điệp nhân văn, người ta không cần phim SACT này. Phim này thực ra là phản ánh một nhu cầu căn bản của xã hội đô thị, ở VN cũng thế, lấp lánh xanh đỏ, thông minh hài hước trên sự trôi nổi, niềm vui có được là sự dí dỏm qua những trò đố chữ kiểu lời của Carrie trong vai người kể chuyện (đặc điểm của SACT từ series TV là có narrator, người dẫn chuyện, do chính SJP đóng luôn). Cũng có những chi tiết dí dỏm như Charlotte, hiện đã có hai con, phải thuê vú em, vừa mệt mỏi với đứa bé quấy khóc, vừa dè chừng cô vú em ngực to hơ hớ trong nhà, nói với Carrie:
- Phải có luật gì chống lại những đứa vú em hình thức như thế chứ. (Luật = law).
- Ừ, có. Jude Law.

Cũng mạch pha trò chơi chữ quen thuộc, tác giả để cho chị gái 52 tuổi Samantha, nói về anh đại gia kiến trúc sư Hồi giáo đang tán tỉnh mình và chị cũng đang muốn làm chuyến cuối mùa trước khi mãn kinh: "He's Lawrence of my labia". Câu này thấy các review chửi thậm tệ. Nguyên do là nhại từ tên phim "Lawrence of Arabia" - Lawrence xứ Ả rập là một anh điệp viên người Anh bí hiểm ở vùng Trung Đông thời chiến, phim của David Lean giành Oscar 1962. Còn labia là... phần môi của cái ấy của phụ nữ. Kể ra trên 1 tập TV thì cũng đỡ, có khi lại vui (chị này từng sôi sục lên vì lông mu của mình có sợi bạc và chim của anh bồ quá bé, có tập có anh lại quá to), với lại chị Samantha này khi còn trẻ nói vậy được, chứ lúc này hơi bị lố.

Bi kịch của người đô thị bây giờ là muốn trẻ mãi, muốn hoang dại mãi, muốn đem áp dụng cái công thức thành công của mình ra cho người khác, nơi khác, thời đại khác (là thời đại sau, khi mình đã già) mà không biết (hoặc duy ý chí để coi như không đếm xỉa) đến giới hạn. Nhưng chê phim nhảm vậy thôi chứ thấy họ cũng dám làm đến nơi, mấy chị gái già nhăn nheo mà mông má lên đủ váy vó, chưa có đào tơ nào đua được. Gớm, 45 tuổi lừa được tất cả các hãng thiết kế hàng đầu thế giới may quần áo cho mình, chả có ai ngoài chị gái mặt ngựa SJP. Scarlett Jo chắc còn khuya mới mong có được vai mặc ngần ấy váy!
.

Thứ Bảy, 22 tháng 5, 2010

Một tuần thì làm được gì (cho đời)

.
Tuần vừa qua là một tuần đắt hàng của báo chí và truyền thông: đánh nhau ở Thái, TQ lại gây chuyện ở Biển Đông, giết người chặt xác ở Hà Nội, tàu cao tốc xuyên Việt chiếm 50% GDP, vỉa hè Hà Nội ngừng (bỏ dở) lát đá chờ nhân dân đóng góp ý kiến, sinh nhật Bác, thóc 3000 tuổi nảy mầm, chắc là còn rất nhiều thứ khác nữa, mở web là chỉ có chết lút trong bể tin nóng.

Ấn tượng lớn nhất để lại là: hình như có một sự biến chuyển về cách thích nghi với tin tức của quần chúng. Cách đây 5 năm thôi, những mục như Tản văn thứ Sáu trên TTVH hay talawas chẳng hạn, mỗi tuần một hai bài là vừa với tốc độ bình luận và nghiền ngẫm, thậm chí kéo dài đến cả tháng trời. Nhưng giờ một bài nóng, vừa ra phát là comment phản hồi lia lịa, nhiều đến tưởng lụt cả server, nhưng chỉ cần hai ngày sau, nó đã im re kèn, tra archive mỏi mắt mới thấy. Những báo có trang điện tử vẫn cố gắng bám trụ với sự điều tiết như Tuổi Trẻ thì đang có vẻ bắt đầu chung chiêng trước sự thay đổi dữ dội của dòng tin trong ngày, mà các trang như Vietnamnet là một cực khác. VnExpress có vẻ vẫn trung dung, tốc độ vẫn không đột biến (có lẽ vì lúc mới ra, trang này đã được xem như cập nhật nhanh nhất), bài vở có cắt cúp gọn gàng. Còn Vietnamnet thì cứ như một kiểu portal, gì cũng có, và hình thức cho đến nội dung thực tế phản ánh "trung thực" bức tranh xã hội VN.

Các tờ giữ lấy "lề" như TT, đang có những thách thức dành cho báo giấy. Ví dụ tin phim "Bi, đừng sợ" của bạn Phan Đăng Di được 2 giải trong Tuần lễ các nhà phê bình ở Cannes, chỉ cần remove xuống 1 lúc (có thể để sửa lại cho chuẩn, có thể là cân nhắc) thì đã bị fbooker và blogger nghi vấn là "bạn Di bị cấm". Tất nhiên, nửa tiếng sau thì bài đã lên lại thì nghĩa là chuyện không có gì ầm ĩ. Nhưng qua đấy có thể thấy là nhu cầu gossip và đọc thật nhanh, thật nóng, thật xôm tụ, đang làm lung lay cách đưa tin truyền thống. Giờ có lẽ chỉ còn VTV ung dung, buổi sáng đọc báo mạng và báo giấy xem có gì gay cấn, gọi điện liên hệ, trưa vác máy đi quay, chiều dựng, 7h tối đã có bản tin phát nóng hôi hổi vừa thổi vừa xem.

***

***
Trong khi đó cả tuần mình phải đọc tơi bời cả chục bản thảo. Không đọc thì làm nốt bản dịch, mà định mức 10 trang mỗi ngày xem ra thật khó! Nghĩ thì thông lắm, cầm đọc tranh thủ lúc nghỉ hay vào toalét thì cũng gọi là ra vấn đề, nhưng bắt đầu soi bản gốc, gõ bàn phím lựa câu, xưng hô, ối mẹ ơi sao nó triệt tiêu mất tốc độ và lòng hăm hở.

Nói chuyện với chị bạn đã thôi làm sách, chị bảo "nói thật là chán làm sách lắm rồi. Sách bây giờ có lẽ chẳng thích hợp với đời nữa. Mình làm chăm chút, ve vuốt với lại tỉ mẩn như thế, mà người ta cũng chẳng thể háo hức vồ lấy đọc ngay. Người ta cần một hình thức đọc khác."

Thế thì mình đang làm cái gì? Đọc những cái thấy cũng hay, cũng được, nhưng mà nó cũng chỉ ở mức hoặc khoái trá, hoặc gật gù, hoặc đường được. Đã thế lại là thứ việc lúc nào cũng tít mịt tậm tịt. Trong khi ai cũng làm những việc nhanh nhanh, dự án vèo vèo ra sản phẩm. Dịch một quyển sách mất gần nửa năm trời, rồi biên tập và in ấn cũng 1-2 tháng... bán được thì còn đỡ, không thì quả là một cái gì đó quá ư xa xỉ và phí phạm. Hôm nay đọc báo TTVH, có bài viết về phim Ingluorious Basterds của Tarantino bán được 320 triệu đô tiền vé trên toàn cầu, nhưng ở VN phải cuốn xéo khỏi rạp sớm. Chẳng biết kết luận thế nào, vì một bộ phim có lẽ là hay nhất mùa Oscar vừa rồi, lại có vẻ chẳng liên quan gì đến nhu cầu của xã hội VN hiện tại. Tất nhiên nếu xem phim ấy thì sẽ thấy có rất nhiều cái liên quan, có điều nhận ra thế nào thôi.

Trong mấy bản thảo, thế nào mà cuốn đầu tiên đọc lại khá ấn tượng. Không cầu kỳ, viết khá chắc tay, làm mình phải chăm chú đọc hết, nhân vật có suy nghĩ và những khao khát, buồn chán rất sát với những gì mình đang có hoặc gặp ở đời. Đợi mãi mà chẳng thấy có cái nào hài hước cả. Phải có quyển nào khiến mình tức tối, ghen ghét với tác giả vì nó đã viết ra mất rồi! Giống như Darwin tức điên lên khi có cái tay Huxley gì đó đã đăng bài luận có luận điểm y chang cái ông đã viết mà chẳng dám công bố.

Chú thích bức ảnh: Là bức ảnh post trên FB tuần rồi, hút được kha khá chị em vào bình phẩm Madeleine Riffaud và anh đẹp trai đứng cạnh. Từ trái qua: Chế Lan Viên, Tú Mỡ, M.R và Nguyễn Đình Thi. Ảnh trong cuốn Au Nord Viet-Nam, écrit sous les bombes (Ở Bắc VN, viết dưới bom đạn, 1967). Nhưng ảnh chỉ nóng được 2 ngày là không còn ai mó đến!
.

Chủ Nhật, 16 tháng 5, 2010

Có một ngày như thế

.
Có một ngày, có một ngày như thế anh đi
Anh đi đâu về đâu?
Về cõi chiêm bao
Lìa những cơn đau
Hồn tuyết bao la mang theo
Lạnh giá con tim nương dâu
Anh đi đâu về đâu
Anh đi đâu về đâu

Có nhớ trong em từng ngày yêu dấu
Có biết trong em tình mãi bền lâu
Trong em mặt trời khô héo
Trong em ngày ấy vực sâu một đời

Có một ngày như thế anh đi
Anh đi đâu về đâu
Ngọn gió hư hao thổi suốt đêm thâu
Đời sẽ lênh đênh nơi nao
Cồn bãi hoang vu bạc đầu

Bạc đầu tôi đi
Có một ngày
Bạc đầu tôi đi tôi đi.

(1994)

Bài "Có một ngày như thế" viết kiểu Slow-Blues, nhấn nhá và nẩy, miết chữ, có vẻ là bài hát khá khác biệt với những bài quen biết của Trịnh Công Sơn. Hay đúng hơn, là một bài hình như không dành cho giọng hát Khánh Ly vốn quen thuộc với cách hát dàn đều âm lượng, các từ hát lên đều rõ ràng như nhau. Bài này có ca sĩ Thu Hà (hay hát nhạc tiền chiến với phong cách nhấn nhá kiểu Khánh Hà hồi những năm 90, thời cô này là số 1 về hát nhạc tiền chiến trên băng video của Hãng phim Trẻ) hát có lẽ là tốt nhất, đơn giản là vì cô hát có kịch tính, nhấn nhá và đôi chỗ miết, nuốt chữ để làm nhòe đi, làm cho những chỗ cao trào lên tông đắt hơn, làm cho bài hát có vẻ hiện đại.

Ở bài này, TCS không dùng những cặp song ý hay đối ngữ như sở trường, mà dùng kiểu tăng cấp, bồi ý. Cũng như thay vì các mệnh đề nhân quả "em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh", láy lại chi tiết đã nhắc ở lời 1 sang lời 2 như "đóa hoa hồng cài lên tóc mây"/"vùi quên trong tay"/"tàn hôn lên môi", thì trong "Có một ngày như thế", là những hình ảnh chỉ xuất hiện một lần, nối với nhau kiểu móc xích, tạo nên cảm giác dằn vặt và u uất, như dư âm một cuộc chia tay còn nhiều điều chưa giải quyết xong.

Cách vào đề thay vì từ tốn và mềm mại như đa số các bài hát khác của mình, TCS ngắt ra làm các câu ngắn gây chú ý luôn. Thử phân tích:

Có một ngày / có một ngày như thế / anh đi: vừa nhắc lại, vừa tăng cấp về trường độ lẫn cao độ, thử so sánh với kiểu vào đề tương ứng quen thuộc của TCS là nêu lên bối cảnh: Chiều nay em ra phố về, Ngày tháng nào đã ra đi, Trời còn làm mưa mưa rơi mênh mang... nhưng vì ngắt ra nên gây đột biến sớm, giống như bài Hành hương trên đồi cao (1962): Chiều lên / chiều lên / người vẫn âm thầm / gõ buồn gót chân.

Sang câu 2, thủ pháp trên lại được dùng lần nữa: Anh đi đâu, về đâu? Cả trạng thái được nâng lên, tạo sức căng, chờ đợi một lời giải đáp. Và đoạn nối tiếp này rất hiệu quả với những câu nhấn nhá. Nếu hai câu 3 và 4 (Về cõi chiêm bao / Lìa những cơn đau) ngắt hai chữ một với nốt đen chấm dôi như ngân nga, thì hai câu 5 và 6 (Hồn tuyết bao la mang theo / Lạnh giá con tim nương dâu) lại là một chuỗi 5 nốt móc đơn trước khi ngân bằng nốt cuối chấm dôi, tốc độ mau hơn hai câu trước. Điều này làm cho không khí có sự dùng dằng, dồn nén, để rồi hai câu cuối (7, 8) của đoạn nhạc A là giải phóng, nhưng bằng cách nhắc lại chủ đề: Anh đi đâu, về đâu (xuống Fa-Mi, như khựng lại tự hỏi thầm) và rồi hỏi lại Anh đi đâu, về đâu? (leo thang từ La lên Si qua Mí).

Sau đó là đoạn B, giảm dần về thăng bằng. Vậy là ngược với các bài hát hai đoạn nhạc quen thuộc, là lấy đoạn B làm cao trào, thì cao trào ở đây được cài ở kết A.

Bài "Có một ngày như thế" không phải là bài đình đám của TCS, và khách quan mà nói, hình như nó thiếu một cái gì đó để trở thành một "top hit". Nó có những hình ảnh đẹp, những từ rất thơ: "Hồn tuyết bao la", "con tim nương dâu", "ngọn gió hư hao", "cồn bãi bao la". Nhưng chưa đủ. Có lẽ là vì nó không xây dựng những hình ảnh siêu thực sum suê như rừng, chỉ đơn giản là than van về một nỗi chia lìa, ở đây như là chia lìa sống-chết, nên nó bàng bạc và chia sẻ cái tính bàng bạc ấy với các ca khúc nhạc trẻ thời những năm 90. Cách xây dựng hình ảnh lại không mấy giống với phong cách quen tai của cùng tác giả, không dùng các biểu tượng tôn giáo hay các "mã" ký hiệu như "mây và tóc em bay", "chiều gió lộng" hay quê hương, thân phận... Nên có lẽ không được chú ý mấy.

Xem bản nhạc ở đây: http://www.tcs-home.org/songs/titles/CoMotNgay.

Nghe các ca sĩ hát:
Thu Hà (1994)


Trịnh Vĩnh Trinh (1995)


Vũ Khanh (200x)


Khánh Ly (2009):

.

Thứ Ba, 11 tháng 5, 2010

Xem phim Mối tình đầu (1977)

.


Nhân dịp 30-4, được tặng đĩa DVD "Mối tình đầu", mãi đến hôm nay mới xem. Đây là lần đầu tiên xem phim này, có khá nhiều phim thời trước hoặc đã xem không còn nhớ, nhưng đây thực sự là phim mình xem bằng ấn tượng mới hoàn toàn, không ảnh hưởng bởi trí nhớ hoặc review nào.

Bộ phim nếu theo cách nói bây giờ, là tập hợp cả một dàn sao của nền điện ảnh cách mạng VN:
- Thế Anh vai tướng cướp Ba Duy;
- Trà Giang vai Hai Lan, chị của Ba Duy, một chiến sĩ biệt động;
- Như Quỳnh vai Diễm Hương, mối tình đầu của Ba Duy;
- Lan Hương vai Út, em của Ba Duy (năm đó chắc mới 16 tuổi);
Ngoài ra còn có những nghệ sĩ miền Nam:
- Lý Huỳnh đóng một vai phụ, đàn em của Ba Duy.
- Robert Hải vai chồng Diễm Hương. Đây có lẽ là phim đầu tiên trong rất nhiều phim mà diễn viên VN nhưng có dòng máu Tây này đóng.
- Băng Châu (ca sĩ sau này ra hát ở hải ngoại) vai Điệp, cô gái từng yêu Ba Duy thời trẻ.
- nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết vai ba của Diễm Hương. Ông cùng vợ là ca sĩ Ngọc Cẩm từng là cặp song ca nổi danh của SG những năm 50-60, có con là ca sĩ Hồng Hạnh. Ông là tác giả nhiều ca khúc khá nổi tiếng (như Ai đi ngoài sương gió).
Những tác giả làm nên bộ phim cũng nổi tiếng:
- Đạo diễn Hải Ninh;
- Biên kịch Hoàng Tích Chỉ (được xem như làm thành cặp bài trùng với Hải Ninh, cùng với phim Em bé Hà Nội, Vĩ tuyến 17 ngày và đêm);
- Quay phim Nguyễn Quang Tuấn (bác này quay cho một số phim khác như: Bài ca ra trận, Biệt động Sài Gòn, Làng Vũ Đại ngày ấy);
- Âm nhạc Hoàng Vân.

Nội dung phim không có gì đặc biệt, nhiều đoạn nặng tính tuyên truyền và minh họa. Kể sơ qua: Ba Duy yêu Diễm Hương, nhưng cha cô vỡ nợ, cô phải lấy một gã người Mỹ làm công việc mua bán trẻ mồ côi để cứu gia đình. Ba Duy hận đời, bỏ học, đi làm du đãng, từ chối tham gia phong trào sinh viên của người bạn. Chị gái Ba Duy là Hai Lan từ căn cứ trở về sau thời gian vắng nhà nhiều năm, cố gắng làm em mình tu tỉnh. Sau khi giúp chị và cơ sở của chị tấn công đánh bom một câu lạc bộ Mỹ, chứng kiến sự hi sinh của người bạn và chị mình bị thương, Ba Duy dần tỉnh ngộ. Nhưng phải sau khi gặp lại Diễm Hương, bắn chết tên Mỹ chồng cô và chứng kiến cô chết vì bị đánh thuốc độc của tên Mỹ, Ba Duy mới nhớ lại lời của Hai Lan và thức tỉnh thật sự.

Nội dung công thức như vậy nhưng phim đẹp, có cảm xúc và đạt được những tiêu chí làm nên một bộ phim lớn. Đó là những điều khá căn bản của điện ảnh:

1. Diễn viên:


- Vai Ba Duy đã giúp Thế Anh được giải Diễn viên xuất sắc nhất LHP VN lần thứ 5 (1980), và chắc hẳn vai này cũng sẽ xứng đáng đoạt giải ở một LHP khác của VN. Nói cũng thừa vì vai này và Thế Anh đã thành thần tượng một thời. Cách diễn nội tâm nhờ lợi thế gương mặt, ánh mắt, phom người đẹp dù đã 39 tuổi khi đó, cộng thêm việc vai diễn được tiết chế những lời lẽ khẩu hiệu, nên giờ xem vẫn thuyết phục. Điều đặc biệt là Thế Anh diễn tả được cái vẻ trong sáng trong cái lốt du đãng, công tử phong lưu nhưng cũng làm người ta chấp nhận là có tí "đồi bại". Một vẻ đẹp siêu thực hiếm hoi trong điện ảnh VN. Một diễn viên khác cũng rất đẹp là ông Trần Phương (sau là đạo diễn, ông có vai A Phủ, vai chồng chị Tư Hậu), nhưng ông này không để lại dấu ấn đặc biệt như Thế Anh hay Lâm Tới. Đánh giá vai Ba Duy: 5/5.


Thế Anh trong vai Ba Duy




Cùng với vợ là diễn viên Thu Hằng thời đóng kịch nói ở Hà Nội.

- Trà Giang xuất hiện hơi bí hiểm :-). Phải nói là vai Trà Giang khiến cho bộ phim này có hơi hướng phim "I am Cuba". Vai Hai Lan khiến người ta nghĩ đến một nữ sát thủ thoắt ẩn thoắt hiện, nếu không có những câu thoại "giáo dục" thì ra dáng đàn chị giang hồ.



Trà Giang năm đó 36 tuổi, vẫn rất đẹp, đóng hay nhưng cảm giác là để cô vào vai "hiện đại" làm người xem hơi ngỡ ngàng. Đánh giá: 4/5.

- Như Quỳnh: Trường đoạn đầu phim đậm đặc chất biểu hiện, như là phong cách phim Tarkovski hay Ingmar Bergman. Cả đoạn dài, không thoại, chỉ có tiếng ghita, quay đan xen đặc tả đôi mắt Thế Anh đầy căm hận trong lúc đang đánh đàn ghita với cảnh Như Quỳnh cùng Thế Anh trong rừng Đà Lạt. Như Quỳnh ở cảnh này mặc áo dài trắng, Thế Anh mặc áo sơ mi trắng, đuổi nhau ở dưới thác Prenn hay bắt bướm trên đồi thông, tuy công thức nhưng xem không sến. Có lẽ là nhờ cách quay phim chăm chút ánh sáng như kiểu Tân Hiện thực, và cái thần của diễn viên. Như Quỳnh vốn xuất thân là con nhà nòi cải lương (mẹ là nghệ sĩ Kim Xuân), lại từng học múa nên tạo hình cơ thể rất đẹp.


Như Quỳnh và Thế Anh trong Mối tình đầu.

Cặp Thế Anh-Như Quỳnh trong phim này có lẽ là một trong những cặp đẹp nhất trên phim ảnh VN. Như Quỳnh trong một số cảnh nhí nhảnh diễn rất đạt, nhưng những cảnh buồn thì có vẻ hơi đơn giản. Có lẽ vì vai Diễm Hương của Như Quỳnh cũng chẳng có nhiều đất (lúc đó Như Quỳnh vừa đoạt giải Nữ diễn viên XS LHP VN IV năm 1977 với vai Nết trong Đến hẹn lại lên, vai này có nhiều đất diễn hơn hẳn). Ngoại hình của Như Quỳnh, nhất là khuôn mặt, quá điển hình cho phụ nữ Bắc, nên vào vai tiểu thư Sài Gòn bị chênh. Đánh giá: 3/5.

2. Thời điểm:


LHP VN lần thứ 5 (1980) có lẽ là LHP thành công nhất của lịch sử Điện ảnh VN, xét theo tiêu chí tác phẩm để lại. LHP này có tới 3 Bông Sen Vàng, và đều là những phim thuộc loại hay nhất của VN đến giờ: Cánh đồng hoang, Những người đã gặpMẹ vắng nhà. Các phim khác dù Bông Sen Bạc cũng rất đáng nể, ngoài Mối tình đầu còn có Tội lỗi cuối cùng (có vai Hiền cá sấu của Phương Thanh, giải Nữ diễn viên chính XS nhất), Mùa gió chướng (phim của Hồng Sến, năm này ông được cả BSV lẫn BSB, phim này còn có giải Nữ DV cho Thùy Liên, giải Nam DV cho Lâm Tới cùng một giải nữa cho vai Ba Đô trong Cánh đồng hoang). Chú ý chút nữa thì có 2 phim có phần nhạc của Trịnh Công Sơn là Cánh đồng hoangTội lỗi cuối cùng.

Đáng ngạc nhiên vì đó cũng là những năm kinh tế khó khăn lên tới đỉnh điểm, nhưng các sản phẩm điện ảnh lại có sức sống nóng hổi. Dùng từ nóng hổi là vì người ta thấy diễn viên đi lại trên phim đầy sinh khí, nội dung dù nhiều tính tuyên truyền nhưng con người trong đó dạt dào tình yêu, hừng hực nhiệt tình. Trong bối cảnh đó, Mối tình đầu vừa hấp dẫn người xem về một cái tứ đã thành quen thuộc: bán mình chuộc cha, kẻ thù chung cũng là kẻ thủ riêng, lại là cái nhìn của người chiến thắng về một đoạn đường gian khổ đã qua, lại vừa dựng lại bối cảnh đô thị Sài Gòn với lối sống phù hoa, vốn khá là "ngon" với người dân đang vật lộn với khó khăn kinh tế, có gì đó vừa thèm muốn, vừa nuối tiếc. Nếu xem với ý thức về bối cảnh, ta phải nghĩ đến một tựa khác cho phim: Tuổi trẻ băn khoăn (bắt chước Herman Hesse!). Vì phim cũng không quá lộ liễu về "con đường của chị Hai Lan" như lời Ba Duy nói ở đoạn kết, nên xem như một lối để ngỏ. Những cảnh đua xe máy (toàn xe CD67 với Harley bóng lộn mà mê!), đường Sài Gòn phẳng lì, nhà lầu đá rửa, cửa gỗ bản lớn, biệt thự cây xanh, rồi những tấm poster phim Mia Farrow, Liz Taylor hay hình John-Paul, nhạc Mỹ xập xình... làm người xem ít tuổi khoái chí mơ mộng nhiều hơn là nhận thức về "chiều sâu" của lối sống chứ không phải là "bề mặt" (từ của nhân vật Hai Lan nói với em mình, nhưng tôi không chắc là người xem lúc ấy để ý đến). Chú ý là lúc Hai Lan gặp lại em mình ở nhà, đưa đẩy câu chuyện về nhận thức, tay Trà Giang cầm cuốn Buồn Nôn của J. Paul Sartre!

Thêm một chút vào đó là sự hợp tác của các nghệ sĩ miền Nam khi đó cũng nhộn nhịp. Ở Mối tình đầu thì không có đậm nét, nhưng thời điểm đó, các phim khác của xưởng phim Giải Phóng và Nguyễn Đình Chiểu nở rộ. Chẳng hạn như Lý Huỳnh, ông đã có mấy vai diễn rất hay như ông Hai Cũ trong bộ phim cùng tên, ông Hai Lúa trong Vùng gió xoáy, đại úy Xăm trong Hòn Đất, hay đại úy Long trong Mùa gió chướng. Rẽ ngang về bộ phim này, là bộ phim rất lãng mạn của Hồng Sến, có những cảnh cán bộ nằm vùng đánh nhau với ngụy rất chi là giật gân. Trong phim này có mở bài Đại bác ru đêm của TCS, rồi có 2 nhân vật bình phẩm về bài hát - lúc ấy là cũng hơi bị mạnh dạn. Sự tham gia của các nghệ sĩ miền Nam (trong đó nhiều người đã thành danh trước 75) không thể nói là miễn cưỡng, mà phải nói là rất nhập cuộc, vì nhiều người đã có những vai diễn được yêu thích, dù sau này có nhiều người khi ra hải ngoại đã không muốn nhắc tới.

3. Chủ đề:

Nhưng cái hay của phim cũng là những cảnh đan xen "ánh sáng và bóng tối", phù hoa và rác rưởi! Bây giờ xem lại, những câu hỏi và bế tắc của Ba Duy vẫn không cũ, chỉ khác là thay đổi ngôn từ. Tuy vậy, chất lãng mạn hào hoa và chất thơ trong hình ảnh mấy nhân vật trẻ tuổi của năm 1977 có lẽ khó tái hiện trong thời nay. Cái làm nên sự "sáng bừng" và "quyến rũ" của hình tượng Ba Duy chẳng hạn, là cái chênh vênh không thực, cái khó nắm bắt, cái gì chưa giải đáp được hết nhưng đầy niềm tin (dĩ nhiên là nhà làm phim đã ngầm trả lời: có cách mạng, có giải phóng). Hôm rồi ở SG, xem TV chiếu phim Người đàn bà mộng du, có nhân vật của Lê Vũ Long đóng, cũng một mẫu đàn ông thư sinh đẹp trai hào hoa, nhưng cảm giác cực kỳ bế tắc và u ám. Phim đó quá nệ vào việc lột tả cảm giác của cô Qùy nhưng lại không đắp cho các mối quan hệ một sự gắn bó đủ sâu. Ở Mối tình đầu, các mối quan hệ có phần nhiều mang tính biểu tượng.

Tiến trình giác ngộ của các nhân vật được vẽ ra khá "biện chứng": đi từ những mâu thuẫn chung - giặc Mỹ và dân tộc, sự tha hóa và đạo đức; những mâu thuẫn riêng - sự bội ước, tan cửa nát nhà. Người giác ngộ không ai xa là bạn học, anh chị em gia đình. Người bạn học giác ngộ Ba Duy không thành công vì thuyết phục giáo điều, thiếu thẩm thấu (cho anh bạn này bị chết trong lúc tham gia tấn công lính Mỹ và MP có lẽ cũng nhằm minh họa cho một sự trả giá, hi sinh, nhằm đưa đến cho Ba Duy một câu trả lời dứt khoát), người chị thành công hơn, nhưng cũng phải dính đạn bị thương một chút. Ba Duy cũng không giác ngộ xuôi chiều, anh ta còn phải trải qua các kiếp nạn đủ 81 cái mới xong: bị đánh đập, bị sốc ma túy, người yêu bị chồng Mỹ đánh thuốc độc chết...

Xem những dòng phim có yếu tố tuyên truyền như Liên Xô hay Mỹ, thì cách triển khai ý tưởng như thế rất phổ biến. Với Mối tình đầu, một sản phẩm VN, bộ phim có cái duyên dáng của người chinh phục một địa hạt mới, từ những góc quay đầy tình cảm, cách diễn tươi mát của diễn viên, đến cái háo hức phô diễn một "đời sống lạ". Nhìn lại tổng thể, Mối tình đầu là phim của Thế Anh, nhưng cũng là phim của tuổi trẻ ngập ngừng day dứt với những giá trị cũ, như tấm ảnh poster phim Secret Ceremony (1968) với đôi mắt Liz Taylor và Mia Farrow treo trong phòng của Ba Duy được thu vào khuôn hình rất nhiều lần.
.

Thứ Hai, 10 tháng 5, 2010

Người ta vẽ tranh về Nam Cao

.
Bài viết cách đây đúng 4 năm.

Nam Cao đối với người đọc những năm đầu thế kỷ 21 có một vẻ gì đó đã trở nên cổ điển. Vì lẽ ngoài những giá trị đã được đông đảo bạn đọc thừa nhận từ rất lâu qua những trang văn xuôi xuất sắc, năm ông mất lại xa hẳn khỏi những năm tháng nhiều xung đột trong văn học nước nhà. Dường như suy nghĩ của mọi người về ông khá thuận chiều. Ông là giáo Thứ, là văn sĩ Hộ, mang một cái mặt không chơi được kiểu tự trào của trí thức tỉnh lẻ, tốt mà nghèo. Truyện của ông thì đã rõ, dẫu có đa thanh, dẫu mang yếu tố carnival như cách phân tích của GS Đỗ Đức Hiểu, dẫu có những ý kiến không thích cái nét tự nhiên chủ nghĩa trong đó, nhưng tựu trung, được mọi người đề cao.


Tranh này không biết tác giả, đề là TOÀN nhưng cách vẽ hệt Hoàng Hồng Cẩm.


Ngoài vài tấm ảnh cũ kỹ ít được công bố, ngoài vài dòng hồi ức của bạn văn cùng thời, Nam Cao giữa đời sống người đọc ít bộc lộ hơn so với nhân vật của ông. Chung quy là tác phẩm nghệ thuật khai thác cuộc đời sự nghiệp và văn chương của Nam Cao ít quá. Dường như chỉ có mỗi bộ phim Làng Vũ Đại ngày ấy của đạo diễn Phạm Văn Khoa là đủ sức sống bên cạnh trước tác của nhà văn, cũng là nguyên mẫu cho nhân vật ông giáo trong phim. Và ấn tượng quá đậm nét về bộ phim đã thành ra một thứ tài liệu non-fiction cho hậu thế khi nghĩ đến Chí Phèo, Thị Nở, lão Hạc, giáo Thứ… Không nói quá, nghĩ đến Chí Phèo thì lại tưởng tượng ra Bùi Cường, Thị Nở thì cứ là Đức Lưu, lão Hạc thì như là dành cho Kim Lân, và giáo Thứ lại là một vai giáo nghèo cho Hữu Mười bên cạnh vai giáo Khang trong bộ phim “Bao giờ cho đến tháng Mười” của Đặng Nhật Minh. Thế là Nam Cao thì giống Hữu Mười?


Tranh Lê Thiết Cương.


Mấy ý nghĩ ngô nghê đó, không trách người xem được. Bởi vì trong cuộc vận động sáng tác mỹ thuật về đề tài Nam Cao và tác phẩm của ông, những biểu hiện đó vẫn là một sự thật. Cũng chẳng sớm sủa gì khi bây giờ mới có một cuộc vận động này, sau bộ phim nổi tiếng kia, đây là lần kỷ niệm Nam Cao thiết thực nhất. Dĩ nhiên bằng chất liệu phi thời gian, tác phẩm hội hoạ chỉ thể hiện được những lát cắt của các câu chuyện. Nhưng hội hoạ có ưu thế cô đọng, và cái ấn tượng mà hoạ sĩ tóm được từ tinh thần tác phẩm của Nam Cao, phải là một nét gì không chỉ phản ánh chính xác tính cách nhân vật, mà còn giải mã được những ý tưởng nhân văn của tác giả. Nó là cái gì, từ câu chuyện tình của Chí Phèo - Thị Nở, từ những nỗi đời cơ cực mà bi thương của những kiếp người bé mọn như lão Hạc, cái Dần, Trạch Văn Đoành, những trí thức lớp dưới nhìn thấy mọi cảnh nghèo bày ra đấy mà chỉ biết thở dài, mơ mộng chốc lát trong những đêm trăng sáng vốn có tác dụng che bớt những cái xấu xí của đời. Thế nên có thể thấy, các hoạ sĩ đã nhanh chóng bắt được tần số này của nhà văn, những khía cạnh phóng túng đậm chất Baroque rất thích hợp với ngôn ngữ mỹ thuật.

Trên bình diện đó, tinh thần thấm đượm là lòng trắc ẩn của nhà văn. Mà đời méo mó như cái mặt Thị Nở thật, sứt sẹo như mặt Chí Phèo đấy, dở dang như đời giáo Thứ, quanh hiu như đời lão Hạc, nhưng trăng thì vẫn sáng, người vẫn sinh ra, lò gạch cũ lúc nào mà chả hoang. Vượt lên đó là cả một sự chấp nhận. Thế nên Nam Cao mới có được nụ cười, cái vui đùa tuy cay đắng lắm nhưng vẫn là cái tâm thế bình thản, nhẫn nại của người xứ đồng chiêm, làng xóm chật hẹp, ra thành phố cũng vậy.


Tranh Lê Quảng Hà.


Phong cách viết hoạt ngôn hóm hỉnh mà rơi nước mắt đó dường như là mảnh đất màu mỡ cho những hình tượng hội hoạ, những phong cách từ hiện thực cho đến biểu hiện và trừu tượng. Dường như phong cách hiện thực không dễ mà thành công ở đây, vừa dễ bị cái quán tính so sánh với bộ phim, vừa khó xa khỏi lối minh hoạ bối cảnh truyện, cho nên những tác phẩm khoáng hoạt nhất dường như là thuộc phong cách trừu tượng. Thì đó, những dòng chữ hoạt kê trào lộng đan cài với những miên man tự vấn của những vai kể chuyện ngồn ngộn trên mặt giấy, ngỡ như chỉ cần gắp ra mà trải lên mặt toan là ra được chất Nam Cao. Nhưng hoạ sĩ thì mỗi người một khác. Nhà văn Hoàng Minh Tường vẽ khác nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Lại càng khác hoạ sĩ Thành Chương, khác cả Quách Đông Phương. Cái màu sống sít, rờ rợ của tranh Hoàng Minh Tường có thể bị chê là quá nghiệp dư, quá Bờ Hồ nhưng mà… lại có vẻ cũng khá bén với motif Đôi lứa xứng đôi. Hay bức tranh sơn mài của Thành Chương có thể về mặt nghề thì khỏi bàn, nhưng mà lại có vẻ quá lãng mạn cho câu chuyện tình oái oăm sực mùi cháo hành này. Có đặt là Kim-Kiều cũng được. Tranh Lê Thiết Cương cũng thế, quá đẹp để mà bảo đấy là hai kẻ dở người nhất làng Vũ Đại, trông có khác gì “khi chén rượu khi cuộc cờ” đâu? Rõ là tranh của anh vẽ một đôi nam nữ kề vai áp má, ngực non đùi tơ, chén quỳnh giọt tương mới vơi nửa chai sáu lăm.


Tranh Nguyễn Huy Thiệp.


Cái vòng tròn tranh luận khi chai rượu khi bát cháo (hành) này, khi xem Nở ngủ, khi chờ trăng lên… có lẽ không đến hồi kết. Chính vì thế, ban tổ chức cũng khôn ngoan khi đổi tên cuộc thi thành cuộc vận động sáng tác. Nói tranh nào nhất, tranh nào nhì cũng bằng bảo lão Hạc với lang Rận ai nghèo hơn ai! Nhưng không phải tranh nào cũng đẹp cả. Nhiều tranh nặng tính minh hoạ, hoặc dụng công quá mức khiến thiếu cái độ bạo liệt dữ dội, chỉ là những hình vẽ như bối cảnh phim trường, nghĩa là dừng ở mức Chí Phèo thì có sẹo, Thị Nở thì vẩu răng. Hoặc lãng mạn quá đà, tình yêu của Nam Cao không thể lãng mạnh như của Khái Hưng Nhất Linh được, nó khổ sở lắm, những “chuyện tình xú-vơ-nia” thôi…


Trang Hoàng Minh Tường.


Thế còn hình tượng nhà văn? Không có nhiều tranh về tác giả lắm, nhưng cũng cho thấy những điều khó khăn khi hình dung về Nam Cao. Dĩ nhiên là ai cũng biết Nam Cao không thể béo tốt được, nhưng Nam Cao “sống” ra sao, hình như cũng rất khó nắm bắt, điều này đã nói ở trên, và những bức tranh ở đây cũng cho thấy vậy. Nam Cao trong một bức có tính truyền thần trong số này lại có vẻ không ra Nam Cao bằng một số tranh khác. Ông tự nhận mình có “cái mặt không chơi được” đó thôi, chứ thực ra có lẽ ông quá ưu thời đến mức không biết diễn đạt cảm xúc thế nào cho phải lối, trước vô số những ngổn ngang hiện thực. Tôi nhìn bức tranh của Lê Huy và hơi giật mình, hình như cái người trong tranh trông quen lắm. Cái dáng người hơi xiên vẹo, cái cổ ngẳng, má hóp, mái tóc có chải nhưng gọi là cho có, ánh mắt thì đầy nỗi ưu tư, là của một chàng trai cả nghĩ, nhìn ra đời thấy vô số cái buồn cười nhưng mà chả cười được mấy. Một anh chàng nhà quê, gắn với cảnh quê, có ra Hà Nội cũng ngao ngán với cảnh ngoại ô máy nước xếp hàng, khéo ăn kem Bờ Hồ cũng chẳng thấy ngon vì nghĩ đến bữa cơm độn khoai của vợ con ở dưới quê.


Tranh Lê Huy.


Nam Cao như thế là một anh đàn ông Việt Nam chính hiệu. Những anh đàn ông khổ khổ, tất bật, nay có thể đứng ở đầu ngã tư, hay đi lại trong các công sở, giầy đen đế chân trái hơi vẹt nhiều hơn vì chống chân dừng xe máy, áo sơ mi sáng màu cắm trong quần âu… Biết nói đùa nhưng mà cũng làm khổ vợ con đủ đường. Cũng biết yêu nhưng mà luôn cho là ở mình cái gì cũng có ngữ.


Tranh Thành Chương.


Vì thế, tự nhiên tôi nghĩ, hoạ sĩ nếu mà thử vẽ về chính mình, biết đâu lại thấy Nam Cao ở đấy? Nam Cao viết toàn về cuộc sống của ông, xung quanh ông, mà cũng như là về chính chúng ta vậy. Những kiếp người cười cợt, mà lại rớm nước mắt, chẳng phải là chính chúng ta đấy sao?


Nguyễn Trương Quý

12.5.2006




Tranh Lý Trực Dũng.

Trên là một số tranh vẽ trong cuộc thi vận động sáng tác về Nam Cao và nhân vật văn học của ông do báo TTVH tổ chức hồi năm 2006.
.

Thứ Bảy, 8 tháng 5, 2010

Tính ngày mai

.
ĐỂ MAI TÍNH - là ngày mai tính hay là để cho Mai tính? "Để mai tính" xem thú vị cho đến giữa phim. Quay đẹp, tươi sáng và tiết tấu ăn khớp với mạch cảm xúc. Khi mà các nhân vật tham gia câu chuyện với tinh thần một cuộc chơi, thì họ khi hoạt bát, lúc ngỡ ngàng với những gì đang hé mở. Còn khi đi vào những mâu thuẫn thường tình, giữa người ấy và tôi em chọn ai, thì sáo mòn và cứng. Kathy Uyên lúc mới đầu phim quá đẹp, càng về sau càng có những kiểu tóc và quần áo già quá. Dustin Nguyễn lại quá già so với vai Dũng, kiểu ngoài 40 mà vẫn làm bartender thì hơi khó gây hi vọng cho người xem rằng anh ấy sẽ có một tương lai để bay bổng cùng Mai - cô gái mà Kathy đóng. Cuối cùng vai Hội của Thái Hòa lại là vừa vặn hơn cả, tuy xuất hiện không nhiều và cũng nhiều chỗ chọc cười kiểu cũ. Tuy vậy, vai Hội đáng khen vì nhân vật có đời sống và diễn biến tâm lý khá ổn.

Có mấy chỗ quay rất là Tây và sáng sủa, như những cảnh mở, một bãi tắm Nha Trang nhộn nhịp nhấp nháy ánh nắng, một Hà Nội cảnh đẹp rất chiều sâu. Còn những chỗ khách sạn và biệt thự thì cứ như là nước nào, lộng lẫy kiểu Tây quá.

Một số đoạn ở phần đầu hơi có gì giống Lê Hoàng. Nhưng may quá, không có triết lý nào kiểu Lê Thị Liên Hoan. Giá mà cả phim đều giữ được mạch tưng tửng thì hay, chứ nửa sau xử lý mâu thuẫn xoàng xĩnh quá, kiểu gái đẹp biết từ bỏ danh vọng hão huyền và đại gia để về với chàng khờ thủy chung. Tự nhiên đẩy nhân vật Mai và Dũng vào những xung đột căng cứng, anh Dũng thì thở ra những câu triết lý (may mà nói kiểu giọng khá tự nhiên chứ không nghe vông vổng còn chết nữa), cô Mai thì mất hút trong mớ hành xử ứng phó tình huống không mấy bất ngờ.

Tóm lại là phim xem cũng dễ chịu, cũng tự nhiên thấy VN ở trên phim cũng thành thị, cũng lộng lẫy và đầy hưởng thụ. Chứ không mấy xúc động, không ám ảnh gì, có thể cũng là một tiêu chí - không lộ ra tham vọng nên có lẽ dễ chịu là vì thế.

***
Hôm nay có khuyên một chị bạn khi tính sao để có cơ hội đổi đời. 40 tuổi cũng có khả năng là chịu khó đi bộ quanh hồ Tây, gần chỗ đầu đường Hoàng Hoa Thám hay Phan Đình Phùng. Rồi tiếp cận một số bác từ miền Nam chuyển lên T.W, có vợ dead or alive, mai kia một trong số những bác ấy sẽ thành ngôi sao chính trị, rồi chị sẽ thành đệ nhất đệ nhị phu nhân. Lúc đó nhớ đến băng hội của mình là tốt rồi. Bọn mình chụp với nhau hơi bị nhiều ảnh, blog lúc ấy (nếu còn có blog) sẽ tràn ngập ảnh và ký sự đi chơi, đương nhiên sẽ có chúng ta ngồi bên nhau, khi đang mơ ngày mai đổi vận. Để mai tính!
.

Chủ Nhật, 2 tháng 5, 2010

"Giải mã" Tây Sơn hào kiệt

.
Nói chung là mình cũng tò mò muốn xem "Lý Huỳnh Film" giải mã câu chuyện Tây Sơn Nguyễn Huệ ra sao vào năm 2010 này, khi mà người ta đã đọc những thứ lật đi lật lại vấn đề về nhà Tây Sơn của Tạ Chí Đại Trường hay văn Nguyễn Huy Thiệp. Một cái tên phim to tát đến thế, nghĩa là sẽ toàn diện vấn đề Tây Sơn chăng? 12 tỷ làm một phim nhựa ắt không thể như thời Lý Hùng đóng phim mỳ ăn liền Thăng Long đệ nhứt kiếm với Lửa cháy thành Đại La. Hoặc cao hơn thì phải ngang ngửa Kiếp phù du với Đêm hội Long Trì (hai phim này có Lê Vân và Hoàng Cúc đóng tuyệt vời, Thu Hà thì xinh đẹp, Thế Anh đóng nhập, mỗi tội Huy Quận già và xấu). Nghĩa là phải bập vào được vấn đề: vai trò và bản chất của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn. Hoặc ít ra là phải áp đặt được một câu chuyện khiến ngưòi ta tin được. Ngày xưa Lưu Quang Vũ viết chèo Ngọc Hân công chúa, bịa ra (hay là lượm lại từ dã sử) chi tiết mang cành đào Thăng Long vào Phú Xuân với lại cho Bùi Thị Xuân ra Bắc tranh biện với sĩ phu Bắc Hà, nhưng vì là chèo, và cũng trong cảm hứng những năm 80 thì cũng làm mọi người vẫn xem được. Những màn đấu lý tô đậm cái yếu tố theo ai phò ai, chọn một dòng hay để nước trôi của sĩ phu, cũng rất hay, cũng gặp điều đấy trong vài nét chấm phá của bộ ba Kiếm sắc-Vàng lửa-Phẩm tiết của Nguyễn Huy Thiệp. Nghĩa là cái người ta cần là cần một tính cách, một mâu thuẫn để giải quyết trong điện ảnh.

Thế mà 90 phút phim cứ như là nhấn nút FF (tua nhanh) theo đúng cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen. Tình huống sơ sài, nhoằng nhoằng cái đã xong béng vấn đề, bày ra scene tập luyện, Nguyễn Huệ ra hỏi han 2 câu rồi cắp đít quay ra khỏi màn hình, thật đúng phẩm chất lãnh đạo, có đưa ra quyết định, có theo dõi và kiểm tra. Nghĩa đen thì sao, đúng là tua thật, vì những đoạn tiết tấu nhanh thì ối giời ơi, băng nó tua, ngựa chạy phăm phăm, người chạy tạch tạch tạch như phim Sác-lô. Chắc sợ mang tiếng phim cải lương (được một bạn thạo hậu trường cho biết đạo diễn là dân cải lương) nên cho rằng cắt cảnh nhanh và tua nhanh là thoát chăng. Màn chậm duy nhất là... Mà từ từ đã, để kể lại cả cái trường đoạn ấy.

Thăng Long mở hội thái bình. Thăng Long đây là cảnh Đại Nam quấc tự Bình Dương. Ngọc Hân (Hoa hậu hoàn vũ Thùy Lâm đóng, có ghi danh hiệu đó ở generic nhé) phởn phơ dạo chơi ban đêm cùng hai tì nữ (mà cứ như là đang chờ sự cố xảy ra ý, sắp đặt đến Spielberg gọi bằng cụ). Chợt có Tấn Beo đến giở trò sàm sỡ. Ngọc Hân mặt lạnh. Tì nữ hất hàm: Ngươi có biết người đang nói dzới ai hôn? À quên, phải rẽ ngang ở đây là cả triều Lê, từ vua Lê Hiển Tông, Ngọc Hân cho đến toàn bộ La Sơn phu tử Hà Tĩnh, Nguyễn Hữu Chỉnh Nghệ An với lại những sĩ phu Bắc Hà nào đều nói giọng Sài Gòn hết. Mình lại nhớ Nguyễn Việt Hà kể chuyện có người định làm phim Lều chõng theo truyện của Ngô Tất Tố cho Đào Vân Hạc nói giọng miền Nam. Anh Hà bảo, chắc Vân Hạc có chửi thề thì "Đù má!"

Lại nói về chuyện tì nữ, nói tiếp: "Ngọc Hân công chúa đooóa!" Tấn Beo tưởng giỡn, ve vãn tiếp. Ngọc Hân tát cho cái như phẩy ruồi, thế mà y ngã chỏng vó ra, kêu oai oái rồi chửi bới. Vừa hay có Hữu Chỉnh (Thế Anh, vâng đúng bác Thế Anh Nổi gió ngày xưa ấy) chạy vào khuôn hình từ bên trái, hét: "Tên kia! Mi dám sàm sỡ với Ngọc Hân công chúa sao! Bay đâu, cheeém!"

Tấn Beo vội xin tha mạng. Vừa hay, Nguyễn Huệ đi vào khuôn hình từ bên phải, hô rằng tha cho nó. Chỉnh sụp xuống thi lễ, cả đám cũng ngỡ ngàng. Ngọc Hân, hay là Thùy Lâm giờ mới thấy tỏ mặt hào kiệt (trước vốn giãy nảy lên không lấy cái đồ võ biền), thì cũng chớp mắt tỏ ý ưng cái bụng. Sau màn giới thiệu thì đêm đã về khuya sương rơi ướt áo, gót loan dời bước về cung. Ấy, lúc này mới là lúc quay chậm nhất của phim (Chậm ở đây là chậm nghĩa đen, slow motion). Ngọc Hân đi ba bước, khựng lại, hơi quay đầu qua vai, như là quảng cáo Xmen hay Romano mà cô gái ngửi thấy mùi thơm của anh kia mà không cưỡng lại được ấy. Hay là giống Pond's kiểu ừ đúng đó, tao có dùng cái đó. Thế thì Thùy Lâm khưng lại, rồi vặn đầu trở lại, đi tiếp. Lý Hùng nhìn theo. Hết cảnh.

Nói chung về bối cảnh thì không nói làm gì, các bác nào chê mấy phim kỷ niệm Thăng Long thì chắc cũng sẽ phang cái Đại Nam quấc tự dùng làm Hoàng thành Lê triều, xi măng, gạch thẻ cứ dễ dàng lọt vào ống kính đủ cả. Cái thứ gọi là đặc sản của lò võ Lý Huỳnh thì ôi thôi, quay lên sống sượng và lủng củng chẳng có đường nét hay bài bản gì. Những màn bật tôm tức cười như là quay đùa trên youtube hay facebook. Những cảnh máu chảy trôi chày, nước sông nghẽn xác giặc làm bằng vi tính thô sơ hơn cả những phim ca nhạc. Rõ rành rành là phim quay như quay video vậy.

Lại nói sang chi tiết lịch sử. Nguyễn Huệ ra Bắc, lấy Ngọc Hân, đại để là có trăng mật hay không thì không rõ, nhưng đang xem cảnh hai anh chị Hùng và Lâm dìm nhau xuống chỗ có nước chen với đá, đang thắc mắc đã đưa nhau về miền Trung rồi à, bạn xem bên cạnh rú lên, Hầm Hô. Hầm Hô nào, Hầm Hô Bình Định đó. Tưởng về Phú Xuân thôi chứ, Bình Định là Nguyễn Nhạc trấn rồi, ừ thì khó tính làm gì, Bình Định cũng gần Phú Xuân hơn là Thăng Long. Ôi nhầm rồi, cảnh sau thì hóa ra vẫn ở Thăng Long. Hồi ấy, Nguyễn Huệ có đưa Ngọc Hân ra biển nào như Quảng Ninh hay Sầm Sơn không biết mà có biển với đá thế.

Cao trào hẳn là màn đánh đồn Ngọc Hồi. Cái đồn toàn tranh tre nứa lá mà hỏa khí của Tây Sơn đốt mãi vẫn chưa xong. Đánh độ mười phút, Nguyễn Huệ hô "Ba quân tướng sĩ! Thẳng tiến về Thăng Long!" hô đến ba lần như anh Trỗi phút giây thiêng. Ngoắt sang một cảnh chỗ khác, ba quân tướng sĩ hô "Hoàng đế Quang Trung dzạn tuế" đến chục lần, tưởng người dựng phim dựng nhầm, thay vì lệnh Cut thì sang lệnh Paste.

Giặc thua, chạy về cấp báo với Tôn Sĩ Nghị (Đoàn Dũng), bảo "Quân Tây Sơn đã diệt các tướng như Sầm Nghi Đống v.v..." Ơ hay, trẻ con học lịch sử rành rành là Sầm Nghi Đống treo cổ tự tử ở một cái gò gần chùa Bộc cơ mà. Vơ vào đến thế làm gì. À, mà có vụ này thì hay. Các đoạn đối thoại của quân Thanh đều nói tiếng Tàu, có phụ đề tiếng Việt chạy dưới. Ồ thế thì hay, phim này có yếu tố nước ngoài, có thể tham dự giải Kim Kê Kim Tượng được. Ừ, đóng cũng có nét, khéo được giải Kim gì đó.

Lúc nói là 20 vạn quân Thanh, mình hơi cảm giác là thiếu, hay là 29 vạn. Về tra lại thì chắc cũng không sai, các con số cũng còn bàn cãi. Nhưng mà các quân gì thì quân, 10 vạn quân Tây Sơn ắt không thể lao như đi cướp kho thóc thế được. Đọc Hoàng Lê nhất thống chí, mô tả kỹ lưỡng cực kỳ luôn. Hoặc nếu có "dã sử" thì cũng phải điệu nghệ tí. Ai đời như là màn tỉ thí đường phố, lại còn quả Lý Hùng đi phăm phăm trên không kiểu màn quảng cáo mì ăn liền Hảo Hảo (tức là có cô Quế Trân đeo dây trên lưng đi đạp đạp hai cái chân trong không trung rồi quay ra giơ gói mì lên). Đoạn giặc Thanh chạy qua cầu phao, thì là một con sông bé tí như cái mương. Sông Cái mà chỉ bé thế thì giặc Thanh chẳng đến nỗi chết nghẽn nước với lại Tôn Sĩ Nghị phải cho chặt cầu phao. Bôi bác đến thế thì dìm hàng cả chiến công của Quang Trung xuống hàng quận huyện.

Chưa hết. Đến màn chiến thắng trở về. Thì đã biết là Ngọc Hân sẽ có cảnh nhận hoa đào, nhưng thấy cái vườn cắm những cái cành hoa hồng hồng là hoa giả, mình mới thật thà bảo, hay là lúc này hoa chưa về, mới có 1 cành mang thần tốc từ Bắc vào nên Ngọc Hân cho cắm hoa giả để đỡ nhớ. Ô nhưng không hề, Lý Hùng bước ra, chỉ tay vào cái vườn, bảo nàng đã thỏa ước nguyện chưa. Thùy Lâm e lệ cười. Tì nữ cầm cành đào lên, đa tạ Lý Hùng, cành đào chiếu cận cảnh - hoa nhựa - bông nào bông nấy to như phiếu bé ngoan.

Hết phim, đúng như dự đoán, có cảnh vĩ thanh, ngày nay tại quê hương Tây Sơn, đã lập đền thờ và hàng năm, v.v... Dòng chữ hiện lên, cảm ơn Chính quyền, đảng bộ và nhân dân tỉnh BĐ đã giúp đỡ và ủng hộ... Bài hát hùng tráng cất lên. Nán lại xem ai hát và bài hát của ai. Bảo Chấn sáng tác, Duy Linh và nhóm bè Cadillac hát. Nhưng mà nhạc thì nhé, cái đoạn Thùy Lâm và Lý Hùng giã biệt bên bờ biển, nhạc cứ gợi nhớ Bên em bên em biển đã chết. Còn những đoạn hùng binh, cứ có cái kiểu nhạc, Tèn tén, ten ten tèn ten ten tèn... Tèn tén... Vùng lên, nhân dân miền Nam anh hùng... Vùng lên, xông pha vượt qua bão bùng... Tèn tén... Ừ thì phim ra mắt ngày 30 tháng Tư mà.

Phải nói là mình rất ủng hộ người VN làm phim đề tài lịch sử, bằng cớ là đã bỏ ra 70k (chưa kể tiền bắp rang bơ và pepsi đã được bạn Lâm thầu cả hội), nhưng mà thấy người ta làm phim vừa ngây thơ, vừa cẩu thả mặc dù ắt là có tâm huyết cao, thì thấy quả này không tha được. Lý Hùng năm 2010 không thể chỉ là già hơn béo hơn năm 1992, mà cũng phải nên biết mình là ai, phải ít ra là có trải nghiệm gì thêm chứ. Nhất là khi có tham vọng quay lại bằng một phim "bom tấn" cả về tiền bạc lẫn chủ đề. Chẳng lẽ cũng mãi vẫn như một thứ khoai củ chạy hùng hục từ đầu đến hết phim, bất biết động đậy một nếp nhăn nào?
.
Thêm thông tin: Đây là bản biên tập đăng trên Tuổi Trẻ và link trên Người Lao Động, cùng phản hồi "dữ dội" mà chắc không đăng hết :-)
.

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ