Chủ Nhật, 27 tháng 10, 2013

Tuyết của Đỗ Phấn

Đỗ Phấn lúc nào cũng có chuyện để kể. Trong khi chờ đọc xong Dằng dặc triền sông mưa (truyện dài) thì giới thiệu trước tập tản văn Hà Nội thì không có tuyết. Dằng dặc triền sông mưa là truyện dài kể ở ngôi thứ ba nhưng xưng "cậu" - quãng đời của một cậu bé Hà Nội đi sơ tán về quê, gọi là quê nhưng là vùng Yên Hòa, Cầu Giấy hay cạnh sông Đuống bên Gia Lâm, hồi ấy mới tách từ Bắc Ninh để sáp nhập vào Hà Nội... bây giờ những triền sông mưa ấy đã thành đất nội thành hoặc khu đô thị mới cả rồi. Truyện đọc trong trẻo và nhiều hình ảnh Hà Nội được ghi lại rất thú vị. Họa sĩ đã kịp vẽ bằng chữ, không bị sa vào thổn thức tuyên truyền kiểu Văn Linh, có gì đó gần Vũ Tú Nam, và song song với Phan Thị Thanh Nhàn, Xuân Quỳnh, Dương Thu Hương ở những Xóm đê ngày ấy, Hành trình ngày thơ ấu...

Hà Nội thì không có tuyết là rất nhiều ghi chép kiểu Vũ trung tùy bút hay Tang thương ngẫu lục, vô vàn những mẩu chuyện HN. Nhiều chỗ cũng lan man, tuy thế đọc có không khí. Dưới đây là lời giới thiệu cho tập sách.

Bìa do Kim Duẩn vẽ

TUYẾT CỦA ĐỖ PHẤN

Đỗ Phấn khi viết văn vẫn có cái nhìn của một họa sĩ, tinh tế và kỹ lưỡng trong quan sát. Anh đặc biệt mạnh về chi tiết, những nhấm nhót đời thường, tất cả được vẽ bằng chữ nghĩa giàu màu sắc và đường nét, về một Hà Nội gồ ghề, xù xì, đắm đuối, trằn trọc… đủ mọi cung bậc cảm xúc. Anh day dứt về một Hà Nội xưa đã phôi pha những vẻ đẹp uyên áo, và cũng chấp nhận cái bộn bề của Hà Nội thời ẩm ương đầu thế kỷ này. Tập tạp văn Hà Nội thì không có tuyết vì thế khó nói là lạc quan hay bi quan, nó là điều ai nấy phải chịu. Điều quan trọng là cách nhìn và cách lên tiếng của họ, mà ở đây với vai trò một người nghệ sĩ pha chất kẻ sĩ, Đỗ Phấn không dửng dưng trùm chăn.

Số lượng hơn 90 bài tạp văn của anh trải theo chủ đề bốn mùa “Xuân - Hạ - Thu - Đông” cho thấy sức viết đáng kinh ngạc của một họa sĩ, người đã chọn nghiệp viết như một công việc chuyên môn, góp vào bên cạnh những cuốn tiểu thuyết hay truyện ngắn một giọng điệu nhất quán, chừng mực mà nhiều năng lượng sống. Chất dân gian phố phường của Đỗ Phấn đặc biệt thích hợp trong những đề tài về những cái nhôm nhoam của Hà Nội. Nó là thứ giữ chân người đọc với Đỗ Phấn, cũng như những cuốn sách đã in dồn dập gần đây của anh.

Nói về Tết – đại diện của Xuân, Đỗ Phấn chẳng ngại mà phang “họa sĩ đương đại rất ít người vẽ về không khí tết cổ truyền ở thành phố. Hoặc có thì cũng ‘hồi cố; vẽ lại những cảnh hội hè tết nhất nông thôn với hình ảnh cây nêu, cờ, phướn, đánh đu, chọi gà. Giả và gượng gạo.” (Tranh cho ngày Tết). Mùa Hạ, thật chẳng có gì hợp lý hơn là nói về những giải bóng đá, nhưng Đỗ Phấn cười buồn mà kể: “Euro 2004 là lần cuối cùng chúng tôi tụ tập ở nhà một người bạn bên Hồ Tây xem trận chung kết. Năm thằng ngả ngốn trên bộ ghế xa lông bọc da khổng lồ. Màn hình 45 inch phẳng lì sắc nét. Rượu whisky Ballantines 17. Nồi cháo gà ti tỉ reo trên bếp điện. Máy lạnh rù rì chạy... Uống. Và chờ. Kết quả là sáng hôm sau tỉnh dậy hỏi nhau, Bồ Đào Nha hay Hi Lạp vô địch?” (Bóng đá một mình). Hình như không có gì xuôi chiều, không có gì toàn hảo – một nỗi niềm vô vọng.

Và viết về Hà Nội một thuở, thực Đỗ Phấn là một giám khảo thú vị khi anh thấy “Tháp Rùa tồn tại bởi lí do thẩm mĩ là chính. Vẻ đẹp của nó rất khó gọi tên. Không phải thứ thẩm mĩ rạch ròi Đông Tây Kim Cổ của kiến trúc. Cũng không phải vì kích thước áp đảo của một tòa cao ốc. Lại càng không phải di tích lịch sử gắn liền với những chiến công hiển hách của tiền nhân. Đơn giản, nó chỉ như một nét chấm phá tuyệt diệu vào đúng cái nơi cần có trong khung cảnh mênh mang nước Hồ Lục Thủy.” Nói về một cột mốc “thẳm sâu và vợi cao” của Hà Nội, anh nhớ “hai chiếc ống khói của nhà máy gạch Đại La ở cuối đường Cát Linh. Một biểu tượng hiền hòa chất phác và kiêu hãnh của nền văn minh gạch máy đầu thế kỉ trước.”

Những câu văn lướt êm như không có gì mà lại gợi lên những từ “chuẩn”. Tuyết dĩ nhiên làm gì có ở Hà Nội, nhưng vẫn còn đó loại nhung tuyết mà Đỗ Phấn bỏ công níu giữ. Những bài tản văn nho nhỏ như những nét chấm phá ký họa, lúc lại như những vệt bút màu còn ướt sơn. Nhiều khi cái lãng đãng cũng làm người đọc sốt ruột, nhưng mà “Hà Nội không vội được đâu”, phải không nhỉ?

Nguyễn Trương Quý



Trích tập sách Hà Nội thì không có tuyết:

Minh họa của Đỗ Phấn

THƯƠNG NHỚ VỈA HÈ

Dĩ nhiên là bất cứ cái gì sinh ra trên đời rồi cũng có ngày biến mất. “Nương dâu bãi bể”, “Vật đổi sao dời”. May lắm thì kiếp người cũng chỉ được “Một đời ta muôn vàn đời nó” so với cái tăm. Cụ thể là khoảng bảy vạn chiếc tăm nếu như mỗi ngày dùng hai chiếc cho đến trăm tuổi với điều kiện răng chỉ mọc thêm chứ không rụng đi cái nào. Duy nhà Phật cho rằng có “kiếp” và có “chuyển kiếp”, còn lại không có thứ gì muôn năm cả. Đến như vỉa hè thành phố tưởng chừng là thứ bất biến thì cũng không phải thế. Còn đấy mà không phải.

Những năm 60 của thế kỉ trước, vỉa hè Hà Nội được chia ra làm ba loại rõ ràng. Những tuyến phố cũ trước hòa bình lát gạch chỉ khía vạch chéo chống trơn đỏ au sau mỗi trận mưa rào. Bờ hè được cạp bằng đá xanh. Những viên đá cắt chéo hạ dốc xuống bằng mặt đường nhựa ngay ngắn gọn gàng ở lối xe lên. Phố Thợ Nhuộm còn có những đoạn đường nhựa lẹm sâu vào vỉa hè làm chỗ tránh cho xe cộ. Hà Nội chỉ vài phố như thế và trên cầu Long Biên là có chỗ tránh. Đó là chỉ dấu đầu tiên báo hiệu cho những người đi bộ trong thành phố nhận biết vị trí khiêm nhường của mình. Những tuyến phố được lát gạch vỉa hè sau hòa bình không nhiều. Đa số nằm trên những con đường lớn kéo dài từ trong trung tâm mà ra. Gạch xi măng vuông ba mươi phân xám xịt một màu lổn nhổn những viên sỏi trắng. Xi măng lúc ấy quí hơn gạo và dầu thắp đèn bởi không có phiếu nào mua được. Xin đâu đó một cân bỏ vào vỏ hộp sơn đậy điệm kĩ càng. Thỉnh thoảng mang ra pha loãng để quét chống thấm cho chiếc thùng phuy đựng nước nhà nào cũng có. Và thùng phuy nào thì cũng rò rỉ.

Phần hè phố còn lại của Hà Nội là nền đất bó vỉa bằng bê tông không cốt sắt đúc sẵn theo hình vỉa đá. Khá nhiều. Lác đác gánh gồng và người đi bộ. Không phải nhàn tâm thư thái ngắm nghía phố phường mà chỉ vì không có xe đạp. Đẳng cấp vỉa hè không còn cái sang trọng như thời cụ “Tú men” Nguyễn Văn Tố cầm ô “men” theo những con phố khu chợ Hàng Da. Đó còn là thiên đường trò chơi của lũ trẻ. Tập xe đạp. Trèo me trèo sấu. Đá bóng, đá cầu, nhảy dây. Đánh bài, đánh ô ăn quan. Đánh khăng, đánh xèng, đánh bi, đánh đáo...và đánh nhau. Người lớn có thể xem đít quần của bọn trẻ mà biết chúng vừa chơi trò gì ở phố nào về. Nhìn chung là an toàn. Không cần cấm mà cũng chẳng quản.

Những năm chiến tranh phá hoại, vỉa hè Hà Nội bâng khuâng vắng. Lại một lần nữa “Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội/ Những phố dài xao xác hơi may” (Đất nước-Nguyễn Đình Thi). Nhưng lần này thì chẳng có nổi một câu thơ nào hay đến thế. Thực ra lúc ấy Hà Nội cũng không đủ người để đi bộ trên vỉa hè. Người lớn sơ tán theo các cơ quan nhà máy. Đám trẻ sơ tán thỉnh thoảng được bố mẹ cho về thăm nhà ngơ ngác không nhận ra những vỉa hè sôi động trò chơi và bạn bè. Nhiều đứa vừa về đã nằng nặc đòi đi sơ tán tiếp. Mãi đến năm 1969, khi Mỹ chính thức ngừng ném bom đợt đầu học sinh mới được quay về những vỉa hè thân thương của mình. Nhiều đứa đã lớn phổng. Có thể mượn xe đạp người lớn dạo quanh Bờ Hồ xuôi xuống Hàng Bài, phố Huế tán gái. Đám con gái cũng vừa ở nơi sơ tán về đang ra sức tập tành lại tác phong yểu điệu phố phường. Bắt đầu bằng chiếc áo phin nõn cổ cánh bèo mập mờ gợi những đường cong. Quần “phăng” khuy cạnh bó sát như “Chị Nhung” trong phim.

Số còn lại dĩ nhiên vỉa hè. Năm năm sơ tán đã có nhiều đứa được sinh ra và lớn lên. Giờ ra chơi trước cổng trường đông nghịt. Tranh giành nhau từng ô đất trống bày trò. Chen lẫn những hàng rong ô mai, lạc rang, táo dầm, bánh gối, chín tầng mây, kẹo kéo và bi don don. Trẻ trai nhễ nhại đá cầu đá bóng. Trẻ gái nhảy dây chơi chuyền và mài những quả nhót đỏ lựng lên đầu gối cho hết vảy phấn. Vỉa hè trở nên chật chội không chỉ ở cổng trường. Vài chục mét lại một quán nước chè năm xu ngồi la liệt ghế gỗ con thấp tè sát đất. Thuốc lá cuốn giấy Con gà bó chục đựng trong những lọ thủy tinh rộng miệng. Chiếc điếu cày hút thuốc lào thửa mãi trong Ngọc Trạo, Thanh Hóa phát ra tiếng kêu giòn tinh gọi khách. Góc ngã tư nào cũng có một vài bác thợ sửa xe đạp án ngữ treo những chiếc lốp hỏng lên thân cây làm biển hiệu. Vá săm lốp, lau dầu, lộn xích, cân vành. Vài đứa trẻ thôi học cũng ra đường bơm xe. Ăn nhau ở chỗ đứa nào có cái bơm Nga nhãn hiệu Molotova mới đắt khách. Chúng nghĩ ra cách nhún bơm nhịp nhàng không mất sức và cũng là phù hợp với cân nặng trẻ con. Cái nắp chụp trên đầu bơm phải thay sáu tháng một lần vì bị cần bơm mài mòn rộng ngoác. Thế nhưng cũng có những đứa sớm tập nhiễm thói lừa đảo lăn lóc vỉa hè. Chúng cúi mặt chúm miệng xì hơi giả như tiếng van giun bị hỏng. Nhanh tay tháo đầu giun ra xiết mạnh vào miệng van. Giun thủng thật. Khách hàng phải thay. Đoạn ống chun làm giun van có giá bằng bốn lần bơm xe đạp.


Minh họa của Đỗ Phấn

Tối mùa hè cắt điện oi bức trải chiếu ra ngoài vỉa hè. Muộn hơn có thể mắc màn chống muỗi ngủ ngay tại chỗ. Vài ông tẩm quất mù cắp chiếu lang thang khắp thành phố cũng dùng vỉa hè làm tiệm massage không mái che của mình. Khách cởi quần áo dài làm gối nằm ườn trên những chiếc chiếu thâm sịt mồ hôi. Cũng xoa bóp, bẻ, vặn, “kiến bò”, “cò mổ” bì bạch không khác gì trong tiệm.

Mới đấy mà đã như xa lắc. Hình hài cái vỉa hè đã muôn phần đổi khác. Không còn được chia ra làm ba loại như trước. Tất cả đều đã được lát gạch nhiều kiểu dáng màu sắc. Rất tùy hứng. Khát vọng tự do hình như dân phố đạt được đầu tiên là ở vỉa hè. Dân giàu có chọn gạch cho vỉa hè trước cửa nhà mình chẳng giống ai. Lại hứng chí bày thêm hai chậu cây lộc vừng tổ bố giữa lối đi. Thành phố cho lát đá xanh thí điểm vài con phố xám xì thấp gần sát mặt đường nhựa. Khổ nhất các cụ già “lỡ bước sang ngang”. Ngật ngưỡng giật mình loạng choạng. Độ cao vỉa hè và độ nhám của gạch lát đã ăn sâu trong trí nhớ các cụ gần hết cuộc đời nay chẳng dùng vào việc đi đứng được nữa.

Vỉa hè Hà Nội bây giờ rất hiếm trẻ con chơi đùa. Một phần do trẻ con ít đi và phần lớn do không còn chỗ nào đủ trống cho chúng chạy nhảy. Trường học khóa cổng im ỉm suốt trong giờ học sinh ở trường. Hàng quán lè phè đuổi đâu chạy đấy nhưng thật lạ vẫn ngày càng nhiều lên. Xe máy ngổn ngang chiếm trọn vỉa hè những phố không cấm. Tang ma cưới xin tự do dựng rạp căng lều như ở làng. Khai trương khánh thành hàng quán nhà cửa còn có cả ban nhạc sống và các vũ nữ cầm quả bông ngoáy mông loạn xạ giữa thanh thiên bạch nhật vỉa hè.

Sợ nhất cái phát minh vĩ đại mang tầm thế kỉ là chiếc biển sắt ba chân sơn đỏ dựng trên vỉa hè đề dòng chữ “Vỉa hè dành cho người đi bộ”. Nó ngang nhiên chiếm chỗ trên vỉa hè và cũng cản trở ít nhất hai người nắm tay nhau đi bộ?

7-2012

Thứ Năm, 24 tháng 10, 2013

Rừng mái rừng mơ (phần kết)


xii

Nửa năm sau khi trở lại Hà Nội, Long nhận được điện thoại của Amy. Giọng bà như reo lên trong điện thoại. Amy muốn mời Long và Xuân đi ăn bún bò Nam Bộ ở phố Hàng Điếu. Bà đã nói được cả số nhà lẫn tên phố rành rọt bằng tiếng Việt. Long xấu hổ khi nghĩ nửa năm qua mình chẳng tiến bộ được gì về khoản ngoại ngữ.

Tại sao Amy không rủ thẳng Xuân – người quen trực tiếp của bà – mà lại thông qua Long? Long bỗng thấy khó nói với Xuân. Không hiểu cô có phiền không nhỉ? Ba tháng trước, nhân dịp sinh nhật, Xuân mời Long cùng mấy người bạn đi ăn. Một tiếng trước giờ hẹn, mưa như trút nước. Mỗi lần mưa to là một dịp những con đường đi qua những khu trũng của Hà Nội có thể ngập tới cả mét. Khó khăn lắm Long mới đến được chỗ Xuân hẹn. Không có ai. Long nhìn đồng hồ, cậu muộn 5 phút. Long gọi điện cho Xuân. Xuân không trả lời. Một phút sau có tin nhắn. “Chị rất bực mình. Em về đi, đừng đến nữa.”

Sau này Long mới biết, chỉ có một người bạn của Xuân đến sớm và kịp đi trên đường khi chưa ngập sâu. Mọi người cố gắng gọi cho Xuân để tổ chức lại nhưng cô không trả lời bất cứ ai. Mọi người không lấy làm lạ trước thái độ ấy, Xuân vốn nóng lạnh bất thường. Nhưng ai nấy mang cảm giác nặng nề. Còn Long, trên đường về, cậu vứt bó hoa vào một thùng rác ven đường. Bó hoa rơi hụt ra ngoài, bị dòng nước cuốn đi xuống rãnh. Những bông hoa lềnh bềnh lẫn với những bao ni lông rác. Tại sao hôm ấy trời mưa thế mà cậu vẫn nhất định mua hoa nhỉ?

Long quyết định nhắn tin cho Xuân thông báo cái hẹn của Amy. Xuân bất ngờ gọi lại. Giọng cô tỏ ra dịu dàng, “ừ, chị có nhận mail của Amy mấy tháng trước. Bà ấy khen em lắm. Khen dễ thương mà rất ga lăng. Chị nói thật đấy, vì em đúng là vậy.”

“Hay là em làm phi công lái máy bay siêu già nhỉ?”

Xuân cười khô khan. Lâu rồi chẳng có chuyện gì vui. Cô thì già đi, Long thì lần nào cũng chỉ có mỗi chuyện than vãn về cuộc sống không tìm được ai tử tế trong giới. Cũng dễ đến ba tháng rồi hai đứa không gặp nhau. Từ cái hôm sinh nhật vớ vẩn ấy. Thật may cả hai đã làm lành, nhất là cô không phải kiểm điểm lại cơn bốc đồng của mình.

Cuộc gặp gỡ vui vẻ hơn mong đợi. Amy sôi nổi khoe với hai đứa là bà đã bắt tay vào dự án mới, và mới in sách ở nhà xuất bản Thế Giới. Amy mời cả hai đến dự buổi nói chuyện ra mắt sách của bà ở một câu lạc bộ cuối tuần này.

Long nhận trách nhiệm đèo Amy về khách sạn. Amy vẫn trong trạng thái hào hứng, đột nhiên đặt tay lên eo Long. “Ồ, hình như em hơi béo lên thì phải.”

Long bỗng ngượng nghịu và xấu hổ. Cậu không nói gì cho đến lúc đưa Amy về đến cửa khách sạn. Long chỉ nói chào rồi phóng xe đi. Long bỗng thấy chán nản. Không phải vì sự vô tình bất ngờ của Amy, mà nửa năm qua, cậu đã để thời gian trôi vô ích.

Tối hôm Amy nói chuyện, Long đi một mình. Xuân nói cô không hâm mộ mấy thứ sách vở, rồi lại gặp sếp hoặc đối tác ở đấy, gặp nhau công việc đã đủ ớn rồi. Long mua một bó hoa ở Cửa Nam. Lúc lấy ra khỏi túi nilon đựng, cậu sơ ý làm một bông bị gãy. May sao, bông này chưa bị rời khỏi cuống, cậu ngần ngừ rồi ấn nó xuống sâu một chút. Có còn hơn không.

Hóa ra cậu là người duy nhất tặng hoa cho bà. Amy có vẻ xúc động thật sự khi nhận hoa. Cử tọa độ hai chục người, đại bộ phận là người phương Tây. Vài người phụ nữ trung niên nhìn Long ngưỡng mộ. Bó hoa để bên cái bàn rất trang trọng, cạnh mấy cuốn sách.

Amy giới thiệu một gã trai, có lẽ hơn Long vài tuổi. Hơi khó đoán quan hệ của hai người. Amy nói đây là người quản lý của câu lạc bộ. Gã đàn ông ăn mặc bóng bảy, kiểu bóng bảy của những gã trai chuyên nghề phục vụ. Bàn tay giơ ra bắt mềm mềm. Không chắc là bóngnhưng cũng không nam tính cho lắm. Long bỗng dưng thấy ghen chẳng hiểu vì đâu.

Kết thúc buổi nói chuyện, Amy đứng lại nói chuyện với Long. Bỗng dưng bà hỏi, “chừng nào em lập gia đình?” Long hoàn toàn không chờ đợi một câu hỏi thế này. Cậu vẫn nghĩ người Tây luôn né tránh việc hỏi han gia cảnh và hôn nhân. Long lúng túng, em còn muốn tập trung vào sự nghiệp và đi học.

Amy đột nhiên nhìn đăm đắm vào mắt Long. “Tôi chỉ muốn em hạnh phúc.”

Long nghĩ là mắt bà hơi rơm rớm. Mái đầu bạc rung rung dưới ánh đèn compact nhờ nhờ. Long cúi xuống, nén cảm giác ngùi ngùi mà cậu không muốn có.




xiii

Đã năm ngày nay, mẹ Xuân đi lễ với bản hội cô Liễu chưa về. Sau một tuần cả nhà chỉ nhận được hai cú điện thoại của bà gọi chớp nhoáng báo rằng đi thích lắm, tuần sau sẽ về. “Đợt này lễ gì mà nhiều thế hả mẹ?” “Lễ quan Tam Phủ, nhưng lần này cô Liễu khao to. Cô Liễu mới lấy được bằng quản trị kinh doanh của Mỹ hẳn hoi. Giỏi thế.” Xuân không hiểu làm thế nào mà cô này có bằng Mỹ trong khi cô đi du lịch có đúng mấy tuần, mà đi chơi khắp các thành phố lớn, lại còn hầu đồng cho Việt kiều bên ấy. Tín ngưỡng dân gian muôn năm, hòa giải được cả người Việt hai bờ vĩ tuyến. Mẹ Xuân kể nguyên hành lý của cô bốn vali thì hai cái đã chở khăn áo để hầu rồi. Nghe Xuân kể lại, Long cười. “Trên mạng nó quảng cáo mấy trường vớ vẩn, chả phải qua Mỹ cũng có bằng hẳn hoi luôn.”

“Em chấm dứt với Mạnh rồi à?”

“Ừ. Chán thật. Em nghĩ Mạnh không phải người xấu. Nên em cũng tiếc.”

“Chị nghĩ Mạnh không phải người đủ tốt cho em. Đừng tiếc.”

Long ngần ngừ một lúc. Nên kể cho Xuân nghe không, chuyện cậu đã đi vào một sauna cho nam giới và thấy Mạnh trong ấy để quan hệ tình dục với những thanh niên lạ mặt. Rồi chuyện cậu đã ngu ngốc cãi cọ với Mạnh. Cậu cũng vào đấy với ý đồ tìm bạn mà, cậu không thể trách cứ Mạnh đã phản bội được. Rõ ràng là hai đứa trước đó coi như chia tay nhau rồi. Chuyện có vậy thôi nhưng vẫn rất đau.


**

Gần hai tuần trôi qua, vẫn chưa thấy mẹ về. Cả nhà Xuân phát hoảng. Bố Xuân thở ngắn than dài, chỉ biết rên rỉ và cắm cảu nhắc đến mẹ. Chị Thu thì tự trách mình đã không đi cùng mẹ.  Xuân quyết định đi tìm, có Long làm bạn đồng hành. Hai đứa đi xe máy lên vùng Phà Lũng, nơi có đền quan Tam Phủ.

Đền này vài năm nay cồn lên phong trào phát ấn. Một vị chúa Trịnh thời Lê Mạc phân tranh khi tạm lánh về đây đã tìm cách thu phục nhân sĩ bằng cách đóng ấn triện vào những thẻ bài để họ lấy đó làm giấy thông hành tìm về phò minh chủ. Ba thế kỷ không ai nhắc đến, bỗng một ngày khi ngôi đền nâng tầm quốc gia, ban quản lý tìm ra được một dòng trongToàn thư nhắc đến việc đóng ấn. Thế là thần thiêng nhờ bộ hạ, cơn cuồng say thần thánh tiếp sức cho một hành vi được vật thể hóa, lôi kéo quan chức và quần chúng xa gần. Cô Liễu có vẻ như đã “đỗ đạt”, nên chắc đợi lấy được mảnh bùa đóng ấn này cũng không có gì lạ.

Con đường khúc khuỷu, gồ ghề, có chỗ là đường đất, không có gì hứa hẹn tiện nghi, quả thực đáng ngạc nhiên cho một nghi lễ tín ngưỡng đang thời thượng. Hai bên toàn những đồi trồng keo trông hoang vu rợn người, màu xanh tối tăm không chút niềm nở.

Cả hai đứa bất ngờ khi xe ngoặt qua một khúc quanh. Bên một cái dốc, cả một khu đất trống nhộn nhịp xe hơi. Một cái biển xi măng kẻ sơn thô kệch, màu rờ rợ mấy chữ “Dốc Cô Tây”. Cái tên kỳ lạ. Phía trong là một cái miếu nghi ngút khói hương, tiếng nhạc chầu văn í éo. Xuân và Long rẽ vào quán nước ngồi nghỉ.

Tám năm trước, một đoàn khách Tây ba lô đi leo núi qua đây. Ngọn núi cao nhất nhì Đông Dương, chỉ kém Phansipan hay Tây Côn Lĩnh, nằm trong một khu bảo tồn thiên nhiên. Khi quay về, một cô gái hình như người Canada đã trượt chân ngã xuống vực. Tổ chức cứu hộ phải đưa trực thăng lên quần thảo hai ngày trời nhưng không tìm thấy xác. Dân tình một đồn mười, mười đồn trăm, ai cũng nói chết trẻ là thiêng, thế là mọc lên cái miếu và cái tên Dốc Cô Tây. Bây giờ dốc được làm đường rộng ra chứ không còn cheo leo như ngày xưa. “Bọn Tây có đứa nào nghiên cứu vụ này chưa nhỉ?” Xuân lên xe, ngoái nhìn cái miếu như cái chuồng gà, màu đỏ rờ rợ đi cùng màu xanh mơn mởn của lá rừng gây cảm giác man dại.

Đến đền chính, Xuân và Long ngỡ ngàng với quy mô của lễ hội. Đến người có “thâm niên” như Long cũng không thể tưởng tượng được. Xe hơi đậu nườm nượp trong bãi. Những cái xe sang cạnh những xe mười sáu chỗ của các bản hội đồng cốt, xe nào cũng treo cờ xí xanh đỏ. Có cả xe biển số xanh. Hai đứa đi len lỏi trong những đám xem hầu, tiếng nhạc inh ỏi khắp nơi. Đông đến nỗi người ta còn mở cả cung ở ngoài sân. Những người đàn ông bệ vệ mặc váy áo mắt lúng liếng, nhảy chồm chồm trong giá chầu Bé, cô Bé hay uốn éo chèo đò, múa quạt. Những người đàn bà khệnh khạng khăn đóng áo dài quan đệ Ngũ, ông hoàng Mười, phì phèo thuốc lá, múa gươm ầm ĩ. Đám đông ngất ngư say hương mê mị.

Đúng mười hai giờ đêm, lễ phát ấn mới bắt đầu. Khác với ấn đền Trần nặng về quan tước, ấn ở đây được giải thích là của vị chúa cùng thời Liễu Hạnh, nên có tính nữ, thuận cho buôn bán.

Tiếng cồng báo hiệu vừa dứt, những người quản lý cố gắng ép đám đông thành hàng, nhưng vô phương. Đám đông cuồn cuộn như len vào nhau, như mê sảng, ai nấy hướng đến dãy bàn có ông thủ từ đội khăn đỏ đang ra sức đóng một con dấu lên những mảnh giấy mỏng như tờ sớ màu vàng có những họa tiết đỏ. Có ông nào đó đắc thắng giơ tờ sớ đã được đóng dấu lên, len qua hàng người ngược ra ngoài. “Xoạt!” Một bàn tay đã giật lấy nó. Hai bàn tay khác thừa cơ nhao lên. Cảnh tượng hỗn loạn. Tiếng chửi bới, tiếng gào thét lanh lảnh trên cái nền âm thanh váng óc. Đám đông cuồng nộ vì sự chờ đợi, vì khao khát thỏa mãn cơn say công quả của mình đang cộng hưởng với hàng nghìn người xung quanh. Xuân kinh hãi không biết mẹ mình có chết bẹp trong đám người mênh mông kia không.

Xuân và Long lách qua những hàng người kiên nhẫn đứng đợi ở vòng ngoài. Một gã đàn ông miệng hôi rình, mắt đỏ đòng đọc, giật tay áo Long. “Hai em có mua ấn không? Anh để lại, giá hữu nghị.” Hai đứa lắc đầu, gạt ra. Một người đàn bà trung niên vẻ dân thành thị mắng xơi xơi một ông có lẽ là chồng. “Trời ạ, đây là ấn rởm rồi. Ông mua ở ngoài kia chứ gì? Tổ sư bố nhà nó, tám trăm nghìn, nó cầm tiền của người ta thế á, rồi quan Tam Phủ sẽ vật cả lò nhà nó, con nó, cháu nó, ba đời nhà nó mãn kiếp cũng không ngoi ngóc lên được.” Ông chồng xấu hổ, gàn vợ. “Thôi thôi, mấy trăm bạc có bằng một lần mình đi ăn đâu. Người ta phải làm thế thì cũng đã là khổ lắm rồi.” Mụ đàn bà vẫn chưa chịu thôi, vỗ phạch cái vào mông. “Khổ, khổ cái…” Chừng như thấy mình quá lố, bà ta im bặt, quay ngoắt đi.

Tìm mãi, cuối cùng hai giờ sáng Xuân và Long mới đến được một cái đền ở tít sâu trong núi, nơi mẹ Xuân đang đắm đuối xem lễ, tay giữ khư khư tờ sớ đã được đóng dấu. Xuân lúi húi chen vào giữa những người đàn bà đang mê muội vì hưng phấn và cả vì buồn ngủ, lấy tay giật vai áo mẹ. “Ơ, con! Mày đi thế nào mà quan Tam Phủ chỉ lối hả con?” Xuân nghiến răng. “Mẹ ra đây!” Cô vội bước ra sân trước khi kịp gây chú ý cho đám con nhang đệ tử.
Xuân đưa mẹ ra một cái lán nghỉ. Mẹ Xuân mắt cứ sáng như sao, gần như chỉ nói những điều đồng bóng, nhiều khi như trong trạng thái mê sảng. “Tí nữa vào xin lộc giá cô Chín để còn lấy chồng con ạ.” Đột nhiên mẹ Xuân ngất đi. Có vẻ như bà bị hạ đường huyết. Xuân sợ mất vía, vội nhờ chủ quán pha cho cốc nước chè đường nóng. “Để bác nghỉ rồi sáng ra hãy về chị ạ.” Long thận trọng đề nghị.

“Không. Phải về luôn. Không thể ở chỗ bờ bụi này được.”

Long ra taxi, đòi đưa về thẳng Hà Nội. Gã tài xế nhìn thấy cảnh tượng mẹ Xuân mềm oặt, sợ xúi quẩy, không chịu chở. Xuân gọi cho Minh. Sau hai hồi chuông, Minh trả lời. Minh đang ở Sài Gòn, nhưng sẽ nhờ đứa bạn. Xuân từ chối, nói thôi em lo được rồi.

Long liều bấm số gọi Mạnh nhưng số điện thoại không liên lạc được. Long không thể giấu được ý nghĩ là thấy nhẹ cả người. Có thể Mạnh đã đi Úc.

Mẹ Xuân đã tỉnh lại nhưng vẫn rũ rượi, cái sớ đã nát nhũn ra vì mồ hôi. Xuân bấn loạn, ra sức xoa dầu vào thái dương mẹ. Cô tuyệt vọng nhìn quanh tìm cách xem ai có khả năng cho đi nhờ. Long chợt nhìn thấy cậu Ngọ. Long lùi bước đứng khuất sau cái cột. Ông ta chắc đang lên xe về, vẻ mặt điềm tĩnh như thoát tục, rảo bước tránh những người đang nằm ngồi vạ vật dọc lối đi. Ba bốn đệ tử khệ nệ mang vác đồ lễ theo sau. Có hai cậu trai trẻ tóc nhuộm theo sau, ăn mặc đỏm dáng, đeo túi da Gucci, dáng vẻ quàu quạu đành hanh như hai cô gái già, vẻ như mệt mỏi uể oải vì thiếu ngủ.

Những đám người giàu có kênh kiệu giữ chặt những đôi giày da và túi xách đựng đầy tiền mới cứng để dâng lễ và phát lộc. Họ dè chừng đám dân nghèo xung quanh đổ xô đến quanh các chiếu hầu, những người này nhặt nhạnh những đồng tiền lẻ của các giá hầu tán lộc thập phương. Đa phần là bà già và trẻ con. Những bà già ngồi xổm hai bên các cung hầu, họ mỗi lúc áp sát hơn. Chốc chốc, các đồng thầy hay đám phụ hầu lại quầy quậy đuổi họ giãn ra. “Cứ đứng ám hết cả vào thì còn làm ăn gì. Toàn những mùi hôi hám, uế tạp. Đứng ra đằng kia, rồi ai cũng có lộc cả.” Mỗi lần vào giá tung tiền lộc, các ông bà đồng lắc lư chán, cầm những tập tiền hai nghìn hay năm nghìn dứ dứ múa may rồi tung lên. Mạnh ai nấy lao vào nhặt nhạnh. Bà chủ quán chép miệng. “Hai nghìn là về mua được mấy bìa đậu rồi.”

Trời tang tảng sáng, những đám hầu đã vãn bớt. Ở chỗ phát ấn đêm qua, cảnh tượng như sau cơn bão. Nền gạch đây đó bị xới tung lên. Những viên ngói vỡ lỏng chỏng ở hai tòa giải vũ tả hữu. Những người đàn bà còng lưng nhặt nhạnh tìm tòi chút gì sót lại, những đồng tiền lẻ giắt ở kẽ những cánh cửa bức bàn hay bờ tường. Bọn trẻ con nhà quê mắt đờ đẫn nhìn những túi đồ lễ đang khuân kìn kìn theo các đám hầu đã xong. Vài người vứt cho bọn trẻ mấy túi hoa quả hay bánh kẹo, cả đám xông vào giành giật. Một người đàn ông có tuổi mặc áo bộ đội, mặt thành kính, khẽ trải tờ sớ đã đóng dấu ở bậc thềm tòa đại bái, phủ phục vái lạy. Gió lay lay những cái cờ, không khí tê buốt từ dưới thung lũng thốc lên. Những bóng người lủi thủi đi lại như những hồn ma.

Cuối cùng Xuân và Long cũng nhờ được một nhà đi lễ có xe về Hà Nội. Những chiếc xe lặng lẽ nối đuôi nhau trong màn sương trắng đục của núi rừng. Khung cảnh càng về xuôi càng rõ nét và trần tục hơn.

Chiếc xe về đến thành phố lúc ban trưa, nắng chói chang trên những rặng cây và những mái nhà chật chội. Xe bật máy lạnh mà Xuân vẫn thấy oi bức. Mọi người đã sốt ruột nhấp nhổm chuẩn bị đồ đạc sẵn xuống xe sau một ngày đêm vạ vật xa nhà. Người lái xe vặn to tiếng đài FM. Tiếng phát thanh viên dự báo chiều nay bão sẽ về./.

Thứ Hai, 21 tháng 10, 2013

Đằng sau những câu hát về Hà Nội

PL. TPHCM - Một cách nói chuyện sâu sắc về Hà Nội qua những bài hát, cuốn sách kể về những người đẹp với những mối tình đã trở thành tình khúc, về thời tiết, thiên nhiên và cả những biến đổi thời cuộc của Hà Nội trong các nhạc phẩm quen thuộc.

Sau bốn cuốn tản văn về Hà Nội, tác giả Nguyễn Trương Quý lại tiếp tục suy ngẫm về Hà Nội bằng góc nhìn âm nhạc với cuốn sách Còn ai hát về Hà Nội.

Một Hà Nội diễm lệ và kỳ ảo

Phóng viên: Hà Nội trong các ca khúc có gì thú vị và mới mẻ so với Hà Nội hiện thực, thưa anh?

+ Tác giả Nguyễn Trương Quý: Hà Nội hiện lên diễm lệ và kỳ ảo hơn trong ca khúc. Cũng có thể nói là ca khúc đã “make up” kỹ lưỡng cho hình ảnh Hà Nội. Dù thực tế, Hà Nội có bụi bặm, thời tiết khắc nghiệt: mùa hè thì nóng nực nhưng khi vào bài hát thì: Áo màu tung gió chơi vơi… Nước hồ là ánh gương soi, nắng hè tô thắm lên môi… (Hướng về Hà Nội - Hoàng Dương). Hoặc ta cũng thấy hình ảnh một dãy phố nghèo nhưng nên thơ với các hình ảnh đẹp: mái ngói buồn nâu, nhà ga cũ, cà phê đắng trong Phố nghèo (Trần Tiến). Những bài hát với một hệ thống tính từ hoa mỹ đã làm nên một Hà Nội đẹp hơn, lung linh hơn.

Tuy nhiên, vẫn có thể thấy được những phản ánh hiện thực của đời sống Hà Nội suốt trăm năm qua, từ khi những bài hát đầu tiên ra đời ở thể hát nói, dân ca, cho đến tân nhạc. Ví dụ: Phản ánh việc đánh bạc: Tiếng hô tiếng nhắng um tùm. Lên lầu xem điếm, tổ tôm đánh bài… (Chầu văn Hà Thành 36 phố phường).

Đến thời chủ nghĩa hiện thực XHCN chi phối nghệ thuật thì ca khúc vẫn khoác lên mình tà áo đẹp của văn chương, của biểu tượng thẩm mỹ. Ví dụ: Đèn đỏ đèn xanh với ánh nắng nhảy múa như ngàn hoa… Chào cuộc sống mới từ nơi ngã tư này. Hình ảnh của quê hương vươn mình đấu tranh dựng xây … (Từ một ngã tư đường phố - Phạm Tuyên).

Bìa bản nhạc Cô hàng hoa, một trong những phụ bản màu của cuốn sách Còn ai hát về Hà Nội. (Ảnh do nhân vật cung cấp)

Tô đậm vẻ lịch lãm, duyên dáng của người Hà Nội

. Cuốn sách giải thích các ca khúc theo thời gian của từng thời. Và không khí của Hà Nội từng thời đó trong âm nhạc thì như thế nào?

+ Chẳng hạn thời Thăng Long, Kẻ Chợ thì chúng ta chỉ biết qua những ca khúc sau này, như một sự tái hiện những câu chuyện lịch sử (trừ một số bài chầu văn hay ca trù của thời cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 viết về hiện thực đương thời). Tuy nhiên, có thể thấy sự đa dạng của một đô thị hiện đại trong các ca khúc ngay từ thời đầu tân nhạc. Nghe ca khúc, có thể hình dung về cách ăn mặc của phụ nữ thời đó: Với Văn Cao là: “Tà áo em rung theo gió nhẹ thẹn thùng ngoài bến xuân”; với Tô Vũ: “Tà áo hương nồng, mắt huyền trìu mến sưởi ấm lòng anh”; với Hoàng Dương là: “Áo màu tung gió chơi vơi”… Qua ca khúc ta cũng có thể thấy thời tiết, tình ái, sự biến động thời cuộc… Đặc biệt là vẻ lịch lãm, duyên dáng trong ứng xử, tình cảm và thái độ sống của người Hà Nội được tô đậm trong các thời đã qua. Những điều đó thể hiện qua nhiều nhạc phẩm như Cô láng giềng, Tà áo xanh, Dư âm

. Trong thời kỳ âm nhạc nào không khí Hà Nội là đặc trưng nhất, thưa anh?

+ Mỗi thời kỳ có cái hay riêng. Thời tiền chiến thì phong phú về câu chuyện, vì các ca khúc khi ấy nặng tính tự sự, kể lể, tựa như những tản văn hay truyện ngắn: Buồn tàn thu, Trương Chi, Cô hàng cà phê. Thời chiến tranh lại có cái vẻ bi tráng, rắn rỏi, nhiều sáng tạo vừa ngẫu hứng vừa chỉn chu. Thời sau thì có tiết tấu mới mẻ hơn, phiêu diêu hơn.

Tôi thích không khí Hà Nội của những năm 80. Bây giờ nghe lại về thời của những thay đổi ban đầu sau những năm tháng dài chiến tranh và nghèo khó, con người cựa quậy, không gian Hà Nội cựa quậy. Nó bỡ ngỡ mà mê đắm. Cũng có thể vì tôi đã cùng lớn lên với những không khí ấy.

Nhạc sĩ Hà Nội: Lãng mạn đến chết

. Đằng sau những giai phẩm lãng mạn chắc hẳn anh khám phá nhiều bí mật về mối tình của các nhạc sĩ? 

+ Một trong những nhạc sĩ có nhiều bí mật về những cuộc tình là Đoàn Chuẩn. Những năm 1950, ông có mối tình với một nữ ca sĩ. Nàng là nguồn cảm hứng để ông viết một tình khúc đặc biệt nhưng ít được phổ biến. Ca khúc ban đầu có tên Vàng phai mấy lá, được nhạc sĩ viết tặng riêng cho người đẹp vào năm 1955. Nhưng cả hai người đều đã có gia đình. Người đẹp ấy đã từ chối và xé bản nhạc ấy đi. Bài hát sau đó còn có tên Bài ca bị xé hoặc Vĩnh biệt. Đoàn Chuẩn từng có ý định khi chết thì đắp bản nhạc ấy lên mặt. Cho đến khi về già, ông vẫn giữ được sự mê đắm, lãng mạn trong tình cảm.

Một lần gặp nhạc sĩ Đoàn Chuẩn, khi đó ông đã yếu và không nói chuyện được nhiều, ông có cho tôi xem tấm ảnh một người xưa. Ông kể đó là một cô văn công Hà Nội. Nhưng khi thấy vợ ông đi vào, ông nhanh tay ụp tấm ảnh xuống. (Cười)

. Vậy theo anh, Hà Nội của nhạc sĩ nào là ấn tượng nhất?

+ Tôi đặc biệt dành thiện cảm cho Hà Nội của Hoàng Giác, Đoàn Chuẩn - Từ Linh thời những năm 1940-1950 và Nguyễn Cường, Trần Tiến sau này. Dĩ nhiên nhiều nhạc sĩ khác hay bài hát cũng rất hay, như Người Hà Nội của Nguyễn Đình Thi hay Hà Nội niềm tin và hy vọng của Phan Nhân, Bài ca Hà Nội của Vũ Thanh…, là những đỉnh cao có sức khái quát cho một thời, bước ra khỏi khuôn khổ một ca khúc. Đấy là những trang sử ký về Hà Nội. Tôi cũng thích đôi nét chấm phá Hà Nội của các nhạc sĩ tha hương như “Ta nhớ thấy em một chiều chớm thu, dáng yêu kiều của ngày đã qua. Thướt tha bên hồ liễu thưa. Lắng tiếng tiêu hồn của ngàn phím tơ, thiết tha thề ước, mối duyên hờ đã phai mờ...” (Vũ Thành). Những lời ca ấy đẹp vì nỗi niềm dành cho Hà Nội của họ có sự chắt lọc, duy mỹ mà vẫn có gì mộc mạc.

. Trong sách của anh có một Hà Nội xô bồ chưa được đưa vào âm nhạc, đó là sự chừng mực của các nhạc sĩ hay là sự chừng mực của anh?

+ Thật ra đa số ca khúc Hà Nội mang màu sắc trữ tình và hào sảng. Số ca khúc phản ánh trực diện “Hà Nội xô bồ” khá ít và cũng chưa sắc nét. Thời tân nhạc cũng đã có những ca khúc trào phúng về đời sống đô thị. Chẳng hạn như: “Ơ, rừng mái rừng me. Cô mặc áo thắm, cô che dù hồng. Tập tầm vông. Tay xách ví đầm, dắt chó bẹc giê” (Cô Tây đen - Vũ Cận).

Nhưng các bài hát này chưa đi vào kho ký ức của cộng đồng như đa số các bài hát lãng mạn.

Tôi nghĩ là dòng ca khúc về Hà Nội đã hoàn thành nhiệm vụ phản ánh hiện thực Hà Nội những thời trước. Còn hiện tại, Hà Nội cũng có nhiều biến động, cảm xúc của người nhạc sĩ cũng bị vơi đi và ít có những bài hát hay phản ánh hiện thực Hà Nội hiện tại. Tất nhiên khuôn khổ cuốn sách của tôi cũng không đủ để nói hết các góc cạnh Hà Nội. Cuốn sách này cũng chỉ sử dụng được một phần nội dung những gì tôi đã viết thông qua cây cầu ca từ những bài hát về Hà Nội.

. Xin cảm ơn anh.

Còn ai hát về Hà Nội giới thiệu các ca khúc gắn với từng giai đoạn lịch sử của Hà Nội, trải từ thời Thăng Long, Kẻ Chợ, thời Đông Dương đến thời nhạc trẻ. Sách có tư liệu quý hiếm của các nghệ sĩ thời đầu tân nhạc do tác giả sưu tầm và biên tập. Sách tặng kèm phụ bản màu và CD 12 ca khúc đặc sắc về Hà Nội qua các giọng ca kinh điển.

Trà Giang

Thứ Sáu, 18 tháng 10, 2013

Hà Nội và giới trẻ đô thị (review tập truyện)

Sau bài điểm sách của Lâm Vũ Thao, cùng ngày là một bài của một nữ nhà báo trẻ. Mình nhắn tin cảm ơn về bài review "hấp dẫn lắm". Bạn nhắn tin "Anh khen hơi quá. Em thấy sách thú vị thì viết. Giá mà được viết dài hơn... Thế hệ này, xã hội này, tâm tư như thế. Đồng cảm ghê gớm anh ạ."


Tiền Phong - Nguyễn Trương Quý chọn cái tên Dưới cột đèn rót một ấm trà cho tập truyện ngắn mới nhất, sau vài năm liền toàn viết tản văn. Không biết có ảnh hưởng gì không mà cái tên cũng đậm chất tản văn.


Dưới cột đèn rót một ấm trà là cái tên chung, không phải là tên truyện ngắn nào trong tập. Cái tên như mô tả một khung cảnh quen mắt của đô thị bình dân: làm người đọc liên tưởng đến một quán trà trên vỉa hè cạnh cột đèn đường. Đô thị bình dân thân thuộc nhất với cảnh tượng đó, không nơi nào khác chính là Hà Nội.

Hà Nội đương đại chính là chủ đề mà Nguyễn Trương Quý mải miết theo đuổi trong sự nghiệp viết lách. Các cuốn tản văn của anh đều xoay quanh Hà Nội và đô thị đương đại nói chung. Tập truyện này cũng không phải là ngoại lệ.

Đọc truyện ngắn, thường độc giả có quyền không đọc theo thứ tự. Xếp ở cuối sách là truyện Rừng mái rừng mơ dày đến gần nửa cuốn sách, 122 trang, có thể coi là truyện dày chứ không còn là truyện ngắn nữa. Và nếu so sánh với các truyện khác chỉ hơn 10, 20 trang thì thấy rõ độ đậm đà của tác phẩm này.

Rừng mái rừng mơ viết về nhân vật chính là người đồng tính. Long, chàng trai đẹp, nhang nhác ca sĩ Hàn Quốc nhưng được cái “đầy ắp sức sống và mời gọi” (trong mắt nhân vật nữ tên Xuân). Truyện mở đầu khi Long và Xuân gặp nhau, cả hai đều bị mẹ ép đi cắt tiền duyên. Về sau tập trung vào mối tình đầy duyên nợ của Long với Mạnh - người lấy vợ nhưng vẫn giữ tình cảm với Long.





Với truyện dài này, “bàn phím” của Nguyễn Trương Quý động chạm khá nhiều vấn đề: tình yêu và tình dục đồng giới, người trẻ độc thân ở đô thị, tôn giáo, hầu đồng, giáo dục…

Có thể kể tên vài truyện ngắn khác có lối kể hoặc tình tiết độc đáo: Câu chuyện bắt đầu từ tầng 10 (kể về tai nạn rơi trúng dây điện của một người đàn ông, về sau trở thành câu chuyện lãng xẹt trên báo mạng), Cười đùa đàn địch xôn xao (truyện này kể bằng giọng như đang say), Người mắc chứng tiền đình (nói về một vụ scandal thu hồi sách - ngành mà chính tác giả là người trong cuộc)…

Tất cả diễn ra trong không gian nội và ngoại thành của Hà Nội. Nhân vật chính là giới trẻ đô thị, một nhóm nhân vật mà các nhà văn thuộc thế hệ Nguyễn Trương Quý, già hơn và trẻ hơn một chút, rất quan tâm.

Có lẽ điều hấp dẫn các nhà văn nhất chính là những mâu thuẫn tồn tại trong nhóm nhân vật này. Họ có cuộc sống vốn sẵn đủ đầy hoặc có năng lực và tự làm ra tiền. Ở họ không có những nỗi buồn thiếu thốn và thiệt thòi như trong các trang văn về miền quê hoặc người miền quê lên thành phố. Nhưng trong tâm hồn của những người trẻ này là các khoảng trống toang hoác. Có thể do hoàn cảnh, có thể do họ tự tạo ra.

Có cả một thế hệ đã và đang sống theo cách đó. Không ngạc nhiên khi họ thấy buồn và thỉnh thoảng lại cô đơn. Làm mọi thứ theo trào lưu. Với Long là vác máy ảnh đi chụp một cô bạn gái có vẻ ngoài giống Hàn Quốc ở bên ngoài khách sạn Hilton. Với Xuân, là đi phượt cùng nhóm bạn ở những nơi mà ai cũng đến: hoa cải, tam giác mạch, cao nguyên đá… Tự đi, (chụp ảnh) tự sướng, rồi về tự chán.

Trích truyện Rừng mái rừng mơ:
“Chị cũng phải có niềm vui nào chứ”.
“Phượt. Chụp ảnh. Hết cánh đồng hoa cải vàng đến tam giác mạch, hết cao nguyên đá đến Phượng Hoàng cổ trấn. Hè thì sen, thu thì cúc. Bố khỉ, cả một thế hệ tự sướng”.
… “Bà cô khó tính quá”.
“Có lẽ vậy. Đứa nào nhẫn nhịn, dễ chấp nhận có khi happy hơn. Chán nhất là ai cũng biết thế, cuộc đời nào cũng thế, mà có thoát ra được đâu”.

HẠ MI

Thứ Năm, 17 tháng 10, 2013

Khi Quý nghỉ chân (review sách)

TT - Có lần trả lời phỏng vấn, Nguyễn Trương Quý nói anh chọn tản văn vì khả năng càn lướt hiện thực của nó. Không rõ Quý chọn tản văn hay tản văn chọn Quý, mà nhắc đến các cây bút tản văn hiện thời, không thể không nhắc đến cái tên Nguyễn Trương Quý.


Một buổi trò chuyện về cuốn sách tại Hà Nội. Sách do NXB Trẻ ấn hành - Ảnh: Bùi Hoài Nam Sơn

Quả thật, trong thể loại tản văn, Nguyễn Trương Quý hiển nhiên đã xây dựng được một "thương hiệu". Là chủ nhân của bốn tập tản văn đình đám, Nguyễn Trương Quý đã chứng tỏ anh có khả năng dùng tản văn để càn lướt hiện thực điệu nghệ như thế nào.

Tuy nhiên, lần này, con người của tản văn ấy đã rời bỏ thể loại quen thuộc để bước chân sang truyện ngắn - một địa hạt mới, chấp nhận một thách thức mới.

Không khó để nhận ra nhân vật trong truyện ngắn của Quý là ai. Hầu hết họ chính là giới nhân viên văn phòng, trí thức trẻ thành thị từng được (hay bị?) Quý đem ra bóc tách, cười cợt trong các tản văn, đặc biệt trong Ăn phở rất khó thấy ngon. Điểm khác biệt là, nếu trong tản văn, họ xuất hiện như một nhóm người chia sẻ những phong cách, thói quen chung, thì ở đây họ xuất hiện thành những cá nhân, có tên, có gương mặt, có gia đình con cái, có yêu có ghét cụ thể. Họ quen nhau qua mạng, họ ngoại tình, họ lãng đãng, họ vô tâm, họ sĩ diện, họ hèn, họ tinh tế vặt, gỉ gỉ gì gi đi nữa, nhưng nhìn chung họ đáng thương. Đã thế, có lần, họ còn bị bỏ rơi: Trong Câu chuyện bắt đầu từ tầng 10, anh nhà văn Mạc Vũ Huân trong một lần tìm tứ cho truyện đã trượt chân lao từ tầng 10 xuống, không chết nhưng nằm mắc lửng lơ trong một đám dây nhợ bùng nhùng. Kêu chẳng ai nghe vì phố xá quá ồn, cố tình gây chú ý bằng cách nhổ nước bọt cũng bị hai bà ăn bún ngan xơi mất, anh đành nằm trên đống dây gánh chịu tình cảnh bị bỏ rơi. Nếu như anh nằm mãi trên đống dây thì câu chuyện sẽ mang màu sắc phi thực, kiểu Kafka hay Gabriel Garcia Marquez, nhưng tác giả lại cho anh được xuống đất. Đó là một cú twist dí dỏm. Cách xử lý của Nguyễn Trương Quý trong truyện này cho thấy anh mang được nét hài hước - thế mạnh của anh từ tản văn sang truyện ngắn.

Cái nên mang thì Quý đã mang, còn cái không thì Quý để lại. Ngôn ngữ Quý sử dụng cho truyện ngắn có độ tiết chế đáng kể so với tản văn. Nếu như khi viết tản văn, Quý hơi "ngoa" (nhưng đây là nét hấp dẫn trong tản văn của anh), thì trong các truyện ngắn, ngôn ngữ của Quý có độ lùi, tỉnh táo, để câu chuyện tự nó được kể, mà tác giả hiếm khi can thiệp vào, bình bình xét xét.

Tôi chú ý đến những câu kết truyện của Quý. Những câu ấy, thay vì kết lại, thì hay gợi ra một cái gì đó, rất có thể là một thứ hoàn toàn khác. Ví dụ: "Ngón tay út cong lên dài vút như khiêu khích" (Tiệc Tây), "Dòng xe máy bị tắc lúc nãy giờ rùng rùng chuyển động phía sau" (Chị Xít), "Tiếng phát thanh viên dự báo chiều nay bão sẽ về" (Rừng mái rừng mơ).

Với nhiều người viết khác, tản văn là một quãng nghỉ chân giữa các tiểu thuyết hay truyện ngắn. Với Nguyễn Trương Quý, ngược lại, truyện ngắn có thể lại là một quãng nghỉ chân giữa các tập tản văn. Nhưng cũng có thể, chính tập truyện này lại mở ra một hướng đi hoàn toàn khác. Như những câu kết truyện của Quý.

LÂM VŨ THAO

Thứ Ba, 15 tháng 10, 2013

Còn ai hát về Hà Nội? (điểm sách)

Bài điểm sách trên báo Thể thao & Văn hóa.

(Thethaovanhoa.vn) - Tên cuốn tản văn mới ra của nhà văn Nguyễn Trương Quý là câu hỏi tu từ (không có dấu chấm hỏi), bởi chẳng cần câu trả lời. Hà Nội trở thành huyền thoại vì nơi đây là nguồn cảm hứng không cùng.

Trong lời ngỏ cuốn sách, tác giả viết: "Dù thời thế có thăng trầm, lòng người có đổi thay thì giá trị của những ca khúc hay viết riêng cho Hà Nội vẫn mãi là vật chứng cho một tình yêu đặc biệt".




Với nhạc, thơ (ca từ các bài hát về Hà Nội đều đầy chất thơ) và những giai thoại (về người nổi tiếng) và cả những câu chuyện (về những con người bình dị), Nguyễn Trương Quý đã viết nên cuốn sách đậm phong vị văn hóa, thích hợp để vừa nhấm nháp sách vừa thưởng thức nhạc (chẳng hạn, từ đĩa nhạc tặng kèm cuốn sách).

Bằng gu nghe nhạc rất cá nhân của mình, Nguyễn Trương Quý điểm qua các tên tuổi nhạc sĩ (chính các nhạc sĩ đã tạo ra dòng nhạc về Hà Nội, chứ không phải ca sĩ) mà nhà nhà đều đã nghe: Văn Cao, Đoàn Chuẩn – Từ Linh, Đặng Thế Phong, Doãn Mẫn, Hoàng Giác, Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Trần Hoàn, Phú Quang, nhóm "Tứ quý Hà Nội" gồm Phó Đức Phương, Dương Thụ, Trần Tiến, Nguyễn Cường…

Đọc cuốn sách để biết chọn ra khoảng 10 ca khúc hay nhất về Hà Nội đã là một việc khó khăn, chưa nói đến chọn ra duy nhất một ca khúc hay nhất. Hiếm có mảnh đất nào gợi cảm hứng đến bất tận như vậy. Người ta có sáng tác mãi được không? Chẳng rõ, nhưng những bài hát cũ vẫn ngày ngày được hát mới. Hà Nội quá khứ sống đồng hành với Hà Nội đương đại trong từng câu hát.

Nhưng anh không điểm theo tên người mà theo từng chủ đề, từng bài hát có cái tứ hoặc một câu hát đã thành quen thuộc: thu quyến rũ, đôi mắt như hồ thu, hành khúc ngày và đêm, Hà Nội những đêm không ngủ, dặm dài trong gian khó, leng keng tàu điện sớm khuya, dương cầm mưa trên mái, dòng sông đi qua đời em, dệt tầm gai, người nghệ sĩ lang thang hoài trên phố, vờ như mùa đông đã về…
Điểm qua một chút, thấy Hà Nội trong các bài ca ít gắn với mùa Xuân và mùa Hè, những quãng thời gian tươi mới hoặc rộn rã. Hà Nội gắn với những cảm xúc lắng đọng, trầm tư, riêng tư, thường xuyên buồn.

Năm 2012, nhà văn Nguyễn Trương Quý và ca sĩ Giang Trang cùng thực hiện chương trình Bài ca Hà Nộitrên sóng Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội. Đó cũng là một phần cảm hứng làm nên cuốn sách này, khi sách khai thác nội dung từ kịch bản chương trình.
Còn ai hát về Hà Nội, 362 trang, NXB Trẻ ấn hành tháng 10/2013.

Mi Ly

Thứ Tư, 9 tháng 10, 2013

Rừng mái rừng mơ (xi, trích Dưới cột đèn rót một ấm trà)

Trích đoạn truyện dài "Rừng mái rừng mơ" trong tập "Dưới cột đèn rót một ấm trà" vừa ra.



Chương XI

Mạnh thản nhiên thông báo vợ đã đi Úc trước. Long thắc mắc. “Khi nào anh sang?” Mạnh không trả lời, chỉ rủ Long đi chơi Hội An. Long ngần ngừ, không muốn để mình rơi vào cái bẫy nhùng nhằng của quan hệ, nhưng rồi cậu tặc lưỡi, đồng ý đi.

Hai đứa chung phòng trong một cái resort đầy kín những gia đình đi nghỉ bằng coupon khuyến mại. Chuyến bay bị trễ ba tiếng làm Long mệt mỏi. Vừa đến nơi, Mạnh đòi làm chuyện ấy với Long nhưng Long không thích. Mạnh nói Long õng ẹo, còn chờ đại gia. Nhưng Long bảo không thích là không thích. Nhất là Mạnh đã có gia đình, Long không dây vào, đừng mất thời giờ. Mạnh nói mát mẻ. “Nhưng mà cũng còn ham được yêu chiều cơ. Cũng đong đưa cơ. Lúc nào cũng nghĩ mình trẻ trung lắm đấy.”

Long mặc kệ Mạnh lèo nhèo, cậu vào toalet, đóng cửa lại. Hai đứa không nói chuyện với nhau suốt hôm đó. 

Kỳ thực là Long đã lâu không có hứng. Mỗi lần muốn xuất tinh, Long phải tự mình kích thích. Long cảm thấy ê chề khi phải dùng tay khi sex với người khác. Long cũng không muốn làm nản lòng đối tác như Mạnh. 

Buổi chiều, Long để ý thấy một người đàn ông có thân hình khá đẹp ở bể bơi nhưng đã đến lúc phải ra xe vào thành phố. Long bần thần, biết trong mình có cảm giác hồi hộp nhưng cậu không nói với Mạnh. Hai đứa đang bực bội với nhau.

Hôm sau.

Long và Mạnh ngồi ăn sáng. Mạnh chăm chú nhìn về cách đấy mấy dãy bàn. Mạnh quay sang nháy mắt với Long. Dấu hiệu làm hòa. Long huých tay: “Hàng quen à?”

Mạnh cười. “Không. Nhưng mà hàng.”

Long đưa mắt về hướng Mạnh nhìn. Chính là người đàn ông Long nhìn thấy ở bể bơi hôm qua, có lẽ ngồi với vợ và hai con. Anh ta chừng gần bốn mươi, hôm nay đeo kính cận gọng to đen kiểu mốt triết gia, mặc quần lửng áo phông kẻ sọc ngang kiểu lính thủy có cổ tim. Anh ta có cái eo rất đáng tán thưởng khi đi cùng khuôn mặt không còn trẻ.

“Chắc gì? Có vợ rồi những hai con đấy thôi?”

Mạnh cười khùng khục. “Tao cũng có vợ mà! Mày nhìn cái tay nó xem, tuy cơ bắp kiểu tập thể hình nhưng ngón tay cong veo, vắt va vắt vẻo. Cá là nó sẽ liếc.”

Long bật cười, cố tỏ ra không quan sát lộ liễu quá. Mạnh xưng hô “mày, tao” với Long làm cậu cũng hơi giật mình. Nhưng như vậy có lẽ tốt cho quan hệ. Người đàn ông xé mở nắp hộp sữa chua cho con gái, rồi đưa mắt nhìn quanh và khựng lại khi nhìn thấy Long và Mạnh. Không hiểu là do tác động từ nhận xét của Mạnh mà Long nhận thấy hay từ lúc biết có người để ý mình, người đàn ông bỗng điệu đàng quá mức. Cái miệng nhỏ quá mức chúm chím, ánh mắt không giấu vẻ tự ý thức, dáng lưng bỗng nhiên thẳng hơn bình thường ở một nơi ồn ào thế này.

Chị vợ đứng dậy đi lấy thêm đồ ăn. Mạnh cúi đầu nói nhỏ. “Mày để ý mà xem. Bọn gay lấy vợ toàn lấy những con trông như đàn ông hoặc đô ngang chồng. Lưng như cái phản kia.” Long bật cười thành tiếng. Người đàn ông bắn rất nhanh một ánh nhìn, giao mắt với Long. 

Long quyết định kết thúc bữa sáng. Mạnh vẫn nhấm nháy một cách trơ trẽn với gã đàn ông. Long huých đầu gối vào chân Mạnh. “Thôi, dẹp trò khỉ đi.” Mạnh miễn cưỡng đứng dậy theo Long, kéo cái ghế va vào chân bàn một cái rầm, không biết vô tình hay cố ý.Hai thằng ngồi gác chân lên hàng lan can ở quán bar ven sông phía sau khách sạn. Khách sạn có một cái view tuyệt vời nhìn ra con sông Đế Võng. Mạnh lấy cái chân khều khều ống quần soóc của Long. Long khó chịu gạt đi. 

“Hôm nay mình vàng khó ở à.” Mạnh phì phèo điếu thuốc, phả khói vào mặt Long. Long không nói gì, chỉ nhăn mặt lấy tay phẩy xua khói thuốc.

“Em không thích.”

“Không thích sex á? Hay không thích tao?”

“Ừ.” Long thản nhiên liếc Mạnh. Mạnh nheo nheo mắt nhìn Long thầm đánh giá độ chính xác của câu trả lời.

“Thích nó chứ gì.”

“Nó là ai?”

“Còn phải giả vờ. Quả hàng trong chỗ ăn sáng kia kìa.”

“Thích ăn đừng gắp cho người.”

Mắt Mạnh sáng lên. Anh nhỏm dậy, hỏi vọng vào quầy bar rất ngang nhiên, “Anh áo kẻ ơi, cho em hỏi mấy giờ rồi?” Long khẽ quay người lại, đủ để thấy người đàn ông vừa nãy đã ngồi ở quầy bar phía sau.

“Dám cá là tao sẽ lùa nó được lên phòng không? Nó đang không có hàng, phải ở cùng đám vịt trời nhà nó, đang chán lắm nên mới ra uống một mình.” Mạnh thầm thì vào tai Long. Quả thật, người đàn ông đã nhanh nhẹn bước tới. Mạnh nhanh nhảu kéo ghế ra.

“Anh ra đây ngồi với bọn em cho vui.” Long nóng bừng hai tai khi thấy Mạnh làm quen dễ dàng như không có mục đích gì mờ ám. Mà có gì mờ ám nhỉ?

Người đàn ông cũng ở Hà Nội. “Em đi biển mà vẫn trắng quá nhỉ.” Câu nói làm quen hơi bị khéo. Giọng nói không ẽo ợt nhưng vẫn nhừa nhựa. Long đánh hơi ra ngay. Chỉ còn chờ thời điểm chín muồi. Hồi học lớp Sáu, Long gặp từ này lần đầu tiên trong sách giáo khoa Sử. Chín muồi nghĩa là sao? Như là chuối chín? Chả hiểu, cũng như có câu “sợi chỉ đỏ xuyên suốt” hầu như đứa nào cũng dùng khi làm văn, mà tại sao không là thứ gì khác. Con bé Phương tổ trưởng nhún vai, “chín muồi là dậy thì ấy. Ở phần cuối sách Sinh lớp Tám có giải thích.” Long ngạc nhiên và nể Phương lắm, lớp Sáu đã đọc sách lớp Tám rồi.

Ở tổ của Phương và Long, có cái Vọng to con nhất nhì lớp, ngồi ở bàn dưới cùng. Thường những đứa ngồi ở góc dưới cùng là do học kém. Long để ý cái Vọng có cặp mắt lờ đờ, người hay có mùi tanh tanh khen khét, quần áo hay có cảm giác ẩm ướt như người vừa đi ngoài mưa. Bọn con gái cùng lớp không hiểu thế nào mà ghét Vọng, gần như không nói chuyện gì với nó, trừ cái Hoa nhà cùng dãy khu tập thể của một xí nghiệp. Đầu năm học, Vọng ngồi bàn ba. Sau khi bị hội cái Phương cầm bút dạ dầu loại không xóa được viết lên lưng áo “Vọng đĩ”, nó xuống ngồi bàn dưới cùng. Hình như nó xin chuyển, mà cũng vì cuối học kỳ một, nó đột nhiên cao vống lên, bọn ngồi sau toàn lấy thước gõ vào đầu nó để nó cúi thấp xuống còn có chỗ chép được bài. Vậy là nó chuyển chỗ. Không có đứa nào bị mách là đã viết lên lưng áo nó. 

Tháng Mười âm lịch vẫn còn nhiều bão. Một hôm nước ngập sân trường, mấp mé bậc thềm hành lang các lớp học. Cô chủ nhiệm đi ngang qua cửa lớp lúc giờ nghỉ giữa hai tiết. “Giờ nghỉ không vào truy bài đi còn đứng tụ tập gì hả? Tôi hạ hạnh kiểm bây giờ.” Cả lũ xô nhau chạy vào lớp. Bỗng cô ngó nghiêng ở cửa cuối lớp. “Hôm nay vừa có tiết thực hành Sinh à?” Cả lớp lao xao. “Không ạ. Hôm nay học Địa ạ”. “Sao lại có vết máu như mổ cá…” Bỗng cô im bặt. Rồi cô vẫy lớp trưởng là cái Minh ra nói gì đó. Ngay lập tức cả đám con gái xô ra cửa rồi thì thào với nhau, nhìn về phía cuối lớp. Bọn con trai không hiểu chuyện gì. Lúc này chỗ cái Vọng đã trống. Nó đã bỏ về từ lúc nào. Trên mặt ghế và trên nền gạch lép nhép nước mưa, những giọt máu loang loang trên váng nước. Không có tiếng rú lên nào. Rồi buổi học tiếp tục như không có gì xảy ra và nhiều năm tháng trôi qua.

Về sau, khi Vọng vào chung kết một cuộc thi hoa hậu, hình như được giải Á hậu gì đấy, rồi lấy chồng Tây và sống ở Úc, có vài dịp họp lớp, Long vẫn không có ý định gặp lại. Vọng có gọi điện cho Long. “Bạn Long trốn tớ nhá. Bao giờ sang Úc nhớ liên lạc đấy. Mình nhớ ngày xưa Long có lần đến nhà tớ chơi, bố mẹ tớ cứ khen ngoan mãi.” Cô bạn có chiều cao quá khổ ở lớp, dậy thì sớm, hóa ra lại có cuộc sống đáng thèm muốn đối với nhiều bạn học cũ. Long không sao gạt được hình ảnh buổi chiều mưa hôm ấy. Vì thế, đến bây giờ, Long vẫn ghét trời mưa và không thích nhạc Trịnh Công Sơn vì nó sũng sĩnh ẩm ướt.


*
Lúc này đây, cái loa văng vẳng bài Tuổi đá buồn. Một bài hát đầy đủ nhất cho phong cách nhạc Trịnh. Long thở dài, may mà mấy hôm nay trời Hội An nắng nóng, khô cong cong.

Mạnh từ lúc nãy đến giờ đã nhanh chóng thân thiết với Vĩnh. Vĩnh lịch sự chìa bao thuốc Marlboro trắng mời Long. Long xua tay từ chối. “Ngoan thế.” Vĩnh đập tay lên vai Long vẻ “chiến hữu” thân tình. Một cái đập tay hơi không giống đập tay bình thường. Long lại thấy bụng chộn rộn. Long vẫy tay ra hiệu cho phục vụ lại gần. “Em đổi nhạc gì mơi mới đi.”

Vĩnh cười nhẹ. Cái vẻ nhẹ hơi bị kịch. “Bị tâm trạng quá hả.” Long ầm ừ, không tỏ ra hưởng ứng. Mạnh đứng dậy đi vào toalet, ngoảnh đầu ra nói to, giọng cợt nhả. “Cho bài gì bốc bốc, kiểu Thu Minh ố ố là la ấy.” 

Vĩnh choàng tay bá vai Long. Cái choàng tay lần này rõ ràng chủ động hơn cái đập tay vừa rồi. Lâu hơn, nấn ná, làn da ram ráp có vết chai cọ xát lên vai Long. Long thở dài, cố kiềm chế cảm xúc. Hình như Vĩnh cũng thở mạnh. Nhưng Long đang đi chơi với Mạnh cơ mà. 

Chừng như thấy cứ ngồi mãi vậy cũng chướng, Vĩnh rút tay về. Vừa lúc Mạnh ra, mặt Vĩnh đột nhiên lạnh lẽo. Mạnh ngồi xuống, rút điếu thuốc châm lửa. “Anh mệt à?” Vĩnh gật đầu, gác chân lên ghế, gãi gãi tay vào gần bẹn, trông rất khó coi. 

Mạnh lấy tay đập muỗi. “Lên phòng bọn em đi. Em có chai rượu này hay lắm, có tí đồ nhắm em mua rồi. Ba anh em mình vui vẻ đi. Phòng em có ban công rộng, view đẹp tuyệt vời, ngồi mát mà không lo muỗi.”

Vĩnh ngần ngừ, không tỏ vẻ gì là hưởng ứng, khác hẳn thái độ hồ hởi lúc đầu. Mạnh liếc nhìn Long, nhưng cậu tránh cái nhìn tinh quái quá đỗi dạn dĩ ấy. Long xấu hổ như thể mình vừa có hành vi ngoại tình.

“Anh có phải về báo cho chị và các cháu không?” Mạnh buông câu quan tâm mà Long nghe như khiêu khích. “Còn sớm mà.” 

Vĩnh chặc lưỡi. “OK. Uống tí thôi nhé.”

Lúc ba người đi vào thang máy, Mạnh bấm vào bàn tay Long một cái. Mạnh có vẻ rất đắc chí. 

Ba người ngồi quanh tờ báo mà Mạnh trải ra, trên đặt đĩa mực nướng, nem chua, phó mát dây, bánh đa và chai rượu Ballantines. Mạnh giục. “Anh Vĩnh uống đi nhỉ.” 

Vĩnh có vẻ say, mặt ửng hồng. “Ăn nhiều phó mát thế này dễ béo bụng lắm. Như kiểu cậu lấy vợ vào cũng dễ béo.” Vĩnh hất hàm về phía Long. Mạnh nhướn mày hơi ngạc nhiên. Vĩnh nằm xoài ra, miệng khe khẽ hát. Mạnh tranh thủ kéo người Long về phía mình, miệng mấp máy. “Thằng loser”.

Long cười trừ. Cậu uể oải nhai sợi mực khô. Mạnh tinh quái hỏi Vĩnh. “Anh Vĩnh tập thế nào mà người ngon thế, chỉ cho em với.”

“Đơn giản thôi, nhưng phải tập đều. Không bia rượu. Không ăn tinh bột.” Rồi Vĩnh làm vài động tác nằm ngửa, co chân gập bụng.

Mạnh thản nhiên xáp lại, lật áo Vĩnh lên, nắn bụng anh ta. Long tròn mắt nhìn.

Vĩnh bắt gặp cái nhìn của Long, gạt tay Mạnh ra, nhỏm dậy. Mạnh coi như không có chuyện gì, quay sang Long. “Đọ bụng xem có sáu múi không?”

Long đỏ mặt. “Anh Vĩnh vừa chê rồi.” Mạnh cười khùng khục. “Toàn anh em cả, có gì mà ngượng.” Mạnh đứng phắt dậy, lột áo, nhăn nhở làm một tư thế gồng kiểu lực sĩ thể hình.

Mạnh thả lỏng người, vỗ vỗ vào bụng. “Chán. Mình có mỗi một múi. Về Hà Nội, anh Vĩnh rủ em đi tập chung với nhá.”

Mạnh ngồi xuống cạnh Long, ôm rịt lấy, xoa xoa nắn nắn. Vĩnh không nói gì, bần thần dí dí tay vào điện thoại. Vĩnh bất ngờ đứng dậy. 

“Muộn rồi.”

“Anh ở lại đã.”

Vĩnh ngập ngừng rồi bảo. “Dùng nhờ toalet nhé.”

Mạnh gật đầu, “vâng, anh cứ thoải mái mà” rồi chờ Vĩnh đóng cửa toalet lại, nói thầm với Long. “Nó thích mày lắm rồi.” Long gạt ra, “Lấy đâu ra. Người ta còn gia đình nữa mà.”

“Hi hi, rồi xem. Mày cởi áo ra.” Nói rồi, Mạnh vừa sấn sổ lột áo của Long, ra hiệu cậu không được kêu, ẩy cậu lên giường. Mạnh nhanh tay dọn đống đồ nhậu rồi đóng cửa ra ban công, mặc cho Long lúng túng ngồi trên giường. Rồi Mạnh hì hục đẩy cái giường còn lại vào sát giường Long đang ngồi. Long nằm xuống, mặc kệ muốn ra sao thì ra. Mạnh tắt bớt đèn, đứng sẵn ở cạnh cửa toalet. Tất cả diễn ra nhanh chóng đến nỗi khi Vĩnh ra, anh ta chỉ kịp kêu lên “ơ” một tiếng thì đã bị Mạnh đẩy lên giường.

Sau một vài sự chống cự thì Vĩnh đã không còn kiềm chế nữa. Anh ta thậm chí còn rên lên khi va chạm cơ thể với Long và Mạnh. Long ở phía này vòng ôm của Vĩnh, nhìn thấy hàm răng cười nhe nhởn của Mạnh. 

Hình như Vĩnh vừa tắm. Thảo nào mới đủ lâu để Mạnh bày binh bố trận. Đúng là anh ta không hề bị động mà đã có chuẩn bị cho chuyện này. Tay Long sờ trên tấm lưng ươn ướt của Vĩnh. Cậu chợt nhớ lại một cảm giác khó chịu, nhưng rồi cố quên đi để tập trung vào màn tay ba này. Đã lâu rồi cậu không có hứng, cho đến hôm nay.


**
Thế nào mà chuyến về Hà Nội, Long và Mạnh gặp nhà Vĩnh trên máy bay. Tất nhiên là khác hàng ghế. Vĩnh tảng lờ như không quen, không một lần nhìn hai đứa, mặc dù Mạnh có vẫy tay chào. Mạnh và Long bẽ bàng đi về chỗ. Cách bốn hàng ghế, Long chỉ thấy cái gáy trắng trắng của Vĩnh khi đang cất đồ lên khoang chứa. Làm thế nào mà lại không đứng vuông góc với khoang chứa mà vẫn cất đồ được nhỉ. Nghĩa là từ phía sau, không thể nhìn thấy mặt Vĩnh. Không nghiêng mặt lấy một lần.

“Thằng hèn.” Mạnh nghiến răng. “Để mình trêu cho bõ tức.”

Long cản lại. “Tội nghiệp người ta. Anh rồi cũng thế thôi.”

Mạnh bực dọc, thu chân lên ghế. Lúc máy bay đã bay thẳng, mọi người được bỏ dây an toàn, Mạnh nhỏm dậy, ngó nghiêng. Long tưởng Mạnh muốn đi toalet định nhấc chân lên cho Mạnh ra ngoài. Nhưng Mạnh chỉ bảo đổi chỗ. Lát sau Mạnh đứng dậy rất nhanh, Long vội nhìn theo. Mạnh hình như đang chờ buồng toalet trống. Vĩnh đi ra. Mạnh đã đứng trấn sẵn ở cái lối đi hẹp. Vĩnh lúng túng, tìm cách lách qua. Mạnh được thể trêu già, chắn đường Vĩnh như một pha cản bóng. Hai người nói gì với nhau, Long không nghe thấy, chỉ kịp thấy Vĩnh nổi đóa, đấm vào mặt Mạnh. 

Vụ lộn xộn mau chóng giải tán khi tiếp viên chạy lại. Một nam mặc áo trắng quần xanh có cái mông rất cong, hai nữ mặc áo dài huyết dụ mặc áo ngực độn quá đà. Họ cố gắng diễn đạt một cách cầu kỳ mà hăm dọa về việc lập biên bản này nọ. Mạnh bị sưng ở một bên má, lầu bầu. “Gớm, làm như khủng bố ấy.”

“Cái gì? Anh nói khủng bố?” Nữ tiếp viên già hơn, có nụ cười xảo quyệt, giọng như reo lên.

Long vội vàng đánh lạc hướng. “Không, không, anh ấy nói là anh kia cứ làm như bố người ta ấy.”

Nam tiếp viên có cái mông cong ngân nga. “Tôi nghe thấy anh kia nói là khủng bố. Chúng tôi sẽ kiểm tra hệ thống ghi âm, nếu đúng vậy sẽ phải lập biên bản phạt thật nặng vì vi phạm an toàn bay.” Những hành khách xung quanh nghển cổ tò mò nghe. Bên trên vợ con Vĩnh cũng ngó xuống nhìn. Hình như Vĩnh đã chuyển chỗ ra cửa sổ, khuất hẳn tầm nhìn. Không hề nhô lên.

Mạnh nhao lên. “Thách đấy!” Long bất lực ấn Mạnh ngồi xuống. “Thôi, anh chị thông cảm. Chuyện có gì đâu.” Một ông khách khác cũng góp lời. “Chuyện đàn ông thôi mà các anh chị. Làm gì mà phải đến mức biên bản này nọ.”

“Chúng tôi phải làm đúng thủ tục để đảm bảo an toàn bay.” Tiếp viên nữ già vẫn không thôi bài thuyết giảng, tuy nhiên giọng cũng đã giảm tông. Chừng như thấy cũng không cần phải thị uy thêm, hai nữ tiếp viên rút đi. Tiếp viên nam chắp tay sau mông, đi đi lại lại như còn đợi thêm điều gì. Mạnh rút cái kính râm ra đeo, nghiến răng đúng lúc anh này đi tới. “Đồ điếm đực.”

Tiếp viên nam dừng sững lại, trừng mắt nhìn Mạnh, nhưng Mạnh thản nhiên nhìn lại qua cặp kính râm. Tiếp viên quay ngoắt đi, cái dáng thoăn thoắt tức cười.

Mạnh bật cười. “Thằng này nhẵn mặt ở thị trường, pêđê có số má là cái chắc.” Long thấp thỏm, hồi hộp chờ đám tiếp viên sẽ quay lại với tờ biên bản, hoặc xuống sân bay sẽ bị áp tải về phòng an ninh. Mạnh chửi thề, “Mày sợ đ. gì, tao gặp một thằng hèn là đủ rồi.” Long bỗng trỗi lên sự tự ái ghê gớm.

Lúc ra khỏi máy bay, Long không dám nhìn vào mặt đám tiếp viên. Cũng không có chuyện gì xảy ra. Không ai ra hạch hỏi. Không có vụ đụng độ nào nữa, như thể gia đình Vĩnh đã trốn vào góc nào đó, hay độn thổ, dù băng chuyền lấy hành lý sân bay Nội Bài đủ chật để nhìn thấy người đi cùng chuyến. Long cũng không nói chuyện với Mạnh, ra khỏi nhà ga, hai đứa gọi hai taxi khác nhau.

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ