Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2009

Giết người như loài bướm đong đưa

.
Tất nhiên là Y360 đong đưa lắm. Nhưng không phải người trong mộng. Thậm chí cũng không xuất hiện trong mộng mà có thể giết được. Tuy nhiên, không bàn về blog mà bàn về nhạc Phạm Duy chẳng hạn, cũng là một thứ để tìm hiểu vì sao lại có người mê say thế.

Sau khi đã có vài năm nghe nhạc PD, cảm nhận của mình rằng đấy là một loại nhạc không dành cho những tâm sự tươi non, ngây thơ hoặc trong trắng. Nó là loại nhạc của người đã dày dạn, dù có đóng vai trẻ con hay thoát tục vẫn đầy nhục cảm. Cho nên tự nhiên với câu hỏi, bài nào, câu nào của PD đặc trưng cho nhạc của ông ấy nhất, mình bật ra câu trên - Giết người như loài bướm đong đưa...

Và những câu nhạc (ca từ) gây ấn tượng mạnh thường có những hình ảnh thật diêm dúa, nhọn hoắt và có khi man dại, khác với cái mĩ lệ hoặc êm ái của nhạc tiền chiến hoặc nhạc lãng mạn cùng thời. Đương nhiên là nó quá cầu kỳ so với cách dùng từ trong nhạc đỏ. Về mặt cấu trúc hình tượng thì PD bắt được những cách biểu đạt ngoa dụ, phóng dật. Những vật liệu bình thường, những sự việc bình thường, được gán tính cách, được nhân cách hóa, được đẩy tới cao trào theo kiểu luôn chuyển động không ngưng nghỉ:
- Yêu người như lá đổ chiều đông, như mây hồng say gió, như con chim hót trong lồng.
- Yêu người... như con giun ngước lên nhìn trời, yêu trăng sao vời vợi...
- Yêu như loài ma quái, đi theo ai tới cuối trời, đi không thôi kêu gào, làm sao nói được tình tôi
(Phượng yêu)
- Giết người đi, giết người trong mộng đã bội thề... Giết người đi, giết người quên tình nghĩa phu thê... Sao mình trong mộng vẫn ngu si...
(Giết người trong mộng)
- Tôi mơ thành triệu phú, cứu vớt gái bơ vơ... Cho tôi lại nhà trường, bao nhiêu là người thương, không ai thù ai oán, ai cũng bảo tôi ngoan
(Kỷ niệm)
- Ôi tóc em hoe như mây chiều rơi, rơi vàng lòng đời... Sông về, sông cười ròn tiếng. Yêu mối tình bên bờ thành Viên. Đôi giang hồ quay về bờ bến, ngỡ mình vui trong ánh sáng muôn sao thiên đàng
(Dòng sông xanh, phổ lời bản The Blue Danube, Johann Strauss)
- Ôi Nha Trang ngày về, ngồi đây tôi lắng nghe, đê mê lòng tôi khóc, như oan hồn trách móc... Ôi trăng vàng le lói, ôi đời... Tôi như là con ốc, bơ vơ nằm trên cát, chui sâu vào thân xác lưu đầy
(Nha Trang ngày về)
- Quân thù đã bắt được con, đem ra giữa chợ bêu đầu... Mẹ nhìn đầu con, tóc trắng phất phơ bay
(Bà mẹ Gio Linh)

Việc luôn đẩy câu hát lên tới cao trào theo cách cuốn vào nhau, không ngưng nghỉ khiến cho ca sĩ hát phải trường giọng và nói chung khá mệt, nên hợp với loại bán cổ điển. Chưa thấy ca sĩ nào thể nghiệm phong cách khác (Thanh Lam có hát Đố ai với Phượng yêu khác đi nhưng cũng chưa thấy thỏa đáng), nói chung vẫn mấy chục năm một cung cách vậy. Thứ hai nữa là những hình tượng theo kiểu sống sít, gay cấn mêlô, gây cho những ai theo trường phái nhạc kinh viện và trau chuốt hiền hòa kiểu nhạc đỏ, nhạc trẻ 80-90, là những hình tượng ấy khá tự nhiên chủ nghĩa. Mà mĩ học một thời dài quy kết nặng nề tính chất này - việc mô tả tình yêu của Chí Phèo-Thị Nở của Nam Cao hay là O chuột của Tô Hoài từng bị đánh giá thấp. Các văn nghệ sĩ mà mô tả theo lối đó là có vẻ như tác giả áp đặt một cái nhìn thiếu thiện chí với nhân vật của mình, ai cũng là nạn nhân, ai cũng nằm trong cái bủa vây bi kịch. Năm 1986, Trần Bạch Đằng viết một bài chào mừng đêm nhạc Văn Cao trở lại, kết thúc bài viết thế này:
Nếu bỗng dưng dấy lên phong trào toàn hát "Thiên Thai", "Suối Mơ" thì quả là nguy hiểm. Nhưng, không hoảng hốt trước những bài đó - xuất hiện có liều lượng trong một tổng thể với ý định rõ rệt - chuyện nên làm, chuyện bình thường.

Mấy bài của Văn Cao trong leo lẻo thế còn được đánh giá như vậy, thì những cái như "Nhìn vào khe song trông anh ốm yếu ho hen. Một ngày công lao không cho biết đến hương đêm" (Phố buồn) thì còn khó lọt tai lắm.

Cái cách dùng tính từ (vốn nhan nhản trong lời ca bài hát Việt) thường vẫn là gọt giũa hiền lành và thuần nhất. Bài hát Trịnh Công Sơn chẳng hạn, dù nhiều tính từ lạ tai nhưng vì có nét siêu thực và bí hiểm, lại quần tụ để xây thành một màn sương dày dặn nên gây được một không khí an toàn, hát chúng là tuy leo trên những bậc chênh vênh nhưng có tay vịn chắc chắn. Nhạc Trịnh không có nhiều đột biến trong cấu trúc, nên người nghe và người hát đều cảm thấy tĩnh tại và thả lỏng được.

Trong khi đó nhạc Phạm Duy ưa kiến tạo những xung đột để tìm cách giải phóng. So với một nhạc sĩ sáng tác cũng hay theo kiểu chùm bài là Phú Quang, thì nhạc của Phú Quang cũng tạo được vấn đề và xung đột nhưng quá ngắn, nên bài hát vừa phát triển được một đoạn đã quay về đầu. Nên những bài của Phú Quang hát thành một show thì cũng được, nhưng hát lẻ thì cứ chơi vơi, hình ảnh lại quanh quẩn vài chất liệu về một đối tượng cũng tương đối mòn là Hà Nội và người tình xưa. Phạm Duy có lẽ có quan niệm nhất quán về triển khai tứ nhạc nên các bài hát đều dày dặn. Tuy nhiên ở nhiều bài lại gây cảm giác quá tham, nói hết những gì cần nói. Cho nên thực sự ấn tượng mà tôi thấy là nhạc Phạm Duy thiếu những bài có độ lơi hoặc nhẹ nhõm, hoặc thâm trầm. Cái cách mà những bài như Chiều (Dương Thiệu Tước, thơ Hồ Dzếnh), Diễm xưa (Trịnh Công Sơn) hay Hơi thở mùa xuân (Dương Thụ) đạt được, những bài nhạc Phạm Duy nổi tiếng nhất (mà tôi đã được nghe) tôi chưa cảm thấy. Nhạc Phạm Duy có cái gì đó chung với nhạc Hoàng Vân ở miền Bắc là ở chỗ hai ông thông minh quá, bài nào cũng tròn trịa, căng đầy, nói đến hết nhẽ những quân bài lật ra.

Dĩ nhiên, Phạm Duy có nói ông chú tâm làm nhạc xã hội, nên những bài hát khác không nằm trong mục ấy cũng mang sắc thái phong cách chung. Vì thế mà tôi từng phân tích trong một entry đã lâu, là nhạc Phạm Duy chia sẻ với nhạc đỏ ở việc có ít những câu trạng thái (như kiểu Chiều nay em ra phố về...), mà gần như toàn là những hoàn cảnh có điều kiện và hoạt động đi kèm: Năm xưa / Ngày đó --- anh phá núi / có em đi nhẹ vào đời. Do vậy, nghe một show nhạc PD như hôm Ngày trở về ở HN là khá mệt, như một cuộc tự sự về đời - một cuộc đời của người không ngại phô mình ra khóc cười mà test phản ứng của thế gian.
.
Đăng nhận xét

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ