Thứ Sáu, 17 tháng 7, 2009

"Phai bạc áo hào hoa"

.
Có thể nói cùng với sự leo thang của chiến tranh phá hoại miền Bắc của không quân Mỹ, ca khúc nhạc đỏ càng ngày càng tăng cường chất hùng tráng và hình thành một cảm hứng trữ tình cách mạng. Việc đáp ứng tuyên truyền được phản ánh đậm nét qua các "địa phương ca", "ngành ca", "hiện tượng ca", mà ở mỗi chủ đề, các nhạc sĩ đều khai thác triệt để các đặc điểm riêng. Chỉ đạo là một chuyện, thành công lại là chuyện khác. Vì sao khi đất nước đã hết chiến tranh, kinh tế khá hơn, những bài hát đặt hàng lại hiếm có thành quả như trước? Có thể lý giải là vào thời điểm của chúng, những ca khúc tuyên truyền thành công còn do cộng hưởng của tâm lý cộng đồng. Cái sức mạnh của David hàm chứa sự lãng mạn và vượt khuôn khổ, của một dân tộc thức tỉnh bản ngã đối mặt với gã khổng lồ Goliath gây nên men say kích thích sự sáng tạo nơi nhạc sĩ và hưởng ứng nơi người nghe. Có thể sự thức tỉnh ấy lại hóa ra là phản ánh một xu hướng sẽ còn gây tranh cãi, một điều đã phải trả giá đắt, nhưng về mặt ý thức, nó phản ánh chân thực tình cảm con người.

Tuyên truyền không cứ phải là nói mãi cũng thấm hay là áp đặt mà thành được ngay, ở đây yếu tố thẩm mỹ được các nhạc sĩ tuân thủ để "tấn công" vào nhận thức đã có của công chúng. Ví dụ, người lính ra đi đánh giặc tiếp nối hình tượng tráng sĩ xưa giết thù, anh trai làng đi bộ đội, bỏ lại "đồng thơm rạ lúa" và người con gái ở nhà đóng vai Châu Long, ắt là dễ chia sẻ với số đông người nông dân. Hoặc những phép tu từ văn chương được dùng trong lời hát tiếp nối những thẩm mỹ dân gian cũng như cả tiền chiến (dù bị che mờ đi), tạo nên những vẻ đẹp gần gũi.

Chẳng hạn, câu "ta đi nhằm phương Nam gió ngàn đưa chân ta về quê hương" thực tế rất tương đồng với lời ca tiền chiến, về những chủ đề tha phương, dấn thân, quê hương, rồi những hình tượng lãng mạn như gió ngàn, chân ta. Thực tế đó là gu thẩm mỹ đã có từ lâu của người Việt. Cho nên dù các nhà phê bình hồi trước có phủ nhận hoặc đánh giá thấp nhạc lãng mạn, thì dấu vết của nó luôn có ở thời sau, chỉ là bằng phương pháp thể hiện khác như tiết tấu, giai điệu và mật độ thấp hơn.

Mặc dù rộng khắp nhiều lĩnh vực và địa điểm, nhưng nổi lên là các địa danh Hà Nội, Trường Sơn, các vùng sản xuất trọng điểm như vùng than, khu công nghiệp, các ngành kinh tế lớn lúc ấy, cũng như các ngành phối hợp quan trọng như giao thông, vận tải.

Bài hát nổi bật về địa phương sau Quảng Bình quê ta ơi có lẽ là Bài ca Hà Nội (1966) của Vũ Thanh. Bài hát khai thác được những cặp hình tượng đầy tính thần thoại, nhưng bằng các nét mô tả chi tiết, giản dị:
- Ơi cô gái ơi! Súng trên vai sao vuông đầu mũ
Em đi về đâu mà mắt em tươi sáng
Em đi về đâu mà chân bước hiên ngang
Những hôm miệt mài trên bãi tập

Chiến công này hẳn có tay em
- Ơi cô gái ơi! Lúa lên xanh tươi trên đồng lúa

Khi bom vừa rơi và khói bay trong nắng
Anh công nhân điện vẫn sáng trong đêm

CÔ GÁI LÁI XE, CÔ GÁI MỞ ĐƯỜNG

Công thức "cô gái chiến đấu và lao động công nghiệp" được các nhạc sĩ khai thác khá dày như là một biểu tượng kép: người phụ nữ ba đảm đang, truyền thống mà hiện đại, hàm ý bình đẳng giới cũng như phản ánh tính chất phi giới tính của chiến tranh, vốn hút đàn ông ra tiền tuyến và người phụ nữ hậu phương phải đảm nhiệm vai trò của nam giới. Nhạc vàng có bài "Anh tiền tuyến, em hậu phương" (Minh Kỳ, 1967), nhưng người phụ nữ ở đấy mềm yếu, không hành động gì ngoài chờ đợi "em mong anh về bao rộn ràng... hòa theo cung đàn có lời ca nhịp nhàng". Còn ở miền Bắc, hình tượng người phụ nữ như thể bước ra từ những bức tranh cổ động rắn rỏi:
- Ơi cô gái lái xe trên cảng!
Xe em bon nhanh và tóc em bay trên sóng biển quê hương

(Bến cảng quê hương tôi, 1967, Hồ Bắc)
- Xanh vàng xanh trắng xanh
Tay đưa chổi nhanh nhanh
...
Đây người thợ kiến trúc

Đi xây đẹp cuộc đời

Em người thợ quét vôi
Làm đẹp cho thành phố

(Em là thợ quét vôi, 1966, Đỗ Nhuận)
- Ôi!... Cô giáo Tày chăm quá Đảng đưa lên đây giúp người nghèo
Từ bàn tay cô dựng lên ngôi trường mới đấy

Tay đóng bàn tay đóng ghế

Tay cầm sỏi tay cầm đàn

(Cô giáo Tày cầm đàn lên đỉnh núi, 1962, Văn Ký)
- Một cô gái như em, từ một xóm nghèo Hà Nội
Đã vươn lên, đã vươn lên
Thành người giáo viên trong thời đại mới
(Em đứng giữa giảng đường hôm nay, 1966, Tân Huyền)
- Thay trai nay gái đua tài
Ruộng đồng quê ta mương máng dọc ngang

Nước đủ phân gio nhiều bón chăm sớm chiều
bội thu
chiêm mùa chắc bông mảy đều

(Đường cày đảm đang, 1966, An Chung)
- Cây súng thép khoác bên mình ta xốc tới
Vẫn không có quên tình yêu ngô lúa sắn khoai
Vui biết mấy mỗi khi giành năng suất mới
Thức qua suốt đêm dài nhìn thay máy cùng vui
(Bài ca phụ nữ Việt Nam, 1966, Nguyễn Văn Tý)
- Hỡi ai đã đi năm châu bốn biển
bạn hỏi có gì đẹp trong người con gái Việt Nam
Đẹp lắm chứ anh hùng lắm chứ
thời đại chúng tôi thật là vẻ vang
từng cây lúa từng cây súng dâng tự hào cùng cô gái Việt Nam
(Hai chị em, 1965, Hoàng Vân)
Tôi có hỏi cảm hứng khi viết bài Hai chị em như thế nào, Hoàng Vân có trả lời đó là lần ông đi thực tế ở Thái Bình cùng với Chế Lan Viên, Văn Cao. Ở nhà người chủ mà các ông ngủ nhờ, có tấm ảnh lịch chụp dũng sĩ Kan Lịch và một cô nữa (tôi quên mất). Chỉ từ câu nhận xét của Văn Cao: "trông ảnh cũng đẹp nhỉ" mà Hoàng Vân có ngay cái tứ để làm nên ý "có gì đẹp trong người con gái VN". Thật siêu!

Rồi chị em cũng tham gia chiến trường, tạo nên công thức anh lái xe - em mở đường, anh sườn tây - em sườn đông:
- Tiếng hát ai vang vọng cây rừng
Phải chăng em cô gái mở đường

Em đi san rừng, em đi bạt núi

Em như con suối nước chảy không ngừng

(Cô gái mở đường, 1967, Xuân Giao)
- Rút sợi thương ấy mấy chằm mái lợp
Rút sợi nhớ ấy mấy đan vòm xanh

Nghiêng sườn tây mà che mưa anh
Nghiêng sườn đông mà xòe bóng mát

(Sợi nhớ, sợi thương, Phan Huỳnh Điểu, thơ Thúy Bắc)
- Hòa tình em từ nhiều viên đá nhỏ
Đêm đêm lát trên đường quê nhà
Tình nghĩa quê em sáng tỏ

Như ánh trăng đêm rằm

Tiền phương! Tay lái mang tình em đảm đang

(Chào em cô gái Lam Hồng, 1968, Ánh Dương)
- Đường Trường Sơn bao đêm em đi mở đường Cho từng chuyến xe anh qua
(Đường Trường Sơn xe anh qua, Văn Dung)
- Trường Sơn Tây anh đi
Thương em bên ấy mưa nhiều, con đường gánh gạo
Muỗi bay rừng già cho dài tay áo

Hết rau rồi em có lấy măng không

...Biết lòng anh say miền đất lạ

Là chắc em lo đường chắn bom thù
Em xuốn núi nắng về rực rỡ

Cái nhành cây gạt mối riêng tư

(Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây, 1968, Hoàng Hiệp, thơ Phạm Tiến Duật)

TRƯỜNG SƠN - TRỮ TÌNH

Trường Sơn thành đề tài thu hút gần như mọi nhạc sĩ miền Bắc. Tâm thức David ở đây là cách tiếp cận với cái nguy hiểm mang màu sắc cổ động. Có người sau này hoặc ở phía khác cho rằng đó là nhồi sọ, nhưng thực tế nhiều ví dụ đã cho thấy, việc trang bị một loại vũ khí tinh thần như thế cũng quan trọng ngang với có đủ đạn dược. Thành công của người chiến thắng là họ đã sử dụng đúng. Các nhạc sĩ cũng như người ra chiến trường chia sẻ với nhau cái lòng tin khá là giản đơn của những David, ta có chính nghĩa là ta thắng. Xem những phim hành động người hùng của Hollywood thì cũng thấy, mỗi anh chàng cơ bắp đó sức mạnh cũng chẳng thể là vô địch bất khả chiến bại, mà nhiều scene toàn lợi dụng tinh thần, kiểu gần chết rồi, bom hẹn giờ tính bằng giây, thì chàng có một nhân tố tinh thần nào đó, vùng dậy và lật ngược thế cờ. Nước Đức của Hitler gây chiến khuynh đảo châu Âu phần lớn cũng nhờ phép thắng lợi tinh thần có tính toán mà thôi (trong khi phe đồng minh đông hơn, giàu có hơn, lại rệu rã và không đoàn kết).

Tôi thấy nhiều bài hát về Trường Sơn đạt tới mẫu mực của nó, nhưng nêu ra ở đây ví dụ hai ca khúc có vẻ cũng sẽ sớm bị lỗi thời, là bài "Bài ca đường 9 chiến thắng" (1968, Văn Dung) và "Gặp nhau trên đỉnh Trường Sơn" (Hoàng Hà).

Bài ca đường 9 chiến thắng thực tế lời lẽ khá gân cốt, nhưng lần tôi vào Quảng Trị, đi thăm mấy nghĩa trang và vào thành cổ, nghe một bác cựu chiến binh hát bài này, tự nhiên thấy rất thương:
- Em nghe tin vui / bên Đông Trường Sơn
Em nghe tin vui / bên Tây Trường Sơn
Nghe sấm dội / cả non ngàn
Nghe bão nổi / cả đôi miền
Anh giải phóng quân / hôm nay ra đi
Mang lửa hờn căm / bao năm nấu nung...
Cứ đi qua hàng vạn ngôi mộ thì lời hát nghe mới thấy hết cái bi tráng. Ở đây, giai điệu vui vẻ, nhanh hoạt, được chấm phá bằng những câu nhạc có độ dài ngắn khác nhau nối tiếp (4-4, 3-3), nghe như một thứ nhạc hành khúc không ngừng nghỉ, nhất là câu Anh giải phóng ơi hôm nay vui sao / hôm nay ra đi, cả năm chữ cuối có cùng nốt Fa (?) nối tiếp nhau, nghe rất thăm thẳm.

Gặp nhau trên đỉnh Trường Sơn là một bài tôi rất thích, nội dung ca ngợi tình hữu nghị Việt Lào. Bài hát này thể hiện được cả trạng thái hùng tráng lẫn trữ tình đan xen, thông qua cách diễn tả khá công phu.
- Trên đỉnh Trường Sơn, ta gặp nhau giữa đường đi chiến đấu
Anh giải phóng Lào, biên giới đẹp sao!
Cây lá lao xao, rộn ràng lẫn trong màu áo
Những người chiến sĩ yêu nước Lào!
Đoạn này để ý rằng những âm "ao" được sử dụng nhiều, trong một giai điệu chậm rãi, nhấn nhá, tạo nên cảm giác như đan quyện vào nhau, quấn quýt và đầy tình cảm.
Chủ đề nhạc được triển khai ngay sang cấp độ mới, cao hơn và mạnh hơn:
- Trường Sơn bao la! Lối quân đi bước mòn sỏi đá
Trường Sơn! Việt Lào hai nước chúng ta
Đã ghi tạc nghĩa tình từ xưa
Ôi thân thương bước chân vượt rừng
Ta đi điệp trùng đồng chí
Đường dài chiến đấu ta đánh Mỹ
Cất cao tiếng ca
Chú ý là các âm "a" được khai mở bằng cao độ và trường độ, có luyến láy như ở chữ "đá" được hát thành "bước mòn sỏi đá... à... Trường Sơn!" và nhấn ở đó, như là nhịp chuyển động lúc mau lúc trầm. Kết thúc đoạn là tăng cao độ để chuyển sang cao trào:
- Trường Sơn bao la! Cao như quyết tâm ta diệt thù
Việt Lào một lòng như sắt đá!
Chủ đề lên tới đỉnh ở đó (có lẽ là nốt Mí, là rất cao) rồi buông nhẹ về đoạn hai:
Quê hương vẫy gọi từ hai miền vách núi
Việt Lào chung đường tiến tới
Thắm lửa đoàn kết càng yêu đời
và kết:
Muôn dặm Trường Sơn
Ta lại chia tuyến đường đi đánh Mỹ
Đi giải phóng quê nhà, nơi chiến trường xa
Mỗi bước tôi đi lòng càng nhớ bao đồng chí
Những người chiến sĩ yêu nước Lào
Gặp nhau trên đỉnh Trường Sơn...

Thực tế lời ca không có gì mới, cũng như nặng tính khẩu hiệu. Nhưng vì sao tôi thấy thích? Một phần vì tài nghệ trình bày của nghệ sĩ Quốc Hương trong băng nhạc tư liệu, ông diễn tả rất xuất sắc những nhấn nháy và cao độ để gây cảm xúc mãnh liệt, mà không nặng kỹ thuật thính phòng. Sự đan quyện của những cao trào kiểu nhạc bán cổ điển với những đoạn luyến láy, buông nhả chữ làm cho mạch cảm xúc tăng cường độ dào dạt, cảm giác như ca sĩ có một bầu tình cảm để dốc ra, nhưng không kể lể dông dài nhờ những câu nhạc dài ngắn đan xen, chuyển động liên tục.

Phong cách trữ tình hùng tráng này được một nhạc sĩ vận dụng thành công là Huy Du, với những ca khúc đỉnh cao như Đường chúng ta đi (1968, thơ Xuân Sách), Cùng anh tiến quân trên đường dài (thơ Xuân Sách), Đường ra mặt trận (1968, thơ Chính Hữu), Nổi lửa lên em (thơ Lam Giang), Tình em (thơ Ngọc Sơn), Trên đỉnh Trường Sơn ta hát. Chú ý rằng ca khúc dạng này đòi hỏi giọng hát tốt nhưng phải diễn tả được sắc thái tình cảm thông qua nhấn nhá, tương phản đoạn nhạc, chuyển từ mạch trữ tình sang hùng tráng.

Năm 1978, ban nhạc Kim Cương ở Sài Gòn có thực hiện một băng nhạc gồm các ca sĩ miền Nam cũ hát các ca khúc nhạc đỏ. Trong đó, họ khá ý thức về phân loại bài hát cho các ca sĩ có cùng màu giọng với loại ca khúc. Lệ Thu hát 2 bài là Hà Nội niềm tin và hy vọngTrên đỉnh Trường Sơn ta hát. Mặc dù bài hát đầu được xem như hit của Lệ Thu, nhưng có thể thấy bà hát theo một phong cách nhạc kịch, miết chữ nhiều, nên có gì đó bi tráng chứ không kiểu hào hùng như Trần Khánh (là ca sĩ thành công nhất với bài này ở miền Bắc). Còn bài sau thì có thể thấy Lệ Thu không thành công bởi bà hát từ đầu đến đuôi đều một nhịp như nhau. Bài hát này của Huy Du là một điển hình cho cấu trúc chậm - nhanh - chậm, bởi lẽ cái mạch trữ tình chính là nét quyến rũ và hấp dẫn của ca khúc, chứ không phải hát hùng hổ kiểu quân hành.

Mở bài, ta có thể thấy vì sao Huy Du đề "Trong sáng, tự hào", bởi đoạn này có mấy nốt luyến (bôi đậm) và hình ảnh cần diễn tả là bối cảnh của chủ đề - không gian đất nước dọn đường cho cuộc hành quân vượt Trường Sơn. Luyến và hát tãi ra là một cách thức nhập đề kinh điển, để chuẩn bị tâm lý cho người nghe đón đợi cao trào ở phần sau:
- Trên đỉnh Trường Sơn, ta hát bài ca.
Gửi tới quê nhà bao la, biển xanh sóng vỗ hiền hòa
Đường Trường Sơn ta ca, trái tim sao rộn rã
Hành quân đi lớp lớp, như nước sông chảy dạt dào...
Vào đoạn nhanh, mặc dù theo kiểu hành khúc, nhưng cái đòi hỏi của bài hát là có những chỗ nhấn nhá, có hát được những chỗ này thì bài hát mới hay:
- Này Trường Sơn ơi! Ta đi trong gió, ta đi trong mưa
Từng ngày từng tháng, là từng bài ca
Tiếng hát cùng ta vượt qua gian khổ
...
Lửa Trường Sơn chiếu sáng cho tình ta trên đường dài.
Những chữ cuối của các câu nhạc 4 chữ là đan xen phối hợp giữa dấu sắc, không dấu, rồi lại có dấu, như một nhịp hành quân trập trùng, gian lao, cái gian khổ đan xen cái lãng mạn: gió - mưa - tháng - ca; ta - khổ; suối - khe - núi - thơ... Kết bài là đoạn lên tông cực khó hát, đương nhiên phải hát giãn nhịp để diễn tả đến cùng cao trào "tiếng hát từ trái tim, chắp cánh cùng ánh sao, nhìn về tương lai đang bừng sáng".

Những bài hát của Huy Du vì thế được nhiều người yêu thích vì vẻ đẹp mượt mà sóng đôi nét hùng tráng lồng lộng, điển hình là bài Đường chúng ta đi:
- Việt Nam! Trên đường chúng ta đi
Nghe gió thổi, đồng xanh quê ta đó
Nghe sóng biển ầm vang xa tận tới chân trời
Nghe ấm lòng mỗi khi đang dồn bước
Mà vui sao ta chẳng nói nên lời...
Tất nhiên vẻ đẹp ca từ là nhờ lời của Xuân Sách, nhưng cách triển khai chủ đề âm nhạc của Huy Du là phần quan trọng. Những chỗ đẩy nốt lên cao cực đắt như:
... đường ta đi ánh lửa soi đêm dài (xuống thấp)
Đường ta về trong nắng ấm ban mai (lên rất cao)
Tiếp theo là chủ đề được nhắc lại và đẩy tới cao trào:
Việt Nam! Việt Nam! Qua từng bước gian nan, lớn lên rồi, đẹp những mùa xuân...
Đoạn điệp khúc hát nhanh cũng dùng bút pháp như bài Trên đỉnh Trường Sơn ta hát. Hoặc sau đoạn hùng tráng dồn đuổi là những đoạn buông xuống thang rất trữ tình như:
Ôi những dòng sông soi bóng dừa xanh...

Chắc chắn là bài hát này không dễ mà chỉ đứng ở loại "Tiếng hát át tiếng bom" đơn thuần. Tuy vậy, nó lại đòi hỏi một cách hát tương đối đã khuôn khổ, phần dụng công của các ca sĩ nhiều khi phải nhờ vào màu giọng. Cho đến giờ, tam ca Đăng Dương-Trọng Tấn-Việt Hoàn hay AC&M có hát thành công là nhờ khả năng hòa giọng và hát bè, chứ đơn ca có lẽ vẫn chưa ai gây được ấn tượng hơn Doãn Tần nhờ chất giọng tenor rất cao. Có người nói Quốc Hương hát rất hay, nhưng tôi chưa có được nghe.

HÀ NỘI

Trở lại với các địa danh. Hà Nội trở thành đối tượng ca ngợi vì lẽ đây là điểm đánh phá ác liệt của Mỹ, cũng như là nơi tập trung sự kháng cự để bảo vệ các cơ quan đầu não. Lúc này những phẩm chất của người Hà Nội hình như được định hình bằng thơ, nhạc: "vẫn còn nguyên phong thái hào hoa" (Bằng Việt). Nhưng phải lùi lại về quá khứ để thấy Hà Nội đã sẵn có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần người VN, tuy vậy trong ca khúc, mọi mô tả vẫn tản mát. Hà Nội năm 1944 trong nhạc Văn Cao là tiếng gươm khuya hoài niệm một quá khứ tự chủ:
- Ôi Thăng Long thành xưa, cờ khoe sắc phấp phới
Loa vang xa chiêng thu không, tiếng bát ngát trong trống thành
Bao năm qua đã mất hết tinh anh
Ôi Thăng Long ngày mai, xây đắp dưới vinh quang bằng chí khí anh hùng
Gần xa hò hét: Thăng Long, Thăng Long, Thăng Long thành!
(Thăng Long hành khúc ca)
Hà Nội của những ngày đầu toàn quốc kháng chiến là Hà Nội ngây ngất ảo giác lãng mạn hào khí, đúng như câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ viết năm 1947: Từ độ mang gươm đi mở cõi, trời Nam thương nhớ đất Thăng Long. Hà Nội lúc này được mô tả sống động:
- Nhớ đêm ra đi, đất trời bốc lửa
Cả kinh thành nghi ngút cháy sau lưng
Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng
Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm
Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm
Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa
Mái đầu xanh thề mãi đến khi già
Phơi nắng gió. Và hoa ngàn cỏ dại
Nghe tiếng gọi của những người Hà Nội
Trở về, trở về, chiếm lại quê hương
(Ngày về - thơ Chính Hữu, 1947 - chưa đối chiếu lời bản nhạc của Lương Ngọc Trác)
Chính Hữu thì chối bỏ Ngày về, Nguyễn Đình Thi cũng sửa lại phần đầu bài Đất nước (Tôi nhớ những ngày thu đã xa, Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội, Những phố dài xao xác hơi may...), tuy vậy bài Người Hà Nội thì được hát rất nhiều. Có lẽ vì bài này ít có những tính từ bay bướm hoặc mô tả tình cảm kiểu "hào hoa" như Ngày về. Dù vậy, đoạn mở đầu trữ tình:
Đây Hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây
Đây lắng hồn núi sông ngàn năm
Đây Thăng Long, đây Đông Đô, đây Hà Nội
Hà Nội mến yêu!
gần như chỉ toàn địa danh lại thể hiện sự nhạy cảm về từ ngữ - bởi lúc này những địa danh gắn với lịch sử Hà Nội đại diện cho nét hào khí vốn được ưa chuộng trong tâm lý người nghệ sĩ, vốn xuất thân tiểu tư sản. Sau này, cách dùng các địa danh đại diện cho HN này còn trở lại trong ca khúc "Hà Nội niềm tin và hy vọng" (1972) của Phan Nhân, có nhiều nét tương đồng với bài hát trên:
- Ơi Đông Đô hùng thiêng dấu xưa còn in nơi đây
Ơi Thăng Long ngày nay chiến công rạng danh non sông
Hà Nội mến yêu của ta!
Thủ đô mến yêu của ta!
Là ngôi sao mai rạng rỡ!
Đoạn allegro của Người Hà Nội kiểu nhạc hội chợ vui tươi, cũng như đoạn rondo kiểu nhạc valse ở kết, là dấu vết của Hà Nội trí thức, tiểu tư sản, những mẫu người sau này vẫn cứ là hình ảnh chính trong các tác phẩm về HN, từ những anh trí thức theo kháng chiến trong Sống mãi với Thủ đô (1960, Nguyễn Huy Tưởng) hay các vở chính kịch suốt tận những năm 1980. Hà Nội thời kháng chiến chống Pháp là một cơ hội định vị người Hà Nội - thực chất là anh trí thức lấy sự yêu mình trong cái thay đổi ngùn ngụt khí thế làm căn bản. Dù bị phê phán này nọ, người ta vẫn không có cách nào định vị khác đi. Thậm chí có viết khác, có phá bỏ, người ta vẫn thấy thì ra vì anh trí thức HN yêu mình, nên anh ta có khả năng hát cho hay và ca ngợi cho đẹp những thứ khác. Có thể còn thấy rõ nét này qua mấy phim của Đặng Nhật Minh như Hà Nội mùa đông năm 46 hay Mùa ổi. Sau này, các nhạc sĩ trẻ những năm 90 và phim Trần Anh Hùng, cái Hà Nội được dịch chuyển đi một chút, có lẽ là do người sáng tác và nhân vật hình mẫu của lớp trước đã già, được thay thế bằng một thế hệ mới - nhưng Hà Nội vẫn là cái đẹp thanh bình của nước hồ xanh lững lờ, má em hồng hoa đào tươi thắm, chiều buông góc phố em, so ra chẳng khác gì những Hà Nội "mơ hoa" hay "mái trường phượng vĩ dâng hoa" thời 40-50.
Một vài bài về HN khác lúc đó cũng góp phần củng cố thêm cái ảnh hưởng "yên sĩ phi lý thuần" của tình yêu HN:
- Ai về Thủ đô tôi gửi vài lời
Tây Hồ mờ xa là nhà tôi đó
Đây chợ Đồng Xuân bên dòng Nhị Hà
Đi học về qua luôn hát vui ca
Đây Hồ Hoàn Gươm bên nhịp cầu hồng
Khi chiều dần buông tôi hay qua đó
Hoa phượng hè vui in đỏ đường dài
Tô đậm lòng tôi năm tháng khôn nguôi
(Sẽ về Thủ đô, 1948, Huy Du)
- Chúng ta ươm lại hoa, sắc hương phai ngày xa
Ôi phố phường Hà Nội xưa yêu dấu
(Tiến về Hà Nội, 1947, Văn Cao)
Còn có những bài như Hà Nội 1947 của Trần Văn Nhơn, hay Hướng về Hà Nội (1954, Hoàng Dương). Nhưng tôi chỉ xét tới những bài có khía cạnh trữ tình hào sảng, là thứ sẽ được khai thác như một tính chất âm nhạc cho Hà Nội suốt gần nửa thế kỷ tiếp theo, mà nhạc đỏ là phần đậm nhất.

Giữa Bài ca Hà NộiHà Nội niềm tin và hy vọng, những bài hát khác về thành phố này có Khi thành phố lên đèn (Thái Cơ), Hà Nội trên tầm cao chiến thắng (Tân Huyền), Hà Nội có ta đi trong tiếng hát (Vĩnh An), Hà Nội - Điện Biên Phủ (Phạm Tuyên). Sau này, còn có những bài cùng mạch cảm xúc như Tình yêu Hà Nội (Hoàng Vân), Khúc hát người Hà Nội (Trần Hoàn), Trời Hà Nội xanh, Hà Nội mùa xuân (Văn Ký), Hà Nội trái tim hồng (Nguyễn Đức Toàn). Những gì sâu đậm nhất mà những bài hát này đem lại là cái vẻ tương phản giữa nhỏ bé bị bom đạn và niềm tin vào ngày mai to lớn, giữa cái "nghìn năm chói chang rực rỡ" và cái "niềm vui mới". Cái đẹp của HN đối với các nhạc sĩ lớp này là "trang sách khuya thức với sao đêm" hay "trí tuệ xanh và con tim bốc cháy". Một phẩm chất được gieo trồng cấy hái như vậy, ăn sâu vào đến cả những người không sống ở HN và không ở thời gian đó, duy trì được qua hai thập niên gian khổ hậu chiến nhưng lại vỡ tung trong vài mươi năm cuối thế kỷ XX và đầu XXI, kéo theo là sự thất vọng đến vỡ mộng.

Hà Nội thời chiến vì vậy nhìn lại, có lẽ đã mang một ý niệm nhiều hơn thực thể, bởi thành phố của chiến tranh là nghèo nàn và đói kém, chứ không phải là một hậu phương dồi dào. Tuy nhiên, Hà Nội lửa cháy ngút trời có cái mẫu số chung với Matxcơva của Lev Tolstoy hay Paris của Erenburg, của London thời thế chiến II. Những ca khúc ngợi ca HN là sự nảy sinh có những đặc điểm tự nhiên của những tâm hồn yêu Hà Nội.
.

Thứ Năm, 16 tháng 7, 2009

"Người mà anh yêu quý vô cùng"

.
Nhạc đỏ vẫn được rất đông đảo người yêu thích, nhất là cánh lái xe đường dài miền Bắc. Những đĩa nhạc được nghe nhiều có thể thấy đĩa song ca Anh Thơ-Việt Hoàn, Trọng Tấn-Thanh Hoa, Thu Hiền-Trung Đức. Không ai làm survey và vì đĩa lậu, nhưng đĩa Bài ca Trường Sơn của Hãng phim Trẻ mấy năm trước chắn chắn là một hit đáng nể. Mặc dù khó đoán được tương lai của dòng nhạc này, nhưng cũng như loại nhạc lính miền Nam, sẽ có những bài được yêu thích vì kỷ niệm của các thế hệ gắn bó với chúng. Còn với tư cách những tác phẩm nghệ thuật, có nhiều bài đáp ứng được những tiêu chí thẩm mỹ của hệ thống mỹ học một giai đoạn. Một khi đã đạt được tới đỉnh cao của một hệ thống, giá trị tác phẩm ắt không phải loại minh họa dễ dãi.

Về mặt ngôn từ, các ca khúc nhạc đỏ có hẳn một hệ thống quy ước bất thành văn về hình tượng, về cách diễn đạt, về tính từ (cái này cực quan trọng đối với ca khúc VN), hệ thống này buộc các lời ca được gọt giũa tới mức thuần nhất một cách điêu luyện - lời ca chỉ có một nghĩa, và nghĩa đó phải tích cực. Vậy mà thật lạ, hàng nghìn bài xoay vần quanh những chủ đề quen thuộc, từ ngữ khuôn khổ, mà có rất nhiều bài đa dạng và không lặp lại.

Về mặt cấu trúc giai điệu, các nhạc sĩ sáng tác phải nói là xuất sắc trong việc xử lý thanh dấu tiếng Việt ứng với ký âm. So sánh với một nhạc sĩ nổi tiếng vì lời ca hay là Trịnh Công Sơn, có những chỗ thanh dấu bị phô, ví như bài Gọi tên bốn mùa - "mưa thì thầm dưới chân ngà", hoặc "từng ngón sương mù" - chữ ngà và mù để ở nốt Sol, ca sĩ nào cũng hát thành "nga" và "mu". Hay bài Biển nhớ, gọi hồn liễu rũ hay rủ đây? Những ca khúc hát giọng miền Bắc có nhiều từ "cứng", khẩu hiệu, nhưng các ca sĩ đã hát một cách khéo léo - có lẽ vì cách hát bel canto và giọng gió lách qua được. Các nhạc sĩ nhạc đỏ vượt qua được rào cản lời Việt hát trên nền nhạc tiết tấu nhanh, chẳng hạn bài "Chào em cô gái Lam Hồng" (Ánh Dương) hay "Tôi, người lái xe" (An Chung, đáng ngạc nhiên là bản nhạc đề là Hơi chậm, Tự hào - nhưng ca sĩ nào hát cũng nhanh liến thoắng, có lẽ vì để nhịp 2/4 và 2/8 - thể hành khúc, chẳng lẽ qua gian nguy xe vẫn băng băng vượt lên lại hát từ từ như duyệt binh một hai mốt).

Đầu những năm 1960, tức là sau khi lứa nhạc sĩ được chuyên gia Liên Xô và Triều Tiên hay các nước XHCN đào tạo trở về, các ca khúc bắt đầu có một phong cách nhất quán, chú trọng đậm nét đến nhạc tính và vòng hòa thanh. Các bài hát có giai điệu rõ ràng, cấu trúc rất chặt chẽ. Ví dụ bài Tiếng hát giữa rừng Pắc Bó (Nguyễn Tài Tuệ, 1962), xử lý cực kỳ trau chuốt các đoạn chuyển gam và luyến láy, câu nhạc đủ dài để diễn tả việc khai thác âm nhạc dân tộc Tày Nùng nhưng không lê thê. Về lời, các hình ảnh sóng đôi đặt rất khéo và cài cắm tiền hô hậu ủng để tôn lên chủ thể:
- Mở bài theo lối kể chuyện, từ xa đến gần, từ xưa đến thực tại, từ cảnh đến nhân vật:
Trông vời lưng núi, Khuổi Nậm rì rào, núi cao tầng mây
Chiều nay tiếng ai đang lượn về trên đèo
Kể rằng Người về đây
Nhà in lưng đá, Người về quê ta, tấm ào chàm tình thương quê nhà...
Các câu vắt vào nhau, luyến ở nốt cuối, tạo ra khung cảnh dân gian hơi cổ tích, để làm nên cho nhân vật chính.
- Đoạn 2 (cao trào) giọng trưởng, nhiều ca sĩ khoe giọng ở đây vì vừa diễn tả vẻ mạnh mẽ, vừa có nét đằm thắm láy lại từ đoạn mở qua những chỗ luyến giãn nhịp ở giữa câu:
Ơ... ớ rừng Pắc Bó quê ta, nhớ rừng xưa ôm bóng Người
Nhớ bước chân Người đi, đất chuyển dời theo Người
Người về rừng núi, bóng người vì sao trong sáng...
Rồi chuyển ngay sang đoạn mở rộng, đoạn này nẩy các chữ cuối, tăng cường độ ngân của từ "sáng", cố định cảm xúc của người nghe ở hình tượng được triển khai vừa rồi:
Bóng đa Tân Trào vọng lời thiết tha
Nắng in Ba Đình còn nghẹn lòng ta
Suối reo dưới chân người qua
Đất rung tiếng ca nở hoa tháng Tám
Khuổi Nậm còn reo nhịp theo mong nhớ... Người...
Tất cả những âm "a", "ơ" ở cuối các câu trên như thành một bè hợp ca hòa giọng cho giọng trưởng ở đoạn cao trào. Đây là một thủ pháp cao tay, bài bản, theo đúng lối hình thức vừa khít nội dung. Thủ pháp nẩy chữ và luyến láy, thêm nốt hoa mỹ vừa mô phỏng nét nhạc "lượn" của người Tày, vừa làm cho ca sĩ có cơ hội thử sức.
Lời hai của bài cũng khá đặc sắc, với những hình ảnh sau khi "Người về chỉ lối, theo người ngày mai tươi sáng":
Bát cơm mong chờ, người già ước mơ
Líu lo i tờ, môi đọng trẻ thơ
Những câu này cũng không có gì đặc biệt so với thơ Tố Hữu chẳng hạn, nhưng bằng cách dùng âm nhạc mềm mại, hình ảnh trở nên đặc biệt duyên dáng. Cùng giai đoạn, Nguyễn Tài Tuệ có bài Xa khơi (1962) cũng là một ca khúc phức tạp về cấu trúc và cũng là hiếm thấy.

So với những bài hát của những năm trước đó như Câu hò bên bờ Hiền Lương (Hoàng Hiệp, lời Hoàng Hiệp- Đằng Giao, 1957), Bài ca hy vọng (Văn Ký, 1958), Ánh đèn sáng trên cầu Việt Trì (Hoàng Hà, 1958), Tiến bước dưới quân kỳ (Doãn Nho, 1958), thì những bài thời kỳ này hoàn thiện hơn nhiều. Mặc dù Bài ca hy vọng được rất nhiều người hâm mộ, nhưng là một bài rất khó hát, giai điệu lại hơi thiếu mạch lạc. Dường như đây vẫn là một thành quả chín sớm của Văn Ký vốn xuất thân là một người làm văn nghệ tuyên truyền ở Khu Bốn những năm kháng chiến chống Pháp. Và cũng là một thành tựu hơi lạ, so với những ca khúc sau này cũng của Văn Ký thì Bài ca hy vọng hơi đột biến hơn, có màu sắc ca khúc thính phòng cổ điển. Ca từ lại hơi lãng mạn, mông lung, mượn những hình ảnh khá trừu tượng: đôi chim bay đi, tiếng ca rộn ràng, cánh chim xao xuyến, gió mùa xuân, tương lai, màu xanh áo mới, xanh thắm mộng đời... cứ bảng lảng mơ hồ. Câu hò bên bờ Hiền Lương lại mang nét trữ tình khá gần gũi với nhạc lãng mạn, hơi kể lể tự sự, với những câu như:
Ơi câu hò chiều nay, sao nghe nặng tình ai
Hay là em bên ấy, trong phút giây nhớ nhung trào sôi
không thấy nhiều ở ca khúc nhạc đỏ những năm chiến tranh leo thang.

Bài Mẹ yêu con (Nguyễn Văn Tý, 1956) là một bài hát tầm cỡ, không rõ là lúc mới ra đời thì các ca sĩ hát thế nào, nhưng nghe Thanh Huyền và sau này các ca sĩ khác hát thì hàn lâm quá. Bài này cũng có một dạng thức xử lý luyến láy như Tiếng hát giữa rừng Pắc Bó, với những hình ảnh quá đẹp:
- thương từ khi thai nghén trong lòng
- ôm con ra mái hiên, nhìn đàn chim rộn ràng hót giữa mùa xuân.
Mừng con sẽ góp phần, tương lai con đẹp lắm, mẹ hát muôn lần, à ru hời ớ hời ru.
Những đoạn à ru hời ơ hời ru... láy đi láy lại, dọn chỗ cho các cao trào làm cho bài hát rất siêu thoát mà rừng rực chứ lại ít chất ru.

Tình ca (Hoàng Việt, 1957) thì cũng như Bài ca hy vọng, nhiều hình ảnh tương đối trừu tượng, nhưng ở đây lại dữ dội và căng thẳng. Tương tự là bài Những ánh sao đêm (Phan Huỳnh Điểu, 1962):
- át tiếng gió mưa thét gào cuộn dâng phong ba
- vượt băng băng qua đêm tối tìm hương hoa
- giữ lấy trái tim đòi sống yêu đời
- ngước mắt lên vui nhìn trời xanh quê ta
- chim giăng giăng bay ngoài nắng xuân đẹp thay, tan cơn phong ba lòng đất yên rồi đây
- dập tắt chiến tranh đẫm máu, đập tan ngay bao đau khổ và chia ly
- anh càng yêu em càng hăng say, xây cho nhà cao cao mãi
Ôi xinh đẹp Tổ quốc của ta
Anh lắng nghe bao lời ân ái, những bản tình ca...

Sau này những tính từ và cách diễn tả như thế gần như không còn mấy. Chẳng hạn, người phụ nữ của Nguyễn Văn Tý đanh thép:
- Dòng dõi Bà Trưng vốn xưa nay anh hùng
Giáp mặt kẻ thù chẳng một giây nao núng
(Bài ca phụ nữ VN, 1966)
Hay của An Chung:
- Từ ngày anh đi, việc đồng em đảm đang
Ruộng lúa chăng dây, cấy lúa thẳng hàng
Đào mương dẫn nước quanh làng
Tiếng hát ba đảm đang
(Đường cày đảm đang, 1966)

Những ca khúc những năm chiến tranh thường gọn gàng, sáng sủa và dễ hát. Có thể thấy như Hoàng Vân, từ bài Quảng Bình quê ta ơi (1962), Nổi trống lên rừng núi ơi (1964) tương đối phức tạp và dài, thì những bài giai đoạn sau như Hai chị em, Bài ca người giáo viên nhân dân, Bài ca xây dựng... đều là bài ngắn và cấu trúc hai đoạn nhạc rành mạch. Cái giỏi của Hoàng Vân là bắt được những hình tượng cô đọng và đặc thù, theo đúng mẫu cổ động mà không bị phô vì gia giảm vừa vặn:
- Chị Hai năm tấn quê ở Thái Bình
Cô Ba dũng sĩ quê ở Trà Vinh
- Tâm hồn em tươi mát xanh như bóng lá bàng
Trái tim em đỏ nhiệt tình như hoa phượng vĩ
- Bạn đời ơi, bạn có nghe chăng niềm vui
của những người dọn đến ngôi nhà mới
mà chúng tôi vừa xây xong
...Cho ngày nay, cho ngày mai, cho muôn đời sau
Hoàng Vân đi rất khéo trên sợi dây giữa cái nhuần nhị mềm mại của hình tượng bay bổng và tính tuyên truyền. Tuy nhiên có những lúc cũng không thật thành công lắm:
Mùi xăng dầu gợi nhớ ước mơ xa.
Câu này hơi gượng gạo, có lẽ vì ngày xưa xăng dầu là văn minh, là tiên tiến chăng?

Khi Hoàng Vân gắn bó với chất trữ tình, ông thành công hơn là với những loại khẩu hiệu ồn ào. Ví dụ như bài Huế-Sài Gòn-Hà Nội rất ngon lành, nhưng bài Chào anh giải phóng quân, chào mùa xuân đại thắng thì mặc dù hoành tráng, nhưng nghe rất mệt. Những bài hát của Hoàng Vân ít nhiều đều nhấp nháy những chi tiết đắt. Ví dụ như bài Tình ca người thợ mỏ (khác với bài Tôi là người thợ lò, 1964 - cũng là một bài hát hơi vượt ra cấu trúc phổ thông), Hoàng Vân tạo ra được một không khí mênh mang, đầy hào hứng nhờ sự tương phản của hai đoạn nhạc: đoạn mở chậm rãi, nhấn nhá và kể lể, đoạn hai cao trào có những đoạn nốt leo thang rất đắt - phụ họa bằng lời ca bay bổng dù chỉ toàn những câu chữ khá giản dị:
Vùng than thân yêu ơi!
Trong tình quê hương có một tấm lòng
Dành cho em
Người mà anh yêu quý vô cùng
Sức nặng của những chữ giản dị này xem ra không kém những tính từ mỹ lệ ở thời trước. Nó như lời thủ thỉ, lời yêu chân thật của người lao động - nên hợp gu thẩm mỹ theo tiêu chí thời xây dựng XHCN. Nhưng nó mang một chất khá hiện đại, nhờ lối diễn đạt tình cảm trực tiếp qua những kênh, những "cầu" đơn giản nhưng lúc nào cũng có tính nhân loại - vùng quê, tình quê hương, tấm lòng.

Sau này, cho đến thành công gần như cuối cùng là Tình ca Tây Nguyên (1982), các bài của Hoàng Vân tựa như có một mạch nhất quán của người thợ may đo giàu kinh nghiệm. Điều này có thể so sánh với Phạm Duy (tôi đã đề cập ở entry về PD). Đó là: một chủ đề nội dung triển khai trên một nền hòa thanh cân đối và cổ điển, pha chế màu sắc của đề tài: Tây Nguyên, núi rừng, Hà Nội, thủy lợi, giao thông vận tải, tình hữu nghị Việt Xô... thông qua hệ thống từ ngữ quy ước và khi khai thác ngũ cung, khi xử lý tiết tấu, khi là dân ca...

Hai nhạc sĩ cũng nhiều thành công nổi bật là Huy Du và Nguyễn Văn Tý. Ngoài ra còn có Hồ Bắc, Tân Huyền, Phan Huỳnh Điểu, Nguyễn Đức Toàn, Vũ Thanh, Phạm Tuyên, Hoàng Hiệp, Phạm Minh Tuấn... Chắc chắn là những ca khúc thời này không đến nỗi mặc đồng phục, bởi người ta nhớ được bài này với bài kia. Ảnh hưởng thẩm mỹ của chúng đối với công chúng là thống nhất và không nhiều dao động - vì cái đẹp của chúng là cái đẹp khẳng định cho đối tượng thẩm mỹ đang lên, nghĩa là phù thịnh.

Phần sau tôi sẽ nói tiếp về những bài hát khác của các nhạc sĩ trên.
.

Thứ Tư, 15 tháng 7, 2009

Sách du hành “đọc chậm”

......................................

Chu du trong thế giới có làm người ta sống tốt hơn?



Những quyển sách đề tài “không cập thời” cũng như đòi hỏi người đọc phải có phông văn hóa tương đối sâu để tiếp cận, thực tế lại là thứ lúc nào cũng cần. Du hành của Hedorotus tập hợp những bài ký sự có từ vài chục năm nay của tác giả Ryszard Kapuscinski ghi lại những gì mắt thấy tai nghe trên con đường qua châu Phi, châu Á, đi ra khỏi biên giới Ba Lan khi ấy còn trong cuộc chiến tranh lạnh. Hành trình cũng là quá trình đọc cuốn Sử ký của sử gia Hy Lạp Hedorotus như một cẩm nang tinh thần. Nhưng cuốn Lonely Planet thời cổ đại ấy hơn một cuốn sách đọc giết thì giờ là ở chỗ những chia sẻ của một tâm hồn đồng nhịp với người đi trước hai ngàn năm.

.

Thế giới của tác giả Ba Lan cũng vẫn là những ngăn cách địa lý, ý thức hệ và văn hóa – nhưng như người xưa, ông đã cố gắng tìm cách len lỏi vào rừng rậm ý tưởng của người Trung Hoa hay châu Phi, nơi mọi suy nghĩ như nằm sâu dưới lớp cát sa mạc và cái nóng thiêu đốt. Kapuscinski tìm thấy niềm an ủi, sự mê thích xê dịch từ sử gia bị lãng quên trước những khó khăn trở ngại đầy rẫy nơi cửa khẩu biên giới, sự bất tương thích giữa tư duy của hai nền văn hóa. Trăm hoa của chủ tịch Mao là cố gắng tìm hiểu sự bí ẩn và kín bưng bề mặt của văn hóa Trung Hoa thời mới, Ấn Độ là định mệnh cho thấy sự phiêu lưu của tác giả khi đến một nơi xa lạ cũng là lúc bắt đầu làm quen với ngôn ngữ mới. Khác với truyện phiêu lưu của các nhà văn thời thuộc địa hay tâm sự kẻ lưu đày, tâm thế của Du hành cùng Hedorotus là của con người hiện đại mang khát vọng tìm kiếm chân trời giao cảm.


**


Đông Tây không bao giờ gặp nhau, đấy là câu chuyện của thế kỷ trước. Còn bây giờ, một giáo sư đại học Pháp nhưng vẫn là người Việt, viết về Phật giáo, là minh chứng vật chất cho luận điểm trên sai. Thấy Phật của Cao Huy Thuần là những câu chuyện ứng xử ở đời, những chiêm nghiệm nhìn dưới góc độ Phật pháp, nhưng cởi mở và gắn với cuộc sống hiện đại, như thể những bài thuốc nam sắc theo phương thức mới. Nhà nghiên cứu Bùi Văn Nam Sơn giới thiệu với người đọc nên coi đó là một chuỗi hạt, bắt đầu từ đâu cũng được. Vì thế những nhóm chủ đề như khai bút, chuyện đầu năm, nhìn trăng, gặp nguyệt… chỉ là cách định danh tương đối, những tên bài cũng chung chung, mơ hồ như tên các bài kinh: Vẽ cây vẽ chim, Cho tôi bát nước, Trung đạo qua hai bài thơ, Con trâu và chú Tư… Muốn nhớ được các câu chuyện, buộc lòng phải lật giở lại để lĩnh hội rõ hơn.

.

Khác với tư duy tiếp cận rạch ròi của người quan sát như Hồ Anh Thái hay bảng lảng tu hành của Thích Nhất Hạnh ở cùng đề tài Phật giáo, Thấy Phật của Cao Huy Thuần là cuộc cởi giải những dây dợ vướng mắc của người quy y tìm sự cảm thông. Nhà khoa học của ý thức lọc lấy những tính nhẫn nại, bình tâm và thanh thản của Phật pháp, để khai sáng thêm phần tâm thức của mình. Ở xứ hoa lệ, ông viết về cái cây bồ đề của Phật, cái cây hồ đào của Anne Frank và cây bồ đề trước cửa chùa Từ Đàm. Mỗi cái cây là một vật chứng cho tinh thần sống của con người, tinh thần từ bi dù trước cảnh đau đớn nhất.


**



Hành trình của ngôn từ, của ký hiệu, được Roland Barthes dẫn dắt qua hai phần của Những huyền thoại. Phần đầu cùng tên là những giải mã của ông với các ví dụ văn hóa của thời những năm 1950 ở Pháp và trên thế giới. Phần hai mang tên Huyền thoại, ngày nay là những nghiên cứu phức tạp về ký hiệu học và thao tác phân tích tác phẩm văn học, thật sự không dễ nuốt với độc giả bình thường, lại chuyên về các tác phẩm của tác giả Pháp với nhiều dòng, nhiều tầng ý thức. Đọc quyển này xin bỏ phiếu cho thái độ trắng trợn gần như là láo xược của tác giả với các "đại tự sự" , gần như là "giải thiêng", nhưng giỏi cái là chuyện ba lăng nhăng nào Barthes cũng viết ra triết. Xin nhớ là Roland Barthes được xếp vào hàng tứ trụ của triết học Pháp sau thời Jean Paul Sartre, cùng với Foucalt, Derrida và Lyotard. Chẳng hạn, chỉ nói tới chuyện cưới xin của các ngôi sao thời năm 1955 mà ông Roland này gợi ra được cả cách ứng xử phải phép của tiểu tư sản, hay chỉ từ bộ phim Jules César của Mankiewicz mà ông này lôi ra được hình ảnh có tính ký hiệu học: cái diềm tóc của tất cả các nhân vật như là đặc điểm nhận dạng dân La Mã, rồi mồ hôi được hóa trang bằng vaseline nói lên rằng các nhân vật đang suy nghĩ căng thẳng - một môtip suồng sã của Hollywood...

.

Những quyển sách du hành địa lý hay tâm lý gần đây được in nhiều ở Việt Nam, có lượng độc giả nhất định, chứng tỏ nhu cầu tìm đến những nguồn trí tuệ đa phương đang nở rộ. Chúng ta là ai, chúng ta đón nhận gì ở cuộc đời và cách đón nhận ra sao, đôi khi có thể tìm thấy ở những trang sách đó.

* *

Du hành cùng Hedorotus, ký sự của Ryszard Kapuscinski, Nguyễn Thái Linh dịch, Nhã Nam và NXB Văn hóa Sài Gòn

Thấy Phật, tản văn của Cao Huy Thuần, Phương Nam và NXB Tri Thức

Những huyền thoại, tiểu luận của Roland Barthes, Phùng Văn Tửu dịch, Cao Việt Dũng giới thiệu, NXB Tri Thức



-----------------------------------------

Kỹ thuật của người An Nam, Henri Oger (Technique du peuple Annamite) - bộ sách có khổ in lạ, đóng thành ba tập dày đựng trong hộp giấy lớn, giá bìa cao (600.000 đồng) nhưng với những người yêu thích tìm hiểu truyền thống sinh hoạt của người Việt Nam đầu thế kỷ XX, đây là một sản phẩm thú vị. Đó là cách tiếp cận một nền văn hóa khác với cái nhìn khá toàn diện và ham hiểu biết. Nhịp sống Sài Gòn đã gặp ông Phillippe Le Failler, đồng chủ biên cuốn sách.



Thưa ông, để thực hiện được bản in đầy đủ cuốn sách của Henri Oger lần này, mất bao lâu?


Cuốn sách in lầu đầu năm 1909 do Oger thực hiện mất một năm, nhưng vì hồi đó in có 60 bản và thất lạc nhiều nên lần này, chúng tôi mất đến một năm rưỡi để thực hiện.


Mục đích của bộ sách là dành tặng cho các thư viện, khoảng 1000 bản, và mang sang Pháp 100 bản. Còn gần 1000 bản để bán rộng rãi.


Sách gốc năm 1909 có khổ lớn hơn. Đây là cơ sở nghiên cứu và so sánh với sinh hoạt bây giờ. Điều khó khăn là Oger không làm mục lục hoặc chú giải chính xác. Tất nhiên nếu công phu hơn, chúng ta có thể tìm những bức ảnh để đối chiếu cách thức sinh hoạt xưa và nay. Nhưng nên nhớ là khi thực hiện cuốn sách, Oger mới có 24 tuổi. Henri Oger (1885-1936?) thực tế không nhận được sự ủng hộ tài chính của các cơ quan chính quyền Pháp lúc đó, nên ta thấy rõ sự nỗ lực của chàng sinh viên trường Cao đẳng Thực hành, lúc đó là binh nhì trong biên chế nghĩa vụ quân sự.



Qua 4200 hình vẽ mà Oger cho thực hiện, có thể thấy hơn một thế kỷ trước, người Việt sống gắn bó với tự nhiên. Các nguồn vật liệu chính đều là tre, nứa hay cây cỏ, chỉ có ít đồ kim loại và không có sản phẩm cơ khí nào. Truyền thống này đang mất đi dưới sức ép công nghiệp hóa. Tính thực tiễn của bộ sách vào thời điểm này sẽ như thế nào?


So với ngày xưa thì nay một số nghề không còn nữa. Những nghề còn duy trì đến ngày nay là do con người có tinh thần bảo vệ: may mặc, dệt, làm giấy…


Làm bằng tay tuy là thủ công nhưng lại trở thành hàng xa xỉ, bán rất đắt. Ví dụ ở Nhật Bản, người ta vẫn làm sơn mài, giấy truyền thống, nhưng được xếp vào hàng cao cấp, cần có tay nghề cao. Món xì dầu mà ai cũng biết, nhưng người Nhật vẫn tín nhiệm xì dầu sản xuất theo phương pháp thủ công, có chất lượng rất cao.


Ở làng Bưởi, sản xuất giấy truyền thống bị mất đi do sự cạnh tranh của công nghiệp giấy hiện đại. Về mặt kinh tế thì hiệu quả hơn hẳn, song vào những năm 1950-60, lẽ ra Việt Nam phải cho duy trì việc sản xuất giấy thủ công chất lượng cao, hiện nay nhu cầu không nhỏ. Từ khi nhà máy giấy Bãi Bằng ra đời, giấy Bưởi biến mất.



Đa phần các hoạt động được thể hiện trong bộ sách gắn với nông thôn. Giới trẻ đô thị gần như không biết gì về những thứ “nhà quê” này. Là người nghiên cứu văn hóa ở Việt Nam đã mười năm, ông nghĩ tập sách sẽ bổ khuyết gì cho tư liệu hình ảnh Việt Nam?


Vào thời điểm VN có bộ sách này, những nghề này bị coi là “nhà quê”, do tâm lý người Việt Nam thích hiện đại. Năm 1920, Hà Nội chỉ có 120 nghìn dân, ít hơn cả Hải Phòng (130.000), nghĩa là với 4 triệu dân bây giờ, thì hơn 80% có ông bà, cha mẹ từ nông thôn. Bây giờ, người Việt Nam lại quan tâm trở lại đến chủ đề của bộ sách vì yếu tố “lạ”.


Mục đích xuất bản cũng là do Việt Nam lưu giữ quá ít tranh cổ. Có thể nhiều người biết bức chân dung Nguyễn Trãi nhưng không ai biết Gia Long trông ra sao, dù thời Nguyễn không quá xa.


Truyền thống lưu trữ của người Việt vốn không quan tâm đến việc bảo quản tranh dân gian, mà chú trọng đến tài liệu viết. Song việc bảo quản tài liệu giấy của VN kém, do khí hậu, phương tiện và cả ý thức. Ở Trung Quốc, họ lưu giữ tốt hơn nhiều. Tuy nhiên ở VN lại giữ được một nguồn rất tốt là bia đá, thậm chí còn nhiều hơn Trung Quốc, mặc dù phần lớn do may mắn là chất liệu đá bền vững chứ không hẳn do ý thức bảo quản.



Tập sách này nhấn mạnh đến hành động, quá trình, tư thế của nhân vật. Ví dụ như vẽ từ những vật dụng sản xuất, cách thức làm theo từng công đoạn và thành phẩm của nghề làm giấy, nghề khảm trai hay làm lọng. Tôi đã đi về làng Dương Ổ (Bắc Ninh) và ghi nhận được các công đoạn làm giấy thủ công y hệt như trong sách này.


Khi làm bộ sách này, Oger mới sang Việt Nam có một năm, liệu ta có thể biết ông ấy có khả năng giao tiếp tiếng Việt không?


Henri Oger không thạo tiếng Việt, ta có thể biết được là do các ghi chú nhiều chỗ không đúng dấu, hoặc nhầm lẫn. Song ta cũng nên nhớ Việt Nam khi đó chữ quốc ngữ cũng chưa hoàn chỉnh như sau này. Chẳng hạn bức tranh phố hàng đồng, Oger chỉ đề là “la rue” - tức đường phố. Có lẽ ông không biết người thợ đã tinh quái thêm dòng chữ Nôm “bậy” ở bên đầu hồi ngôi nhà trong hình – “Mẹ cha đứa nào ở trong cái nhà này”.



Trước khi có tập bản in khắc này, năm 1884, bác sĩ E. Hocquard đã có một bộ ảnh chụp khá nhiều ảnh quý về phong cảnh và sinh hoạt trong cuốn Một chiến dịch Bắc Kỳ (Une campagne du Tonkin). Vậy tại sao sau một phần tư thế kỷ, Oger không chụp mà vẫn dùng phương pháp thủ công? Liệu có phải vì tính thẩm mỹ hay là sự đồng nhất giữa nội dung nghề thủ công với phương pháp thể hiện không?


Ta chưa rõ vì sao Oger lại chọn phương án in khắc, có lẽ vì máy ảnh khá đắt đỏ khi ấy. Bộ sách hoàn toàn tập trung vào yếu tố kỹ thuật, nhưng cũng có một số hình ảnh có tính thẩm mỹ cao. Theo quan điểm của Pháp, đây mới chỉ là những hình sơ họa chứ chưa phải là những tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh.



Cuốn sách in đậm cách làm, thói quen của người Việt Nam hai lần, từ việc khắc hình cho đến in ra giấy, chưa hoàn toàn thể hiện công việc của Oger. Đóng góp của Oger ở đây là những ghi chép sinh động về hình ảnh đời sống dân thường.


Xin cảm ơn ông và hi vọng có thêm nhiều bộ sách tư liệu quý về Việt Nam tiếp theo.


* Kỹ thuật của người An Nam, bộ sách 3 thứ tiếng (Technique du peuple Annamite, Mechanics and Crafts of the Annamites), Henri Oger (1909), Olivier Tessier & Phillippe Le Failler chủ biên, Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp tại Hà Nội, Công ty Nhã Nam, NXB Thế giới, 2009.

.

Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2009

Giết người như loài bướm đong đưa

.
Tất nhiên là Y360 đong đưa lắm. Nhưng không phải người trong mộng. Thậm chí cũng không xuất hiện trong mộng mà có thể giết được. Tuy nhiên, không bàn về blog mà bàn về nhạc Phạm Duy chẳng hạn, cũng là một thứ để tìm hiểu vì sao lại có người mê say thế.

Sau khi đã có vài năm nghe nhạc PD, cảm nhận của mình rằng đấy là một loại nhạc không dành cho những tâm sự tươi non, ngây thơ hoặc trong trắng. Nó là loại nhạc của người đã dày dạn, dù có đóng vai trẻ con hay thoát tục vẫn đầy nhục cảm. Cho nên tự nhiên với câu hỏi, bài nào, câu nào của PD đặc trưng cho nhạc của ông ấy nhất, mình bật ra câu trên - Giết người như loài bướm đong đưa...

Và những câu nhạc (ca từ) gây ấn tượng mạnh thường có những hình ảnh thật diêm dúa, nhọn hoắt và có khi man dại, khác với cái mĩ lệ hoặc êm ái của nhạc tiền chiến hoặc nhạc lãng mạn cùng thời. Đương nhiên là nó quá cầu kỳ so với cách dùng từ trong nhạc đỏ. Về mặt cấu trúc hình tượng thì PD bắt được những cách biểu đạt ngoa dụ, phóng dật. Những vật liệu bình thường, những sự việc bình thường, được gán tính cách, được nhân cách hóa, được đẩy tới cao trào theo kiểu luôn chuyển động không ngưng nghỉ:
- Yêu người như lá đổ chiều đông, như mây hồng say gió, như con chim hót trong lồng.
- Yêu người... như con giun ngước lên nhìn trời, yêu trăng sao vời vợi...
- Yêu như loài ma quái, đi theo ai tới cuối trời, đi không thôi kêu gào, làm sao nói được tình tôi
(Phượng yêu)
- Giết người đi, giết người trong mộng đã bội thề... Giết người đi, giết người quên tình nghĩa phu thê... Sao mình trong mộng vẫn ngu si...
(Giết người trong mộng)
- Tôi mơ thành triệu phú, cứu vớt gái bơ vơ... Cho tôi lại nhà trường, bao nhiêu là người thương, không ai thù ai oán, ai cũng bảo tôi ngoan
(Kỷ niệm)
- Ôi tóc em hoe như mây chiều rơi, rơi vàng lòng đời... Sông về, sông cười ròn tiếng. Yêu mối tình bên bờ thành Viên. Đôi giang hồ quay về bờ bến, ngỡ mình vui trong ánh sáng muôn sao thiên đàng
(Dòng sông xanh, phổ lời bản The Blue Danube, Johann Strauss)
- Ôi Nha Trang ngày về, ngồi đây tôi lắng nghe, đê mê lòng tôi khóc, như oan hồn trách móc... Ôi trăng vàng le lói, ôi đời... Tôi như là con ốc, bơ vơ nằm trên cát, chui sâu vào thân xác lưu đầy
(Nha Trang ngày về)
- Quân thù đã bắt được con, đem ra giữa chợ bêu đầu... Mẹ nhìn đầu con, tóc trắng phất phơ bay
(Bà mẹ Gio Linh)

Việc luôn đẩy câu hát lên tới cao trào theo cách cuốn vào nhau, không ngưng nghỉ khiến cho ca sĩ hát phải trường giọng và nói chung khá mệt, nên hợp với loại bán cổ điển. Chưa thấy ca sĩ nào thể nghiệm phong cách khác (Thanh Lam có hát Đố ai với Phượng yêu khác đi nhưng cũng chưa thấy thỏa đáng), nói chung vẫn mấy chục năm một cung cách vậy. Thứ hai nữa là những hình tượng theo kiểu sống sít, gay cấn mêlô, gây cho những ai theo trường phái nhạc kinh viện và trau chuốt hiền hòa kiểu nhạc đỏ, nhạc trẻ 80-90, là những hình tượng ấy khá tự nhiên chủ nghĩa. Mà mĩ học một thời dài quy kết nặng nề tính chất này - việc mô tả tình yêu của Chí Phèo-Thị Nở của Nam Cao hay là O chuột của Tô Hoài từng bị đánh giá thấp. Các văn nghệ sĩ mà mô tả theo lối đó là có vẻ như tác giả áp đặt một cái nhìn thiếu thiện chí với nhân vật của mình, ai cũng là nạn nhân, ai cũng nằm trong cái bủa vây bi kịch. Năm 1986, Trần Bạch Đằng viết một bài chào mừng đêm nhạc Văn Cao trở lại, kết thúc bài viết thế này:
Nếu bỗng dưng dấy lên phong trào toàn hát "Thiên Thai", "Suối Mơ" thì quả là nguy hiểm. Nhưng, không hoảng hốt trước những bài đó - xuất hiện có liều lượng trong một tổng thể với ý định rõ rệt - chuyện nên làm, chuyện bình thường.

Mấy bài của Văn Cao trong leo lẻo thế còn được đánh giá như vậy, thì những cái như "Nhìn vào khe song trông anh ốm yếu ho hen. Một ngày công lao không cho biết đến hương đêm" (Phố buồn) thì còn khó lọt tai lắm.

Cái cách dùng tính từ (vốn nhan nhản trong lời ca bài hát Việt) thường vẫn là gọt giũa hiền lành và thuần nhất. Bài hát Trịnh Công Sơn chẳng hạn, dù nhiều tính từ lạ tai nhưng vì có nét siêu thực và bí hiểm, lại quần tụ để xây thành một màn sương dày dặn nên gây được một không khí an toàn, hát chúng là tuy leo trên những bậc chênh vênh nhưng có tay vịn chắc chắn. Nhạc Trịnh không có nhiều đột biến trong cấu trúc, nên người nghe và người hát đều cảm thấy tĩnh tại và thả lỏng được.

Trong khi đó nhạc Phạm Duy ưa kiến tạo những xung đột để tìm cách giải phóng. So với một nhạc sĩ sáng tác cũng hay theo kiểu chùm bài là Phú Quang, thì nhạc của Phú Quang cũng tạo được vấn đề và xung đột nhưng quá ngắn, nên bài hát vừa phát triển được một đoạn đã quay về đầu. Nên những bài của Phú Quang hát thành một show thì cũng được, nhưng hát lẻ thì cứ chơi vơi, hình ảnh lại quanh quẩn vài chất liệu về một đối tượng cũng tương đối mòn là Hà Nội và người tình xưa. Phạm Duy có lẽ có quan niệm nhất quán về triển khai tứ nhạc nên các bài hát đều dày dặn. Tuy nhiên ở nhiều bài lại gây cảm giác quá tham, nói hết những gì cần nói. Cho nên thực sự ấn tượng mà tôi thấy là nhạc Phạm Duy thiếu những bài có độ lơi hoặc nhẹ nhõm, hoặc thâm trầm. Cái cách mà những bài như Chiều (Dương Thiệu Tước, thơ Hồ Dzếnh), Diễm xưa (Trịnh Công Sơn) hay Hơi thở mùa xuân (Dương Thụ) đạt được, những bài nhạc Phạm Duy nổi tiếng nhất (mà tôi đã được nghe) tôi chưa cảm thấy. Nhạc Phạm Duy có cái gì đó chung với nhạc Hoàng Vân ở miền Bắc là ở chỗ hai ông thông minh quá, bài nào cũng tròn trịa, căng đầy, nói đến hết nhẽ những quân bài lật ra.

Dĩ nhiên, Phạm Duy có nói ông chú tâm làm nhạc xã hội, nên những bài hát khác không nằm trong mục ấy cũng mang sắc thái phong cách chung. Vì thế mà tôi từng phân tích trong một entry đã lâu, là nhạc Phạm Duy chia sẻ với nhạc đỏ ở việc có ít những câu trạng thái (như kiểu Chiều nay em ra phố về...), mà gần như toàn là những hoàn cảnh có điều kiện và hoạt động đi kèm: Năm xưa / Ngày đó --- anh phá núi / có em đi nhẹ vào đời. Do vậy, nghe một show nhạc PD như hôm Ngày trở về ở HN là khá mệt, như một cuộc tự sự về đời - một cuộc đời của người không ngại phô mình ra khóc cười mà test phản ứng của thế gian.
.

Thứ Năm, 9 tháng 7, 2009

Facebook: Bạn đang nghĩ gì?

.
Mỗi hôm mở cái facebook ra, nó hiện lên cái câu: "Bạn đang nghĩ gì?" Như thể nghĩ là một việc mình đang làm thực sự ấy. Mình có nghĩ gì nhỉ, ngoài những thứ lộn xộn, từ người thân này đến người quen khác, từ bệnh viện đến tiền lương, từ cuốn sách đang đọc đến cái bài chưa viết, từ cái phim mới xem đến bài tập sắp làm. Nói chung đa phần thời gian là nghĩ một cách động vật, kiểu đang đọc chương này thì tiếp chương sau, ăn hết miếng thịt này thì gắp miếng nữa.

Hôm qua, lúc ngồi đợi gặp bác sĩ, bên cạnh có một bà già đi với cháu. Bà giải thích cho cháu về các chỉ số trong xét nghiệm máu: đâu là acid này, đâu là chelesterol, bao nhiêu là vừa, bà bị 6,1 mà đây bình thường với nữ chỉ là 4,8, cao quá. Bà bắt chuyện. Bà nói lần đầu tiên khám ở Lão khoa, có béo đâu mà bị máu mỡ. Mình bảo vâng, mẹ cháu béo hơn bác, cũng bị lâu rồi. Nói chung là các cụ đừng nghĩ ngợi nhiều thì mới được. Đấy, bác cứ lo lắng mãi về chỉ số là không tốt đâu. Ừ, khổ lắm cơ, người già mà cháu. Mà bác có ăn mỡ hay gì nhiều đâu. Biết đâu hôm trước bác có ăn cỗ hay là uống gì chẳng may nó tăng lượng chelesterol thôi, cơ thể còn dư lượng... Nhưng bác sĩ đã xem và bảo bác rồi, có vấn đề. Chứ chắc chẳng phải chỉ riêng các chỉ số này.

Làm sao để không nghĩ? Hoặc chính xác hơn, để điền vào ô trống sau câu hỏi của FB chỉ là những trạng thái vui vẻ. Nhưng cái câu hỏi dớ dẩn của FB phản ánh kiểu của FB - chỉ nghĩ bất chợt và toàn là trạng thái. Chả có mấy bài viết hay là suy nghĩ gì đến nơi đến chốn. Cũng có thể có, nhưng nhìn vào trang chủ, thấy toàn những dòng ngắn đến là bâng quơ.

Không nhớ là trên báo nào, Thanh Niên thì phải, hay có mục "Ai đang làm gì? Ở đâu?" kiểu gossip girl, cũng là những đoạn tin vắn lúc nào cũng nice. Bây giờ, FB cũng thế, không có cái kiểu bức xúc wordpress hay nhâm nhi blogspot. Đi ngoài đường, đừng nghĩ ngợi, xe cộ nhiều, lơ ngơ va quệt là mệt thân. Ở nhà đừng nghĩ nhiều, tốn tiền mua tiffy, lại stress gây hại sức khỏe.

Còn trên mạng, nghĩ mãi chưa xong là mình nên đề là đang nghĩ gì.
.

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2009

Hoạt hình Nhật

.
Mấy ngày viêm họng, xem một loạt phim hoạt hình của hãng Ghibli, Nhật. Hóa ra chỉ có một số phim là của Miyazaki, và một số phim đã xem rồi. Ấn tượng về phim hoạt hình Nhật vẫn là sự tỉ mỉ, chi tiết và nuột nà, nhưng không phải cái tỉ mỉ khoe của như HH Trung Quốc hay Mỹ. Với tần suất xuất hiện của các chi tiết đồ vật, cảnh vật trong khung hình, có thể chắc chắn đó là thói quen và quan niệm vẽ của hãng phim này (đại diện cho Nhật). Những nền phong cảnh của phim Laputa, Kiki hay Princess Mononoke thật mỹ mãn. Có một phim chẳng biết tên là gì, kể về một cô gái 27 tuổi đi về miền quê, chuyện ở quê xen với hồi ức về năm lớp 5. Cảnh đẹp theo kiểu hoạt hình vẽ tay ngày trước (phim này có lẽ đã lâu, khoảng những năm 80), nhân vật có vẻ mặt hiện thực hơn, không bị kiểu ai cũng mắt to, môi chúm chím như mốt sau này.

Nhưng cái cảm giác mà vấn đề các phim đem lại là ám ảnh về quá khứ, về môi sinh. Có lẽ đời sống hiện đại đô thị làm người ta căng thẳng quá mà những phim này toàn có mộng tưởng về những vùng đất xa lạ, xanh tươi và ít người. Nhiều phim lấy bối cảnh châu Âu, hoặc là kiểu nơi chốn cổ tích như các thị trấn nghỉ mát Trung Âu - nhà mái ngói, đường phố lát đá, tháp chuông nhà thờ, các phương tiện cơ khí thời tiền chiến (những năm 20). Người Nhật có niềm say mê với kiến trúc và kim khí Art-Deco, nên những phim này, thiên đường đối với họ là một thị trấn xinh đẹp bên bờ Địa Trung Hải. Cái niềm đam mê một thế giới khác - có lẽ là hợp lý với cư dân của những hòn đảo chơ vơ ngoài đại dương - nên họ đi du lịch khắp nơi, chỗ nào có cảnh đẹp là có người Nhật đến.

Phim về cô gái về quê nói trên có nét khác một chút. Phim rất dễ thương, kể rất thật về những kỷ niệm học trò: đứa con út thường ghét một chị, các chị em không ưa nhau, tranh giành đành hanh đồ đạc, bố mẹ không cảm thông, không hiểu tâm lý trẻ con... Đi học thì vẫn những vấn đề như gán ghép nhau, bạn này thích chỉ huy, bạn kia hay nói xấu, hoặc những thắc mắc hài hước về kinh nguyệt (tại vì được học về sức khỏe sinh sản ngay từ lớp 5) - đứa nào bỏ học thể dục tức là nó có "chuyện ấy", nên cô bé sợ mang tiếng đến nỗi ốm mà vẫn nhất quyết đi học. Xem phim lại nhớ những truyện như Toto-chan, cô bé bên cửa sổ. Không rõ người Nhật hiện giờ có là thành quả tốt đẹp của những sản phẩm nên thơ ấy hay không?

Phim Grave of the Fireflies (Mộ đom đóm) lại là một kiểu khác. Sau này đọc giới thiệu trên wikipedia thì mới biết là tác giả muốn nói về khía cạnh lòng kiêu hãnh, lòng tự trọng của con người chứ không mong đợi người xem cảm thông với nhân vật chính. Phim nói về hai anh em có bố là không quân hoàng gia, mẹ bị bom chết trong thế chiến 2, dắt díu nhau đi ở nhờ nhà bà dì, nhưng bị hắt hủi. Cậu anh đã lớn nên tự ái vì thấy em gái mình bị xúc phạm, liền cõng em bỏ đi. Hai đứa lang thang, đói khát rồi trú trong một căn hầm. Cô bé chỉ có những con đom đóm làm đồ chơi... Rồi bé chết. Cậu anh đến Tokyo và chết đói ở nhà ga. Phim xem rất thương tâm, có thể thấy người Nhật ghê gớm với việc diễn tả cái đau thương thế nào. Càng ngạc nhiên là khó mà thấy cái ẩn ý về sự xin lỗi hay là nhận trách nhiệm của tác giả hóa thân trong cậu bé - người xem như mình thấy đó cũng chỉ là nạn nhân, nhưng người Nhật cho rằng cậu bé phải chịu một trách nhiệm nào đó, mang ẩn dụ người Nhật nếu đừng kiêu hãnh cực đoan thì không dính vào kết cục bi đát của Thế chiến 2.

Nói chung những phim hoạt hình dài của Nhật hơi khó cho trẻ con xem. Bởi vì những thông điệp về lòng tự trọng kiểu Nhật - những phản ứng khá là cực đoan, lại rất ít hài hước (có cảm giác người Nhật gần như không biết hài hước) - khó giải thích cho trẻ con. Cháu mình hồi xem phim này đang học lớp 3, nó cứ hỏi tại sao lại để cô bé chết, tại sao bà dì lại làm thế... Cách người Nhật tiếp cận với nỗi đau thật khác. Làm sao giải thích cho trẻ con về cái ác, về sự nhẫn tâm, sự tha thứ hay là tính kiêu hãnh... những thứ mà ở xã hội người lớn cũng gần như bó tay.

Phải nói là xử lý kịch bản phim hoạt hình của hãng này rất đắt. Để diễn tả việc cô bé lớp 5 tìm cách "sáng tạo" khi diễn kịch, cô bé đã bị cô giáo nhắc nhở vì thêm thắt vào kịch bản (kiểu Tạm biệt chim én nhé, bay về tổ ấm đi, hẹn gặp lại) - bé con khôn ngoan lúc diễn thật không nói thêm lời nào, chỉ im lăng vài giây rồi khẽ giơ tay vẫy nhẹ nhẹ. Chắc chắn là cũng chưa thấy phim Mỹ nào diễn tả được cái ý nhị đó.

Xem mấy phim này, họ chẳng những làm phụ đề tiếng Anh, Trung, Pháp mà còn lồng cả tiếng Anh - giọng trẻ con ra trẻ con, người lớn nam nữ nghe như diễn thật. Nói chung là hoàn hảo để thưởng thức, cho dù thích hay không.
.

Thứ Năm, 2 tháng 7, 2009

Phản-vô-cảm

.
Bây giờ, người ta dùng nhiều từ "phản cảm" và "vô cảm". Thường thì từ "phản cảm" hay được gắn với hiện tượng các cô gái đẹp, giới nghệ sĩ, những người được xếp vào hạng "làm đẹp cho đời", nghiễm nhiên được xem như hình mẫu từ ăn mặc, tạo dáng cho đến hành vi. Thì xã hội tôn vinh, ngắm nghía và buôn dưa lê là vì chú ý đến họ, chứ ai quan tâm đến bà bán cá có phản cảm hay không. Với các bà cầm dao bầu lăm lăm bên phản thịt ở chợ, khái niệm phản cảm hình như không có ý nghĩa. Nhạy cảm thì không rõ, nhưng cái việc chọc tiết hay xoe xóe cầm con dao chỉ vào khách "anh mua mông hay dọi" thì cũng hơi rờn rợn.

Phản cảm vì thế xuất hiện ở một số diễn đàn, gắn với các chị em, trở thành mục hấp dẫn nhân dân xem nhất. Tại vì lắm người thích chứng kiến cái nghịch lý, nhưng không phải là cái đẹp bị chà đạp gì, chỉ là vì các bạn nữ vốn đẹp nhưng diễn các cách làm xấu mình, như kiểu bọn trẻ con còn ngồi bô biết "làm xấu". "Gái - Phản cảm" hay là các bộ ảnh hoa hậu ăn mặc lăng nhăng PR những bộ quần áo chẳng biết có ai mặc theo - chỉ béo bọn dân văn phòng rỗi việc ngồi dài mỏ ra gõ bàn phím phỉ nhổ đạo đức của vải vóc và silicon. Tại vì HH Thúy y dài cao quá, xinh xắn nữa, hay vì Thủy Top have nothing but the hugeness - chỉ vì mấy cô này đánh trúng tâm lý nói ngược, nhìn ngược và phản-quy tắc của khoái cảm. Khoái lạc là cứ phải ngược xu thế chung thì mới lạ.

Còn "vô cảm" lại là từ chuyên dụng dành cho các nhà quản lý, từ cầu đường, y tế, giáo dục... những gì liên quan đến sự sinh tồn của dân chúng. Vô cảm cũng nhiều trong các bài về cộng đồng, từ cộng đồng dân cư trước những tệ nạn hoành hành đến lớp thanh niên sinh viên thờ ơ với nạn quay cóp hoặc việc trấn lột nhau. Vô cảm còn lan ra đến việc vô cảm với vận mệnh, sinh mệnh... Xem phim Mỹ, khán giả vô cùng đồng cảm với cô vợ Reese Witherspoon bụng bầu phẫn uất hét lên với ông nghị sĩ vì vô cảm không chịu tiết lộ bí mật về người chồng đã chết ở Trung Đông. Cứ lâu lâu lại có những vấn đề rực lửa đòi phân loại dân cư mạng: vô cảm vs. non-vô cảm.

Hôm qua chat với chị mẹ Dế, thế nào mà dắt dây sang chuyện gái Nam-gái Bắc. Đất nước thống nhất sắp bốn mươi năm rồi, nhưng con người còn khác nhau. Nhưng chuyện đơn giản là gái miền nào "cảm" hơn. Khó nhỉ, gái Bắc đanh đá cá cầy, nói chung là phức tạp hơn. Gái Nam ngọt ngào, nói năng phục vụ ăn đứt gái Bắc. Đại loại hình ảnh cuối cùng là: gái Nam giống cái đệm, lúc nào cũng nằm sẵn góc nhà, lúc nào cũng êm ái, nhưng trời nóng mà nằm mãi thì ngốt. Gái Bắc thì giống cái màn tuyn, không có thì muỗi khiêng, mà có thì phải mắc màn lên bốn cọc hoặc đinh trên tường, mỗi lần ngủ lại phải loay hoay mắc rất mất thì giờ, từ việc so góc nào đi với đầu nào (vì giường hình chữ nhật, có cạnh dài cạnh ngắn, đã thế có màn lại có cửa nên phải ngó kỹ), mà cái màn thì nó lùng nhùng! Rồi cái màn cũng y như tính gái Bắc nhé, kín chả ra kín, mà căng mắt ra cũng chưa chắc thấy hoạt động bên trong ra sao. Đã thế màn tuyn lại phải giặt thường xuyên mới sạch, phải trắng toát thơm tho mới được, chứ để vài bữa ngả màu nước muối dưa, thì hết muốn chui vào...

Các anh trai, có muốn dùng màn không? Ở nhà nghỉ, hình như không bao giờ có màn...
.

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ