Thứ Bảy, 30 tháng 6, 2012

Trịnh Công Sơn nhìn từ 3 châu lục


Nhạc Trịnh Công Sơn đã trở thành kinh điển ngay từ khi ông còn trẻ. Vì vậy, không có gì lạ khi ông trở thành đối tượng nghiên cứu về cả mặt âm nhạc lẫn xã hội và cả con người. Có thể không nói quá rằng Trịnh Công Sơn đã từng là phần hồn của thế hệ tuổi trẻ Việt Nam trong nhiều chục năm biến động.

Đã có chừng 20 cuốn sách viết về Trịnh Công Sơn xuất bản, và con số này chắc sẽ không dừng lại. Mỗi cuốn sách ra đời là một cố gắng và tham vọng phân tích con người nghệ sĩ và tác phẩm của Trịnh Công Sơn, một gương mặt âm nhạc nổi bật những năm tháng chiến tranh. Cũng như các ca sĩ thử sức với nhạc Trịnh, mỗi người tìm cách ghi dấu ấn cá nhân với ca khúc của ông, thì các tập sách viết về người nhạc sĩ này cũng cố gắng chứng tỏ mình là một sản phẩm khác biệt và mới mẻ. Cuốn mới nhất, “Trịnh Công Sơn – Bob Dylan: như trăng và nguyệt?” của John C. Schafer, vừa mới ra mắt có lẽ đem lại sự khác biệt lớn hơn cả, bởi nhìn Trịnh Công Sơn ở góc nhìn so sánh với Bob Dylan, một thần tượng nghệ thuật của nước Mỹ cùng thời.

Cuốn sách đáng chú ý ngay từ những người thực hiện. Bên cạnh bài tiểu luận chính dài 150 trang của giáo sư người Mỹ John C. Schafer do người bạn đời – dịch giả Cao Thị Như Quỳnh dịch ra tiếng Việt cùng rất nhiều chú thích quan trọng, là lời giới thiệu của một giáo sư khác, Cao Huy Thuần, người đã sống tuổi trẻ của mình với những giai điệu của Trịnh, đã yêu những bài hát buồn nỗi buồn xứ Huế quê hương của mình. Cuốn sách cũng gồm bài nói về tiếng hát Khánh Ly trong đêm nhạc nhớ Trịnh ở Paris năm 2011. GS Cao Huy Thuần là anh của dịch giả Cao Thị Như Quỳnh, những người đồng hương với Trịnh Công Sơn. Thẩm quyền của họ là thẩm quyền của người đã sống cùng thời với những bài ca của Trịnh, của Dylan, những năm tháng cuộc chiến tranh trên dải đất chữ S.

John Schafer đã dạy học ở Huế vào những năm ấy, và nói bằng chữ nhà Phật, cái “duyên” với văn hóa Việt Nam đã làm nên con đường nghiên cứu của ông. Cho đến nay, ông đã có vài chuyên luận nghiên cứu về riêng Trịnh Công Sơn. Ở cuốn sách mới nhất này, ông đã nhìn Trịnh Công Sơn ở góc độ ảnh hưởng của Phật giáo. Khác với nhiều bài viết về nhạc Trịnh đầy ắp sự diễn cảm và từ chương hóa, nghiên cứu của Schafer là cái nhìn mang một căn bản triết học và xã hội học. Nó có cái vẻ cẩn trọng của văn bản khoa học, cái sòng phẳng của người tách mình khỏi sự áp đặt tự nhiên từ ca từ tiếng Việt mà người Việt thường đắm trong đó.

Có những phát hiện sâu sắc ở khía cạnh văn bản học mà chính Schafer đã bày tỏ: “Cả Trịnh Công Sơn và Bob Dylan đều viết nhạc để trình bày trước công chúng. Họ sáng tác cho đôi tai và con tim của người nghe, chứ không phải cho đôi mắt và bộ óc của người đọc. Khi nghe nhạc Trịnh, Cao Huy Thuần nói ‘người hát nghe giọng thơ nhiều hơn là nghe ý tưởng’. Những năm đầu của thập niên 1960, các bạn tôi và tôi cũng nghe Bob Dylan như vậy. Chúng tôi không phân tích, và hồi đó tôi cũng không bao giờ nghĩ rằng các sáng tác đầu tay của Bob Dylan đầy rẫy những hình ảnh và tiếng vọng từ Kinh thánh. Có thể vì ngôn ngữ Kinh thánh đã quá gần gũi đối với tôi, vì Kinh thánh được dùng nhiều trong tiếng mẹ đẻ của tôi, nên tôi đã không để ý đến...”


Điều này cũng tương ứng với nhạc Trịnh với ca từ và ý tưởng chứa đựng những khái niệm Phật giáo như tính không (không xa ngậm ngùi và cũng không xa nụ cười), từ bi hỉ xả (yêu em lòng chợt từ bi bất ngơ, miệng ngọt hạt từ tâm), vô thường (từ đó ta là đêm, nở đóa hoa vô thường), pháp môn bất nhị (buồn vui kia là một, có chút lệ nhòa trong phút hôn nhau)… Những khái niệm này thực tế đã xâm nhập vào ngôn ngữ tiếng Việt, đến độ chúng ta ít cảm thấy, bởi lẽ như Schafer đã phân tích, đó là vì “tôn giáo là những cấu trúc văn hóa và ngữ học tạo ra những kinh nghiệm cho chúng ta.” Người Việt tắm trong quan niệm và cách ứng xử của một văn hóa mà Phật giáo đã bắt rễ từ những thế kỷ đầu thiên niên kỷ trước, nên câu chữ chúng ta nói hàng ngày có những ngôn từ Phật tính mà chúng ta sử dụng vô thức.

Tuy nhiên, lắng nghe âm nhạc cũng là thưởng thức bằng cảm xúc. Cuốn sách cũng vậy, vẫn dành những trang gửi gắm niềm yêu mến đối với tác phẩm âm nhạc của cả hai nhạc sĩ, nhưng đáng chú ý là Schafer dành tình cảm nghiêng về Trịnh Công Sơn. Như Schafer đã đưa ra các dẫn chứng, về âm nhạc, Trịnh Công Sơn không có những bài ca có lời lẽ thù hận phỉ báng con người hoặc một ai trong khi Bob Dylan nhấn mạnh yếu tố này trong những ca khúc nổi tiếng nhất. Về con người, Trịnh Công Sơn chấp nhận việc bị phụ tình và không oán hận những người tình “bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ”, những người tình vì sự sắp đặt của gia đình đã từ chối tình cảm của người nhạc sĩ, trong khi Dylan thậm chí lên án hoặc giễu cợt những người phụ nữ trong đời ông và chính ông cũng phụ rẫy họ. Tất nhiên, như người Việt vẫn có câu “có tài thì lắm tật”, giá trị nhân văn mà các nghệ sĩ này đóng góp cho cuộc đời đã vượt qua cả những khuôn khổ nhân cách cá nhân của họ.

Cuốn sách đã vẽ nên không gian sống động của những mối tình nghệ sĩ, chất men gây nên sự thành công của Dylan và Trịnh. Nếu như Dylan có hai đời vợ và một dàn người tình, thậm chí cùng một quãng thời gian có vài nàng thơ, với mối tình nghệ sĩ đặc biệt ban đầu là ca sĩ Joan Baez – người đã góp phần đưa Dylan tới danh vọng, thì Trịnh Công Sơn cũng có rất nhiều người con gái đi qua cuộc đời, và có một ca sĩ tri âm lừng danh là Khánh Ly. Những trang viết về cuộc tình giữa Dylan và Baez giàu chất tiểu thuyết, sắc lạnh và đầy cay đắng về sự khác biệt và đổi thay giữa những con người đồng chí hướng ban đầu. Dylan đã từ chối đi tiếp cùng Baez trên con đường sáng tác âm nhạc phản chiến, và có vẻ như bỏ rơi cô cùng những người bạn muốn có ông trong phong trào phản chiến đang dâng cao tại Mỹ và khắp thế giới.

Sau dăm bài nhạc phản kháng (chủ yếu là phản kháng lại tình trạng bạo lực đe dọa của thời đầu Chiến tranh Lạnh, giai đoạn sáng tác ngắn ngủi trong những năm 1962-1963), Dylan chuyển sang xu hướng nhạc tôn giáo và những bài “phản tình ca”, trong khi Baez theo đuổi phong trào hòa bình trong thời Chiến tranh Lạnh và bản thân cô đã tới Hà Nội năm 1972 đúng dịp tổng thống Nixon cho ném bom miền Bắc Việt Nam. Còn Trịnh Công Sơn, ông đã có tới 69 ca khúc phản chiến, và mục đích rất rõ ràng: phản đối chiến tranh đang diễn ra trên đất nước mình và kêu gọi hòa bình trở lại. Những thông tin tỉ mỉ như thế, người đọc hoàn toàn có thể thỏa mãn trong cuốn sách công phu này.

Bổ sung cho khía cạnh cảm xúc của cuốn sách là những trang viết của Cao Huy Thuần. Tác giả này đem lại cho người đọc hình dung về một thế hệ đã sống bằng lời ca Trịnh Công Sơn, đã khóc với những bi kịch của đất nước chiến tranh, và cũng biết làm giàu cho tâm hồn bằng những lời yêu đẹp đẽ nhất mà người Việt có được trong ca khúc Trịnh Công Sơn. Bằng lối văn nhẹ nhàng thâm trầm, cái ý nhị của một tâm hồn Huế và tình tứ của văn hóa Pháp (ông là giáo sư tại ĐH Picardie, Paris), những trang mở đầu và lời bạt cuốn sách của Cao Huy Thuần là những tham chiếu đầy sức nặng cho chuyên luận nghiên cứu của Schafer. Người ta dễ viết về âm nhạc Trịnh Công Sơn hay giọng ca Khánh Ly với những lời tán dương hoa mỹ hoặc bị quan điểm chính trị chi phối. Nhưng Cao Huy Thuần viết về Trịnh hay Khánh Ly là viết về ảnh hưởng nghệ thuật mà họ đem lại, ảnh hưởng đã thắp suốt nửa thế kỷ qua nơi tim mỗi người Việt, dù họ ở đâu.

Cuốn sách là cuộc gặp gỡ từ ba châu lục, ba vùng đất (Việt, Mỹ, Pháp), vô tình mà nên một cuộc khảo sát đi sâu từ triết học, tôn giáo cho đến ngôn ngữ. Nó khẳng định một điều, sẽ là ngớ ngẩn khi tự sướng với những danh hiệu hão huyền hoặc xưng tụng ồn ào kiểu “Trịnh Công Sơn là Bob Dylan của Việt Nam”, hoặc chắp nối các nhân vật một cách gượng ép theo cách nhìn “thực dân”. Nhưng cuốn sách cũng khẳng định lại một điều đã được thừa nhận: một trải nghiệm đi từ đời sống một dân tộc, phản chiếu những đòi hỏi nhân văn và ra đi từ trái tim của một thế hệ, nó không vô danh bên lề thế giới rộng lớn này. Những cuộc đấu tranh có vẻ nhỏ nhoi, thuộc về một bộ phận con người khuất nẻo đâu đó nơi tận cùng thế giới, nhờ đó mà đã lay động cả nhân loại. Nhìn ở khía cạnh ấy, Trịnh Công Sơn hoàn toàn có thể đứng cạnh Bob Dylan, “như trăng và nguyệt”.

Nguyễn Trương Quý
(TT&VH Đàn Ông 7-2012)

Thứ Hai, 25 tháng 6, 2012

Không có giới hạn cho tản văn



Dương Tử Thành
Người ta vẫn thấy cái tên Nguyễn Trương Quý trong chuyên đề của một số tờ báo văn hóa với lối viết tung tẩy, dí dỏm chừng mực. Miệt mài theo đuổi thể loại tản văn, đến nay, với 4 tập sách, Nguyễn Trương Quý đã vẽ nên một con đường của riêng mình. Anh cũng là tác giả có những quan sát tinh tế về cuộc sống đô thị với con mắt của “nhà quy hoạch”. Theo anh, độ tương tác của của tản văn với đời sống vừa là thách thức nhưng cũng thú vị, và không có một giới hạn nào cho tản văn.
Tản văn không phải là món nộm
- Đã tám năm theo đuổi thể loại tản văn, liệu đã đến lúc để anh ra một “tuyên bố” gì đó về thể loại này?
- Tôi đến với tản văn xuất phát từ khuôn khổ những trang báo dành đất cho những mục viết về đời sống xã hội qua cái nhìn có tính văn chương. Ngay từ lúc đó, việc xác định rõ chủ đề viết và đối tượng hướng tới đã là một yếu tố quan trọng tạo nên tác phẩm. Tản văn ngày nay là một hình thức văn chương trên các phương tiện báo viết, nó phản ánh trung thực và trực tiếp tâm thế người viết khi đối diện với các vấn đề xã hội. Càng ngày tản văn càng có ưu thế nhờ sức mạnh của báo chí và truyền thông mạng. Điều đó cũng có nghĩa độc giả càng ngày càng khắt khe hơn với tản văn.
- Điều gì khiến anh trung thành với thể loại viết ngắn này đến thế, do cái tạng văn hay do những vấn đề “be bé ngăn ngắn” mà anh muốn chuyển tải?
- Có lẽ khả năng càn lướt hiện thực của tản văn đã khiến tôi chọn. Trong khi truyện ngắn hay tiểu thuyết đòi hỏi phải diễn đạt bằng nhiều thủ pháp hư cấu “chín” để phản ánh hiện thực “sống” thì tản văn hay tùy bút dường như sinh dưỡng ngay trên hiện thực đang diễn ra. Dĩ nhiên nó không phải món nộm hay gỏi trộn qua quýt. Tôi muốn mượn một từ trong hội họa, impressionism, là trường phái ấn tượng, hay trong tranh thủy mặc có lối vẽ thấu thị tẩu mã để nói về cách viết mang ấn tượng chủ quan của người viết tản văn, họ chọn lấy những chi tiết hay đặc điểm theo họ là quan trọng hơn cả để mô tả nhưng vẫn vẽ lại được khung cảnh toàn diện về đối tượng. Theo quan niệm của tôi, truyện có thể không có chuyện nhưng tản văn nhất thiết phải có một cái tứ. Một tản văn thành công là đẩy được những cái tứ tới tận cùng từ những vấn đề nhỏ. Tôi không nghĩ chuyện vấn đề “be bé ngăn ngắn” có ý nghĩa quyết định mà nằm ở tinh thần quyết liệt và độ sắc cạnh của người viết. Nếu tản văn không thể hiện được phẩm chất đó, người đọc sẽ quên ngay sau khi đọc xong.
Lựa chọn tản văn để chuyển tải những tứ của đời sống có cái hấp dẫn là cho phép tôi thoải mái mổ xẻ và đưa ra quan niệm của mình trong vai trò một người đối thoại với người đọc – dĩ nhiên là những người đọc vô hình mà tôi phải phân thân đặt mình vào vị trí của họ. Độ tương tác cao của tản văn với đời sống là một thách thức cũng thú vị.
- Thứ dễ nhận thấy trong tản văn của anh so với các bậc tiền bối là nhịp điệu của một thời đại mới, thế hệ mới. Anh có nghĩ rằng mình đã thổi được nhịp thở của thời đại mình đang sống vào mỗi trang viết thay vì cảm hứng hoài cổ thường thấy ở tản văn truyền thống?
- Tất nhiên là tôi viết bằng đầu óc và tư duy của người đang sống với thời của mình. Câu dài câu ngắn, chữ đơn chữ kép trong trang viết của tôi đi từ những chất liệu đời sống đương diễn ra. Kể cả có viết về ngày xưa hay chuyện cũ thì tôi vẫn phải lấy điểm nhìn hiện tại để soi chiếu. Lấy ví dụ về kỹ thuật viết. Các tác giả trước đây thường viết câu cân đối cả về ý lẫn chữ, nhịp nhàng biền ngẫu, sử dụng nhiều chữ độc, lạ, ít gặp trong đời sống hàng ngày. Tản văn hiện nay vốn gắn với những chuyên mục (column) của các báo, nên khi viết, tôi luôn xác định mình viết cho một số lượng người đọc có thực. Tản văn vì thế phải thể hiện được những trăn trở, khao khát và suy nghĩ về đời sống của họ.
 Phác họa một chân dung… xe máy
- Phân nửa cuốn “Xe máy tiếu ngạo” của anh dành để luận về… xe máy, anh có thể chia sẻ về cảm hứng và mối quan tâm đặc biệt với loại phương tiện 2 bánh gắn liền với bộ mặt mỗi đô thị Việt Nam này?
- Điều gì cần nói thì tôi đã viết hết cả trong cuốn sách rồi. Cũng đơn giản thôi, mỗi cuốn sách của tôi là một concept thể hiện trải nghiệm của tôi trong một quãng thời gian viết lách nhất định. Tôi bắt đầu từ những điều gần gũi và quen thuộc nhất với câu hỏi: liệu mình đã hiểu những điều đó chừng nào? Xe máy vốn dĩ quen thuộc với đời sống người Việt hiện tại, nhưng có thật chúng ta hiểu và sống đến nơi đến chốn các tác dụng của nó chưa, hay cũng chỉ lớt phớt trèo lên, quáng quàng phóng cật lực, tùy tiện nông nông như với rất nhiều thứ khác.
- Chiếc xe máy đã được nâng lên thành một hình tượng, như một điển hình của hàng triệu cư dân đô thị, nhưng với những số liệu cụ thể, chi ly, những phân tích khá tỉ mỷ, kỹ lưỡng khiến người ta dễ liên tưởng anh đang làm một tiểu luận xã hội về hiện tượng xe máy hơn là những chia sẻ văn học thiên về cảm xúc? Anh có ngại làm vậy sẽ thay đổi nhận thức của bạn đọc với những suy nghĩ quen thuộc về thể loại tản văn?
- Tôi chỉ sợ mình viết lớt phớt, qua quýt chứ được đánh giá là tỉ mỉ, kỹ lưỡng như anh nói thì quá tốt chứ! Tôi đã gạt ra khỏi tập sách nhiều bài có tính chất tản mạn cảm xúc để dành đất khắc họa chân dung một phương tiện làm nên lối sống và hành vi của người Việt. Viết lách cũng cần một thái độ duy lý và khoa học, những phẩm chất vốn dĩ khá yếu ở người Việt. Theo tôi, tản văn muốn hay còn phải chăm chút những chi tiết, và những số liệu cũng là những chi tiết phải mất công sàng lọc mới có được. Tôi nghĩ là chúng ta chưa thật sự khai thác hết thế mạnh của tản văn, thể loại có sức mạnh len lỏi vào mọi ngóc ngách các vấn đề xã hội. Không có giới hạn nào cho tản văn, và qua thời gian tản văn cũng đã thay đổi rất nhiều. Tôi có đọc một số tập sách của các tác giả nước ngoài, họ gọi chung là essay, gồm những bài cùng kiểu tản văn như ta vẫn quan niệm, có cả những bài tỉ mỉ như tiểu luận và lại có những đoản văn rất giàu chất thơ và suy tưởng.
- Nếu chỉ nhìn bìa cuốn “Xe máy tiếu ngạo” thì thấy nó khá… vênh với chất chung của cả cuốn sách, nhiều người thấy tiếc nuối vì giá như nó thuần Việt hơn… Anh có dụng ý gì khi thiết kế bìa khá hiện đại như vậy?
- Cùng kỳ lý thì cuộc sống vật chất của chúng ta sở hữu cái gì là thuần Việt nhỉ? Tôi tìm những hình ảnh về xe máy cũ, bắt gặp mấy tờ quảng cáo xe máy Vespa hay Honda thời những năm 1950 hay 1970 và thấy rất thú vị. Tôi muốn dùng một hình ảnh táo bạo hơn để thay đổi phong cách bìa hơi có phần hoài cổ của 3 cuốn sách trước.
- Những người viết thường chọn tản văn như một khúc nghỉ chân, còn anh chung thân với tản văn rồi, anh thường nghỉ chân bằng…?
- Như tôi đã nói, chúng ta chưa khai thác hết thế mạnh của các thể loại. Dường như đụng đến thể loại nào, chúng ta cũng sẽ thấy còn cả vạn lối viết chờ ở đó. Tư duy dùng một thể loại như tản văn để làm khúc nghỉ chân thật ra hơi bị nguy hiểm. Nói nghỉ chân dễ bị xem là viết lấy được hoặc “giáp hạt”. Nhà văn không có quyền viết dở hay quấy quá dù bất cứ thể loại nào. Tản văn cũng cần sự đầu tư, thậm chí cần một lượng kiến thức rất sâu để có tác phẩm hay. Trước khi đến với tản văn, tôi đã thử viết truyện ngắn, và gần đây tôi có quay lại với thể loại này. Tôi dự định tập sách tiếp theo sẽ là một tập truyện. Viết truyện đương nhiên không dễ dàng, nên khó mà nói rằng đây là khúc nghỉ chân.

Thứ Bảy, 23 tháng 6, 2012

Triết học ra sân

Cái này vui. Siêu dự bị Karl Marx khởi động rồi mà chẳng thấy vào đá là thế nào :-)



Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2012

Những bất trắc không ngờ


(Lời giới thiệu cho cuốn Những gặp gỡ không ngờ của Lê Minh Hà, NXB Trẻ 2012)


Lê Minh Hà nổi lên giữa những người viết văn hơn mười lăm năm qua nhờ khả năng vận dụng ngôn từ tinh tế và cảm xúc cồn cào ẩn chứa trong những câu chữ đôi lúc quá kỹ càng. Cái kỹ càng của một cô giáo Hà Nội dạy văn chở những ngấm ngầm nổi loạn, chất chứa dục vọng của tâm hồn khát sáng tạo. Tập truyện của Lê Minh Hà sôi sục những nỗi niềm về giấc mơ đã bị đánh mất, về tuổi trẻ Hà Nội những năm tháng chiến tranh và cuộc sống lưu lạc nơi xứ người. Những câu chuyện vừa đầy ắp sự nhân hậu vừa đắng chát bi kịch những thân phận nhỡ tàu.
Truyện của Lê Minh Hà thỏa mãn các khía cạnh thưởng thức, đánh động các giác quan của trí tưởng tượng. Văn của chị gọi về một mùa thu Hà Nội xao xác cũ, một mùa đông nước Đức trắng trời đất, trong những không gian gần gũi như hơi thở mà miên man vô tận những liên tưởng và hồi ức. Với Lê Minh Hà, viết truyện không đơn giản là kể một câu chuyện hấp dẫn mà còn là một hành trình tỉ mẩn mổ xẻ gan ruột mình. Cái nôn nao của một thời Hà Nội chuyển đổi cơ chế làm quay cuồng con người như nắng rát mưa dầm xứ này. Cái bức bối của những không gian sống tập thể chật chội hôi hám nhưng vẫn không lấp được những tình cảm chất phác ngày thường và vẫn có chỗ cho những cảm xúc sáng tạo ánh lên, như tiếng hát từ những bài hát đi suốt thời con gái của những nhân vật chính.
24 truyện ngắn trong tập Những gặp gỡ không ngờ có thể xem như bức chân dung khá hoàn chỉnh và sinh động về một Việt Nam đã tự thấy mình khác xưa, một Hà Nội dẫu khác nhiều nhưng vẫn cố cựu các giá trị và định kiến. 
Truyện Lê Minh Hà đã gặp được sự đồng cảm từ nhiều phía. Những người Việt trong nước gặp một không gian Hà Nội thời dĩ vãng đầy sống động mà chính họ đã từng bước ra từ đó. Những người xa xứ ở những miền đất khắp thế giới này gặp một phản chiếu cuộc sống của họ, dồi dào và phong phú ngôn từ bởi đi ra từ một nơi ngôn từ cuồn cuộn chảy hàng ngày là Hà Nội. Dường như cái cảm giác “cùng một lứa bên trời lận đận” đã tạo cho văn Lê Minh Hà một khả năng bao dung và cảm thông đặc biệt. Nhưng ở đấy vẫn có sự ngây thơ, sự cả tin và sự hăm hở dễ gặp những bất trắc. Những bất trắc thì luôn không ngờ.

Nguyễn Trương Quý

Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2012

Đừng tưởng thời xưa đã tốt lành hơn về đạo đức. Nhưng…


Đây là bài trò chuyện giữa tôi và anh Jason Gibbs trong tuần trước, đăng tại đây: http://soi.com.vn/?p=76054. Mọi người vào SOI đọc để xem các ý kiến phản hồi.

Trương QuýLần này anh trở lại Việt Nam đúng lúc truyền thông đang nóng lên với chuyện báo “lá cải”. Mặc dù chủ đề rộng ra cả các vấn đề xã hội như tiêu dùng, mại dâm… nhưng cái đinh của sự tranh cãi nằm ở chuyện những nhân vật của nó thuộc giới showbiz, mà ở Việt Nam thì lâu nay được xếp vào mục “Văn hóa-giải trí” của các báo. Showbiz Việt Nam đến giờ chủ yếu vẫn chỉ sôi động ở khu vực ca nhạc biểu diễn và các chương trình giải trí truyền hình. Anh có hình dung ra một khung cảnh Việt Nam như thế trước khi quay lại không? Nó có phải là hiện tượng đột biến gì so với lịch sử nền giải trí thế kỷ 20 của Việt Nam mà anh vẫn nghiên cứu bấy lâu nay không?
Jason Gibbs: Không có gì mới trên trái đất này – từ khi con người biết đọc đã có những văn phẩm với chất “lá cải.” Đọc các báo Việt Nam thời thập niên 1930-1940 có những người phàn nàn về “tiểu thuyết năm xu.” Sau 1954 thì có những độc gửi thư lên báo muốn xã hội cấm các tiểu thuyết “cao bồi” đối với trẻ em. Nhà chức trách càng cấm thì độc giả càng ham tìm và đọc. Vậy cho bán công khai là liều thuốc tốt chứ? Quan niệm của tôi là đọc cái gì cũng được miễn là đọc. Văn chương lá cải vẫn hay hơn nhiều trang web và trò chơi điện tử.
Trương QuýTrong một cuộc nói chuyện hôm qua, anh có nói ở Mỹ thì văn hóa đại chúng có sự biến đổi từ khi Britney Spears xuất hiện, và có vẻ cũng hơi… lá cải hơn trong thông tin đã được trực tuyến hóa toàn cầu. Chẳng lẽ Britney lại có “tầm vóc” đến thế? Hay cô ấy là gương mặt tất yếu của trào lưu?
Jason Gibbs: Từ khi có kỹ nghệ quảng cáo thì có khuynh hướng tìm kiếm phát hiện thứ có thể gây ấn tượng cho các đối tượng tiêu thụ. Trước trường hợp của Britney Spears thì 20 năm trước ở Mỹ đã có trường hợp của Madonna. Với điện ảnh Pháp thì đã có Brigitte Bardot, hay nói xưa hơn thì Hedy Lamarr. Có lẽ Britney Spears hơi khác vì cô ấy như một sản phẩm được tạo ra từ một xưởng kỹ nghệ, nhưng xưởng ấy sử dụng kỹ thuật quá công phu, hiện đại và có chất lượng tốt. Vì có hẳn một ê-kíp rất đẳng cấp đứng đằng sau thì tôi nghĩ rằng Britney Spears cũng có cái gì đó đáng để tìm hiểu.
Trương QuýĐiều này thì chắc không chỉ ở Việt Nam mà mọi nơi, đời sống giải trí với đời sống kinh tế xã hội và cả đời sống chính trị có hiệu ứng bình thông nhau. Ở Pháp, việc phu nhân Tổng thống là ca sĩ, người mẫu Carla Bruni cũng tốn giấy mực cho báo chí, còn ở Mỹ thì mỗi mùa bầu cử là từ giới truyền thông cho đến Hollywood lại bận rộn với việc ủng hộ ai và ra sản phẩm bày tỏ thái độ thế nào. Nhưng sự bùng phát của các tờ báo với những tin bài về “cướp, giết, hiếp” hay sao “lộ hàng” đến độ chóng mặt ở Việt Nam thì tôi liên tưởng đến hồi mới có món lẩu ở Hà Nội. Lúc ấy dường như mở cửa ra là thấy lẩu, từ lẩu Tứ Xuyên, lầu gầu bò, lẩu gà ngải cứu, lẩu ếch, lẩu riêu cá chép, lẩu lòng, lẩu nấm… Nếu tôi không nhầm thì trước những năm 1990, không mấy ai ở Hà Nội biết lẩu là gì. Mọi người quen với các món căn bản, rõ ràng, phở ra phở, cơm tám giò lụa hay các thức quà thức nhậu đơn giản, phức tạp nhất có lẽ là vài đĩa xào. Tôi nói hơi dài vậy để tự trấn an rằng, sự “bát nháo” hiện giờ chẳng qua như một món lẩu, rồi mọi sự sẽ lành mạnh trở lại, người ta sẽ tôn vinh những đêm nhạc giao hưởng vì chất lượng nghệ thuật thực sự chứ không vì có chân dài nào đi xem chẳng hạn. Liệu tôi có lạc quan quá không?
Jason Gibbs: Người tiêu thụ có nhiều chọn lựa – như thế chắc là tốt chứ? Tất nhiên vì có nhiều công ty và cá nhân đang cạnh tranh để lấy tiền của người tiêu dùng thì họ sử dụng đến nhiều cách (hay mánh khóe) để được lấy tiền ấy. Nếu họ quảng cáo theo cách chuyên nghiệp nhất, họ tìm cách để đi sâu vào tiềm thức của người tiêu thụ. Một lẽ dĩ nhiên, thành phần tiêu thụ quan trọng nhất hiện nay là lứa thanh thiếu niên. Với lứa tuổi mới lớn thì khám phá các đề tài về tình yêu và tình dục là một nhu cầu cao (dù nhu cầu ấy chỉ hiện lên trong tiềm thức). Vì vậy các cô “chân dài” có một sức quyến rũ khó tránh.
Còn đi sâu hơn nữa trong tiềm thức thì nhân loại vốn có gốc từ một xã hội đi săn (hay có thể “bị săn”) thì trí não của con người luôn luôn phải cảnh giác, suy xét đến hoàn cảnh của mình khi cảm thấy bị lâm vào cảnh nguy hiểm (quá trình đó sản xuất adrenaline, hormone cho tuyến thượng thận, có tác dụng kích thích – T.Q). Như vậy khó tránh khỏi việc mắt bị thu hút trước các chuyện đâm chém, đánh nhau, tai nạn, v.v… Điều tôi chưa hiểu là tại sao nhiều người cứ thích bị làm giật gân liên tục – tại sao không tẩy chay các tờ báo nhấn mạnh những điều kinh khủng trong xã hội?
Mặt khác là về các món ăn thì cũng thế – mọi món ăn thường là “biết rồi” – con người luôn hướng tới cái mới, dù cái mới không có gì mới mấy.
Trương QuýNếu nhìn vào chu kỳ phát triển của lịch sử văn hóa phổ thông, thì giai đoạn này của Việt Nam có thể học hỏi được gì từ quá khứ của các nước phát triển như Mỹ chẳng hạn?
Jason Gibbs: Đương nhiên là như vậy. Nhưng chính người Mỹ biết ít về lịch sử của mình. Đọc những tờ báo cũ là một cách rất hữu ích nếu đánh giá đúng cái thời của mình. Nếu các tờ báo đưa tin đúng thì xã hội nào cũng có rất nhiều chuyện không đẹp xảy ra – nhân loại vốn là như thế. Cũng có người phê phán mong muốn cải tiến xã hội sẽ thành tiến bộ hơn. Việc cải tiến ấy thì lại đến quá chậm (nếu như có đến).
Trương QuýĐiều đáng lo ngại trong tình trạng tràn lan của tin tức “phía dưới thắt lưng” là không có sự kiểm soát hay trông chừng nào đối với trẻ em. Theo Tổng Cục cảnh sát Phòng chống tội phạm – Bộ Công an, trong 5 năm từ 2006-2010, có 7.861 vụ xâm hại trẻ em, trong đó, tội phạm xâm hại tình dục trẻ em chiếm 58,8% số vụ xâm hại trẻ em. Có 2.709 vụ là tội hiếp dâm trẻ em và 2.718 trẻ em trong cả nước bị cưỡng bức bị phát giác. Tính bình quân, một năm có gần 1.000 trẻ em bị xâm hại tình dục.
Năm ngoái, vụ Lê Văn Luyện giết cả gia đình chủ hiệu vàng ở Bắc Giang khi mới 17 tuổi nên chưa bị khép tử hình đã gây dư luận nhiều chiều. Chưa có kết luận đúng sai nhưng ta đã có thể kiểm chứng ảnh hưởng của truyền thông. Năm nay, khi bị bắt vì một vụ giết người để cướp vòng bạc ở Hưng Yên, can pham là một thiếu niên mới 15 tuổi đã trả lời: “Anh Luyện cướp vàng, còn cháu chỉ cướp bạc.” Mức độ đậm đặc đến độ li kì của thông tin trên các trang báo giấy và mạng đã đem lại “kiến thức” cho các tội phạm trẻ mà không cần tham khảo đâu xa. Liệu có thể kết án chính truyền thông đã nhào nặn nên bối cảnh này không?
Jason Gibbs: Xin lỗi – tôi nghĩ rằng câu hỏi nằm ngoài phạm vi nghiên cứu của tôi. Nhưng cái gì thuộc về nguy cơ trong tổ ấm của gia đình sẽ luôn gây sự chú ý của độc giả / khán giả. Nhất là vì đạo đức trong gia đình là nguồn gốc của nhiều lo âu hiện nay. Nhưng đừng tưởng rằng thời xưa đã tốt lành hơn về đạo đức.
Trương QuýHiện tại đang có cuộc tranh cãi đổ lỗi giữa các báo “bảo vệ pháp luật” chuyên đưa tin sốc, nóng về các vụ việc phạm pháp và giới showbiz gây xì căng đan (tạm gọi là báo gây sốc) và các báo còn lại lên tiếng chỉ trích. Các báo gây sốc thậm chí còn nói rằng các báo chỉ trích hãy xem lại mình đã phục vụ được độc giả như mong muốn chưa, hay chỉ là sự vu khống và ghen ăn tức ở. Bởi vì báo bán chạy theo họ là phản ánh nhu cầu của độc giả trung thực, gây sốc cũng là để gây chú ý và nhiều khi là “cảnh tỉnh” dư luận. Trong khi đó, tôi biết rằng để đặt một nhà báo nào viết bài điểm sách rất khó. Đa phần là lấy nguyên thông cáo báo chí do nhà xuất bản hoặc công ty in sách phát ra, xào xáo lại rồi đăng. Đến mức giám đốc một công ty sách tư nhân rất uy tín đã nói với tôi, bây giờ những kênh quảng bá sách cổ điển như trên báo không còn hiệu quả nữa, và chính công ty anh cũng phải làm cả những dòng sách “rẻ tiền hơn” để nuôi những cuốn sách nặng ký, khó bán mặc dù chất lượng văn học thuộc dạng kinh điển. Tôi nghĩ không phải vòng vo, thực sự Việt Nam đang có cuộc khủng hoảng sâu sắc về tinh thần. Nó có thể là hệ quả của khủng hoảng kinh tế, nhưng chắc chắn nó là hệ quả từ một khủng hoảng đã lâu, khủng hoảng tri thức cộng đồng, mà sách vở hay báo chí là bề nổi dễ thấy nhất. Tôi rất muốn anh chia sẻ đôi điều về chuyện này ở góc độ một nhà nghiên cứu nhìn từ bên ngoài.
Jason Gibbs: Vai trò của một tờ báo (hay bất cứ văn hóa phẩm nào – hay nói sâu hơn, bất cứ sinh hoạt kinh doanh nào) trong một thời “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” là như thế nào? Có vẻ như câu trả lời ở Việt Nam (và nhiều nước khác) là làm giàu – kiếm tiền càng nhiều, càng nhanh thì càng tốt. Vì hoàn cảnh ở Việt Nam chỉ mới đây tạo điều kiện để làm giàu thì có lẽ người Việt vẫn “khát” tiền một cách gây tai hại cho mình và gây tai hại cho xã hội xung quanh. Nếu tiền bạc là nhất thì “chân thiện mỹ” ra sao? Chân thiện mỹ cũng là một nhu cầu của con người. Các ấn phẩm mà anh gọi là “rẻ tiền” rất dễ gần với độc giả, nhất là với độc giả trong một xã hội sống nhanh như Việt Nam hiện nay. Trong khi đó, đọc văn chương kinh điển thì lại đòi hỏi nhiều thứ ở người đọc.
Làm thế nào để tạo ý thức đọc sách trong một cộng đồng? Tôi nghĩ là phải cho đọc, đọc nhiều từ trẻ – và đọc cái gì cũng được. Có ai viết điểm sách cho loại văn chương bị coi rẻ? Không biết có văn chương rẻ tiền nào có những nét nên khuyến khích để thành “đắt tiền” hơn (về nội dung thôi – về giá cả thì cứ nên rẻ để đáp ứng nhu cầu của người bình dân đọc). Nếu có các trang báo điểm sách viết về cả văn chương rẻ và văn chương vừa (chưa phải là đắt) thì có lẽ độc giả của báo sẽ tìm đến các tác phẩm. Về văn hóa showbiz – thì các nghệ sĩ và khán giả thì không thể nào trẻ mãi – tất nhiên các nghệ sĩ và khán giả sẽ trưởng thành. Nhưng hành động “gây sốc” có thể thành mồi để rủ người bình dân đến với nhiều cấp độ văn hóa khác nhau.
 *
Jason Gibbs, sinh năm 1960, là nhà soạn nhạc, nghệ sĩ trình tấu kèn basson, tiến sĩ khoa Lý thuyết âm nhạc và sáng tác của Đại học Pittsburgh, hiện làm công tác thư viện ở Thư viện Công cộng San Francisco. Jason theo đuổi đề tài âm nhạc Việt Nam từ khi đến Việt Nam lần đầu năm 1993. Anh từng xuất bản những bài nghiên cứu về nhạc Việt trên nhiều tạp chí văn hóa nghệ thuật. Cuốn sách tập hợp các bài nghiên cứu của anh đã được in ở Việt Nam năm 2008 với tên gọi Rock Hà Nội và Rumba Cửu Long (Nguyễn Trương Quý dịch, NXB Tri Thức). Anh vẫn đang tiếp tục với các đề tài âm nhạc phổ thông Việt Nam và cộng tác viết cho một số báo của Việt Nam.

Thứ Sáu, 8 tháng 6, 2012

Cười với nhân gian trên... xe máy


Xin được quảng cáo thêm trước khi nhân dân lao vào xem bóng đá. Bài của nhà báo Thu Hà trên báo Tuổi Trẻ hôm nay.  
 
TT - "Dù sao thì trong các phương tiện lưu thông, xe máy vẫn là thứ rẻ nhất và hơn thế nữa, cơ động nhất. Thử nghĩ xem, Che Guevara mà dùng một chiếc xe hơi lên đường, có lẽ sự gần gũi của ông với những số phận dọc đường đã không như khi đi chiếc xe máy cà tàng. Cái nhìn của người phơi mặt ra hít bụi đường, sương gió, mưa tuyết chắc chắn là khác so với ngồi sau vôlăng...".


Sách do NXB Trẻ ấn hành - Ảnh: Nguyễn Khánh
Ðấy là Nguyễn Trương Quý - một người yêu Hà Nội tự nhiên, một người luôn "đi xe máy như một cảm hứng" - luận về chiếc xe máy - phương tiện thông dụng nhất của cư dân đô thị Việt Nam hôm nay.

Vẫn là chàng Trương của ba tập tản văn "đậm đặc chất thị dân", chính xác hơn là chất "Hà Nội thời mở rộng": Tự nhiên như người Hà Nội, Ăn phở rất khó thấy ngon và Hà Nội là Hà Nội; Xe máy tiếu ngạo - tập tản văn thứ tư của chàng kiến trúc sư viết văn duyên dáng này tràn ngập chi tiết nhỏ bé, vặt vãnh mà tinh tế, lấp lánh của đời sống thường nhật.

Từ giỏ hoa ngất ngưởng mà vẫn tỏa hương của một chị hàng hoa bán rong đến cảnh một gia đình bốn người chia nhau một suất KFC trên xe máy, từ niềm vui khốn khổ của anh chàng tuổi trẻ sành điệu dành dụm mua được chiếc Vespa cổ đầu tiên đến nỗi thờ ơ với những chiếc xe rất xịn sau này, vì chúng vẫn chỉ là... xe máy, Nguyễn Trương Quý đều gói ghém một cách nhẹ nhàng và khéo léo trong những bài viết dài vừa đủ thành một câu chuyện xinh xinh, nhưng lại rất tiết chế liều lượng vừa đủ để đọc, để nhớ, trong thời buổi văn chương báo chí đều phải chạy đua với các trang mạng, với Facebook, blog.

Sức hấp dẫn nhẹ nhàng mà khá bền (cho đến giờ phút này đã là tám năm từ khi Quý ra mắt tập tạp văn đầu tiên) của Nguyễn Trương Quý có lẽ còn ở sự hài hước nhẹ nhàng và nhân hậu của một công dân trẻ với đầy đủ trách nhiệm xã hội của mình - dù không hề lên gân hay tỏ ra như vậy.

Từ chuyện xe máy, không khó lắm để nhận ra những suy tư của một người trẻ về giao thông đô thị, về kinh tế thị trường và số phận của những cư dân bên lề đô thị mới, về sự lạnh lùng hay thói vô cảm đi kèm với tốc độ giao thông mỗi lúc một nhanh, và cả chất thơ khi chàng trai phố say sưa tả những con đường đi "phượt" khắp mọi miền đất nước của mình...

Vì thế đọc Quý rồi, hãy lên đường và cười với nhân gian, ít nhất bạn cũng sẽ giống Che Guevara ở điểm: cùng đi bằng... xe máy.

THU HÀ
(http://tusach.tuoitre.vn/ArticleView.aspx?ArticleID=495581&ComponentID=1)

Thứ Năm, 7 tháng 6, 2012

Con mèo đực

“Con mèo này đực mình ạ!” Thủy lật ngửa con vật ra, cười rinh rích. Con mèo trắng ngoạp vào tay cô, Thủy đau điếng đến phát khóc, phải buông ra. Thoát khỏi Thủy, nó chạy vọt lên gác. Thủy săm soi vết cắn, lầu bầu rủa, vội lao vào bếp lấy lọ nước rửa tay sát trùng.

Mạnh - chồng Thủy bắt con mèo về đã hai tháng nay để trị nạn chuột. Nhà vốn ở cuối ngõ, nơi nhà nào cũng tích trữ chồng chất những đồ cũ trên sân thượng, nửa đêm chuột chạy rầm rập ngoài ngõ, đi xe máy về thấy mắt chuột đỏ loe lóe phản chiếu ánh đèn. Từ ngày có mèo, cảm giác như yên tâm hơn hẳn. Đã vài bận Thủy phơi quần áo buổi sáng ở sân thượng reo lên hoan hỉ vì thấy xác chuột nằm tênh hênh. Con mèo lượn lờ quanh kêu ầm ĩ như thể đòi ghi công. Nhưng con này dữ quá. Yên xe máy của Thủy đã bị cào xước lung tung rồi. Những ngày mùa rét khi đi ngủ, hai vợ chồng phải đóng cửa buồng. Con mèo đứng ngoài hết cào cửa rồi gào inh ỏi đòi vào. Thủy sốt ruột, Mạnh bảo: “Kệ, kêu chán thì im.”

Sau mấy ngày để dành cơm cho mèo thì sự bất tiện xảy ra: không thể cho nó ăn buổi trưa khi nhà Thủy chỉ nấu cơm tối. Con mèo không chịu ăn cơm nguội. Thủy đi ra hàng bán đồ ăn cho mèo. Có loại bao bì màu vàng và màu tím. Thủy hỏi tại sao màu tím đắt hơn ba nghìn. Cô bán hàng liến thoắng: “Màu vàng chỉ có cá, còn màu tím có cả bơ, kem, rau, hải sản…” Thủy không kìm nổi cơn cười, có mà mèo vua Lê, mình ăn còn chẳng đủ chất được như thế. Suy tính một lúc, cô chọn màu vàng. Hơn vài nghìn mà được lắm thứ thế, khó tin lắm.

Vài tuần sau, Thủy để ý con mèo mỗi lần mở cửa là chạy vọt về đằng nhà hàng xóm. Xem ra con mèo đã lớn, đã lượn lờ với vài bóng mèo khác. “Nó hay đi quá mình ạ. Gọi cứ lờ đi. Thiến không nhỉ?” Mạnh lầm bầm: “Thiến là nó ngu đi đấy. Đang chạy nhảy khắp nơi, bỗng thành cái bị thịt, lờ đờ chán lắm.” Thủy cười sằng sặc, rồi cô đăm chiêu: “Nhưng cứ thả rông dễ bị bắt lắm. Mai em đi mua cái xích. Đằng nào cũng không để nó chạy lung tung, nhảy cả lên giường. Quần áo chăn chiếu nhà mình toàn dính lông mèo.”

Hôm sau Thủy ra chợ mua cái xích về. Cô đi găng tay, đổ cám ra bát, dứ dứ trước mặt con mèo rồi thận trọng bế nó lên, buộc xích vào cổ con vật. Như trêu ngươi, con mèo nấc lên mấy tiếng như bị hóc. Thủy vội tháo xích ra, nó vẫn khục khục đầy bất ổn. Cô hơi nghi, liệu con này có chơi chiêu khổ nhục kế không. Nhưng nó vẫn ngồi trên hai chân sau, rướn cổ về trước đến tội nghiệp. Cái xích lại được cất đi.

Tối hôm ấy, khi Thủy kể chuyện con mèo, Mạnh nhìn con vật chạy tung tăng, mặt anh đầy nghi hoặc. Như thường lệ, Mạnh đóng cửa buồng lại. Nhưng không thấy con mèo cào cửa hay kêu gào gì, Thủy dỏng tai để ý. Hai vợ chồng nhìn nhau như cố mong đợi người kia có phán đoán gì chuẩn xác. Một tiếng “meo” vẳng từ xa lại. Cả hai thở phào. Mạnh nhảy xuống giường, mở cửa rồi cứ để thế, leo lên giường. “Mình mà không tình cảm với nó, nó đi mất.” Thủy đồng tình, thấy chồng đáng yêu quá đi mất.

Sáng hôm sau, Thủy thấy cái gì mềm mềm ở dưới chân. Thì ra con mèo đã rúc vào dưới chăn ở cuối giường. Mạnh vẫn nằm yên. Thủy thấy thật dễ chịu, cô mỉm cười mơ màng.

Lúc bước đến cái xe máy dựng ở phòng khách để dắt đi làm, Thủy bỗng trượt chân ngã đánh rầm. Cô chỉ kịp kêu oái một cái. Mạnh đang tắm trên gác, lại còn hát gì đó. Thủy tức giận, gào lên: “Anh Mạnh!” Phải đến ba lần, mới thấy Mạnh chạy xuống, tay cầm cái khăn lau tóc. Con mèo chạy quẩn quanh chân anh, vẻ vô sự.

“Sao lâu thế! Em khéo trật khớp rồi đây này!”

“Hậu đậu cho lắm vào! Xem nào… Không sao đâu!”

“Con mèo nhà anh ý! Nó tha miếng giò nhà ai về đây này.”

Lúc này Mạnh mới thấy một khoanh giò lụa bị gặm nham nhở ngay chỗ vết trượt của Thủy. Anh vội lấy cái bao ni lông, túm lấy miếng giò rồi bỏ tọt vào thùng rác. Con mèo đang lơ vơ trên cầu thang bị Mạnh chộp cổ rồi bị xách lên gác. “Xích mày lại! Có phải đói kém gì đâu hả! Cơm nhà không ăn...” Dù vẫn đau nhưng Thủy cũng phải bật cười.

Khu nhà Thủy ở thật đa dạng về thành phần. Nhưng Thủy ấn tượng nhất về bà béo ở cách đó mấy nhà. Bà ta người to, giọng nói oang oang, có mặt ở bất cứ sự kiện gì của khu. Từ hồi Thủy về đây ở sau khi cưới, bà ta đã nhanh chóng tới bắt chuyện. “Mày cứ để xe đấy. Đéo đứa nào dám lấy. Khu này toàn dân số má, kiềng nhau cả. Cô cũng đứng mãi bến Nứa với Lương Yên ngày xưa đấy.” Thủy thấy bà ta cứ giông giống những bà chuyên xem tướng. Đôi mắt cứ dài dại mà đảo rất nhanh. Như thể bà ta nói câu nào điểm huyệt người ta được câu đấy. Thủy toàn kiếm cớ bận để rút lui nhanh.

Lần duy nhất Thủy nói chuyện nhiều với bà ta là hôm cô đi xin xỉ than về làm ổ cho mèo. Bà ta vẫy cô lại, bảo: “Mày lấy xỉ nhà cô ấy, tao đỡ phải đổ.” Nói là làm. Hôm nào ở cửa nhà Thủy cũng có một hai viên xỉ than tổ ong. Lắm hôm không kịp đập xỉ vào chậu thay cho mèo, hoặc đi công tác vài hôm là vạt tường trước cửa thành bãi xỉ. Ai đó còn tiện tay vứt túi ni lông với vỏ chuối vào. Thủy toan sang bảo bà béo là thôi không lấy xỉ nữa, nhưng Mạnh bảo thôi cứ chịu khó dọn vậy, rồi độ hai ba tháng vãn chuột thì giải tán mèo.

Có lần Thủy tình cờ gặp bà béo đi ăn cưới đâu về. Hôm đấy là lần đầu tiên Thủy nhìn thấy bà ta trang điểm. Cái mặt to bự tô son đỏ chót, hai lông mày được kẻ đậm như hai con sâu róm. Đã vậy lại mặc một cái áo dài tím vằn vện, cái vai u lên như muốn làm toạc những đường may. Thủy chỉ dám lí nhí chào rồi đi mau để khỏi bật cười. Đúng hơn là Thủy thấy căng thẳng, như thể sợ bà túm lại để báo một sự cố nào đấy.

Hôm nay, thế nào mà Thủy lại chạm trán bà béo. Bà ta cười cười khiến cô chột dạ. Y như rằng. “Mèo nhà mày ăn vụng nhà tao nhé. Tao bắt được nữa là đập chết đấy.” Thủy đỏ mặt, vội xin lỗi rồi nói nhà cháu đã xích lại rồi.

***
Con mèo bị xích một ngày, có vẻ khó chịu ghê gớm. Cảnh hai vợ chồng phải nựng rồi nói chuyện với nó khiến Thủy thấy thật kỳ cục. Sau khi ăn tối xong, hai vợ chồng bật tivi xem phim. Bỗng có một tiếng choang. Cả Mạnh và Thủy chạy vội lên gác, thấy cái đĩa đựng cám lăn sang một bên, những hạt cám nâu vung vãi. Chậu xỉ tung tóe, mùi khẳn sực lên. Cái xích đã bị đứt. Con mèo đang lấy đà nhảy qua lỗ thông hơi. Mạnh vồ lấy nó nhưng con mèo đã kịp chui tọt ra ngoài. Hai vợ chồng hì hục thu dọn, bật quạt thông gió cho hết mùi.

Lúc đã về giường, Thủy rúc vào người Mạnh, rủ rỉ: “Mình nhớ truyện Bố Già không. Khéo sáng mai ra thấy cái đầu con mèo vứt trước cửa thì khiếp nhỉ.” Mạnh lầm bầm: “Đến là hay tưởng tượng. Bà béo ấy dọa thế thôi. Thôi ngủ đi. Mất thì chịu chứ làm sao bây giờ.”

Hóa ra con mèo vẫn về bình thường. Nó ngồi trên cái ghế, ngoe nguẩy cái đuôi nhìn Thủy đang đứng trên cầu thang nhòm xuống lúc sáng hôm sau. Tiếng kêu meo nghe thật vô tội.

Hôm đấy là thứ Bảy, cả hai đều ở nhà. Mạnh đã thửa cái xích khác to hơn, loại dành cho chó phốc. Các lỗ thông hơi cũng bị chèn lại. Hai người thử nghiệm cứ vài tiếng xích lại thả con mèo ra. Có vẻ như cách này khá hiệu quả. Con mèo đã chịu nằm yên, không lồng lộn như trước.

Buổi trưa Chủ nhật, hai vợ chồng về nhà bố mẹ Thủy ăn cơm. Mạnh thắc mắc xem thiến mèo ở đâu. Mẹ Thủy đang xỉa răng, nói: “Ngày trước có ông Minh ở ngõ ngoài kia cứ một tay tóm gáy mèo, tay kia tóm hai chân sau, dí vào khe cửa rồi sập một phát…” Mạnh cười ngặt nghẽo. Thủy lườm mẹ: “Khiếp! Mẹ ơi, vừa ăn xong…” Mạnh được thể, vừa nói vừa nháy mắt với Thủy: “Ôi tiện quá mẹ nhỉ!” rồi làm mặt kinh sợ trêu vợ. Thủy huých tay chồng: “Hay gớm! Đau có há mồm được không.” Bà già vẫn thản nhiên cắm cắm cái tăm vào kẽ răng đã thưa: “Thế mà lão ấy cũng đắt khách phết.”

Từ lúc về nhà, Thủy không kiềm chế được việc nhìn con mèo. Con vật có cái mặt ngây thơ với cái mũi hồng hồng, mắt xanh như hai cục thủy tinh giữa lớp lông trắng, nhưng cái đuôi cứ cong vổng lên, để phơi ra hạ bộ thật tục tĩu. Nó lại còn nằm ngửa ra liếm láp nữa. Lúc đóng cửa lại, bất giác Thủy sờ tay lên cạnh cửa. Cô rùng mình.

Tối hôm ấy, lúc Mạnh ấp lên người Thủy, cô cố thả lỏng đầu óc nhưng hình ảnh cái cửa cứ lởn vởn trong đầu. Tiếng ngoao ngoao của con mèo không hiểu có thật hay không mà cứ ong ong. Cô bật cười.
Mạnh cáu kỉnh, nằm vật ra. “Bị sao thế?”

“Hí hí. Không, chả sao cả.” Thủy ấp mặt xuống gối, cắn môi để nén trận cười.

***

Liên hệ mãi, cuối cùng vợ chồng Thủy cũng gọi được bác sĩ thú y đến nhà. Mặc cho Mạnh càu nhàu, Thủy nhất quyết đi ra khỏi nhà để khỏi phải nhìn thấy cảnh xử lý con mèo. Cô dặn chồng khi nào xong việc nhắn tin thì cô về. Bác sĩ bảo chỉ mất độ nửa tiếng là xong.

Thủy tranh thủ đi siêu thị. Một tiếng sau, cô đã chất các thứ vào cốp xe máy, nhưng vẫn chưa thấy Mạnh nhắn tin. Cô hơi sốt ruột, gọi điện ngay. Không thấy Mạnh trả lời. Cô nhắn tin, rồi đi chầm chậm chờ đáp lại. Đi qua hai ngã tư, vẫn không thấy gì, Thủy sinh nghi. Cô quyết định phóng xe về nhà.

Càng về gần đến nhà, Thủy càng thấy hồi hộp. Tự nhiên tim cô đập thình thịch. Thủy ngây ra khi dừng xe trước cửa. Lần cửa gỗ bên trong mở toang, chỉ có cánh cửa sắt có khóa. Hẳn Mạnh đã chạy đi đâu đấy rồi. Những vết máu nhỏ còn dây trên nền xi măng ở bậu cửa. Thủy bỗng thấy buồn nôn.

“Mạnh nó đi tìm mèo rồi.”

Cái giọng quen của bà béo cất lên. “Con mèo nhà mày kêu điếc lỗ nhĩ hàng xóm, cào xước hết tay bác sĩ. Xong phát là nó chạy phắt.”

“Nhà cháu có xích cơ mà nhỉ.” Thủy cố kìm cơn buồn nôn.

“Chắc nó giật đứt cũng nên.”

Thủy mở cửa sắt. Bà béo định quay về, bỗng nhìn nhìn Thủy.

“Mày làm sao thế hả cháu?”

Thủy không trả lời, mím môi cười để khỏi ộc ra, tụt dép, vội vàng chạy vào toa lét.

Nôn xong, Thủy đi lấy nước súc miệng, cô chợt thấy điện thoại của Mạnh. Thì ra anh để quên ở nhà. Cô dắt xe, cất thức ăn vào tủ lạnh rồi lôi cái chậu nhựa ra lấy nước. Cô mím môi lấy đôi găng cao su xỏ vào tay, cầm bàn chải cọ vết máu ở bậu cửa rồi dội nước cho sạch. May mà bà béo đã về, không thì màn hỏi han chắc lại dài. Xong việc, Thủy thở dốc, vẫn để cửa mở rồi ra sofa ngồi. Thủy mở điện thoại của Mạnh ra xem có gì “hay hay” không. Chẳng mấy khi có cơ hội kiểm tra. Nhỡ đâu có chuyện. Nhưng chẳng có tin nhắn nào đặc biệt hay số lạ gọi đến ngoài mấy cuộc gọi nhỡ của cô.

“Đang làm gì đấy?”

Thủy giật bắn mình, đánh rơi cái điện thoại xuống sàn nhà. Mạnh mặc quần đùi áo may ô, tay xách hai chai bia, đứng ở cửa tròn mắt nhìn cô.

Thủy cười chống chế. “Em gọi mãi mà không được, tưởng ở nhà làm sao. Thế mèo đâu?”

“Chắc đau quá, chạy mất rồi. Tìm suốt chẳng được. Thôi chờ vậy.”

***

Đã gần một tuần, con mèo vẫn chưa về. Thủy đã đi khám và xác định có bầu. Mạnh dẹp đám bát thức ăn, chậu cát của mèo vào một góc sân thượng để dành chỗ cho cái máy sấy quần áo mới, như Mạnh nói là “để sấy tã cho em bé.” Đột nhiên mối quan tâm của mọi người xung quanh Thủy chuyển từ con mèo sang đứa bé tương lai. Nhà cửa tự nhiên sạch sẽ hơn, không còn cảnh xỉ than chất đống ở cửa, cũng không còn cái mùi chua chua khăn khẳn của mèo. Sự biến mất của con mèo vô tình giải quyết tất thảy sự rắc rối bấy lâu nay. Thủy bỗng ăn ngon miệng và khỏe lên, đến mức bà béo cũng phải nhận xét “cái Thủy béo trắng ra như con muồm muỗm”.

Hà Nội vào đợt nóng như thiêu, Thủy nghỉ ở nhà, định tranh thủ dọn dẹp và giặt giũ chăn màn trước khi bụng to hơn. Khi cô mở cửa ra sân thượng, bỗng một mùi thối sực ập đến làm cô xây xẩm, khuỵu xuống. Cô vội đóng cửa lại, trấn tĩnh rồi đi xuống nhà lấy khẩu trang bịt vào mũi và miệng. Cô cẩn thận lấy nước hoa xịt vào để át cảm giác ghê ghê đi. Cô thủ sẵn bình xịt thơm toa lét rồi thận trọng trở lại sân thượng. Không có dấu hiệu gì khả nghi. Cô nhìn lên mái tôn đang nóng giãy vì nắng hun hầm hập. Cô không muốn leo lên mở nắp mái ra kiểm tra, nhưng trí tò mò trỗi lên làm cô không yên. Cô ngần ngừ rồi quyết định chờ Mạnh về.
Nhưng cái mùi khó chịu cứ quanh quẩn. Còn nửa ngày nữa thế này chắc Thủy phát điên mất. Cô lại quyết tâm lần nữa. Để chắc chắn an toàn, cô kéo cái đệm xuống dưới chỗ cái thang rồi phủ tất cả chỗ chăn bông lên. Rồi mặc áo chống nắng, đeo thêm kính râm, cô leo lên cái thang sắt, mở nắp tôn ra.

Thủy rụng rời khi thấy xác con mèo nằm dưới ánh nắng chói chang và trong hơi nóng ngùn ngụt bốc lên từ mái tôn. Xung quanh nó là mấy phần còn lại có lẽ của một con chuột. Thủy run bần bật nhưng cố tự nhủ “bình tĩnh, bình tĩnh” khi leo xuống. Cô không kìm được, ồng ộc nôn ra đống chăn đệm bên dưới. Cô bật khóc, vội lấy điện thoại gọi Mạnh về.

***

“Anh chả thấy gì cả. Thề!”

“Chẳng nhẽ mắt em trông gà hóa cuốc!”

“Có cái để hóa cuốc đã hay, đây chẳng có cái gì hết. Mái tôn sạch trơn!”

Thủy thút thít khóc. Mạnh vội ôm lấy cô.

“Mình có bầu, ốm đấy mà. Đã bảo ở nhà thì nghỉ thôi chứ ai bắt làm cô Tấm thế.”

“Thế con mèo nó đi đâu nhỉ? Hay hồn nó về ám em?”

“Tưởng tượng nhiều quá đấy. Mai người ta đưa mình đi khám.”

“Em sợ lắm.”



Mấy tuần liền sau đó, Thủy không dám lên sân thượng. Thậm chí cô còn sợ về nhà một mình. Cho đến một hôm khi hai vợ chồng đi làm về, bà béo hàng xóm thông báo phát hiện ra con mèo bị một nhà đầu ngõ bắt bán cho bọn mua mèo. Sự tình được phát hiện là nhờ bà ta nhân một hôm hỏi xem mua mèo ở đâu, mấy người đầu ngõ mới nhắc đến chuyện “con mèo trắng hôm trước đẹp quá vừa bán.”

“Bọn mày phải đi báo tổ dân phố với công an khu vực đi chứ.”

Hai vợ chồng nhìn nhau.

“Thôi cô ạ, chuyện cũng đã xảy ra rồi. Có mỗi con mèo cũng chẳng phải làm to tát. Chắc người ta không biết là mèo nhà cháu.”

Bà béo vẫn khăng khăng nói phải đi tố cáo, nói “bọn mày không nói thì để cô nói. Nhất định họp tổ dân phố phải làm cho ra nhẽ. Nay ăn trộm mèo, mai ăn trộm cái khác thì sao.” Thủy lấy hết sức xoa dịu bà ta. Cô nghĩ, giờ còn hơi sức đâu làm tường trình với lại kiện tụng gì chứ.

Đêm hôm ấy, Thủy lại mơ thấy mèo./.


(c) Nguyễn Trương Quý

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2012

Ét-xây

Đang đọc lăng nhăng, chợt thấy có đoạn: [Fiction] can be written in the form of either poetry or prose. Rồi có thêm: It is commonly used, for example, in literature, newspapers, magazines, encyclopedias, broadcasting, film, history, philosophy, law and many other forms of communication. Rồi sau đấy cũng liệt kê rõ thêm bằng cách dùng cụm từ ghép "prose fiction" để phân biệt với verse fiction/poetry (văn vần/thơ).

A, nghĩa là chỉ văn xuôi nói chung, như vậy dùng prose để dịch tản văn là có vẻ không chính xác. Tản văn trong tiếng Anh chắc phải là một từ nhỏ hơn prose. Lâu nay không hiểu sao lại dùng prose nhỉ.

Tản văn theo nghĩa của Tầu xưa thì theo Từ điển bách khoa toàn thư VN: TẢN VĂN - một thể văn không vần, không đối ngẫu như thể phú, viết bằng văn xuôi thuần tuý. TV có trước đời Tần, gọi là TV Tiên Tần. Có TV lịch sử ("Tả truyện", "Chiến quốc sách"), TV chư tử ("Luận ngữ", "Mạnh Tử", "Trang Tử", vv.). Đời Đường, Tống, gọi là "cổ văn". Có những nhà văn nổi tiếng như Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên, Âu Dương Tu, Tô Thức, vv. Đến đời Thanh, vẫn có người sáng tác bằng thể TV. (http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param=1621aWQ9NDk0NSZncm91cGlkPSZraW5kPXN0YXJ0JmtleXdvcmQ9dA==&page=3)

Theo nghĩa này thì nó cũng giống tản văn bây giờ ở VN, nhưng không nói rõ là hư cấu hay phi hư cấu. Trong khi đó, phân biệt điều này có vẻ quyết định để xếp một thiên văn xuôi này là tản văn hay truyện ngắn, thể loại thường có độ dài tương đương. Ở đây, tản văn dùng đại diện cho cả tùy bút, tạp văn, tạp bút... Cá nhân mình không thích từ tạp lắm. Có phải bạ gì cũng đưa vào mà viết được đâu?

Mình đã từng dùng 1 từ là tiểu luận để đặt cho tập sách đầu tiên. Cái tên gọi này trong tiếng Việt có vẻ gây cảm giác hàn lâm và không hấp dẫn lắm, như một thể loại nghiên cứu trong trường ốc. Nhưng hãy xem các từ điển nói nó là gì:

Từ điển Bách khoa toàn thư VN: TIỂU LUẬN - thể loại văn nghị luận ngắn gọn súc tích, bàn về một vấn đề văn học, chính trị, xã hội, có tính chất bước đầu tìm hiểu, khi chưa thu thập được đầy đủ tài liệu. Ngày nay, TL dùng thiên về phê bình văn học, có khi dài 40, 50 trang giấy in, đề cập nhiều tư liệu về tác giả, tác phẩm và cách đánh giá, nhưng vẫn hàm ý là chưa đầy đủ, chưa thật chi tiết, giống như một phác thảo trước khi phát triển thành một tác phẩm phê bình, nghiên cứu hoàn chỉnh. Năm 1933, nhà phê bình Thiếu Sơn dùng từ "Cảo luận" ("Phê bình và cảo luận") để chỉ thể loại này (cảo có nghĩa là bản thảo), sau đó được thay bằng từ "tiểu luận" cũng hàm ý khiêm tốn như thế.

Trong khi đó, các từ điển Anh-Việt hay Việt-Anh đều dịch tiểu luận là essay.

Theo Britannica:
essay, an analytic, interpretative, or critical literary composition usually much shorter and less systematic and formal than a dissertation or thesis and usually dealing with its subject from a limited and often personal point of view.

Theo wikipedia:
An essay is a piece of writing which is often written from an author's personal point of view. Essays can consist of a number of elements, including: literary criticism, political manifestos, learned arguments, observations of daily life, recollections, and reflections of the author. The definition of an essay is vague, overlapping with those of an article and a short story. Almost all modern essays are written in prose, but works in verse have been dubbed essays.

The word essay derives from the French infinitive essayer, "to try" or "to attempt". In English essay first meant "a trial" or "an attempt", and this is still an alternative meaning.

Từ điển Bách khoa toàn thư VN có vẻ như khuôn tiểu luận vào thành một thể loại nghị sự có tính chất nghiên cứu, cho nên người đọc VN dễ nghĩ tiểu luận theo hướng mô phạm là vậy. Và dường như còn thu hẹp lại ở phạm vi phê bình văn học. Điều này cho thấy quan niệm khá cổ điển khi lấy văn chương làm trung tâm kiến giải đời sống.

Còn theo 2 từ điển tiếng Anh kia thì thể loại essay có thể học thuật hay không không quan trọng, miễn là nêu được quan điểm cá nhân và góc nhìn riêng của người viết. Thậm chí còn nói rõ, định nghĩa của essay là mơ hồ, giao thoa với cả một bài báo hay truyện ngắn (xem đoạn gạch chân). Nghĩa ban đầu của từ này đi ra từ một từ tiếng Pháp, có nghĩa là "thử" (có lẽ cũng gần với tùy?). Nhưng nghĩa xưa không quá quan trọng với ứng dụng bây giờ.

Vậy dịch tréo giò tản văn = essay được không nhỉ?

Cho đến năm ngoái, bạn Khuê Việt có tặng 2 cuốn sách của Don Barthelme: The Teachings of Don B.: Satires, Parodies, Fables, Illustrated Stories, and Plays of Donald Barthelme Not-Knowing: The Essays and Interviews of Donald Barthelme. 2 cuốn sách chữ nhỏ, nhiều hình vẽ, nhưng khó đọc kinh khủng vì tiếng Anh của một bối cảnh đời sống quá xa lạ, những trang The New Yorker của mấy thập niên trước, đọc như chuyện trên cung trăng, mãi vẫn chả hiểu, tất nhiên là tiếng Anh của mình tệ hại nữa đi :-) Phải gác lại một năm không sờ đến, nay gặp lại định nghĩa giữa đường này, hôm nào phải mang ra tập đọc lại xem sao. 



Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ