Thứ Hai, 28 tháng 6, 2010

Review my book on HNM and SOI

Quảng bá cho sách của mình đến khi nào bà con mua hết mới thôi :-) Dưới đây là bài giới thiệu trên báo Hà Nội Mới số chủ nhật 27/6/2010. Sao tác giả này biết rõ tông tích mình thế. Cảm ơn tác giả!

Người trẻ Hà Nội tìm về Hà Nội
27/06/2010 07:22

(HNM) - Khép lại 247 trang của cuốn sách Hà Nội là Hà Nội (NXB Trẻ - 2010) là tâm trạng ngổn ngang. Dường như người trẻ trong cuốn sách này cũng bâng khuâng trước những nẻo đường Hà Nội hay từ Hà Nội đến với những vùng đất khác. Để luôn nhớ thương, ngẫm ngợi về Hà Nội của hôm nay và ngàn xưa...

Tác giả Nguyễn Trương Quý chia cuốn sách thành hành trình “từng cây số từ Hà Nội”, từ mốc cây số 0, cho đến cây số 50, 100 rồi nghỉ chân và đi tiếp đến cây số 1.000. Từ mốc cây số 0, anh viết “Văn Bờ Hồ”, mà thực ra là về tranh Bờ Hồ. Liên tưởng ở cuối bài viết này dễ làm các nhà văn đàn anh cười khẩy hay nổi đóa khi khuyên họ đem văn ra Bờ Hồ... bán cho đắt khách. Anh viết về phố sách giảm giá Đinh Lễ - Nguyễn Xí cách Bờ Hồ mấy bước chân hay xa hơn là cây cầu Chương Dương như thể ngày nào anh cũng đi trên những địa chỉ ấy, tẩn mẩn đếm từng nhịp cầu hay thuộc tên, nhớ mặt và tính cách cùng cách bán mua của từng chủ hiệu sách. Trăn trở nhiều hơn cả là những trang viết về Hà Nội những ngày trong cơn ngập úng lịch sử hay khi nắng nóng kinh người, về Hà Nội thời đại số, về Hà Nội dòng chìm dòng nổi... Mỗi câu chữ ở đó chất chứa “niềm vui giản dị của một thành phố không có dáng vẻ hoa lệ tí nào, và cả những nỗi buồn của đô thị nham nhở”, như anh tâm sự.



Minh họa cho bìa sách Hà Nội là Hà Nội

Ở cự ly 50 cây số, những chuyến đi lang thang qua những miền quê Bắc bộ càng khiến chàng trai Hà Nội tiếc ngẩn ngơ cho những gì đã mất từ biết bao cảnh tượng đền chùa miếu mạo bị tô vẽ, làm mới hay những không gian thờ cúng linh thiêng trở nên chật chội, bức bối và pha tạp vì sự xô bồ của nhà cửa xung quanh hay ồn ào phố thị ập đến... Có những trang viết nặng lòng với lễ hội xứ Bắc hay những ngày Tết cổ truyền dân tộc. Trong hương vị quen thuộc ấy, anh có những phát hiện khá thú vị, rằng đi xem lễ hội miền Bắc là đi xem người, là xem nhau chưng diện, quần là áo lượt, tán tỉnh và tình tự nhau... Hay những cái Tết xứ Bắc “vẫn như ngưng đọng lại vẻ đẹp của mùa xuân cổ điển, là dịp hồi cố lý tưởng cho thời gian khó đã qua, vì thế Tết cũng là dịp quan trọng của người già”.

Từ cây số 100, “đi xa khỏi vùng ảnh hưởng trực tiếp của Hà Nội”, đến vịnh Hạ Long. Ngoài vẻ đẹp kỳ vĩ của thiên nhiên khiến người viết say mê đếm từng đảo đá, anh không quên khám phá một Hạ Long lịch sử. Đưa ra luận điểm, “Với người Việt, Hạ Long là lịch sử”, anh đi tìm vết tích chiến trận chống quân xâm lược Nguyên Mông trên hang Đầu Gỗ hay những bài thơ của vua chúa khắc trên núi bài thơ... Rồi anh theo chân dân “phượt” trên các nẻo đường chinh phục cái mới, cái lạ và cả những trang viết đầy suy tư, ngẫm ngợi rất đỗi con người về quê hương, về nguyên quán...

Trước khi đến với chặng đường dài hơn 1.000 cây số, chàng trai Hà Nội ấy “Nghỉ chân” và tản mạn về một chữ “hổ”, về sức mạnh của “kẻ dạt vòm”, về nhạc Trịnh, về rock... Từ cây số 1.000, anh ghé về Quy Nhơn, về Sài Gòn ngồi nhấm nháp cà phê ở Đồng Khởi bất thình lình liên tưởng đến Pattaya của Thái Lan và đi xa hơn cả là đến với “Siem Reap bậc thềm Angkor”... Có lẽ phải là người của những ngày bé thơ đạp xe lòng vòng các phố phường Hà Nội để đi học vẽ ở Cung Thiếu nhi Hà Nội hay đứng chen chúc trong đám trẻ xếp hàng gõ trống “tùng dinh dinh” của những đêm Trung thu Hà Nội yên bình gần ba chục năm trước… mới có thể miên man trong những dòng suy tưởng về những địa danh ồn ào xa xôi nhưng gợi nhớ quê hương nhiều đến thế.



Hà Nội là Hà Nội là tập sách thứ ba trong bộ sách của Quý về Hà Nội, cùng với Tự nhiên như người Hà Nội và Ăn phở rất khó thấy ngon. Viết về những điều quen thuộc, những chuyện không còn xa lạ hay những địa chỉ rất thân quen nhưng người viết có nhiều phát hiện khá tinh tế, dù đôi khi anh hơi ngoa ngôn và câu chữ dẫn dụ dễ khiến người đọc lạc lối. Nhưng ở đó có sức hút của những quan sát kỹ lưỡng dưới góc nhìn của một kiến trúc sư, nhưng hơn hết là nghĩa tình của một người trẻ với thành phố đang chuyển động. Tìm hiểu và yêu mến thành phố này với tinh thần của một công dân và trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống đích thực. Với Quý, “cuộc tìm kiếm những giá trị văn hóa ở một thành phố tưởng như đã định hình nét văn hóa mà vẫn liên tục phải gọt giũa” này, cũng là chặng đường của một người Hà Nội tìm về với Hà Nội, với những kỷ niệm không dễ nguôi quên, những mảng ký ức sáng tối, đậm nhạt và hơn cả là nỗi niềm của một người trẻ trước những thay đổi của Hà Nội hôm nay. Người đọc sẽ chia sẻ với anh, dù đôi lúc có những bài viết lộ vẻ lạc điệu với tổng thể hay sự hẫng hụt đáng tiếc về giọng điệu...

...Phần lớn những bức ảnh trong sách do Quý chụp. Anh vẽ những hình minh họa nho nhỏ như bao diêm cùng với phần vẽ bìa với hình ảnh khu vực hồ Gươm (bìa trước) và hồ Tây (bìa sau). Ấy là Hà Nội nhìn từ trên cao xuống với nhà cao tầng nghễu nghện bên đền chùa và những cây cổ thụ. Vẫn những hình ảnh quen thuộc với nét vẽ đơn giản nhưng rất gợi. Hà Nội của Quý, nhìn xa hay gần đều ngổn ngang và trong mắt anh, những gì của xưa cũ dường như đều đẹp. Vẻ đẹp ấy khiến người Hà Nội trẻ đã tìm về Hà Nội trong yêu thương và trách nhiệm qua những trang sách vừa quen, vừa lạ.

Trần Linh

***
Còn đây là giới thiệu của trang SOI:

SOI: Nguyễn Trung Quý, hay Nguyễn Trương Quý, theo Soi là một người viết 3 trong 1, nghĩa là vừa vui, vừa hay, vừa nghiêm túc . Chọn Hà Nội đương đại làm đề tài theo đuổi như một dự án dài hơi, những cuốn sách ngày hôm nay của Nguyễn Trương Quý rồi sau này nhiều khả năng thành tư liệu cho sinh viên làm đề tài về Hà Nội phải tìm mà tra cứu. Xin trân trọng giới thiệu bộ sách này cùng bài tựa của anh – một cộng tác viên thân thiết với trang SOI.

Chủ Nhật, 27 tháng 6, 2010

Đức thắng

Những lý do tại sao Đức thắng Anh:
- Khi đội Đức tấn công, các biển quảng cáo xung quanh sân toàn Adidas. Vì thế đội Đức đá như trên sân nhà.
- Qủa bóng Jabulani do Adidas sản xuất. Bọn tờ-rớt này thao túng FIFA, nên đội Đức hiểu cơ chế hoạt động của quả bóng theo tinh thần Đức ắt là hơn người Anh.
- Một tuần nay, cho đến hôm nay Star Movies phát lại liên tục phim Bệnh nhân người Anh. Cho nên tối nay đội Anh đá như bị bệnh. Đó là một cái điềm.

Một nguồn tin cho biết, cách đây hai hôm, Capello vì ngán cảnh đi chung xe bus với cả đội Anh toàn đầu đất cỡ Rooney mà lại hay ra vẻ ta đây, đi xe đạp đến chỗ tập. Giữa đường, Capello la lên với Beckham đang đợi:
- Đức thắng!
Beck tức lắm, nghĩ Capello đã ăn tiền Đức.
Ngày mai Capello phải chứng minh được rằng xe đạp của mình "đứt thắng" (tức là đứt phanh, nói giọng miền Nam thì Đứt với Đức như nhau, Capello chả là người miền Nam (Âu) thì là gì, làm sao nói đúng chính tả bằng Beck ở miền Bắc được) thì mới khỏi oan.

Thứ Sáu, 25 tháng 6, 2010

"Gu Hà Nội" đang là thiểu số

Nhân dịp 3 cuốn sách ra, đã được bạn Việt Quỳnh phỏng vấn trên TTVH cuối tuần ra hôm nay, trong mục Gặp gỡ. Dưới đây là toàn bài.


Làm thế nào để anh có được những bài viết sinh động, hấp dẫn về Hà Nội, trong suốt ba quyển sách lặp đi lặp lại chỉ Hà Nội, Hà Nội…?


Khi bắt đầu viết, tôi xuất phát từ thực tế: Hà Nội xộc xệch thế mà lại là nơi định nghĩa bao giá trị cho mình. Tôi nghĩ chắc nếu sống ở thành phố khác, tôi cũng viết về nó như về Hà Nội. Nhưng tôi không sống ở đâu nhiều bằng ở đây nên chẳng biết so sánh kiểu gì. Nơi sinh tồn của ba triệu dân nội thành thì ắt phải lắm chuyện rồi, dường như chỉ cần lắng nghe một phần trong số đó cũng đủ để làm nên chất liệu viết lách. Tất nhiên khi tôi chọn tản văn, tùy bút hay tiểu luận để viết, tôi đã ý thức rằng đấy là những thể loại có khả năng phản ánh trực diện đời sống qua lăng kính chủ quan của mình. Và Hà Nội thì là một đối tượng không ngừng phát triển để viết về nó.


Ba cuốn sách của tôi, dĩ nhiên cũng phản ánh quá trình tư duy của tôi lẫn sự thay đổi của Hà Nội trong vòng 8 năm qua. Cuốn đầu tiên – Tự nhiên như người Hà Nội – viết với nhiều suy nghĩ bây giờ nhìn lại cũng tự thấy hơi ngây thơ, nhưng là về một Hà Nội đáng yêu, như kỷ niệm lần đầu chạm mặt, chủ yếu nhìn ở phương diện cấu trúc đô thị và không gian sống. Cuốn thứ hai – Ăn phở rất khó thấy ngon - là một Hà Nội của ba bốn năm trước, những gì gọi là vỡ mộng của người đi làm bàn giấy, trong phạm vi tâm lý và đời sống dân công sở văn phòng. Cuốn thứ ba – Hà Nội là Hà Nội – là hành trình tìm kiếm những giá trị văn hóa ở một đô thị tưởng chừng đã định hình nét văn hóa những vẫn liên tục phải gọt giũa. Nếu để ý kỹ sẽ thấy ba tên sách đều đặt ra định nghĩa về giá trị, thế nào là một phẩm chất của Hà Nội? Giá trị cũ khó lòng còn nguyên vẹn, vậy chọn cái gì thay thế, và sao mà lại chật vật thế?


Ảnh: Đoàn Bách.


Lý do nào mà anh dành quan tâm đặc biệt đến đề tài về Hà Nội?


Chắc là do điều kiện sống. Từ nhỏ tôi đã yêu thích những công trình biểu tượng lịch sử của Hà Nội. Đô thị nói chung (trong đó có Hà Nội) đối với tôi lúc ấy là một thế giới của hình khối, của không gian sắp đặt đa dạng. Giống như trò chơi thám hiểm, ta trá hình đột nhập vào một thành phố, nhìn ngó nó ở những góc nhìn dị biệt. Có thể là thời nhỏ, thời gian lúc nào cũng đầy ăm ắp trong tay, tôi có thời gian để tự mình chơi trò chơi đó.


Khi được học đôi chút về nghề cũng như qua sách vở, đương nhiên những kiến thức có lớp lang hơn, tôi có ý thức hơn về đề tài Hà Nội. Song tôi vẫn nghĩ, người ta không thể “khai thác” Hà Nội kiểu đề tài nghiên cứu hay để lấy “số má” mà viết về Hà Nội cho hay được.


Góc nhìn nào về Hà Nội làm anh thấy hứng thú nhất?


Có hai Hà Nội khiến tôi có hứng thú. Một là Hà Nội của phố chợ. Chợ ở Hà Nội tuy có khi cũng nhem nhuốc, nhưng không giống chợ nơi đâu, những người bán hàng hầu như ai cũng lợi khẩu, ai cũng biết xếp cho quầy hàng của mình hấp dẫn nhất. Người ta sợ mồm mép hàng tôm hàng cá nhưng chính chỗ đó lại là kho khẩu ngữ phong phú, vừa sỗ sàng vừa vòng vèo. Những món ngon Hà Nội cũng là từ chợ mà ra, mồm dân chợ Hà Nội ăn “khôn” nhất!


Tôi cũng thích Hà Nội của những lứa thanh niên, mỗi thời họ lại có một kiểu “điệu” riêng. Thời Hà Nội xưa cũ thì chỉ còn trong mô tả sách vở, chắc là đẹp lắm thì mới gây tiếc nuối đến vậy: “em tôi ngập ngừng trong tấm áo nhung” (Đoàn Chuẩn-Từ Linh). Hai mươi năm cuối thế kỷ XX, thanh niên Hà Nội trong kịch Lưu Quang Vũ hay truyện Nguyễn Việt Hà vừa nhiệt tình, vừa khinh bạc, vừa ngây thơ vừa thạo đời, thích chứng tỏ mình, hiếu khách nhưng lại không mấy khi sẵn sàng vồ vập, họ luôn giữ mình ở một cự ly vừa phải, không hồ đồ xốc nổi, cũng không khoáng hoạt ăn sóng nói gió. Tôi nghĩ thanh niên Hà Nội bây giờ vẫn ưa kiểu sống giản dị, có lẽ là khung cảnh sống quy định, khiến cho không có những nét phù hoa, mà ngược lại, nhiều khi lại hơi tằn tiện.


Viết về họ, cũng là viết về chính mình, ở những điều kỳ quặc phi lý của một thế hệ nhiều ngơ ngác trong cuộc đời. Đôi khi tôi thấy mình và bạn bè mình như trôi trong một đời sống vừa hỗn loạn lại vừa tuần tự, như một cái xe máy trong gần ba triệu cái xe đang chen chúc nhau trên những con đường Hà Nội, chẳng biết rẽ vào đâu.


Hà Nội trong ký ức tuổi thơ, và Hà Nội bây giờ trong mắt anh ra sao?


Như trên tôi có nói tới lúc nhỏ tôi say mê trò chơi thám hiểm đường phố do chính mình tự bày ra. Tôi nhớ hồi còn đi học vẽ ở Cung Thiếu nhi, lúc ấy tôi mê vẽ phong cảnh, trong đó có phố cổ. Tôi cảm tưởng là vẽ phố cổ rất dễ đẹp, vì những góc xô lệch và so le rất đặc trưng của mặt tiền nhà, của mái ngói, rất “ăn” với bố cục hội họa. Có lần tôi vẽ ngôi nhà số 44 Mã Mây, mãi sau này khi nó bị cháy rụi vì chập điện, tôi mới biết đó là ngôi nhà cổ nhất phố đó còn sót lại. Hồi nhỏ tôi có thú vui là rủ một vài đứa bạn cùng đạp xe khắp phố phường, có những lúc thích thú điên cuồng như lang thang ở bán đảo Ngũ Xã trong hồ Trúc Bạch, những con phố chẳng bao giờ thấy một cái xe máy chứ đừng nói là ôtô! Tôi chỉ còn nhớ láng máng lúc nhỏ đi tàu điện, khi lớn hơn thì chỉ còn xe điện bánh lốp, lúc ấy thì tôi lại biết đi xe đạp mất rồi, mà phi xe đạp có vẻ oai hơn nhảy tàu!


Hà Nội bây giờ có nhiều cái mà hồi bé tôi ao ước: có nhà cao hơn 11 tầng! (khách sạn Thăng Long bên hồ Giảng Võ cao 11 tầng từng là tòa nhà cao nhất Hà Nội, nay là KS Hà Nội). Nhưng hình như không còn huyền hoặc, không còn khiến tôi tò mò như xưa, có lẽ mình đã lớn! Hôm trước, tôi có xem lại những bức tranh của Bùi Xuân Phái trong sách, tự nhiên sống dậy ấn tượng huyền bí. Cơ man là những ngôi nhà mái chồng diêm như thể những ngôi đền ở một thánh địa. Vì lẽ gần như tất cả những ngôi nhà ấy nói chung một ngôn ngữ, một kiểu cách, như ngầm bắt tay nhau mà bảo: chỉ tớ với các cậu biết chuyện này thôi nhé! Bây giờ, những ngôi nhà Hà Nội cứ toang hoác ra, cái gì hoành tráng nhất cũng sắp sửa như khuân ra vỉa hè bán đến nơi.


Hà Nội năm 1925, đoạn Chợ Gạo, đầu cầu Chương Dương ngày nay.


Theo anh, giá trị của con người, cảnh vật nào của Hà Nội làm nên văn hóa Hà Nội và Hà Nội hiện tại có còn nhiều nét đó nữa hay không?


Tôi không muốn tin là người Hà Nội “chân chính” bây giờ là những người lạc thời, những người không kiểm soát được sự biến động của không gian sống. Nhưng văn hóa Hà Nội đang có thử thách trước áp lực sinh tồn của những vấn đề căn bản hơn: giá nhà đất, thái độ làm dịch vụ, quản lý đô thị. An cư lạc nghiệp, điều đó đã rõ từ xưa: những phố phường với cấu trúc sinh hoạt ổn định và thương mại phồn thịnh mới sinh ra được thiết chế văn hóa phục vụ cho chúng. Khi chúng ta nháo nhào lo mua được căn nhà vừa tầm tiền với thu nhập eo hẹp, với tắc đường, với các “thử nghiệm” chỉnh trang đô thị, với điều kiện sống ô nhiễm, có lẽ hơi viển vông để bảo nhau sống văn hóa – theo nghĩa là thanh lịch, tử tế và nhân văn.


Tôi vẫn nghĩ là có một “trường phái mỹ cảm có tên Hà Nội”. Cùng thế hệ tôi, tiếp nối các thế hệ trước, vẫn có những tín đồ của trường phái ấy – là gu thẩm mỹ, gu sống, nhưng ngày xưa thường hay có các hội đoàn và được cổ vũ. Trí tuệ của trí thức Hà Nội dường như chỉ để làm dáng. Bây giờ chúng tôi là những người đơn độc, và trường phái ấy chưa đến nỗi thất bại, nhưng đang trở thành thiểu số.


Xin cảm ơn anh.

Thứ Hai, 21 tháng 6, 2010

Nghệ thuật thì chữ ơ (cho ngày báo chí)

Mình có thời gian đi làm báo, ngắn ngủi thôi, không đủ lâu để được cấp một cái thẻ. Nhưng số lượng bạn làm báo cũng vẫn không thay đổi mấy. Làm báo rồi thì mới rút ra kết luận: dễ thì cũng sẽ dễ nhưng mà khó thì cũng khó, đúng kiểu làm dự án ở Việt Nam: ai vào làm cũng như tay mơ, mà rồi một thời gian sau là cắm cổ làm, nhoay nhoáy viết, rồi bằng cách nào đó, cũng thấy lên trang!

Thực sự là làm báo kiếm tiền tương đối dễ dàng, nhưng với điều kiện phải chăm chỉ và nhanh chóng biết làm bài. Nếu ai trót sa vào nhận chuyên mục kiểu columnist hay những thứ văn hoa lá cành thì mặc dù nhuận bút từng bài cao, nhưng viết những bài như thế rất lâu công, vò đầu bứt tai cả mấy ngày trời, có khi cả tuần, thì tính ra không bằng cánh làm bài 300-400k/bài tằng tằng tuần 2 bài...

Từ ngày chuyển sang làm sách, thì có một cái tiết mục cần nương nhờ báo chí là quảng cáo sách. Tất nhiên là các bạn làm báo bận tối mắt, không phải ai cũng đủ thời gian để đọc sách biếu từ NXB, nhưng không biết nói gì khi cả bài điểm sách chừng 300 chữ lại chính là lấy từ thông cáo báo chí, mà thông cáo thì lại là văn của biên tập viên, có khi lại chính là văn của tác giả... Một bạn làm báo văn nghệ có tiếng, viết báo giỏi, có năng lực tốt, ở một tờ báo cũng vào hàng nhất nhì đất Bắc, nhưng lại không được điểm sách cho báo nhà, mà đi điểm cho một tờ tạp chí đánh quả thêm. Bạn bảo: cái người điểm sách ở báo nhà chỉ chuyên điểm giá vàng và tin thời tiết bên mình!

Nhưng nghĩ kỹ thì ngày xưa, mình cũng hăm hở điểm sách, đọc túi bụi mỗi tháng ít nhất 5 quyển, nhưng rồi chẳng thấy đi đến đâu, hình như chẳng ai đọc, và những người làm ra sách cũng chẳng đọc đến bài điểm sách của mình, và cũng chẳng ai biếu mình sách đều đặn :-) Tóm lại, làm cái gì cứ phải lên lịch thì phải có một năng lượng và sự đam mê. Tại sao nền văn hóa đọc của chúng ta chỉ sinh ra những màn thù tạc triết lý vụn, hàn lâm cầu kỳ rởm, khi có cái gì bồng bột là cho rằng "hạng hai"? Các nhà báo hình như chẳng tiết lộ được cho người đọc xem gu của họ là gì, họ yêu ghét loại sách nào trong số những thứ đầy mẹt sách Đinh Lễ, Nguyễn Xí mà vô cùng ít ỏi những người chịu khó đọc mà điểm cho ra tấm ra món. Rút cục không biết bao nhiều là những bài giới thiệu sách bê nguyên lời bìa 4 mà dán vào, mà không biết bìa 4 ấy cũng chỉ là những synopsis gợi mở mà thôi. Đồng phục văn đã tệ, đồng phục thẩm văn thì còn chết hơn.

Những người điểm sách ở VN mình năng nổ hoạt động giờ chắc chỉ có mấy người quen biết là mình liếc tên thì phải để ý: ngoài bạn Nhị Linh vốn là nghề tay phải luôn, còn có chị Thu Hà, Linh Thoại, Trần Nhã Thụy (Tuổi Trẻ), Thủy Lê (Lao Động). Bạn Lâm Lê (TTVH Đàn Ông) thì chăm đọc mà ít thấy viết review, chuyên chú phim ảnh hơn. Anh Phạm Xuân Nguyên chính ra là đáng khen nhất vì không nề hà sách nào hết! Cũng có bạn Nhã Thuyên nhưng mình không thích đọc bạn ấy điểm sách lắm, cầu kỳ kiểu mấy mợ thừa thời gian, lúc nào cũng chêm vào một cụm từ kiểu tân hình thức, gạch nối cụm từ... Bạn Hải Ngọc cũng chăm chỉ nhưng bạn ấy chỉ viết trên blog, mà review lại không đại chúng, đọc mệt. Đọc những bài điểm sách đánh võng nhiều, người ta không muốn chạy đi mua nữa. Nhưng dù sao cũng thấy là họ quan tâm thực sự tới cuốn sách đó.

Vốn chưa từng viết báo về mảng sao hay giải trí nên cũng không biết được bếp núc phỏng vấn họ ra sao. Nhưng đọc lời lẽ của các sao, thấy các phóng viên siêu, có khả năng làm tươi mát cho những trang văn hóa, những tuyên ngôn bốc giời của các sao ấy như để bù lại sự nặng nề của các mục điểm sách.

Hôm qua trời đổ mưa, mát giời đi tí, tức cảnh làm bốn câu:

Đất nước hình chữ sờ
Thủ đô có vần ội
Họ tên mang dấu ngã
Nghệ thuật thì chữ ơ

Chúc mừng ngày nhà báo, các bạn nhà báo yêu quý!

Thứ Bảy, 12 tháng 6, 2010

Hoán vị nghiện

Tôi biết là có không ít người xem bóng đá là vì suy nghĩ người nhà mình đều xem, cơ quan cùng xem, chẳng lẽ mình không xem, nhất là trong mùa World Cup, thì thành kẻ lập dị lạc loài. Nhưng cũng có vô khối người xem bóng đá thâu đêm suốt sáng, bảnh mắt ra là vơ lấy tờ tin bóng đá, rảnh là lướt mạng đọc bình luận, thua thì vò đầu bứt tai, thắng thì nổ vung trời. Tác động của bóng đá lên thần kinh và hành vi nhanh chóng và trực tiếp không khác gì một loại ma túy tổng hợp.


Cách đây một tháng, báo đưa tin, gần 600 học viên cai nghiện ma túy của Trung tâm giáo dục – lao động số 2 Hải Phòng bỏ trốn. Họ cởi trần trùng trục, đi bộ từ huyện ngoại thành về trung tâm, làm cả thành phố náo loạn. Một lý do được xác minh như sau: “Trực tiếp chỉ huy lực lượng cảnh sát tối 16/5, đại tá Trọng cho biết, đám đông gần 600 học viên không có hành vi đập phá, hò hét gây mất trật tự mà hô ‘Hải Phòng vô địch’ để cổ vũ cho trận thắng của đội bóng đá đất Cảng vào chiều hôm đó”.


À, lại là vì bóng đá. Bóng đá tự bao giờ đã thành đại diện hẳn của quốc gia cho đến địa phương. Người ta đã phân tích nhiều, cắt nghĩa trạng thái tâm lý dở hơi của những người cuồng vì quả bóng da. 600 học viên trên đang trên con đường từ bỏ một thói nghiện nguy hiểm là ma túy để chia sẻ những thú vui khác lành mạnh hơn (giả dụ thế), trong đó là bóng đá, thì tác dụng quá đáng mừng chứ sao! Tưởng họ vượt rào để làm loạn hay khủng bố xã hội chứ họ yêu bóng đá thế, đất Cảng không lạ. Hè năm ngoái, khi nhiệt độ nóng như đổ lửa, 5000 cổ động viên của đội Xi măng Hải Phòng đổ đến sân Hàng Đẫy dự khán trận đấu với Thể Công. Cái nóng ngoài trời cộng với cái đau thua trận khiến cho số này ức chế, gây lộn, đánh nhau… đến mức bị cấm bén mảng đến sân khách vô thời hạn. Vì thế lý do trại viên cai nghiện có bỏ về cổ động cho đội bóng quê hương mà chẳng làm rối loạn trị an tự nhiên làm cho câu chuyện qua lời đại tá cảnh sát được châm chước đi hẳn!


Nhưng tại sao lại cứ phải nhè bóng đá để làm những việc quá khích, hay vì bóng đá là phép tiên giúp xả stress? Hồi Việt Nam vô địch cúp bóng đá Đông Nam Á, chắc mọi người còn nhớ Hà Nội hay TP.Hồ Chí Minh gần như tê liệt giao thông, cả xã hội sung sướng vì có được nguồn động viên tinh thần như ma túy liều cao. Bóng đá rút cục được gửi gắm khát vọng của quần chúng, khát vọng về tính đồng đội, 11 cầu thủ lúc này thành ra người nhà, thành máu mủ, thành tay thành chân của mình đang chạy trên sân cỏ hay nhìn qua tivi. “Nó” ngã dúi dụi trên sân, cả tập thể khán giả nhà rên lên xót như xót con em mình, hay là bị đối phương cản ngã hay trọng tài xử ép, cả địa phương, thậm chí cả dân tộc tức giận trút cơn thịnh nộ. Còn khi “nó” sút vào phát là cả triệu người như được tiêm thuốc sung sướng đồng loạt.


Cái sự hân hoan cùng một lúc nhân lên cho hàng tỷ người, thành ra một liệu pháp tâm lý diện rộng không gì sánh nổi (có lẽ trừ ngày kết thúc Thế chiến!) Có những người dửng dưng gọi đó là “tâm lý bầy đàn”, nhưng họ cũng chẳng thể làm gì trước cơn sóng thần hưng phấn hoặc đau khổ. Không chỉ một tỉnh, một nước mà còn kéo theo cả đông đảo người hâm mộ toàn cầu, chẳng hạn đến giờ hàng triệu người yêu Ronaldo răng thỏ vẫn chưa thôi nghi ngờ có bàn tay sắp đặt của FIFA trong trận chung kết Brazil thua Pháp ở sân Stade de France năm 1998.


Người ta sinh ra nghiện một thứ nào đó là vì thứ ấy có khả năng giải tỏa tâm lý cho họ, chuyển vị họ khỏi thực tại buồn chán đến một cõi hoan lạc nhờ tác dụng của nó. Nhưng chả biết bao nhiêu phần trăm là thuần túy nghiện vẻ đẹp của bóng đá, và bao nhiêu là chăm mua báo bóng đá xem tỉ lệ cá cược?


N.T.Q

Thứ Hai, 7 tháng 6, 2010

Cái liếc mắt ở Đồng Khởi

Hôm nay mới cầm quyển sách mới của mình đọc lại. Một số bài đọc lại không thích lắm, nhưng cũng trót cho vào rồi, có lẽ để khách quan nhận xét chuẩn hơn. Mục lục các bài như sau (bắt chước các album đăng bài lên cho người nghe download vài track :-)):

Từng cây số từ Hà Nội (thay lời đầu)


Mốc số 0

Giải nóng lâm thời

Hạnh phúc trên yên xe

Bốn bánh bay lên đỉnh

Nhấm nháp lịch sử

Hà Nội dòng chìm dòng nổi

Hà Nội có cầu Chương Dương

Có những người đi không về

Hà Nội thời Đại Số

Mười năm đồng hành

Luật Trung Thu

Bốn ngày ngập Hà Nội

Rau tươi sách sạch

Văn Bờ Hồ

Ngàn năm sẽ là vô nghĩa

Món khai vị và con cá lớn


Cây số 50

Đức tin nhìn từ Hà Nội

Điểm đến trước khi chết

Xuân nào vui hơn

Món quà xuân xứ Bắc


Cây số 100

Ở nơi nghìn đảo đá

Phượt

Quê


Nghỉ chân

Cũng một chữ Hổ

Sức mạnh của kẻ dạt vòm

Tay ta vượt đèo

Trịnh, rock: Đi tìm cái nguyên thủy


Cây số 1000

Thành phố giữa đàng

Cõi hạnh phúc của biển

Cái liếc mắt ở Đồng Khởi

Một ngàn bảy trăm cây số từ Hà Nội

Siem Reap bậc thềm Angkor


Sách có ảnh của các anh chị em: Hòa Trịnh, Đoàn Bách, Minh NN, Vàng Anh và nhiều ảnh tư liệu cũ. Tất nhiên ảnh của tác giả là nhiều nhất :-)

Về bìa của bộ sách, phải cảm ơn một loạt họa sĩ đồng nghiệp cùng cơ quan đã quân sư: anh Sinh - người đã nhiệt tình gợi ý màu và bố cục, chị Ly Hoàng Ly - đã có gợi ý rất vui: cho chữ "rất khó" nhỏ hơn hai dòng kia, kiểu nói hạ giọng cho quan trọng, và anh Nam đã tìm cho font chữ đẹp.

Trừ 1, 2 bài viết từ năm... 2004, còn thì là khoảng 2008-2009.

Sau đây là một bài chưa post lên đâu (đã đăng trên Jet Star theo đặt hàng của bạn Lâm):

Cái liếc mắt ở Đồng Khởi

Sài Gòn chắc chắn là nơi có số lượng “Tây” nhiều nhất Việt Nam, và loanh quanh thế nào, thì khu vực đường Đồng Khởi dường như là cái rốn tập trung những loại người này. Nói đến “Tây” – một danh từ của thời Pháp thuộc để lại từ một hai thế kỷ nay để nói về những người phương Tây hay rộng hơn là người nước ngoài – trong suy nghĩ của người Việt vẫn đồng nghĩa một cách hơi buồn cười với 3 chữ T: tiền, totình. Bỏ qua cái vẻ hài hước có phần tự ti của người Việt, rõ ràng họ ý thức rằng những vị khách này là cơ hội làm ăn của họ, và dĩ nhiên với sự khác biệt văn hóa Đông Tây, nhu cầu khám phá và giao lưu về tình cảm dễ nảy mầm hơn bao giờ hết ở cái thời con người dằn vặt với cô đơn một cách hiện sinh thế này. Theo chân cô bạn nhà báo, tôi ngẫu nhiên khám phá đường Đồng Khởi và khu trung tâm Sài Gòn - một lựa chọn thoạt tiên có vẻ dễ dãi. Đồng ý với cô bạn rằng, Đồng Khởi là căn cước văn hóa cho Sài Gòn cả thế kỷ qua, nhưng thái độ đề cao vai trò của con đường này làm tôi hơi bị dị ứng lúc ban đầu. Làm gì đến mức cứ đến Sài Gòn là phải “điểm danh” ở khu vực đường Đồng Khởi!


Con đường thời những năm 1970 với tòa nhà cũ của khách sạn Caravelle


Nhưng mà với con đường trót mang chức phận “đại diện văn hóa” và hơn thế, cửa ngõ với thế giới, thì lúc nào cũng có gì đó xảy ra. Một trăm năm trước, đường Catinat xưa là do người Pháp tạo ra, phục vụ nhu cầu của những người phương Tây đến định cư ở đây, và bây giờ, con đường mang tên Đồng Khởi phải là chính nó với cảnh những “ông Tây bà đầm” đang nườm nượp đi từ vỉa hè trước mặt khách sạn Caravelle băng sang café Gloria Jeans bên kia đường. Ngày xưa cụ kỵ họ là ông chủ thực dân oai vệ trên xe hơi, ngày nay họ là bạn làm ăn, và hơn nữa, là những đối tác. Chữ partner trong tiếng Anh, cũng dùng để chỉ đối tác tình cảm nữa.


Cô bạn lôi tôi đi đến Q Bar ở tầng hầm Nhà hát thành phố một tối thứ bảy. Trong một tối khuya bên ly Mojito giá 5 đôla, tất cả đều có thể bắt đầu sau cái liếc mắt. Màu hồng hồng của nội thất quán Bar khêu gợi. Tường trắng cũng pha hồng của Nhà hát. Dãy ghế sơn trắng điệu đà. Vườn hoa với những hàng cây sao thẳng đứng, bên kia là khách sạn Caravelle bóng loáng. Và trước mặt là đường Đồng Khởi với những mặt tiền thời trang thắp đèn vàng nhạt. Tất cả như những tiện nghi dọn ra cho những cuộc hẹn. Cái lãng mạn của đêm hẹn hò chen cảm giác ướt át trong khi bầu trời đêm vẫn hửng lên những quầng sáng của thành phố ngủ muộn. Khác với các con đường tắc nghẽn ban ngày và ầm ĩ ban đêm, buổi tối ở Đồng Khởi ít bị nhiễu xe máy. Không còn lỉnh kỉnh mũ bảo hiểm, những người muốn đi tìm một bạn tình trong đêm cũng quyến rũ hơn, thong dong hơn trong mùi nước hoa Pháp.


Cô bạn nhà báo ý thức sự hấp dẫn của mình, thả mái tóc dài đi qua hai dãy bàn ngoài trời. Đủ màu da. Những cái liếc mắt thăm thẳm trong bóng tối. Biết có những cặp mắt nhìn theo mình, cô nói đến đây “chỉ vì uống và thích ngồi” chứ cô dám chắc cực dễ bắt bồ. “Gạt đi không hết”, cô luồn tay vào tóc, thản nhiên nói, “ở đây nhiều người cô đơn đi tìm bồ, mình thì chán rồi”. Bàn bên, một người thanh niên Việt Nam cơ bắp lực lưỡng, mặc áo thun ngắn tay bó sát, bắt chuyện với một ông trung niên da trắng. “Gay. Nhìn là biết”, cô bạn khẳng định.


So với chỉ vài năm trước, tính quốc tế hóa của con đường tăng lên đáng kể, và lý do là sự hiện diện của tinh thần “đô thị thế giới” ở đây. Gần như tất cả các quán café và bar trên khu vực này đều mang tên tiếng Anh hoặc Pháp. Những quán được nhắc đến nhiều nhất vẫn là Gloria Jeans, Samsara (đều tại nơi có tên cũ là Brodard), Givral, Mojo, Highland Coffee… Những cái tên đầy ám ảnh nhục cảm như Lush, Heart of Darkness, Wild Horse. Ngay việc quy định tên các cơ sở kinh doanh phải có tên Việt Nam cũng không cưỡng lại được quy luật của thế giới toàn cầu hóa. Có những cái tên lại vốn là di sản tinh thần lớn nhất của nơi đó, như khách sạn Continental, Caravelle, hay café Givral. Ở đây, cái huyền thoại chen lẫn cái thời thượng. Nhưng như những gì gắn với thời trang, xu hướng nhục cảm lên ngôi. Tóc suôn, áo hai dây, kính râm tối màu, tay xách túi LV, đó là những cô nàng bước ra từ Mojo. Đồng Khởi hình như đã thành một runway quy ước.


Ở đường Đồng Khởi, chất nhục cảm không lồ lộ như các khu Silom hay Patpong của một đô thị rất hay dùng để so sánh với Sài Gòn là Bangkok. Nhưng cũng chính vì sự kín đáo ở mức độ nhất định lại khiến cho cảm giác có phần đậm đặc. Khéo léo pha trộn một lịch sử nhiều biến động, một bối cảnh Á Đông vẫn duy trì những giá trị Nho giáo với đôi nét hiện sinh của lối sống đương thời, cư dân khu vực này của Sài Gòn dường như biết cách hấp dẫn người từ xa đến. Dù ăn mặc có phần cấp tiến, lối thời trang của nơi đây vẫn mang một gout nhã nhặn. Nó chưa phải là trung tâm avant-garde của thời đại. Hãy còn chưa tới thời của một nơi “phải đến trước khi chết”. Mặc dù chưa phải là bãi đáp cho những phi cơ tìm kiếm bạn tình dễ khiến người ta lè lưỡi nghĩ xấu, nhưng Đồng Khởi đã hứa hẹn là sân bay thú vị đón khách.


Tượng Đức Mẹ trước nhà thờ Đức Bà, phía đằng xa là tòa nhà Diamond Plaza.


Trong một thời gian dài, quan niệm về văn hóa của Việt Nam có phần đóng khung ở những hoạt động cổ điển, theo đường lối chính thống, và ảnh hưởng mạnh của đạo đức Khổng Mạnh. Đường Đồng Khởi trong cấu trúc đô thị của khu vực trung tâm lõi của Sài Gòn, dường như cũng là hàng rào văn hóa cuối cùng trước khi cơn lũ lối sống phương Tây dạt vào những nền nếp truyền thống bản địa. Những mặt tiền thời Pháp còn níu kéo chút hơi hướm kiến trúc kết hợp với những nét hoa văn Á Đông đã dần ít đi so với những mảng kính lớn trưng bày hàng xa xỉ toàn cầu. Nhà hát lớn kiểu Pháp đã lép vế so với Caravelle từ 9 tầng lên đến 18 tầng ngay sát nách. Hoa văn thạch cao và vôi vữa đã kém thế so với nhôm kính sáng choang.


Đêm thứ sáu. Đã so sánh với Bangkok thì cũng nói luôn về điểm đến bí hiểm cuối cùng của Đồng Khởi – bar Samsara – nơi được coi là góc Bangkok trong lòng Sài Gòn. Tương phản với những hình ảnh nhẫn nại quen thuộc của Đức Phật trên các tranh tường và mầu xanh olive trầm là đám đông nhộn nhịp những người ăn mặc sexy đủ màu da. Các phục vụ bàn mặc áo thun không tay bó sát và quần shorts trắng khêu gợi. Trên đầu những mái tóc nhuộm là những cái mũ chóp với tai thỏ giả vờ pha tí ngây thơ. Người ta không còn e dè liếc nhau như ngoài trời, ở đây người ta nhìn thẳng nhau cười cười. “Have a friend? Singapore?” Một cậu trai cao ráo, áo sơmi hoa phanh ngực cầm chai Corona quay sang hỏi, mắt nhìn ướt át. “Không, tôi là người Việt”. Cậu trai lẩn vào đám đông đang nhảy nhót. Lát sau, đã thấy cậu ta nói chuyện rôm rả với một người đàn ông nước ngoài mặc áo ba lỗ. Dọc theo quầy, từng cặp Tây Ta ngồi như bồ câu đậu hàng rào.


Quán Gloria Jeans sáng chủ nhật nắng đẹp. Café ở đây có lẽ là có giá đắt nhất Sài Gòn. Ngồi uống tách cà phê 5 đôla ở đây mà quan sát thì mới thấy đường Đồng Khởi không phải dành cho Tây balô như các quyển sách du lịch bỏ túi vẫn dẫn dụ. Mật độ quán dày đặc xung quanh: tầng trên là Samsara, đối diện là Mojo, bên đường Nguyễn Thiệp là những café trứ danh khác: Ciao, Lemon Grass, Augustin. Gọi theo cách người Việt nói bây giờ là “đắt lòi mắt” mà quán nào cũng đông khách. Cô bạn nhà báo lại nhận ra từ bên kia đường, chàng trai đêm thứ bảy xuất hiện ở Q Bar lượn qua cửa quán. Vẫn áo thun bó sát, anh chàng bước đi mỉm cười rất tự tin và khiêu khích. Trong quán này, ai là partner của anh ta nhỉ? Ai quan tâm chứ. Nhưng bạn cũng liếc mắt đấy thôi. Hẳn nhiên rồi, đây là đường Đồng Khởi cơ mà.


Phụ chú:

Chốn uống


Q Bar: Quán bar có vị trí độc nhất vô nhị: tầng hầm Nhà hát thành phố. Quán còn có khu vực uống ngoài trời bên hông Nhà hát. Vì thế có kiểu cách của một quán café Paris hơn là một quán bar nhiệt đới. Quán chủ yếu phục vụ buổi tối.


Highlands: Nằm trong chuỗi quán mang tên thương hiệu Việt Nam nổi tiếng. Nằm ở tầng trệt tòa nhà Metropolitan, đầu đường Đồng Khởi, gần nhà thờ Đức Bà. Menu café của Highlands không có nhiều lựa chọn song chất lượng tốt và địa điểm được đánh giá cao. Chỗ ngồi lộ thiên là nơi các celebrity ưa thích.


Givral: Nhà hàng ăn uống và café nổi tiếng ở Sài Gòn, thành lập từ năm 1954. Nằm ở 169 Đồng Khởi, đối diện khách sạn Continental và Nhà hát thành phố - những địa điểm lịch sử quan trọng của Sài Gòn. Có thể phục vụ đến 500 khách, giá cả từ 30.000-70.000VND/món. Givral không phải là quán lâu năm nhất hay đạt được những tiêu chuẩn hảo hạng, song chắc chắn danh tiếng có thừa. Nhiều văn nghệ sĩ, chính khách và cả các tình báo viên thời chiến đã chọn làm nơi ngồi ưa thích.


Điểm shopping


Louis Vuitton: Nơi giới thiệu những sản phẩm cao cấp của nhãn hiệu đồ da hàng đầu thế giới. Vị trí được xem là đẹp nhất Sài Gòn: góc đường Đồng Khởi và Lê Lợi, nhìn đối diện Nhà hát thành phố và KS Caravelle. Cửa hàng chiếm trọn tầng trệt của tòa nhà mang phong cách kiến trúc tân cổ điển Pháp với tông màu vàng kem và xanh olive đậm, thích hợp với một nhãn hiệu nổi tiếng đến từ thủ đô thời trang.


Tiệm sách vỉa hè: Tại các tiệm sách vỉa hè chỉ có một sạp hàng nhỏ nhưng khách có thể mua bất cứ loại báo chí quan trọng nào của thế giới. Điểm thú vị của những tiệm sách này là phải hỏi người bán. Đừng để mắt bạn đánh lừa bạn. Người bán sẽ lấy cho bạn một quyển sách hay tờ báo hiếm hoi sau mười phút nếu như bạn thật sự cần. Hơn nữa, giá cả thì cũng rất bất ngờ.


Xuân Thu – Xunhasaba: Cửa hàng sách ngoại văn dễ tiếp cận nhất đối với người nước ngoài. Bên cạnh đó còn có các ấn phẩm tiếng Việt phổ biến. Vị trí đối diện với KS Continental là một dấu mốc dễ nhận ra đối với người qua đường. Vào thời điểm cuốn sách được in ra, khu vực này (trong đó có quán café Givral và hiệu sách Xuân Thu) đã bị phá đi để xây dựng một trung tâm thương mại mới.


9.4.2008

Thứ Sáu, 4 tháng 6, 2010

Hà Nội là Hà Nội



Từng cây số từ Hà Nội


Cuốn sách này là cuốn thứ ba trong bộ ba sách về Hà Nội của tôi. Cuốn đầu – Tự nhiên như người Hà Nội – là những quan sát và tìm hiểu về hình thái đô thị, làm rõ đặc trưng không gian rất đặc biệt của Hà Nội. Cuốn thứ hai – Ăn phở rất khó thấy ngon – là chân dung về con người trong thành phố ấy, đặc biệt tập trung vào lối sống của giới viên chức văn phòng, mang những nét hài hước.


Cuốn sách này, như tên gọi của nó, Hà Nội là Hà Nội, là cuộc tìm kiếm những giá trị văn hóa ở một thành phố tưởng như đã định hình nét văn hóa mà vẫn liên tục phải gọt giũa.


Chất Hà Nội thì ai cũng mong tốt đẹp toàn phần, nhưng sự đời không đơn giản thế. Hành trình tìm kiếm của tôi cũng không chỉ loanh quanh 36 phố phường hay mấy quận nội thành, mà trải trên những cột mốc. Cách Hà Nội 10, 50, 100, 1000 cây số, tôi lại thấy rõ hơn nhiều điều về nơi tôi sinh ra này. Nhiều khi thấy lắm nơi cũng có những thứ giống Hà Nội đến lạ. Ở những nơi xa xôi thế, vẫn có những người đã từng ở Hà Nội hay tình cờ ghé qua mà để lại dấu ấn văn hóa.


Ở cự ly 10 cây số, ứng với phạm vi trung tâm Hà Nội, tôi viết về những “dòng chìm dòng nổi” của đời sống văn hóa nơi đây. Những niềm vui giản dị của một thành phố không có dáng vẻ hoa lệ tí nào, và cả những nỗi buồn của đô thị nham nhở của một nước thế giới thứ ba. Dù gì thì tôi cũng vẫn thích nhập cuộc với thành phố nhiều năng lượng sống này.


Ở cự ly 50 cây số, trên đường đi lang thang quanh những làng quê đồng bằng Bắc Bộ, nơi bao bọc lấy Hà Nội, “nhà bếp” của Hà Nội, nơi cung cấp thực phẩm và sản phẩm thủ công cho Kẻ Chợ xưa và Hà Nội nay. Đây cũng là nơi mô hình truyền thống dễ bị phá vỡ nhất của quá trình đô thị hóa.


Ra đến phạm vi 100 cây số, là những quan sát về việc đi xa khỏi vùng ảnh hưởng trực tiếp của Hà Nội. Vì xa như thế, sự so sánh hiện ra rất rõ nét.


1000 cây số và hơn nữa, là những nơi xa hẳn Hà Nội, hành trình phức tạp hơn, thì Hà Nội là giọng nói, là liên tưởng, là những sản phẩm văn hóa phát tán từ Hà Nội và chảy ngược ra Hà Nội. Ở những vùng xa này, tôi rất nhớ Hà Nội, có lẽ vì nhớ mái nhà của mình, nhưng cũng vì nhớ “khí hậu văn hóa” của thành phố này, thứ tôi không mang theo được.


Nguyễn Trương Quý


----


MỐC SỐ 0

Có người ví nếu Hồ Gươm là trái tim của Hà Nội thì Tháp Rùa là mốc số 0 của những ngả đường của những người tìm đến thủ đô. Thật vậy, ngọn tháp không quá cổ, cao chưa đầy chục mét, lại pha trộn kiến trúc Tây Ta, nhưng đã thành biểu tượng huyền hoặc của Hà Nội. Những người lên đường đi xa, dạo vòng quanh Hồ Gươm lần cuối, chào Tháp Rùa. Những người về Hà Nội, cũng phóng xe quanh Bờ Hồ, ngắm xem có gì đổi khác. Ngày xưa, bố tôi đi về Thủ đô sau khi tiếp quản năm 1954, hai anh chiến sĩ đi bộ từ Thái Nguyên qua cầu Long Biên, ngồi nghỉ ở Bờ Hồ nhìn Tháp Rùa hỏi nhau: đã về đến Hà Nội chưa mày?


Trong một bài viết mang tên “Vĩnh cửu và đổi thay”, nhà báo Dominique Delaunay đã bắt gặp một Hà Nội dưới ánh trăng đêm, một tổ kiến khổng lồ chìm trong giấc ngủ để sáng ra, là một cuộc tái sắp xếp không gian. Ở một nghĩa rộng hơn, cuộc sắp xếp này chính là hình dung cho một Hà Nội biến đổi theo năm tháng, ở từng đơn vị không gian sống. Với người Hà Nội, sống nghĩa là luôn phải bận rộn chân tay và trí óc mà tái sắp xếp không gian của mình. Hà Nội chịu ảnh hưởng của những ngả đường sinh sống từ mọi miền về qua năm cửa ô, và Hà Nội cũng được phát tán đi khắp nơi. Đó cũng chính là cách mà Hà Nội đang tồn tại, một Hà Nội không có tính từ nào phụ kèm. Hà Nội là Hà Nội.


----


Nhận dịp này, 2 cuốn sách cùng bộ cũng tái bản lại với hình thức mới. 2 cuốn này sẽ ra mắt khoảng vài tuần nữa. Cuốn Hà Nội là Hà Nội hiện đã bán ở TP. HCM, chắc tuần sau có mặt ở Hà Nội. Giá bìa 50.000Đ. Trong đó có một số bài tôi đã đăng trên blog. Sách có thể mua qua mạng, tại vinabook: http://www.vinabook.com/ha-noi-la-ha-noi-m11i40066.html.



Thứ Tư, 2 tháng 6, 2010

Phàm là phim dở thì ai chịu?

Do Phan Xi Nê viết một bài nói rằng "Làm sai lịch sử mà hay thì vẫn hay, mà làm đúng lịch sử mà dở thì vẫn dở" (Ừa, thì đành chịu vậy!), có nhắc đến những bài viết phê bình phim Tây Sơn hào kiệt thời gian qua, dĩ nhiên là có 2 bài của tôi trên báo Tuổi Trẻ và trên blog (sau đăng đầy đủ trên SOI), tôi có viết bài hồi đáp trên SOI như dưới đây.
-----------

Phàm là phim dở thì ai chịu?

NGUYỄN TRƯƠNG QUÝ

1

Nhân việc Phan Xi Nê viết bài “Ừa, thì đành chịu vậy!” như một ý kiến hồi đáp cho những bài nhận xét về phim Tây Sơn Hào Kiệt (TSHK), tôi nghĩ chúng ta nên sòng phẳng về tiêu chí phim lịch sử hay. Tôi thấy mình cần lên tiếng vì mình là người đã viết bài nhận xét đầu tiên sau khi phim bắt đầu công chiếu.

Dù thì gì bạn hãy xem phim TSHK đi đã. Lúc ấy tôi không hi vọng bạn vớt vát cho một bộ phim như rất nhiều người cho đến giờ vẫn ủng hộ vì những lý do: làm phim lịch sử lúc này là “yêu nước”, có cái để xem là quý hóa lắm rồi.

Nhưng phim thì chỉ có hay hoặc dở. Vì nó dở quá (tôi đã gần như thuật lại trong bài trên SOI rồi) để tim tôi rung động được nên cái lịch sử trong đó không tìm được đường thuyết phục mà đi vào não tôi.

Bạn nói “chê làm sao cho người ta tỉnh ngộ ra, chớ chê những chuyện kiểu ‘phim không làm đúng lịch sử’ thì hoang mang quá độ cho người ta”, thì chúng tôi, những người đi xem, hoàn toàn có quyền yêu cầu một sản phẩm đúng lịch sử trên tinh thần và tham vọng nó muốn tái hiện. Vì sao thế? Bởi vì thưa bạn, bộ phim này có cả năm phút vĩ thanh quay cảnh thời hiện đại, có hình nhà bảo tàng Quang Trung, cảnh dâng hương tưởng niệm và lời thuyết minh rất đúng tinh thần “giải mã lịch sử có tính khoa học”, với những lời có cánh rằng muốn cho thế hệ con cháu hiểu về lịch sử nước nhà. Giá mà họ chạy một dòng chữ rằng: bộ phim bảy phần thực ba phần hư, thì có khi lại được thông cảm tí tẹo. Nói tí tẹo ấy là còn rất nhân nhượng, bởi vì cái phần hư cũng như một loại nhại tiếng, quá lệ thuộc vào hình mẫu lịch sử để rồi thành những chuyện “dã sử” không làm sao tiêu hóa nổi.

Vấn đề lại nằm ở phong cách thể hiện, khi chọn phong cách hiện thực “bò sát mặt đất” như đã làm, thì tôi biết lấy điểm tựa nào mà bay bổng phiêu lưu cùng Lý Hùng. Không dám phóng tác mà lại chăm chăm chắp nối các sự kiện như sách sử sao cho đầy đủ, cả bộ phim là một chuỗi slide tơi tả, chỉ khiến người ta phát điên với những điều đã học rà rã trên ghế nhà trường mà không đặt ra được vấn đề gì về “tại sao lại là Tây Sơn mà không phải một phong trào khác”? Khi phim chăm chăm thuật lại lịch sử trường ốc như thế, mặc lòng tôi phải theo luật chơi của nhà làm phim, chăm chăm theo dõi cái lịch sử ấy, vì còn biết xem cái gì giờ? Những màn tấu hài không cười nổi của Tấn Beo? Cái nốt ruồi trên mép của Ngọc Hân-Thùy Lâm? Hay cái cột điện cao thế ở dãy núi đằng hậu cảnh Quang Trung chia tay Ngọc Hân?

ly-hung-cot-dien

Lý Hùng và Thùy Lâm: Nếu bỏ qua chi tiết cột điện (mũi tên) thì người xem nên nhìn cái gì: vòng 2 của diễn viên?

Nếu các nhà làm phim ý thức được họ làm phim để giải trí thì họ hãy làm một phim thực sự lôi cuốn bằng những pha hành động thật đẹp mắt đi, thay vì ngớ ngẩn vụng về. Họ hãy khiến người ta choáng ngợp bởi cảnh trí đất nước trải dài từ Nam ra Bắc theo chân người anh hùng áo vải, thay vì cả Việt Nam thế kỷ 18 chỉ khoanh vùng trong cảnh quay đầy bêtông ở Bình Định và Bình Dương đi. Điện ảnh cũng như sản phẩm nghệ thuật nào cũng là tổng hợp của chi tiết, chi tiết và chi tiết. Cái tư duy đại khái tôi tưởng chỉ tồn tại ở “sản phẩm nghệ thuật Nhà nước”, hóa ra cũng nặng căn ở đây đến thế cơ mà! Đừng đổ tại hoàn cảnh, người xem phim chỉ biết có bộ phim dở hiện ra. Tại sao đã mất tiền mua vé lại cứ phải véo mình rằng “bỏ qua, bỏ qua”?

Tiếp đó, bạn nói: “Phim dở đâu phải tại làm không đúng lịch sử. Phim dở vì nó dở, vì người kể chuyện dở. Bọn Hollywood chúng làm phim có đúng lịch sử đâu mà dân chúng ta chết mê chết mệt. Bọn Tàu chúng có làm phim đúng lịch sử đâu mà dân chúng cũng chết mệt chết mê. Làm sai lịch sử mà hay thì vẫn hay, mà làm đúng lịch sử mà dở thì vẫn dở.

Chính bạn đã nói đúng cái điều tôi muốn nói rồi, và đã nói ở trên. Để có tính công bằng, ta lấy ví dụ bộ phim khai thác đề tài lịch sử mới đây của Quentin Tarantino – “Inglourious Basterds”. Bộ phim rất hay, gần như là bộ phim đáng xem nhất mùa giải Oscar năm vừa rồi. Chúng ta chết mê chết mệt là bởi vì, cái thủ pháp và ngôn ngữ điện ảnh được nhà làm phim Hollywood đã lựa chọn nhất quán từ đầu.

Khi tác giả phim theo đuổi phong cách cường điệu và hài hước, thì người xem đã được dự báo rằng đây là một loại “siêu hiện thực” để chấp nhận cuộc chơi. Cái thông điệp đem lại từ sự hư cấu lịch sử là khiến người xem bật cười mà đau lòng trước hiện thực quá khứ lẽ ra đã có thể khác, thấy kinh sợ cái chế độ tàn bạo vẫn tiềm tàng trong thời nay, thấy cái ác có mặt dễ dàng và giản đơn. Nó khác với cách diễn tả bằng phong cách quay đen trắng kiểu docu-fiction như Schindler’s List.

Những nhân vật trong phim lịch sử của Mỹ hay Trung Quốc mà bạn nói, họ đi lại, cười khóc và có đời sống khiến người ta xúc động, căm ghét hay tò mò dõi theo, làm cho bộ phim không phải là mớ hình minh họa truyện tranh lịch sử. Sở dĩ TSHK mất điểm trầm trọng là vì các nhân vật trong đó chỉ xuất hiện để đọc thoại. Mà thoại thì sáo rỗng và vô duyên như tôi đã dẫn ra trong bài trước, thốt ra từ những cái mồm và ánh mắt đờ đẫn như chờ được nhắc tuồng sau cánh gà.

Đoàn làm phim TSHK ra mắt: Trên phông đã đề chữ rất to “phim Tây  Sơn hào kiệt – Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ”, người xem có được hiểu  đây là phim chân dung nhân vật hiện thực 100%?

Đoàn làm phim TSHK ra mắt: Trên phông đã đề chữ rất to “phim Tây Sơn hào kiệt – Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ”, người xem có thể hiểu đây là phim chân dung nhân vật hiện thực 100%?


Cuối cùng, bạn nói “Tui mong chờ anh Thỏ Trắng và bạn bè hôm nào chê các phim Nhà Nước đặt hàng rồi mong chờ bạn của anh có dũng khí lấy bài anh viết đăng lại trên các báo mainstream”. Thưa bạn, việc tôi bỏ tiền đi xem phim TSHK mà không đi xem phim Nhà nước đặt hàng đã là một lợi thế của phim này rồi ạ. Tôi chưa xem Đừng Đốt, vì thế tôi cũng không thể nhận định được gì cũng như không vì ảnh hưởng của các bài báo mà quyết định xem hay không.

Còn việc bạn cho rằng báo chí chưa từng viết bài nào chê phim Nhà nước thì có lẽ bạn đã hơi chủ quan. Ở đây tôi chỉ có quen biết thông thường với anh Thỏ Trắng (tức Minh Đức) nên không nghĩ là mình nằm trong số những người bạn nói ở trên. Nhưng bạn có dám chắc là đã đọc hết các báo ở Việt Nam khi một bộ phim như Giải phóng Sài Gòn ra chưa? Tôi đã từng viết bài phê bình phim đó tên là “Kể khoán cho xong chiến công” trên báo Thể thao & Văn hóa mà không cần phải viện tới “dũng khí” nào. Phản ứng tự nhiên của tôi là phản đối một bộ phim tốn tiền dân mà dở không phương cứu vãn. Tiếc rằng hoặc bài viết của tôi không có cơ hội gây ầm ĩ như những bài về phim TSHK, hoặc không đến được tay bạn, nhưng tôi không nghĩ rằng bạn cần phải đặt mình ra tư thế “phân luồng” cho phim Việt Nam. Với người xem, chỉ có phim Việt Nam hay và dở mà thôi. Tôi cũng không phân loại bài viết của nhà báo chuyên nghiệp, nhà phê bình phim hay của độc giả thì cái nào đáng ưu tiên hơn, chỉ có cái phản ứng của chúng ta, những người xem phim, phải chịu đựng những sản phẩm cẩu thả và vô trách nhiệm, mới là đáng kể.

N.T.Q

+ Đã có bài phản hồi của Phan Xi Nê trên SOI. Một số bạn có nói về bài của tôi trên Tuổi Trẻ (Quá khứ oai hùng để đâu?) là không đạt bằng bài trên blog (Giải mã Tây Sơn hào kiệt): "bài được gọt dũa lại trên Tuổi Trẻ chỉ còn cái phần khô khốc huỵch toẹt". Tôi có nói thế này:

- À, mình cần nói thêm là về bài trên TT, là mình viết lại theo hướng tập trung vào những chi tiết lịch sử, tất nhiên là có sự biên tập của báo. Dù sao, trách nhiệm cũng là của người viết, giá có thời gian và đủ chỗ thì tốt hơn. Thế nhưng những điều mình nói là sự thật cả, và sự thật thì dù nói bằng cách nào, "ướt" hay "khô" cũng không "giảm" hay "tránh" được.

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ