Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2009

Thả rau muống bè

.
Một bài học tôi được một người đi trước dạy: viết câu văn tiếng Việt thì thiên vị hẳn dấu phẩy hoặc liên từ "và", đừng lèm bèm giữa hai thứ. Đấy là một "bí quyết". Ngẫm rất là đúng. Mỗi tội đến giờ thấy mình mãi chẳng thuộc bài. Lại thấy văn tiếng Anh cứ hay kiểu "X and Y and Z, and W." Thế mà dịch sát ra tiếng Việt sẽ bị phang ngay là lặp và lủng củng: "Cô mặc một cái mũ màu hồng điểm những cái lông trắng và một cái áo hiệu Oscar de la Renta có những cái khuy bạc và một đôi giày Manolo Blahnik màu bạc gót cao 12 phân và có đính cườm, và khoác một cái túi LV có những xyz..." Thói quen tiếng Việt sẽ phải sửa thành một câu cực kỳ biền ngẫu: Cô đội một cái mũ...., khoác một cái áo...., đi một đôi giày..., tay mang một cái túi..."

Viết lằng nhằng thì có khi được nhân nhượng mà cho là ý tưởng nhiều, chi tiết ngộn, nhưng xét kỹ thì thực ra là kém khoản điều khiển chữ nghĩa cho nó sáng sủa. Có một vài chi tiết thì cố bằng được nhét vào như là cơ cấu cán bộ con em vậy. Như là sợ nó sểnh ra.

Một bài học thứ hai là làm sao một trang sách nên có ít nhất một cái xuống dòng. Cái này ngày trước mình rất bảo thủ, cứ nhất quyết muốn mạch văn liền tù tì mới sướng. Giờ vẫn chưa đầu hàng, nhưng đã ý thức ngắt đoạn cho đỡ hành hạ bao tử người đọc khác. Nói chung mình trôi từ Faulkner về Hemingway! Nghe thế cho sang, chứ chắc lý do thật của mình tầm thường hơn.

...
Nhưng nhiều cái xuống dòng quá, trang viết y như một trang báo điện tử, gồm những câu rời rạc, mặc dù nó cùng hiệp ý nối tiếp nhau. Tuy vậy, viết rời từng câu ra thế, sự mạch lạc trong 1 câu hay là vị thế của đơn vị câu trong văn bản được rõ hơn hẳn. Khi mình viết dính chùm, các câu có vẻ bị xem nhẹ và cốt để phục vụ làm dầy lên cái ý muốn gói ghém.

Huyên thuyên một tí cho đỡ nản. Mình đâu có muốn thả rau muống bè! Vừa nãy, có một cái nick của một nhóc sinh viên ở lớp tiếng Anh cứ nhất quyết hỏi "mày xin được việc chưa?" mà mình biết ngay là nó nhầm. Phủ nhận một hồi không xong, nghĩ cái sự quả quyết của con người sao mà mạnh, thôi thì cho một câu: "Ừ, tao thất nghiệp rùi" cho đúng kiểu nỗi đau chàng Verte năm 2009, rồi ignore luôn cái nick cho thoáng.

Viết lúc hãy còn đang nản.
.

Thứ Năm, 27 tháng 8, 2009

Về Kundera

.

Tập truyện ngắn “Những mối tình nực cười”:

HIỆN THỰC KHÔNG BIÊN GIỚI CỦA MILAN KUNDERA


Người đọc Việt Nam đã được biết Milan Kundera từ những cuốn Đời nhẹ khôn kham, Cuộc sống không ở đây, Điệu Valse giã từ, Sự bất tử. Mới đây, công ty Nhã Nam vừa cho ra mắt cuốn Những mối tình nực cười - một tập truyện ngắn xuất bản từ năm 1968 bằng tiếng Pháp. Nhịp sống Sài Gòn đã trò chuyện với dịch giả Cao Việt Dũng về quyển sách thời kỳ đầu của tác giả người Séc này.



Kundera là nhà văn có ý thức sâu sắc về lối viết và được hâm mộ từ lâu trên thế giới. Là người đã dịch một số tác phẩm của Milan Kundera, đến cuốn mới in ở VN là Những mối tình nực cười, anh đánh giá thế nào về ảnh hưởng của Kundera với đời sống viết lách VN?


+ Một mặt, tôi nhận thấy cái tên Milan Kundera được nhiều nhà văn nhắc tới. Nếu như đó là dấu hiệu của ảnh hưởng thì chắc chắn Kundera có ảnh hưởng không nhỏ ở Việt Nam, theo tôi là ngang với Garcia Márquez, mặc dù Kundera và Garcia Márquez rất khác nhau: nếu một người là biểu tượng của tư duy phân tích lạnh lùng, thậm chí ác độc thì người kia hay được coi là một bậc thầy phóng túng và nồng nhiệt, đầy nhân tính. Ở một số nhà văn lớn tuổi có yếu tố “phản tỉnh” như Nguyễn Khải hay Nguyên Ngọc dấu ấn của Kundera là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, cũng phải nhấn mạnh rằng một nhà văn chỉ thực sự lớn khi không ai có thể bắt chước được.


Mặt khác, nếu nói trung thực thì tôi thất vọng với sự tiếp nhận Kundera ở Việt Nam. Không phải ở chỗ Kundera có ít người Việt Nam đọc, mà là vì việc đọc Kundera dẫn tới hai thái cực: hoặc là người ta sùng kính Kundera đến mức cuồng tín, hoặc là người ta hời hợt đến mức giống như nói mình đọc Kundera để không bị mang tiếng là “đi sau trào lưu”. Cuồng tín dẫn tới lố bịch, còn hời hợt là con đường đi thẳng tới “kitsch”, cả hai đều là đích ngắm lớn của Kundera trong suốt đời viết văn. Khi gặp phải những trường hợp ấy, tôi thấy rất tiếc, tiếc cho Kundera ít hơn là tiếc cho độc giả của ông.


Theo tôi, cái làm cho Kundera trở nên khác biệt và nổi bật nằm ở đặc điểm: ông là người tỉnh táo. Nếu muốn tiếp thu tinh thần Kundera thì có lẽ đó là điều quan trọng hơn cả. Nội dung và hình thức tất nhiên không thể phân biệt rạch ròi, nhưng sau một thời gian dài tiếp cận đủ các tác phẩm của Kundera theo hướng phân tích “chiến lược văn bản Kundera”, tôi nghĩ rằng văn phong không phải mặt mạnh của ông, mà tài năng của ông chủ yếu nằm ở ý tưởng, cách nhìn và khả năng phân tích, dẫn dắt, thậm chí thao túng tâm trí người đọc. Đọc Kundera cũng cần đặc biệt tỉnh táo.



Đọc Những mối tình nực cười, tôi thấy có những khía cạnh cười cợt trào lộng tưng tửng như truyện cổ châu Âu kiểu Andersen, Grimm hay Perrault. Không có khía cạnh chiến thắng hả hê kiểu Thiện-Ác phân minh hay đòi công lý sát sạt, mà những con người nạn nhân ở đây cũng không đau buồn quá mức trong bối cảnh những tình huống có tính ngụ ngôn. Liệu đấy có phải là ảnh hưởng của một vùng địa-văn hóa chịu ảnh hưởng qua lại của các thuyết triết học vốn cung cấp cho con người một thái độ cởi mở và đón nhận sự khác biệt?


+ Người đọc tinh ý hẳn sẽ nhận ra trong Những mối tình nực cười có một độ chênh nhất định. Hai truyện đầu (“Sẽ không ai cười” và “Quả táo vàng của ham muốn vĩnh cửu”) rất giống với giọng văn Đông Âu mà người đọc Việt Nam đã quá quen, nói chính xác là Đông Âu xã hội chủ nghĩa, với những tình huống trái khoáy “vừa phải”. Năm truyện còn lại khác hẳn, và đó mới là Kundera nhà văn lớn mà chúng ta vẫn được thưởng thức. Cách lựa chọn và sắp xếp của tập truyện hẳn có nhiều phần bắt nguồn từ ý đồ xây dựng cấu trúc và niềm ham mê con số 7 của Kundera. Tuy nhiên, giới phê bình thế giới đều nhất trí coi tập truyện ngắn này có giá trị ngang bằng mọi tiểu thuyết khác của Kundera, và điều đó rất chính xác, nhất là khi đọc những truyện như “Chơi trò xin đi nhờ xe” hay “Edouard và Chúa”, hai kiệt tác nho nhỏ.


Độ chênh đó cũng là một điều đáng lưu tâm: có một Kundera Đông Âu, có một Kundera Tây Âu, nhưng còn có thêm một Kundera nữa, và đây mới là nhân vật đáng nói nhất: Kundera không Đông Âu cũng không Tây Âu, một con người vừa ở giữa vừa không thuộc về đâu, một người châu Âu thực thụ với đầy đủ những phẩm chất tiêu biểu nhất, và cũng không phải là một người châu Âu đơn giản.


Nói về Kundera, ông được xem như thuộc về dòng văn học (hay văn hóa) nào, Séc hay là Pháp? Slavic hay Latin? Anh đã dịch những tác phẩm văn học Pháp do những tác giả Pháp viết khác thì thấy có sự khác biệt nào với Kundera không?


+ Như trên đã nói, xác định Kundera thuộc về đâu là một việc rất không đơn giản, và theo tôi còn không mấy ý nghĩa. Kundera chế nhạo (chế nhạo vốn là sở trường của ông) tính cách Séc, nhưng ông cũng chế nhạo cung cách Pháp, ông bỏ đất nước Séc nhưng cũng không mấy thoải mái khi ở Pháp (rất nhiều năm nay Kundera từ chối trả lời phỏng vấn báo chí Pháp và có lần thậm chí còn cho xuất bản sách của mình tại các nước khác trước khi in ở Pháp, dù ông viết bằng tiếng Pháp). Cách viết của Kundera cũng không giống nhà văn Pháp nào khác. Cũng không dễ tìm được một tương đồng nào ngoài cái vòng Séc-Pháp ấy. Tôi thích coi Kundera là một nhà văn thường trực hướng tới cái phổ quát, một con người quá sáng suốt thành thử không thể thực sự thoải mái ở đâu, trong một đường biên giới cụ thể nào. Tôi cũng thích coi Kundera là một nhà văn thiên tài trong việc lật mặt nạ: mặt nạ của con người và cả mặt nạ văn hóa, người ngay tức khắc nhìn ra sự xấu xa của chế độ toàn trị nhưng cũng không tốn nhiều thời gian để hiểu các khiếm khuyết của xã hội dân chủ. Một người như vậy, nếu bạn hiểu điều này, không có nơi nào để thuộc về. Cảm giác này sẽ càng rõ hơn khi đọc tiểu thuyết gần đây nhất của ông mang tên L’Ignorance (tạm dịch là Ngu dốt).


Milan Kundera 1981


Mặc dù có những giá trị phổ quát, nhưng ở VN, tôi cảm giác sách của Kundera vẫn chỉ hợp với một số ít những người đọc thành thị như Hà Nội, những người có “điệu tâm hồn” hợp với các nhân vật của ông - những trí thức lỡ nhịp. Vắt sang chuyện phê bình, có gì khác biệt giữa cách cảm thụ cũng như đánh giá Kundera giữa người phê bình / người đọc châu Âu với người Việt không?


+ Giới phê bình đã viết rất nhiều về Kundera, và cũng có rất nhiều điều khác nhau được viết ra (điều này cũng là bình thường). Trong khi các nhà phê bình châu Âu quan tâm tới mặt triết học trong tư tưởng Kundera cũng như cách tiến hành công việc viết văn, mối liên hệ giữa ông và các nhà văn khác, thì tôi cũng đã từng đọc vài chuyên luận của giới nghiên cứu Mỹ chỉ tập trung phê phán cách nhìn phụ nữ không được trân trọng cho lắm của ông, và quan điểm khó xác định của ông về tôn giáo. Điểm thứ hai này bạn đọc Việt Nam có thể hiểu được nếu đọc tiểu thuyết Điệu valse giã từ, nơi trái với đạo đức Thiên chúa giáo thông thường, kẻ gây tội ác giết người lại không phải chịu trừng phạt, thậm chí còn không sám hối, một thứ âm bản kỳ dị và vô cùng phá cách của Tội ác và hình phạt. Đây cũng là tác phẩm tôi thích nhất của Kundera.


Quả thực nhân vật người trí thức không mấy được ưu ái trong tác phẩm của Kundera. Thường xuyên có chuyện trí thức phải đi lau cửa kính hay tự lố bịch hóa trong một cuộc hội thảo khoa học ở các tiểu thuyết của ông. Còn lại, việc cách viết của Kundera hướng tới sự phổ quát không đồng nghĩa với việc những điều phổ quát ấy là phổ quát như nhau với mọi người. Tôi tin rằng người đọc Việt Nam cần có cái nhìn phê phán lớn hơn nữa ngay cả trong tiếp nhận các kiệt tác văn chương thế giới.


Gần đây, có thể thấy dòng văn học Trung – Đông Âu được giới thiệu lại và dịch khá rầm rộ ở VN, từ Cô đơn trên mạng, Xin cạch đàn ông (Ba Lan), Những ngọn nến cháy tàn (Hungary), Tình ơi là tình, Cô giáo dương cầm (Áo)… Bối cảnh của Kundera cũng là từ nước Tiệp Khắc những năm Chiến tranh Lạnh. Người đọc băn khoăn là, cái chân dung xã hội Tiệp Khắc hay là Séc đó có được phản ánh trung thực không? Vì một nhà văn khác, Cao Hành Kiện, dù được giải Nobel, nhưng trước đó ít ai biết và ở Trung Quốc cũng không ghi nhận ông cùng Linh Sơn.


+ Các tác phẩm được kể tên trên đây mới chỉ là khúc dạo đầu ngắn ngủi của rất nhiều tác phẩm khác sẽ được ra mắt trong thời gian tới đây. Văn học Trung-Đông Âu là một mối quan tâm đặc biệt của tôi, tôi được biết rằng sắp tới không ít nhà văn danh tiếng sẽ được dịch ra tiếng Việt, với sự góp sức của nhiều dịch giả nhiều năm sống ở các nước như Hungary, Ba Lan hay Áo. Liên quan tới Kundera, tôi rất mong hai nhà văn mà Kundera coi là bậc thầy, Robert Musil và Hermann Broch, sớm được dịch.


Có lẽ vấn đề phản ánh hiện thực mà Kundera đặt ra cần nhìn ở một góc độ khác. Nếu sinh ra ở một đất nước khác chứ không phải Séc, chắc hẳn Kundera cũng sẽ nhìn ra và miêu tả tài tình những gì nực cười, những gì lố bịch, những gì xấu xí ở đó. Nhưng bởi vì đó là nước Séc, nên chúng ta có thể nghĩ rằng qua một nhà văn như Kundera, cái xã hội Séc đã được cộng thêm một không gian mới, không gian văn chương. Cái đó mới là đáng kể, và rất khó nói xã hội hiện thực hay xã hội như trong văn chương Kundera là “chân xác” hơn.


Xin cảm ơn dịch giả Cao Việt Dũng.


* NHỮNG MỐI TÌNH NỰC CƯỜI – Milan Kundera, người dịch: Cao Việt Dũng, công ty Nhã Nam và NXB Văn học, 2009.


T.Q thực hiện (Nhịp Sống Sài Gòn 9-2009)

.

Thứ Tư, 26 tháng 8, 2009

Giờ thì họ đã lớn

.
Tập tành làm nhà phê bình văn học trẻ duy nhất lần này thôi. Góp vui ủng hộ cho các bạn viết lách. Còn nhiều tên tuổi nữa nhưng tôi chưa có điều kiện đọc hết hoặc là không nhắc đến dù yêu thích do khuôn khổ bài viết (đăng trên Nhịp sống Sài Gòn, 8-9.2009).
...

GIỜ THÌ HỌ ĐÃ LỚN

Đọc gì ở văn người tuổi ba mươi?


Gần đây, những tác phẩm văn học được xem là trẻ lại gây rập rình. Mặc dù vẫn chỉ được xem là hạng hai so với văn học dịch như lời tự nhận của một tác giả trẻ, độc giả cũng vẫn muốn đọc cái gì đó của một người Việt trong thời đại này. Thường thì những lao xao của chúng gây ra chủ yếu là bối cảnh đô thị, những loại “vết thương thành thị”, nơi có thị trường và bạn đọc đông nhất của họ. Có gì để đọc từ đó?


CHUYỆN ĐỜI TỰ KỂ



Đại bộ phận các truyện và tiểu thuyết mang tính tự truyện. Thực ra phải có sự phân loại ở đây, những tác giả có tham vọng thường dấn thân vào tiểu thuyết. Ở đấy, họ nhập vai, một mình đóng cả ba vai chèo, đôi khi nhân vật của họ na ná phong thái kiếm hiệp, chỉ một cú chưởng là hiểu thấu tâm can nhau, như thể có mối dây liên tưởng ngầm đã đặt sẵn. Nhân vật của nhà văn trẻ không xung đột nhau vì khác nhau mà vì giống nhau quá, từ cái giống của sự nhàm chán đến cái giống của sự biến đổi.


Thời của những truyện ngắn tinh giản kiểu Khi người ta trẻ của Phan Thị Vàng Anh hay luận đề kiểu Nguyễn Huy Thiệp đã được đẩy sang hướng những trải nghiệm ẩn ức bản năng trong những truyện cỡ vừa dài hơi. Cấu trúc lỏng lẻo hơn, có chuyện lan man chỉ kịp lướt qua một cảm xúc. Các câu văn có vẻ dễ dãi hơn, xô đẩy nhau hơn. Có nhà phê bình trẻ theo lối biên tập kinh điển, có thể ngồi nhặt sạn ra vô khối trong quyển tiểu thuyết ăn khách của tác giả trẻ Đặng Thiều Quang (Đảo cát trắng, Bóng giai nhân). Nhưng không ai đi nhặt sạn những ẩn ức, cũng như cái sự triết lý người-đàn-ông-mới-lớn đầy rẫy trong các tác phẩm của các tác giả trẻ khác như Dương Bình Nguyên (Giày đỏ), Trần Nhã Thụy (Sự trở lại của vết xước). Các nhà văn nữ thì đeo đuổi những khám phá có tính trí tuệ, chiêm nghiệm và đề cao tính độc lập thay vì cảm hứng tính dục nữ phái như cách đây vài năm. Nổi bật là Phan Việt (Tiếng Người; Nước Mỹ, nước Mỹ) với ý thức viết chủ ý tạo sự khô, lạnh mà chất chứa tâm sự. Người ta có thể cho rằng có sự ảnh hưởng của các tác giả lớp trước hay nước ngoài đến văn phong của các tác giả trẻ, thậm chí có người bị xem là “thuổng” nhưng xét cho cùng, đây là câu chuyện của mọi thời!


Năm năm gần đây, câu nhận xét “nhà văn ăn mình” được dùng để đánh giá nhà văn trẻ. Không gian truyện quanh quẩn, pha chế những góc nhìn lạ về các nhân vật kiểu “người đi qua đời tôi”. Công thức tương đối phổ biến là một quan hệ ngoại tình hoặc có màu sắc cấm kỵ, các nhân vật không hấp dẫn ngoại hình thì cũng tỏ ra có năng lực tính dục mạnh. Nhưng có cách nào đọc vị một thế hệ, chắc người ta vẫn nhất trí rằng văn học trẻ là đáng để ghi nhận, bên cạnh loại nhạc trẻ hay những loại hình nghệ thuật đương đại cũng đang làm giới hàn lâm phân vân vì đặc tính không “ra tấm ra món” của chúng.


ĐỌC ĐỂ TIÊU KHIỂN



Không phải các tác giả trẻ viết bất chấp hoặc không ý thức rằng những gì mình viết đang đứng ở đâu. Trước hết, họ là những người chịu khó đọc và nói như nhà văn Phạm Thị Hoài, không cho mình cái quyền không biết thế giới ra sao. Nhiều nhà văn trẻ có trình độ học vấn tốt, là du học sinh, với sự nhạy cảm có sẵn của một người trí thức trẻ, họ đối diện với một thế giới khác với cha anh. Bối cảnh trong một loạt tập sách là ở những nơi ngoài VN như Mỹ (ngoài hai tập của Phan Việt còn có Chuyện tình New York của Hà Kin), Nhật (Lần đầu tiên của Nguyễn Nguyên Phước), Anh, Pháp (Oxford thương yêu, Cáo già, gái già và tiểu thuyết diễm tình của Dương Thụy)… cho thấy vấn đề địa lý không còn là rào cản. Tuy nhiên, tham vọng chưa đủ để dòng văn học này định hình một phong cách hay kỹ thuật viết cho dù thấp thoáng qua một số cây bút như Nguyễn Thị Thanh Phượng (học ở Pháp).


Điều khả thi nhất mà các cây bút trẻ đem lại là thái độ dùng văn chương để trở thành sản phẩm có tính hấp dẫn độc giả. Khi họ viết thoải mái, không gồng mình nặng nề, họ thành công với thị trường hơn là nỗ lực diễn đạt triết lý cầu kỳ. Mối bận tâm của độc giả trẻ - những người chủ yếu đọc văn trẻ - là những hỉ nộ ái ố, những cái phao vừa lạ lẫm nhưng vừa đủ quen thuộc. Thực tế những nhà văn thế hệ 7x, 8x vào đời bằng một loại văn hóa phổ thông du nhập từ thời đổi mới - truyện của Harold Robins, Sydney Sheldon, những cuộc đổ bộ của phim Hollywood sau thời phim Xôviết. Đọc truyện của những cây bút Hương đầu mùa hay Mực Tím một thời, dễ nhận ra đấy là hình ảnh phóng chiếu những môtíp người hùng, giai nhân, những quan hệ tình cảm thông thường, sáng sủa, được viết trong ngôn từ Việt “cải cách giáo dục”.


Có lùa nhân vật vào Công ty (Phan Hồn Nhiên) hay ra Đảo cát trắng, họ vẫn chung một cảm thức khá “đỏm dáng” – tâm tình có vẻ “hậu hiện đại” của gái văn phòng, trai chứng khoán, những kẻ có xe, có nhà, có các thứ nhưng tất cả chỉ chực rã rời như đòi thay đổi - những cái “mã” bắt mắt và hợp thời. Ở tuổi 30, thế hệ này căn bản xác định được rằng: họ đã thành công với tiêu chí “viết và đọc để tiêu khiển”. Nếu ta ý thức rằng, ở một đất nước 86 triệu dân mà số ấn bản của một đầu sách văn học trẻ bán chạy không quá nửa vạn thì những nỗ lực của họ là đáng ghi nhận.


NGÀY MAI CỦA NHỮNG NGÀY MAI


Đó là tên một tập sách của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, một gương mặt tuy cùng lứa tuổi nhưng các tác phẩm nổi bật của chị lại không chia sẻ mạch văn hay không khí truyện của số đông tác giả “văn học tuổi hai mươi”, “tác phẩm tuổi xanh” hay “hương đầu mùa”, vì chị chọn bối cảnh nông thôn. Tuy nhiên, với tác phẩm gần đây nhất, Gió lẻ, người đọc nhận thấy cây bút này đã “đô thị hóa” cả về bối cảnh, nhân vật cho đến chất văn, dẫn tới có những điểm tương đồng với số người viết trẻ ở thành phố. Những cây bút cũng không dừng lại ở những vấn đề loanh quanh cá nhân, có thể thấy ở Nguyễn Vĩnh Nguyên, và cả Phan Việt, những kiến giải về cuộc sống có tính luận đề, nhưng thành công của họ nếu có được vẫn là phẩm chất nhạy cảm của người trẻ trong xung đột với đời sống, tạo nên cái “thương tích” lấp lánh đầy mới mẻ chỉ tuổi trẻ mới có.



Đô thị hóa mọi mặt đời sống cuốn hút giới trẻ hướng về ánh đèn thành phố, và văn học trẻ cũng không ngoại lệ. Xét cho cùng, nhu cầu có một lứa nhà văn ăn khách, một kiểu các cây bút thời thượng, hợp thời trang, lúc nào cũng có. Đấy cũng là cái nền chung của văn hóa đô thị. Chỉ khi cái nền đó phát triển có sức sống, những thứ đặc sắc hoặc phức tạp hơn, đạt được những tiêu chí được giới phê bình đánh giá cao, mới nảy sinh vững chắc. Người ta hay viện dẫn những thành quả của các thế hệ trước, nhưng ít khi nhận thức rằng đó là kết quả của cả một quá trình. Một cây bút như Đặng Thiều Quang biết cách kể chuyện lôi cuốn, nhưng nếu anh học hỏi Di Li - một cây bút nữ - dẹp bỏ những triết lý không tới đâu sang một bên, theo đuổi lối viết phiêu lưu pha tình ái mà nghiêm túc, kết quả sẽ còn hứa hẹn hơn. Diễm tình hay sex không phải là dành cho văn hạng hai, đơn giản là văn học Việt Nam vẫn cần cung cấp cho người đọc những niềm hưng phấn của phiêu lưu, của giả tưởng và chuyện thâm cung bí sử tình dục - thứ mà đạo đức truyền thống thường giấu dưới gầm giường hay đáy tủ.


Nguyễn Trương Quý

.

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2009

Hai bên đường phố cũ lên đèn

.
Thật kinh khủng là sự nhồi sọ.
Bây giờ tớ gần như cứ bắt tay viết hay học bài là văng vẳng cái câu:
Hai bên đường phố đã lên đèn...
Mưa âm thầm phố cũ đêm dài...
Thật không phải lối, đành chịu thua Đàm Vĩnh Hưng. Nghe đến mềm nhừ người như ninh với đu đủ xanh, sụt sùi cảm động theo điệu Rumba xập xình. Không biết cái kiểu Fa-Fa-Đồ-Si-La-Fa-Rề (đoán mò) gặp bao nhiêu lần ở nhạc vàng, cũng ngậm ngùi - Nghe tiếng thời gian âm thầm trôi (Một thuở yêu đàn - Phạm Mạnh Đạt), cũng hệt như vậy, cái gọi là lên tới Si rồi tụt dần qua Fa về Rề, như xuống xề ấy. Nghĩ đã vậy lấy độc trị độc, Thế là đi tra tên bài hát, mới biết tên là Mưa Chiều Kỷ Niệm, của Duy Yên - Quốc Kỳ, có đủ các anh tài hát, từ Khánh Ly, Kim Anh, Tuấn Vũ, Bảo Yến...

Nhưng ngoài cái kiểu não nùng nhịp nhàng bolero thì mấy hình ảnh rất là chuẩn kiểu chuyện hợp tan, có mưa rơi vô tình, có chiều thành phố cũ, có hình bóng cũ mịt mờ, có anh ra đi không nói một lời, có chiều mưa dĩ vãng... hợp thành một bài hát gọn gàng, cân đối đi với giọng thứ kể lể được diễn tấu trên nền phối khí có nhịp trống đều đặn, dồn dập tí ở cao trào B rồi lơi về đoạn nhạc A-A' (tung tủng tung tùng tung tung tung... bùm bụp bum bùm bum bum bum...)

Mưa chiều kỷ niệm

Sáng tác: Duy Yên - Quốc Kỳ
Nghe nhạc ở đây: Kim Anh

Nhớ chiều nào em đến thăm anh
Hai bên đường phố đã lên đèn
Mưa xuân giăng mờ trắng khung trời
Ngồi bên nhau lưu luyến
Mưa thấm ướt đôi bờ vai

Tiếng nhạc tình xao xuyến đôi tim
Mưa giao hòa nước mắt ân tình
Tay đan tay trong tiếng đàn trầm
Nhìn nhau nhưng không nói
Sợ tình yêu chóng phai

Nhưng hôm nay xa rồi hương xưa đã phôi phai
Mưa bay trong khung trời quạnh hiu sau màn lá
Mưa rơi rơi vô tình nghẹn ngào tràn ngập lòng
Chiều buồn về lạnh lùng xót xa tình đầu tiên

Có một mình anh đứng trong mưa
Nơi đây hình bóng cũ mịt mờ
Em ra đi không nói một lời
Từng chiều mưa dĩ vãng
Xao xuyến mãi trong lòng anh

Những chiều buồn hiu hắt thương ai
Mưa âm thầm phố cũ đêm dài
Trong cô đơn hình bóng một người
Tìm ai trên phố cũ
Tình yêu nào thấy đâu


Thế rồi, đi qua đường về nhà, có cái cảnh này, đúng là "hai bên đường phố đã lên đèn" mà mới tạnh mưa nhé, đúng là mưa lúc chiều, mà chỉ có "kỷ niệm" người ta mới mời mọc "hút" với "phá":

nguyentruongquy

© N.T.Q (hàng độc nhé).


Trị độc thì được quả khác, Obama sao không sang Việt Nam, đến Hà Nội để có đồng minh bỏ phiếu cho abortion mà mất công đi gặp Benedict XVI để bị gạt đi mà làm gì. Nhớ ghé VN nhé, Barack!

.


Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2009

Chó cắn áo rách

.
Hôm kia cầm cái thẻ ATM ra rút tiền để mua cho đứa cháu cái màn hình. Gần khu Tây Sơn không có một cái máy ATM nào của Vietcombank, trừ 2 cái ở tận Ngã Tư Sở (báo Xin lỗi, máy ATM có sự cố, không thực hiện được giao dịch). Dưới tòa nhà Trần Anh có 1 máy của VP Bank, mình vào rút nhưng không truy vấn được cũng không rút được tiền, sau một hồi lâu, máy bảo không xử lý được. Ra cách đó 200m, có 1 máy của VIB Bank, cũng không truy vấn tài khoản được, nhưng ấn nút rút tiền - nhấn 1 triệu thì có vẻ chạy. Nhưng một lúc sau, máy báo không xử lý được. Mình ngẩn ngơ, bực bội và đành lấy xe máy đi ra tận ngã tư Chùa Bộc - Tôn Thất Tùng, nơi có 1 máy ATM của VCB. Nghĩ là vừa có 1,8tr nhuận bút (thấy hứa là đã chuyển).

Đinh ninh rằng mình vẫn còn 1,6tr (còn biên lai lần trước), ai dè tài khoản chỉ có 594.000 đồng!!! Choáng váng nghĩ mình đã thụt két mà đãng trí, đành chấp nhận lấy 500k để bù vào cái chỗ tiền còn thiếu của đứa cháu.

Đến hôm nay, đi cắm thẻ lại, in ra sao kê, thấy ngày hôm kia, mình đã bị mất:
- 17h59: 1,650đ
- 18h03: 1,650đ
- 18h03: 1,003,300đ
- 18h17: 500,000đ
Vậy 1,000,000đ đi đâu? (3,300đ chắc là tiền phí chuyển giao dịch khác ngân hàng).

Cảm thấy bực dọc như thể bị lừa đảo. Khiếu nại bằng cách nào khi cái số má trên máy nó đổ riệt cho mình đã ăn tiền rồi. Nếu cái máy ATM nó không nhả tiền ra thì mình show bằng chứng bằng cách nào (khi không mang máy ảnh hay máy quay phim để ghi lại)?

Rút kinh nghiệm, không rút tiền qua ATM của ngân hàng khác.

Điều buồn nhất bây giờ là: tài khoản cực tiểu, chả có tác dụng gì cho đến lần nhận được tiền tiếp theo... Đau lòng nghĩ đời mình phụ thuộc một cái thẻ đầy mùi mồ hôi tay và mùi hôi của cái ví đút trong túi quần. Các bác có trách nhiệm ơi, mau chuyển tiền nhuận bút cho em với!
.

Thứ Tư, 12 tháng 8, 2009

"Cứ hộc lên"

.
Lại chuyện tên cho nhân vật, hay là tên của mọi người trong ngữ cảnh văn hóa. Thường tác giả đặt tên cho nhân vật cũng như cha mẹ đặt tên cho con cái, nhưng đã là sáng tác thì chắc phải công phu hơn.

Cuốn Thời của thánh thần của Hoàng Minh Tường là cuốn sách làm tôi chán ở cái lẽ: tên nhân vật đặt quá khó nhớ cho người đọc. Từ cụ kỵ đến cháu cứ dây chuyền cái tên lục cục: Nguyễn Kỳ Viên, Nguyễn Kỳ Khôi, Nguyễn Kỳ Vọng, Nguyễn (thị) Kỳ Hậu, Nguyễn Kỳ Tác, Nguyễn Kỳ Vỹ, rồi Nguyễn Kỳ... Cục (tức Nguyễn Kỳ Quặc). Đấy là những cái tên mang dấu ấn thừa hưởng từ "trước cách mạng". Còn có cách mạng, tên nhân vật cũng chẳng dễ đọc hơn: Chiến Thắng Lợi, Chiến Thống Nhất. Các nhân vật nữ thường được tả theo gu khá là cổ:
Lúc ấy thầy tiểu đang vớt bèo dưới ao, chỉ nhìn thấy dáng người phía sau, một eo lưng thon mềm, mông nở căng sau bộ nâu sồng, và đặc biệt khêu gợi là hai bắp chân trắng ngần thon lẳn. Khôi giả vờ bẻ một cành khô đánh động. Thầy tiểu giật mình quay lại. Trời ơi, tiên nữ thế kia mà nỡ trốn vào chùa, có phí hoài không?
...Rất may, Khôi nhìn thấy mấy viên ngói vỡ gần nóc. Trườn tới dỡ viên ngói nhòm xuống. Khôi bỗng bàng hoang phát hiện ra một cảnh lạ lùng; Tiểu Hiên đang nửa nằm nửa ngồi trên nắp chiếc vại đựng khoai khô, trong một tư thế gần như khoả thân, khăn áo nâu sồng vứt dưới chân, mái tóc đang mọc lởm chởm bết mồ hôi, ôm lấy gương mặt đỏ bừng vừa như đang rất đau đớn, vừa như đang ở đỉnh điểm thoả mãn, khoái cảm. Kỳ lạ nhất là đôi bàn tay. Một tay nàng xoa bóp bầu vú, như mơn trớn, như vày vò, tay kia đang cầm một vật gì đó kẹp chặt giữa đùi. Càng kẹp, nàng càng quằn quại, rên rỉ. Cố kìm nén mà tiếng kêu của nàng cứ hộc lên…

Thoại của nhân vật thì lâm ly như truyện Tự lực văn đoàn:

- Bướm? Đúng Bướm thật rồi. Em còn đẹp hơn cả ngày xưa.
- Chào ông đồn trưởng. Ông nhầm rồi. Cái tên Bướm đã chết từ lâu rồi.
- Nhầm sao được, em Bướm. Anh đi tìm em suốt hơn mười năm qua. Ha ha, Ni sư Thích Đàm Hiên, rồi nữ Việt Minh Đào Thị Cam và cô thiếu nữ Chu Thị Bướm chỉ là một. Không ngờ trái đất tròn, để chúng ta có buổi gặp gỡ hôm nay.
- Ông đồn trưởng quá giàu trí tưởng tượng. Ông định nói đến cô Chu Thị Bướm nào vậy?
- Kìa Bướm, em đừng đóng kịch nữa. Con của chúng ta đâu? Suốt những năm qua không lúc nào anh không đi tìm mẹ con em…

Bỏ qua những Cục, Quặc, Cam, Bướm... chuyển sang những cái tên khác tân tiến hơn vậy. Hôm nọ xem phim Enchanted, chợt nhận ra cái tên Giselle là cái tên nổi bật trong vở ballet cùng tên dựa trên bài thơ của Heinrich Heine. Đại khái nghe Giselle như thể từ truyện cổ tích bước ra. Hay cái tên Rapunzel, cô gái bị nhốt trong tháp ngà trong truyện cổ Grimm. Giselle, Anastasia, những cái tên trở thành phổ biến trên thế giới, không giới hạn nước, mặc dù Anastasia gây cảm hứng chủ yếu từ tên của cô công chúa của vị Sa hoàng cuối cùng. Trước đây, mình cứ nghĩ Natalia là tên Nga, nhưng hóa ra biến thể của nó đầy các nước: Nathalie, Natalie... hoặc Katerina thì có một dãy: Catherine, Katherina, Katharina, Cate, Kate, Yekaterina, Ekaterina... Nói chung các bà hoàng ông vua có công làm sang và phát tán những cái tên của con cháu mình ra khắp thế giới phương Tây, và ra cả những nước Latin nữa. Ví dụ, Anastasia là cái tên được dùng
để đặt cho bé gái mới sinh nhiều thứ 80 ở Chile năm 2006.

Có một số nền văn hóa mà khi đọc tiểu thuyết của họ, tôi không hề có được khái niệm gì về cái tên như Nhật, Hàn (mặc dù có thể dịch ra tiếng Việt). Các nước khác chắc càng mờ mịt hơn. Đọc Haruki Murakami hay xem phim Nhật, cái tên nhân vật gần như ít đánh tín hiệu cho tôi. Còn Hàn Quốc thì xem phim truyền hình, Kang Se Hwo hay là Min Su thì... cũng như Gỗ, Gạch, Xi Măng.

Với truyện VN, nhân vật như Tuyết, Nụ, thì ắt là quê mùa (không có nghĩa là ở quê, mà là không sành điệu), Mỹ Lan với Thủy Tiên thì phải lộng lẫy. Mặc dù ở ngoài đời đang bội thực tên các chị em "Anh" nhưng hơi ít tác phẩm VN dùng tên này, có lẽ vì người ta ít khi gọi nhân vật chính bằng hai từ. Thú thực là không gì kiếm hiệp cổ long hoặc thần điêu hơn những cụm từ "Vân Anh nghĩ rằng đã nhìn thấy hắn hôm qua", "Lan Anh buồn bã bước về trong mưa"... Còn lối gọi tên nhân vật phụ chỉ có họ với tên thì chỉ còn thấy ở những tác phẩm của người trước: "Trần Hiệp đứng phắt dậy, Thái Văn hét lên xung phong..." đặc biệt là ở những truyện thời chiến tranh hoặc sản xuất công nghiệp.

Hôm nọ đố một người bạn, nghe cái tên Mai Anh Tuấn thì thấy đó là tên danh nhân thời nào? Tại vì mình đã tra cứu trước, chứ không thì nghe thấy rất là tân thời, giống tên thật một thi sĩ trẻ nước Việt thời nay có bút danh là Lệ Bình Quan. Hóa ra đấy là tên một ông Thám hoa, và cái phố mang tên ông đi qua cái mộ của ông ở khu Hoàng Cầu, Đống Đa, HN.

Nói chung chẳng có cái tên nào là cũ mãi hay mới cả, nhưng ắt là bây giờ ai viết tiểu thuyết, cũng hơi ngại nếu lấy tên là Thạc (cái tên cũng ít thấy), hoặc thậm chí có cái tên như Trãi, thật hiếm người có tên ấy, chắc chẳng phải húy ông Ức Trai hay sợ lây vạ chết người. Kể cũng có cầu thủ Quang Trãi, nhưng ngờ rằng bố mẹ anh này người miền Nam không chắc rằng Trải hay Trãi. Hay như đặt tên theo ca sĩ hâm mộ, nhiều bé gái tên Mỹ Linh hay Hồng Nhung, nhưng ít thấy Thanh Lam, hay các bà mẹ ghét chị gái này vì dính đánh ghen nhiều?
.
Bonus truyện nghe được từ lớp đứa cháu:
Một đứa bạn cháu mình học lớp 5, làm văn tả ngôi nhà em. Nó tả nhà em có các phòng này nọ, rồi đến cái phòng gay cấn nhất - phòng ngủ bố mẹ. Hừm hừm, nó không mô tả hoạt động trong phòng đó... Nó liệt kê các đồ vật: bàn máy vi tính, giường ngủ, tủ sách... và "mẹ em có một cái tủ sắt đựng đầy tiền, vàng và đôla"!!!

Cô giáo cũng không nói gì, phê gì vào bài. Đợi đến hôm họp phụ huynh, cô mới đùa đùa mà bảo mẹ cháu: "Chết nhé, nhà có gì là cô nắm được hết rồi đấy!" Bây giờ các bà mẹ mà không cẩn thận, khéo mất của như chơi!
.

Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2009

Hậu Đình Hoa và Vũ Như Tô

.
Thế nào mà lẩm nhẩm lại cái bài Tình cầm do Phạm Duy phổ thơ Hoàng Cầm có câu:
Nhưng thuyền em buộc trên sông hận
Anh chẳng quay về với trúc tơ
thì lại nhớ ra mấy câu thơ của Đỗ Mục, bài Bạc Tần Hoài:
Yên lung hàn thủy nguyệt lung sa
Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia
Thương nữ bất tri vong quốc hận
Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa
Khương Hữu Dụng dịch:

Đỗ bến Tần Hoài

Nước lồng khói tỏa, cát trăng pha,
Thuyền đỗ sông Hoài cạnh tửu gia.
Con hát biết chi hờn mất nước,
Cách sông còn hát Hậu Ðình Hoa.

Mình lại nhớ mang mang hai câu cuối có ai dịch theo kiểu này (hay là mình pha chế rồi):
Gái tơ không biết hờn vong quốc
Còn đứng bên sông hát Hậu Đình.
Thích kiểu này hơn vì chữ Hậu Đình (trắc-bằng) kết bài nghe rợn hơn, nhất là thanh trầm để đối lại vong quốc (bằng-trắc) có xu hướng đi lên. Thực ra bản của Khương Hữu Dụng quá sát rồi, chỉ có điều chữ "vong quốc" nghe đẫm mùi sử ký hơn.

Nhưng rõ ràng là chữ "hận" nối hai câu thơ lại với nhau trong trường liên tưởng của mình. Không lý giải được, nhưng với mình nó mang yếu tố ornament hơn (sông hận dễ bị suy diễn lắm!).

Rồi cũng mới ớ ra là "Tần Hoài" là tên con sông, là nơi có cái bến, có cái lầu, các nàng cung nữ của vua Trần Hậu Chủ thời Nam Bắc Triều, hát khúc Hậu Đình Hoa do ông này soạn ra. Khỏi mất công truy nguyên điển cố, đại khái ông này với các cung nữ, có hai nàng Khổng Qúy Tần và Trương Lệ Hoa giỏi thơ xướng cầm ca được yêu vì, mê đắm quá nên đến nỗi mất nước. Cao trào là có bài Hậu Đình Hoa, soạn để hát như sau:

Lệ vũ phương lâm đối cao các
Trân trang điểm chất bản khuynh thành,
Ánh hộ ngưng kiều sa bất tiến,
Xuất duy hàm thái tiếu tương nghinh.
Yêu cơ kiểm tự hoa hàm lệ,
Ngọc thu lưu quang chiếu Hậu Đình.


Nghĩa:
Bóng rợp hương thơm chốn lâu các,
Nghiêng thành vẻ đẹp với mầu tươi.
Ngoài cửa dịu dàng khoan dạo bước
Trước màn chào đón mỉm môi cười,
Má hồng tựa đóa hoa đầy móc
Cây ngọc sân sau chiến sáng ngời

(Bản dịch của Phan Thế Roanh)

Nhà Hậu Trần mất nước về nhà Tùy, cho là vì khúc hát gây họa kia. Nhưng các văn nhân thi sĩ đời sau lại lấy tích đó trang trí cho thơ ca:

Vua Trần hậu chúa ngắm trăng vàng,
Khúc Hậu Đình Hoa đang lên khơi
(Nhị Hồ - Xuân Diệu)

Thuyền mơ trong khúc Nam Ai
Đàn khuya trên sông ngân dài
Ai luyến ai tiếc khúc ca Tần Hoài
(Đêm tàn Bến Ngự - Dương Thiệu Tước)

Nhớ đến vở Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng, có đoạn khi vua Lê Tương Dực bị giết, các cung nữ nhốn nháo xin tha chết. Vở VNT của Nhà hát Tuổi Trẻ diễn do Phạm Thị Thành đạo diễn có xây dựng hình tượng nhân vật cung phi do Lan Hương đóng nói giọng trọ trẹ kiểu người miền Trung (như kiểu Thuận Quảng Ô Lý, chắc có hơi hướm Chiêm Thành) là sáng tạo khá thú vị (vì hình như kịch bản gốc không nói rõ là cung phi xuất xứ gì). Vai Đan Thiềm của Lê Khanh vốn là đào chính nên được chú ý nhiều, nhưng vai cung phi của Lan Hương thực sự sống động nhất, từ ngoại hình đến giọng điệu. Quay lại chuyện so sánh với tích Tần Hoài, thì sau khi Tương Dực bị giết, Vũ Như Tô bị trảm, Đan Thiềm bị ép uống thuốc độc, cung phi lại được dùng để phục vụ triều chính mới (sau khi đã tố cáo Đan Thiềm tư thông với Vũ Như Tô). Các nàng lại hân hoan khúc khải hoàn vui tai.

Chính ra người ta mà mạnh dạn sử dụng cái kết ở đây lại có những cái ý vị châm biếm sâu mà hiện đại hơn là dùng cách để Vũ Như Tô đứng trân trân như Từ Hải, rồi có giọng thuyết minh "Vũ Như Tô phải hay không phải?" Tất nhiên phong cách Nguyễn Huy Tưởng là chính kịch và thích nói về cái bi tráng. Nhưng cũng không phải là không thể nếu như người ta làm đậm hơn sự so sánh: giữa cái giải trí của các nàng cung nữ hát Hậu Đình với cái giải trí của kiến trúc Cửu Trùng Đài, cùng cho một đối tượng vua chúa, thì cái nào phù phiếm hơn cái nào? Hoặc có khi cái khúc hát kia lại tồn tại đến tận bây giờ mà các đền đài có khi đã đổ nát. Cái nào vô nhân đạo hoặc vong quốc hơn cái nào, giữa những khúc ca ru ngủ và những di tích vật chất thực sự có khả năng thành di sản nhân loại. Nếu vở kịch nói được cái tính hư vô của nghệ thuật - có lẽ mang tính đương đại hơn là bám vào cái khía cạnh mâu thuẫn giữa nghệ thuật vị nhân sinh quảng đại với cho một thiểu số cầm quyền - vốn dĩ là đương nhiên (nhà giàu, nhà thờ và nhà chùa mới có khả năng xây dựng cho to đẹp - các di sản hoành tráng, các trường đại học lớn nhất đều đi theo ngạch này đấy thôi!).
.

Thứ Hai, 3 tháng 8, 2009

Bụi đai đen

Nhân search thông tin về môi trường Hà Nội, tự nhiên thấy một tựa bài báo quen quen. Hóa ra của mình! Bài báo từ 4 năm trước, số liệu cũng đã cũ. Có điều thấy đáng sợ vì cái tít lúc ấy là "Người Hà Nội hít bụi gấp 4 lần mức cho phép" thì bây giờ đã là 11 lần: Hà Nội: Ô nhiễm bụi vượt tiêu chuẩn... 11 lần. Thế cũng như là đi tập võ lên đai đen đen vàng vậy.

Còn đây là bài báo của 4 năm trước:

::Bụi không phải từ trên trời rơi xuống

Nguoi Ha Noi hit bui gap 4 lan muc cho phep
Phế thải quá nhiều làm gia tăng bụi
Người ta vẫn nói mùa thu Hà Nội đẹp và lãng mạn. Thời tiết không còn ẩm ướt, nắng ấm và gió nhẹ. Nhưng đó cũng là khi những phần tử hạt trong không khí không thể phát tán nhanh, nên gây cảm giác ngột ngạt... Các hạt vật chất này chính là thứ ta gọi là bụi, trong đó có bụi hô hấp.

Theo GS Phạm Duy Hiển, bụi hô hấp PM10 là những hạt bụi sol khí có kích thước nhỏ hơn 10 micron (phần nghìn mm) là thứ ta đang nói đến. Chúng phát tán từ những chất rắn không phân hủy được, lơ lửng trong không khí. Có thể là đám đất cát vương vãi kia, có thể là những mẩu thức ăn vụn chưa phân rã, và dĩ nhiên còn là đám rác thải chồng chất chưa được chôn lấp. Sau nữa là từ khói của các nguồn xe cộ, nhà máy, bếp than tổ ong, vv...

Đặc biệt vào lúc nghịch nhiệt, thuật ngữ chỉ thời điểm chập tối khi mà bụi không phát tán lên cao được, tích tụ dày đặc. Nhưng trớ trêu là thời điểm này lại đông người ngoài đường nhất, nỗi khổ chung này thêm nhiều kẻ chịu.

Những khu vực trong lành hiếm hoi có thể kể: khu phố chính trị ngoại giao Ba Đình, khu vực quanh các hồ nước công viên. Còn những khu vực đông dân cư, các cửa ngõ, những trục đường lớn, là những nơi hứng bụi nhiều nhất.

Một chỗ rất bụi là bờ đê chân cầu Thăng Long cho đến Bến Bạc (Đông Ngạc, Từ Liêm), con đường chân cầu dễ đến 20 năm từ khi khánh thành vẫn ngổn ngang bê tông đúc sẵn và sắt thép.

Gần đó là đoạn đặt trạm rửa xe đầu tiên của Hà Nội từ tháng 5/2005. Thành phố cho xây thêm những trạm nữa ở bến Chèm, bến Phà Đen, những nơi cửa ngõ chuyển vật liệu vào nội thành. Tuy vậy việc làm sạch xe trước khi cho phép di chuyển lại có vẻ hình thức. Nước có lẽ ít nên hai công nhân chỉ phun vào bánh và thành xe trong vòng 2 phút. Những đám đất thải chân cầu lại bám bê bết vào bánh xe và cứ thế, rải ra đường chỉ chờ vài tiếng khô lại nhập vào tầng bụi lơ lửng trong không khí.

Thế cái không khí đó, cái có ôxy cần cho sự sống ta đang hít thở ấy, ra sao? Theo thống kê của Sở Tài nguyên và Môi trường thì mỗi năm Hà Nội tiếp nhận 80.000 tấn bụi khói, 9.000 tấn khí SO2, 46.000 tấn khí CO2 từ các cơ sở công nghiệp. Ngoài ra còn khói của hơn 100.000 xe ô tô và 1 triệu xe máy. Hai thành phần sau càng ngày tăng lên, cho dù xăng đã tăng giá lên mức số vạn đồng và có vẻ văn minh hơn là không chì.

Ông Đặng Dương Bình, trưởng phòng QLMT và khí tượng thuỷ văn, Sở TN&MT HN cho biết có đến 200 cơ sở nhà máy gây ô nhiễm nặng, nhiều nơi ở trong khu dân cư nội thành cần di dời nhưng tiến độ rất chậm chạp, ví dụ Nhà máy Rượu ở phố Lò Đúc thải khí ra khu phố xung quanh và nhất là đầu chiều gió thổi vào khu tập thể Nguyễn Công Trứ.

::Lá phổi bị xem thường

Người ta đã tính ra, mỗi ngày ta hít vào phổi trong những tháng Hà Nội vắng những cơn mưa là 16-20 mg bụi. Con số này lấy từ khảo sát nồng độ bụi tại các quận như Đống Đa, Long Biên ở mức 0,8mg/m3 không khí mỗi ngày, cao gấp 4 lần mức cho phép.

Thậm chí ngã tư Nam Thăng Long - Tây Hồ, khu vực có điểm rửa xe đã nhắc đến, nồng độ bụi rất cao, lên đến 1,35mg/m3, gấp gần 7 lần mức cho phép.

Trên địa bàn Hà Nội, mỗi năm có khoảng 1.500 người nhập viện vì mắc các bệnh về hô hấp (viêm phổi, viêm phế quản và các bệnh hô hấp khác) do hít phải nồng độ bụi quá nhiều.

Việc tưới đường theo khả năng của Công ty Môi trường đô thị cũng mới chỉ cố gắng đáp ứng được rất hạn chế. Cùng một chiếc xe tiêu chuẩn có dung tích từ 8 – 10m3 nước nếu ở những phố như Phan Đình Phùng hay Bà Triệu thì rửa được ba lượt nhưng chưa chắc đã đủ để cho một lượt phố Tây Sơn.

Cũng theo GS Hiển, một nghiên cứu ở Thái Lan cho thấy, nếu cứ giảm được 10 micro gam (phần triệu gam) PM10 trong một 1m3 không khí thì con số tử vong sẽ rút bớt 1-2% về bệnh tim mạch và 3-6% về bệnh hô hấp. Vậy thì, biên độ vượt mức cho phép ở ta lên đến 16 mg = 16.000 micro gram tức là đã làm tăng khả năng chết trước bình minh của ta ra sao đây, bạn đã thấy sợ chưa?

Công ty Môi trường đô thị đã mua 10 xe quét hút bụi, 70 xe cuốn ép rác của Nhật Bản, lắp đặt 1.000 thùng thu chứa rác... Nhưng công ty cũng chỉ có trách nhiệm và khả năng thu gom rác dân sinh và một số cơ sở công cộng như bệnh viện, trường học.

Những thứ này sẽ lại là vấn đề ô nhiễm cho những bãi rác ngoại thành khi chưa có nhà máy xử lý rác hiện đại. Còn những thứ khí lửng lơ ai thải cũng được từ xe cộ thì... nhờ ông Trời vậy!

::Khi nào thì được hít thở bình thường?

Mọi người hẳn còn nhớ thời gian diễn ra SEA Games 22, Hà Nội rất sạch và ít bụi hơn hẳn. Đó là khoảng thời gian 1 tháng mọi phương tiện chuyên chở vật liệu xây dựng bị cấm lưu thông và các công trình cũng tạm ngưng. Dĩ nhiên bên cạnh đó là công sức của công ty MTĐT, song mới thấy hoá ra việc hạn chế bụi không phải là bất khả thi.

Quy hoạch thay đổi nhiều, lại làm chậm nên gây sức ép biến dạng những tính toán ban đầu, khiến cho đường phố chỗ nào cũng có cảnh đập đi xây lại, ngã tư nào cũng thấy hình như phải mở rộng, và dĩ nhiên là hậu quả thì đã rõ: phần phá bỏ sẽ chuyển đi đâu bên cạnh những bụi vật liệu không phát tán được.

Nếu những khu đô thị mới không chỉ để ở mà còn là các trung tâm hành chính – thương mại – kinh doanh mới đối trọng với khu phố cũ Hoàn Kiếm – Ba Đình, nếu những đô thị vệ tinh thay đổi tư duy vệ tinh cổ điển, nếu đô thị Hoà Lạc sớm thành hình, nếu các công trình dân dụng xây dựng tử tế cho tuổi thọ và độ bền đúng lý thuyết, nếu các khu công nghiệp được xác định chỗ đúng từ đầu và áp dụng công nghệ sạch, vv... thì hẳn mức độ bụi theo đó không có chỗ để gây ô nhiễm cho không khí Hà Nội.

Nếu cho học sinh sinh viên hay cả những người thành phố phải thực hiện một nghĩa vụ đơn giản: đi tham quan một vài bãi rác lớn của thành phố như Nam Sơn chẳng hạn, vừa nhiều rác lại lắm bụi, có lẽ khi trở về, biết đâu mỗi người mới thấm thía cái phần mình thải ra hàng ngày được dồn ứ lại khủng khiếp đến thế nào, mà có ý thức hơn chăng?

Báo SVVN (không nhớ ngày, link trên vietbao là 9.11.2005)
.

Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2009

One day when we were young

.
Serenade
của Franz Schubert có lẽ là được người Việt biết nhiều nhất, là vì được phổ lời Việt thành bài hát hấp dẫn. Còn rất nhiều bản Serenade (Serenata theo tiếng Ý) khác của các nhạc sĩ nổi tiếng khác: Mozart, Brahms, Richard Strauss, Toselli.

Có hai lời Việt đặt cho bản này, một là Dạ khúc của Phạm Duy thịnh hành ở miền Nam và một chưa rõ của ai ở miền Bắc với tên là [Khúc] nhạc chiều. Hai lời đều tinh tế, uyển chuyển, nhưng khác nhau ở cách đặt chữ Việt. Lời của PD đáng chú ý là ngắt câu ở chỗ luyến, kiểu vắt dòng trong thơ:
Chiều buồn nhẹ xuống
đời. Người tình tìm đến

người. Thấy run run trong chiều phai

Vẻ sầu của đóa

cười. Tình bền của lứa
đôi. Thoáng hương trong chiều rơi.

hoặc
Tình đời tỏa ngát
mầu. Chiều này là lúc

đầu. Nói với nhau nghe đời sau
Dịu dàng người đắm
sâu. Kể lể chuyện kiếp
nao. Có ai chia lìa nhau.
Cái nghịch đấy lại là nét chủ đạo của câu nhạc trong bản Serenade của Schubert. PD đặt các câu 5 chữ vào các cụm bốn nốt dồn rồi luyến sang cụm sau, cứ đuổi bắt để lặp lại chủ đề.
Bản ở miền Bắc lại là:
Đợi chờ em,
anh ngỏ lời ước nguyện

Đến bên em trong màn đêm

Cảnh rừng vắng
nơi mộng chiều lắng
Tiếng ca yêu đương đang chờ mong

Kìa trong lá,
tiếng ru như thì thầm
Chim làm xao xuyến trăng thanh
Chim làm rung trái tim anh

Bản này cũng đòi hỏi người hát phải luyến nối chữ "nguyện-đến", hoặc nối rất nhanh chữ "thầm" sang "chim". Thay vì đặt đều câu 5 chữ thì ở bản này khá thoải mái khi phối hợp tăng dần câu từ 3-5-6 chữ.
Nhưng quan trọng hơn là tinh thần lời. Bản của PD xem ra khá bi thương và buồn bã, nhạc chiều như là nhạc buồn, nhạc sầu:
Ru người qua chốn thương đau
Cho làn nước mắt chìm sâu

Trong khi bản kia kết thúc khá tươi sáng:
Trái tim anh như biển dâng sóng trào
Hỡi nàng xuân ngát hương đời

Anh chờ em hát cùng anh

Khúc ca ban chiều.

Chú ý là lời này không có những từ như "kiếp", "đau", "buồn", "úa phai mầu", "phụ nhau" (những từ mà mỹ học XHCN không thừa nhận - dĩ nhiên lý sự thế này thì hơi võ đoán, vì chưa kiểm chứng được nguồn gốc của lời "lạc quan") như bài của PD:

Đợi chờ em, anh ngỏ lời ước nguyện

Đến bên em khi chiều buông.

Cảnh rừng vắng, nơi rừng chiều lắng

Tiếng ca yêu đương đang chờ mong.

Kìa trong lá, thoáng nghe lời thì thầm

Chim làm xao xuyến trăng thanh

Chim làm rung trái tim anh.

Nào ai thấy, ai nghe được nào

Tình ta hoà trong ánh trăng sao

Yêu là ta đến tìm nhau.

Để lòng anh vươn cánh vút bay lên

Ngời trong ánh trăng thanh

Trái tim anh đang như biển dâng sóng trào

Hỡi nàng xuân ngát hương đời

Anh chờ em hát cùng anh

Khúc ca ban chiều.

Nên dễ hiểu vì sao lời ủ ê và sầu não của PD lại không phổ biến ở miền Bắc dù ra đời từ năm 1948. Cá nhân tôi vẫn ấn tượng với lời còn lại, vì cảm giác trong trẻo mà tôi vẫn gắn với ấn tượng về không gian nhạc cổ điển, thời đọc những tiểu thuyết đầy bác ái của chủ nghĩa lãng mạn Pháp. Có thể vì tôi có ấn tượng rằng cảnh trí của lời ca vẽ ra phải tương hợp với một nơi thần tiên, những rừng bạch dương như tranh Levital hay Constable, hoặc những nhân vật tinh tế kiểu của Brontee hay Tolstoy, hơi một chút là run run vì xúc động.

Một ví dụ khác tương đồng là các lời cho bài Torna A Surriento. Có nhiều bản lời Việt, nhưng hiện tại cũng chỉ còn hai bản được hát nhiều là của Phạm Duy (Trở về mái nhà xưa) và Trung Kiên (?, Trở về Surriento). Hai bản này phản ánh chính xác vấn đề mà Serenade đã gặp - sắc thái cảm xúc khác hẳn nhau. Bản của PD với những tính từ đậm đặc nỗi sầu muộn và tiếc nuối quá khứ:
Về đây nghe tiếng hú hồn mê oan
Về đây lắng trầm khúc nhạc truy hoan

Về đây nhé cắm xong chiếc thuyền hồn
Ôi thoáng nghe dây lòng tiếc đàn...

Bản của Trung Kiên mang sắc thái đồng quê, như khúc du ca vui vẻ sáng rực dưới nắng. Xem qua 2 lời tiếng Anh song song tiếng Ý thì xem ra cũng là lời nhắn nhủ với người yêu/bạn cũ, cũng không nhiều "não từ" lắm (grieve, break, có bản có chữ die). Bản tiếng Việt của TK không rõ có dịch theo lời này không, nhưng cũng có diễn tiến tâm lý tương tự: mô tả cảnh trí biển sóng - cảnh đồi núi xinh tươi - lý do để không bỏ đi - gọi quay về. Nói chung là logic biện chứng!
Biển hiền hòa lớp sóng đẹp bao la
Lòng ta như rộn vang ngàn câu ca

Cả đất nước xinh tươi như mộng đời

Chan chứa trong tâm hồn bao người

Khắp trên đồi cây cối mọc xanh tươi

Khắp trong vườn ánh sáng tràn nơi nơi

Tình quê hương ngát trong lòng hương say

Lòng ta khó quên được chốn này

Nếu ta từ biệt đất này đi xa

Khác chi từ biệt với người yêu ta

Phải xa chốn quê hương đã nặng thề

Ai lẽ đâu không mong trở về
Xin hãy về người ơi

Để cho nhớ nhung trong lòng hoài

Trở về Surriento

Hãy về người ơi.

Cách đây một dạo, có nghe trên mạng một ca sỹ tên là Bùi Thiện ở Sài Gòn trước 1975 hát bài 'O Sole Mio với lời Việt là "Mặt trời của tôi" vốn được phổ biến ở miền Bắc và phong cách biểu diễn bel canto kiểu thanh nhạc Hà Nội tương tự như Trung Kiên, Trần Thụ. Thì ra bác này vốn học ở trường nhạc HN, vào bộ đội là văn công, rồi vào chiến trường thì cả trung đoàn bị bắt năm 1968 - trong đó có cả Đoàn Chính, con trai Đoàn Chuẩn. Sau khi "hồi chánh" thì hát cho đài Sài Gòn, trở thành cây song ca quen thuộc cùng với Sơn Ca.

Bây giờ, phong trào đặt lời Việt không còn rầm rộ, nhưng lâu lâu cũng có hit, nhất là các bản cho các bài không phải tiếng Anh. Hồi năm 96-97 có một đợt, với Unbreak my heart hay My heart will go on, Lemon tree... Hay là Bình minh sẽ mang em đi, Ôi tình yêu, Tình nhạt phai, cũng đủ món. Vấn đề quan trọng có lẽ là bản quyền vì VN đã tham gia Công ước Berne, nên bây giờ không rõ hát lời "Chuyện tình" của Phạm Duy trên nền nhạc Love Story thì tác quyền cho Francis Lai thế nào. Còn nhớ ba bốn năm trước, LS Cù Huy Hà Vũ đòi kiện êkip Dương Thụ - Anh Quân - Mỹ Linh vì khai thác sai tinh thần của "Mozart and friends" trong đĩa "Chat với Mozart". Tuy vậy các ông lớn kia đã chết vài thế kỷ rồi, có làm chứng được đâu.

Nhưng cá nhân tôi không thấy ấn tượng mấy với đĩa nhạc đó. Lý do quan trọng có lẽ là từ khi bắt đầu lọt vào tai thứ nhạc này, tôi ấn tượng rằng một bản nhạc cổ điển được diễn dịch sang ca khúc thường có màu sắc trịnh trọng, nuột nà, đoạn nhạc láy đi láy lại dễ thuộc, vốn cũng là thứ mà nhạc tiền chiến đi theo. Nghĩa là một bài hát được sinh ra này phải như một câu chuyện, một nỗi niềm có tính kịch (kiểu lấy từ opera hay operette), chứ hơi khó cảm thụ khi chỉ mô tả một cảm giác thoáng qua như style của Dương Thụ. Tuy cũng là cảm giác trải qua trong một ngày xuân, nhưng "Khúc hát thanh xuân" mà Phạm Duy hay "Một sớm mai xuân" của Nguyễn Tất Nhiên đặt lời cho bản “Wer uns getraut” (nghĩa: "ai đã thành hôn cho chúng ta", theo một số cao thủ tiếng Đức như bạn Loan Tinker) của Johann Strauss, "One day when were were young" là lời tiếng Anh, đều khai thác triệt để cái khung cảnh kể chuyện, dẫn dắt tới cao trào và theo điệu Valse nhịp nhàng - thứ dễ chinh phục người Việt (một thời).
.

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ