Thứ Bảy, 28 tháng 1, 2012

Sách ông Phúc

Thông tin: Nhà nghiên cứu Nguyễn Vinh Phúc đã qua đời vào hồi 3 giờ 15 phút sáng nay (28/1/2012), thọ 86 tuổi. Tang lễ sẽ được tổ chức vào hồi 7 giờ  đến 9 giờ ngày 2/2/2012 tại Nhà tang lễ Bộ quốc phòng số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội.

Hồi chưa về NXB, đã thấy sách ông Phúc nhiều nhiều, và cũng thấy được hình dung một niên biểu rộng rãi về di tích HN. Nhưng phải đến bộ 5 tập Hỏi đáp 1000 năm TL-HN ông biên soạn chung với Tô Hoài thì mới thấy mình có thể thu nạp được. Dĩ nhiên ông cũng là người thừa kế các công việc khảo cứu, biên soạn của các vị đi trước, bản thân ông cũng khiêm tốn mà nói vậy. Còn ra đến báo chí thì là việc của báo chí, họ tung hê hay đặt danh hiệu này nọ, khó mà kiểm soát được.



 Hồi trước cũng hơi ngại tiếp xúc những cụ đầu râu tóc bạc - phần lớn có "con mắt hiếp đáp" (chữ Nguyễn Khải viết về Trần Dần thì phải), nên đến khi gặp ông, mãi 2 năm trước thì khá ngạc nhiên vì ông khá cởi mở. Tất nhiên vì mình cũng là người của NXB, nơi đã in 12/15 đầu sách của ông, và phải nói là một trong những sách bán khá chạy. Gặp thời, tất nhiên. Nhưng công việc tập hợp và tra cứu đối chứng lại ngần ấy thứ cũng phải kỳ công, nhất là ở vào tuổi 80, nhiều người thở còn chẳng được (đấy là cái câu than thở cửa miệng của ông già nhà mình!). Nhiều người có ý chê là chưa toàn bích, có chỗ dẫm chân người khác, hoặc thiếu chính xác, nhưng nếu ai đọc mấy cuốn sử ngày xưa thì sẽ thấy thông tin về HN cổ nó xộc xệch thế nào, và nhất là ướm cái cổ ấy vào hiện trạng bây giờ, không có ngồi đấy mà bịa được. Chí ít thì ông đã mở ra một cách tiếp cận quảng bá cho một HN xưa rộng rãi, người dân bình thường có chỗ để mà tra cứu. Văn của ông không bay bướm, nhiều quyển cũng khô khan, nhưng nhìn tổng thể thì sáng sủa và ai đọc cũng hình dung được Thăng Long ngày xưa, Kẻ Chợ sau đấy rồi HN gần đây thay đổi ra sao. Tựa như những cuốn cẩm nang du lịch ngắn gọn, không sa đà vào rừng rậm thông tin làm mệt đầu người nhập môn "HN học". Yêu HN là một chuyện, có phương pháp làm việc và sự cần mẫn lại là chuyện khác.

Nhà ông ở phố Ngô Quyền, cái nhà kiểu cơi ra từ sân sau một biệt thự cũ, sách rải từ bàn ăn đến gác xép. Ông thuộc dạng người minh mẫn, nói chuyện không có cái kiểu người già đai đi đai lại một ý sợ người ta quên mất hoặc chính mình quên, càng không có chuyện lần sau lặp lại chuyện lần trước. Ông có ngoại hình khá "ăn hình" nhưng không kiểu đỏm dáng như mấy vị người quen của giới truyền thông. Văn của ông mô phạm nhưng ông là người nói chuyện khá hóm hỉnh.


Hóa ra ông có đọc sách của mình. May là ông cũng dành lời khen, và cũng cười cười bảo "HN học đấy". Ông cũng chừng như hiểu cái sự đùa đùa ang ác của các bậc trí giả vốn quen coi thường sản phẩm của người khác đất này. Hồi cuốn 1000 năm TL-HN (cuốn dày cộp) ra, có phản hồi về việc thiếu Mục từ (index), ông cũng rất mau chóng cập nhật và chỉnh sửa ngay cho lần tái bản. Ông có nói sẽ viết bài giới thiệu cho sách của mình, nhưng giờ thì không kịp nữa rồi. Chúc ông vui vầy với các cụ văn nhân yêu HN - Trần Huy Liệu, Nguyễn Văn Uẩn, Trần Huy Bá... của một cõi núi Nùng sông Nhị, một thời thành cổ Thăng Long đầy huyền hoặc suốt dải Ngọc Hà lên đến Đại Yên, Vĩnh Phúc.

Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2012

Huyền thoại xalông

Có một bối cảnh được sử dụng nhiều trong những vở kịch một thời: một góc vườn hoa, có ghế đá bên cạnh một cột đèn, đằng xa là những cửa sổ nhà cao tầng. Ở đấy, những nhân vật đối thoại với nhau những lời không kịp nói trong phòng khách, trên xalông, nơi đôi khi những câu triết lý đinh của vở kịch bất chợt tuôn ra rất bâng quơ.

Hồi nhỏ, tôi đã luôn ấn tượng rằng ngoài đường Hà Nội là thế. Một không khí cô đặc, với ngôn từ tinh lọc đầy tính kịch, những nhân vật thường có những sắc thái đạo đức được kịch bản gửi gắm. Một cô gái bất bình với đời sống gia đình bỏ ra đường để độc thoại nội tâm, một anh bộ đội từ biên giới về thăm phố gặp lại hàng cây tuổi thơ, một chú bé cơ nhỡ gặp một bà cụ tốt bụng dạy bảo, hoặc một vụ lộn xộn do xung đột do cái xấu gây nên để thành cái cớ cho cái tốt xử lý trong một cảnh nội sau đấy. Vài kẻ sĩ cất lên những lời bàn thế sự, có khi tào lao như câu đưa đẩy của hề chèo. Những hậu cảnh mờ mờ đằng sau luôn hứa hẹn một sự xuất hiện quan trọng, khác với những cú chạy tạt ngang bất thình lình từ hai bên cánh gà vốn thường cho các vai phụ. Những bối cảnh sân khấu có lẽ là một sự ước định có tính tổng quát về không gian sống của thời đại, dẫu rằng hay bị thành mô típ chậm hơn thực tại vài nhịp.


Hà Nội như ta thấy bây giờ, là những mặt tiền kiểu sân khấu mà không có hậu cảnh. Những mặt nhà sin sít nhau, không hở ra một khoảng lùi nào. Nghĩa là chỉ có diện mà không có khối, và thế là không có chiều sâu không gian. Những con người hiện lên trên bề mặt ấy hoặc phóng xe vội vã qua, hoặc chỉ chui ra chui vào trong một khoảng không gian nông nông. Tựa như bối cảnh của một lớp kịch mà phông cảnh là một tấm bìa đục những lỗ giả cửa sổ, các nhân vật chỉ có động tác thò đầu ra đối thoại như những con chim cúc cu báo giờ trong những cái đồng hồ cổ. 

Nhưng có một Hà Nội hiếm khi được dựng: Những biệt thự có vườn. Có vườn tức là có hàng rào, có cổng. Hình như chiều sâu của các sân khấu Hà Nội không đủ để cho phép tạo những lớp phông từ đường phố, qua hàng cây vỉa hè đến tường rào và rồi sau một khoảng sân là ngôi nhà với một ban công có cánh cửa khép hờ. Biệt thự Hà Nội cũng đã có tuổi đời một thế kỷ, nhưng chỉ đóng vai trò đúng chức năng chừng nửa thời gian ấy, nửa còn lại chỉ còn váng vất những mảnh trên sân khấu hay các trang giấy hoặc bức ảnh đầy hoài cổ. Nó là kết quả của một xã hội đô thị hành chính thuộc địa, tạo nên một khu uptown (phố trên), dành phần buôn bán cho những khu downtown (phố dưới) của người bản xứ hoặc số ít các trục thương mại như Tràng Tiền, Hàng Bài… 


Nguyễn Công Hoan đã kể rằng, vào những năm hai mươi, chỉ có những chị “khâu đầm” (người may vá hay vú em) hoặc anh bếp người Việt lui tới những phố Tây. Vì tính chất khép kín, hạn chế với dân bản xứ, mà những khu biệt thự này có một dáng vẻ bí hiểm, tạo nên một huyền thoại thần bí cho “ăn cơm Tầu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật”. Những hàng rào chạy dài sau các rặng cây, với những giàn hoa ti gôn đã chen chân vào văn học lãng mạn, trở thành một vật trang trí kiều diễm cho hiện thực. Chỉ những biệt thự mới có những giàn hoa ấy, những mùi hương rất “đầm” của những loài hoa nhập nội làm ngơ ngẩn nhiều thế hệ.

Những năm bốn mươi, khi giới viên chức bản xứ đông lên, họ sở hữu những biệt thự nhỏ hơn ở phía Nam khu phố Tây, nghĩa là từ mạn dưới quận Hoàn Kiếm bây giờ với phố Trần Quốc Toản làm ranh giới. Những biệt thự này mang phong cách hiện đại hơn, bé hơn, thậm chí song lập để tiết kiệm không gian trên những lô đất hạn hẹp. Lúc này các hàng rào ngắn hơn, các mảnh sân cũng tủn mủn hơn, và các chiều sâu cũng bớt dần. Tình thế của cuộc giao thoa văn hóa Đông Tây đã phát triển tới mức độ người Việt đã thâm nhập sâu vào những không gian tưởng chừng ngoài tầm với. Sau đấy như ta đã biết, chiến tranh và thời cuộc đã sắp xếp lại các biệt thự, đưa các không gian ra mặt tiền, kéo theo đổi thay nếp sống của cư dân. Đường phố Hà Nội lãng quên chúng, và huyền thoại chỉ còn như cánh hoa ti gôn rụng trong thơ T.T.Kh hay mùi dạ lan hương trong nhạc Đoàn Chuẩn. 


Hà Nội bây giờ rất hiếm những đoạn hàng rào dài hơn 200m. Hàng rào là một biểu hiện về phạm vi không gian sống, nhất là của các biệt thự. Nhưng bây giờ, chỉ còn 15% số biệt thự (229/1540) còn nguyên vẹn, số còn lại đã bị chia nhỏ hoặc biến dạng, góp thêm vào đám đông những căn nhà phố chật chội, chen chúc và manh mún.

Vậy mà, từ cuộc đời bước lên sân khấu hình như vẫn còn sợi dây dai dẳng của ký ức. Những vở kịch ở nhà hát kịch Hà Nội vẫn bày những bộ xalông phòng khách chễm chệ giữa sân khấu. Ở hậu cảnh, ô cửa sổ vẫn trổ ra một cái phông có một cái cây bên hiên nhà. Cây chắc dễ tạo hình, có thể ngọc lan, hoàng lan, hay hoa sữa, nhưng cũng khá đủ để chứng tỏ huyền thoại xưa còn đó, có khi hay hơn cả nội dung vở kịch đang vắng khách.

N.T.Q

Thứ Hai, 23 tháng 1, 2012

BCHN 102 - Giai điệu xuân bất tận

Chúc mừng Năm mới Nhâm Thìn, xin gửi tới tất cả số chào Xuân của Bài Ca Hà Nội

BÀI CA HÀ NỘI số 102 - GIAI ĐIỆU XUÂN BẤT TẬN với các bản thu trích đoạn:
+ Bốn Mùa (Mùa Xuân - Vivaldi)
+ Khúc hát thanh xuân (Johann Strauss II - Lời Việt Phạm Duy, Kiều Hưng hát)
+ Một sớm mai xuân (J. Strauss II - LV Nguyễn Tất Nhiên, Khánh Ly)
+ Cachiusa (Blanter - LV Phạm Tuyên, Ngọc Tân và Thu Phương)
+ Domino (Louis Ferrari - LV Hương Huyền Trinh, Thái Thanh)
+ Santa Lucia (dân ca Naples, Đoàn Chính)


Thứ Bảy, 21 tháng 1, 2012

Sóng thần nhan sắc

Hàn Quốc có lẽ là trường hợp đúng phóc cho cái điều “nhan sắc cũng là một tài năng” mà một cựu hoa hậu Việt Nam từng gây tranh cãi khi phát biểu trên mạng dạo nọ. Du lịch Hàn Quốc cho ta cảm tưởng như đang bước vào một bộ phim truyền hình lớn, bắt mắt với những thành phố, danh lam thắng cảnh được chăm chút và cư dân cả nam lẫn nữ đều đỏm dáng đến… giật mình.

Tủ kính sáng choang mà bí hiểm

So với Việt Nam, Hàn Quốc là đất nước quá sạch sẽ và ngăn nắp. Cảm tưởng cho đến giờ của tôi vẫn là đất nước này được chủ ý trình bày qua những cửa kính. Những cửa kính của Seoul hay Busan cũng như những khuôn mặt các người mẫu trên các tấm biển quảng cáo các nhãn hàng trên phố, sáng choang nụ cười nhưng lại có vẻ khá bí hiểm. Không phải vì cửa sổ tâm hồn của họ quá bé hay một mí (thực tế gần như tất cả các ngôi sao đều đã phẫu thuật cắt mí mắt!), mà vì điệu cười chúm chím giống nhau kiểu muốn bảo “tôi hoàn hảo đấy chứ?”
Bi Rain - Gương mặt đại diện cho một trong nhiều nhãn hàng mỹ phẩm

Nếu hình ảnh người mẫu trên các tạp chí thời trang và các quảng cáo đúng là mong ước của số đông thì đàn ông Hàn Quốc có thể bị xem như quá mỹ miều hoặc ẻo lả. Nhưng nếu nói rằng họ quá diêm dúa trong trang phục thì thời Louis XIV chắc bỏ xa. Cái thời mà các hiệp sĩ quý tộc đội tóc giả rắc phấn, mặc quần phồng xếp nếp sặc sỡ, cổ diềm đăng ten trắng toát, chắc không bị coi là thiếu nam tính. Nếu nói rằng đàn ông Hàn nghiện những khuôn mặt quá thanh tú như lẫn với vẻ dịu dàng nữ tính thì những bức tượng Hy Lạp hoặc La Mã cổ đại đã đi trước cả hai nghìn năm.

Trong thời kỳ mà con người đầy những ám ảnh về việc trở về với sự nguyên bản hay những phẩm chất căn cốt của nhân loại, thì đâu là vẻ đẹp thuần khiết khiến người ta bận tâm. Nổi bật nhất trên đường phố Seoul hay Busan không phải là logo của Huyndai, LG hay Samsung mà là các thương hiệu mỹ phẩm và đi kèm đó là những gương mặt đại diện – các ngôi sao phim ảnh và K-Pop. Dễ dàng thấy một cửa hiệu mỹ phẩm hay đồ thời trang, và dễ dàng gặp những nam thanh nữ tú ăn mặc như bước từ trong tạp chí ra. Thì mấy nước ưa đồ xa xỉ phẩm như Pháp cũng thế thôi, và đến Việt Nam thì biển quảng cáo dầu gội với kem làm trắng da cũng to hơn biển thức ăn gia súc là chuyện thường. Nét khác lạ ở Hàn Quốc là các gương mặt đại diện mỹ phẩm lại rất nhiều ngôi sao nam, trong khi lâu nay ta đều nghĩ rằng chỉ có phụ nữ mới có nhu cầu son phấn và lụa là.

"Đại lộ Ngôi sao" ở Seoul

Các mỹ nam trên áo phích ở "Đại lộ Ngôi sao"

Cosplay ở Busan
Cuối những năm 1990, danh từ Hàn lưu (hallyu) nghĩa là “làn sóng Hàn Quốc” ra đời để chỉ sự đổ bộ của văn hóa đại chúng nước này lên khắp vùng Viễn Đông và Đông Nam Á. Việt Nam không phải là ngoại lệ. Không khó để xác định công thức của những bộ phim truyền hình và các ban nhạc K-Pop: diễn viên đẹp, câu chuyện tình yêu lâm ly, những giá trị đạo đức gia đình được đề cao. Khán giả được thưởng thức những bữa tiệc truyền hình trình bày đẹp, và điểm nhấn là những gương mặt trắng mịn như sứ, sống mũi cao, trai cũng như gái. Cuốn cẩm nang du lịch Lonely Planet cũng phải dẫn ra bộ phim “Bản tình ca mùa đông” với vai chính Bae Young Jun đã làm mưa làm gió khắp thế giới. Người ta đã ước tính 1/5 khán giả Nhật đã xem bộ phim này! Vẻ đẹp có phần nữ tính của Bae có thể coi như đại diện cho công thức hốt bạc của các nhà làm phim và khiến anh trở thành ngôi sao kiếm được tới 50 triệu đôla trong vòng 5 năm từ 2003 đến 2007. Giờ thì Bae Yong Jun đã tới tuổi 40, nhường chỗ cho các mỹ nam khác chiếm lĩnh màn ảnh làm thần tượng cho tuổi mới lớn và các khán giả nữ châu Á. Khắp các màn ảnh nhỏ gia đình châu lục, người ta tiếp tục khóc cười theo những số phận lúc nào cũng ái tình trắc trở, lúc nào cũng gặp một căn bệnh như máu trắng hay ung thư. Vì thế sự bất hạnh hoặc vật lộn của những chàng trai đẹp cô độc trong xã hội trở thành chủ đề quen thuộc như viên thuốc kháng sinh vẫn thành phần hóa dược ấy nhưng chỉ đổi nhãn hiệu mà thôi.

Phi unisex bất thành trai đẹp

Trào lưu sao nam có hình ảnh nữ tính không phải do người Hàn Quốc sáng tạo ra. Nó có từ trào lưu unisex của nước Nhật láng giềng, nhưng cũng như nhạc pop và phim truyền hình và thậm chí cả một số thương hiệu công nghiệp hàng đầu, người Nhật đã bị người Hàn vượt mặt. Đường phố Hàn Quốc khiến người ta bối rối bởi hình ảnh các cặp trai gái đi bên nhau, các chàng trai còn ăn mặc đỏm dáng và điệu đà hơn cả bạn gái mình. Bạn tôi đã phải thán phục sự mạnh bạo trong phối màu trang phục của các chàng trai trên phố: họ có thể mặc áo phông cổ tim màu tím với quần jeans ống bó da cam, đi giầy bốt và khoác túi lửng như xách làn đi chợ. Thán phục là vì bình thường bạn tôi vẫn có định kiến với kiểu ăn mặc mà anh cho là “chẳng ra đàn ông chẳng ra đàn bà” và thường chỉ thấy những bản sao xấu xí ở Việt Nam, vậy mà ở đây họ là bằng chứng cho một vẻ đẹp nổi bật. Dường như không đơn giản là một sự điệu đà khác thường, mà trong cách ăn mặc ấy, toát lên một sự tự ý thức mạnh mẽ về cá nhân vượt qua sự phân biệt giới.

Khi mới đến khách sạn bên bãi biển Haeunde (Hải Vân Đài), bãi biển nổi tiếng nhất Hàn Quốc ở Busan, tôi cứ tưởng đang có sự kiện gì. Nhưng hóa ra ngày nào cũng nhộn nhịp, và cứ buổi chiều xuống là đường phố nườm nượp người ăn mặc đẹp. Người già gần như không xuất hiện ở đây. Các khu phố đi bộ và trung tâm thương mại trưng ra hình ảnh một Hàn Quốc như một cõi không phiền não, trẻ trung và sạch sẽ. Tôi nghĩ nếu Tất Đạt Đa thấy cảnh này thì chắc ông chẳng phải bận tâm đi tu thành Phật. Vẻ hào nhoáng của nơi này dễ khiến người ta nghĩ đây giống một khu phố mà những người đồng tính hay tụ tập lẫn với giới nghệ sĩ. Nhưng thật khó kết luận bởi lối ăn mặc của các chàng trai đi cùng các cô gái cũng chung vẻ đỏm dáng đáng ngờ. Đến quần áo đồng phục công sở cũng áo body, quần ống tuýp và mái tóc không quên vuốt keo cẩn thận. Thanh niên Hàn Quốc ở đây đẹp, nhưng không có cái vẻ khêu gợi, ai cũng như một món hải sản trắng phau mà nhạt vị. Bên trong các hiệu thời trang, các bức ảnh của các ngôi sao nam sáng trưng vẻ đẹp nữ tính thì bên ngoài, những dáng người cao thon, bước đi mềm mại từng bước nhỏ làm cho chúng tôi nghĩ mình ở khu phố của những người thuộc giới thứ ba. Nhưng không có ôm hôn, không có cảnh tượng nào tỏ ra là có đụng chạm.

Câu trả lời có ở cách đấy 400km – Seoul. Bên cạnh khu trại lính Mỹ ở Itaewon là khu phố nhộn nhịp các quán bar và hiệu ăn đêm, nơi có cái tên lóng là “Homo hill” – đồi đồng tính. Trong khi khu phố trung tâm Seoul hay Busan sáng rực vẻ tẩy trùng và thơm mùi mỹ phẩm thì ở những con dốc đằng sau khu Itaewon này là san sát những quán bar, những phòng tắm hơi tối tăm, cũ kỹ. Ở đây số người ăn mặc đẹp và chau truốt lại ít hẳn đi. Tất nhiên, những khách sạn sang trọng hơn ở ngoài đường lớn chắc đã hút hết những “hàng đẹp”, và những khu phố đằng sau này là nơi mà những hẹn hò bình thường diễn ra. Ở cửa các quán bar, họ không phô bày lộ liễu các hình ảnh biểu tượng nhưng cũng có người vẫy tay chào mời, cũng có những ông Tây già lượn lờ tìm xem có chàng trai Á nào phát tín hiệu. Một đôi đi nửa thơ thẩn nửa lãnh đạm, bỗng chui tọt vào cái cửa của phòng tắm hơi. Đấy là nơi mà người ta vỡ lẽ rằng, unisex hay sự lạnh lẽo chỉ là bề ngoài, còn những dục vọng vẫn dậy lên sau những cánh cửa các phòng tối. Ra khu phố đèn đỏ ở đâu cũng giống nhau! Từ cái mùi âm ẩm và ánh đèn đường vàng vọt, những người đứng như không đợi ai mà lại có chủ đích.

Khu Itaewon.

Tổng thống cũng phải làm đẹp

Mặc dù dân thành thị trông bề ngoài đỏm dáng, Hàn Quốc lại có vẻ khá kín đáo trong thể hiện cảm xúc tình dục. Các nhà chính trị thì né tránh những chủ đề nhạy cảm như đồng tính hay mại dâm. Tổng thống Lee Myung-bak tuyên bố đồng tính là bất bình thường và không đồng tình với hôn nhân đồng tính, còn năm 2008 thì diễn viên nam Kim Ji-ho đã tự tử vì áp lực xã hội sau khi công khai khuynh hướng tình dục đồng tính của mình, bổ sung vào danh sách những diễn viên tự tử rộ lên vài năm gần đây ở nước này. Khi nhìn vào cái vẻ đầm ấm của mô hình gia đình trên phim truyền hình thì ta thực không biết đó là sự tô vẽ hay chân thực cho một giá trị truyền thống, cũng như nhìn vào lối ăn mặc “nữ tính” của những anh chàng trên đường phố Hàn Quốc ta vẫn chắc chắn rằng đàn ông nước này chẳng có vấn đề gì về giới tính cả.

Biểu tình chống phân biệt đối xử với người nhiễm HIV, mại dâm và đồng tính trong một kỳ hội thảo ở Busan
Biểu tình ngay khi bộ trưởng y tế xuất hiện...

Một quảng cáo mỹ phẩm chăm sóc da
Cũng như thế, nhìn đất nước này từ những đường phố sáng choang và vô vàn những hình ảnh diễn viên đẹp, ta cũng chẳng lấy làm choáng váng với những con số 1/5 phụ nữ Seoul trong lứa tuổi 19-49 đi phẫu thuật thẩm mỹ để được đẹp như các diễn viên. Và chính cựu tổng thống Roh Moo-hyun đã đi cắt mắt! 4000 trung tâm thẩm mỹ ở Seoul kỳ vọng sẽ thu hút 400.000 du khách quốc tế tới đây theo các tour làm đẹp, và bên cạnh những nhãn hiệu hàng điện tử hay xe hơi, mỹ phẩm và công nghệ làm đẹp Hàn Quốc là con át chủ bài tấn công phần còn lại của thế giới. Tiền bạc đã quyết định tất cả: Thị trường làm đẹp và chăm sóc nhan sắc nam giới đã tăng 40% trong vòng 5 năm. Sống trong môi trường ấy, không tồn tại các mỹ nam như ta vẫn thấy chật màn ảnh nhỏ mới là chuyện lạ. Ta vừa thán phục nỗ lực làm đẹp đến cực đoan ấy, vừa nghĩ Hàn lưu đã thành cơn sóng thần rồi.

N.T.Q
(Mốt và Cuộc sống Tết 2012)

Thứ Năm, 19 tháng 1, 2012

Nhìn đâu cũng thấy lòng mình


Bagan có 5000 cái chùa, dĩ nhiên không phải cái nào cũng to như một cái chùa có đủ lớp lang ở Việt Nam. Đa phần là những cái tháp (stupa) na ná nhau. Nhưng mật độ của chúng thì đáng nể. Nếu tư duy theo kiểu đất “phân lô” như Việt Nam thì có lẽ không thể cắt nghĩa được tại sao họ lại phải xây nhiều chùa, nhiều bảo tháp như thế, cái này sát cái kia như một rừng tháp. Những cái tháp bằng gạch đất nung, trong buổi hoàng hôn, sẫm bóng lại như hàng người đứng tiễn biệt bên sông…

Đức Phật có một nhưng cách diễn giải và cách hiểu về ngài chắc có nhiều. Dường như Phật pháp từ khởi thủy là một tư tưởng tinh khôi đã biến hóa khôn cùng, khác nào một tháp Babel đã chia năm sẻ bảy muôn nơi không cho ai hiểu ai. Tuy vậy, có những giá trị chung nhất và giản tiện của đạo Phật để cho một người ở nơi khác đến Bagan đồng cảm được: Phật tại tâm và người theo đạo Phật phải làm chủ được tâm của mình. Mà đến Bagan hay đâu cũng không quan trọng, phước huệ của Phật trải khắp thế giới. Như kinh Phật nói, tùy duyên thì gặp được.

Bagan nằm ở bên cạnh con sông Ayeyarwady, nhưng là vùng đất khô hạn, chỉ có những cây me và những cây bụi nhiều gai sống khỏe cùng không nhiều những cây thốt nốt mọc lên từ đất đỏ. Hàng ngàn cái tháp màu gạch đỏ như đội đất đỏ mà vươn lên, qua 12 thế kỷ nối tiếp nhau, giờ đứng bình lặng mặc cho những biến động hiện đại, dẫu vậy ít vọng đến đất này.

Tôi nhớ đến một nơi nhiều chùa ở Việt Nam là Huế. Dọc bờ sông Hương có đến gần trăm ngôi chùa, mà thói ưa chọn số đẹp của người xưa đã lấy con số 99. Huế cũng có thể gọi là thành phố thấm đẫm triết lý Phật giáo. Người Pháp đã nói về Huế: “Thành phố mỉm cười khi thương đau, thở than khi vui vẻ.” (Eugène Pujarniscle, dẫn theo Hoài Thanh). Câu ấy có thể dùng để nói về Bagan hay những thành phố di sản Đông Nam Á như Luang Prabang, Chiang Mai… những thành phố mà những khuôn mặt con người phảng phất sự mụ mị bình an của những bức tượng Phật trong vô vàn những ngôi chùa. 

Sống lâu ở một thành phố phát khùng như Hà Nội, chúng tôi như người bị đánh thuốc mê khi lạc vào thành phố bé nhỏ Bagan. Người đánh xe ngựa đưa chúng tôi vào thành cổ (thực ra không có ranh giới rõ rệt giữa ngoại vi và thành cổ, vì nhìn đâu cũng tháp gạch lẫn với bụi cây khô) dừng lại ở đằng sau cổng thành. Anh ta giải thích rất rắc rối về việc chi phí hay đường đi sao đó mà cả đám chúng tôi hiểu là anh ta muốn thêm tiền hoặc hóa ra số tiền đã thỏa thuận chỉ đi được đến đây. Thành kiến sẵn với thói làm du lịch ở nhiều nơi hay bắt chẹt du khách, và bài học ở quê nhà đầy ra đó, chúng tôi tức giận. Cô bạn khá tiếng Anh nhất nhảy ra diễn giải lại những thỏa thuận và hỏi lại có đúng là anh ta muốn mặc cả thêm không. Hóa ra không. Chỉ đơn giản là anh ta giải thích rằng thành cổ khá rộng và anh sẽ đánh xe cho chúng tôi đi các điểm chính và đưa về lại nhà nghỉ. Đến đây thì cả bọn à lên và thấy sượng sùng trước sự hung hăng mà mình đã bộc phát lúc nãy. Chiếc xe ngựa lại lóc cóc lên đường, âm thanh đều đều của nó làm lắng lại tâm trạng, tựa như tiếng gõ mõ kinh chiều.

Chúng tôi vào những ngôi chùa, chỗ nào cũng có những cậu bé vẽ và bán những bức tranh tô màu chủ đề Phật hay hành hương hoặc cảnh Bagan bằng một loại tempera như keo trên giấy dó rất dai. Các cô cậu nhỏ này bán hàng bằng một cái giọng tiếng Anh rất dễ thương và với chúng, bán hàng cứ như là một thú vui. Chúng cười, chúng nài nỉ, chúng ra giá, sinh động như một cuộc đối thoại trong lớp tiếng Anh buổi tối ở Hà Nội. Ta hay nói giác ngộ này nọ, nhưng chắc người Miến họ thấm nhuần tình cảm thương người của Phật dễ hiểu hơn những giáo lý nhức đầu. Dọc đường, cửa chùa hay trước cửa những ngôi nhà, họ có những cái chòi đơn sơ, trong đó đặt những vò gốm đựng nước mát, có nắp đậy và gáo để người đi đường tự múc uống giữa trời nắng chang chang của đất này. Những cái nho nhỏ ấy cùng sự hiền lành dễ chịu của người Miến khiến chúng tôi cảm động đến gai người. Chúng tôi cũng mua những viên bột làm từ thân cây me, gọi là thanaka để bôi lên mặt giống như người Miến. Cơm cũng có món lá me muối chua. Cá cũng có kho với lá me. Ở sân những ngôi chùa có những cây me rất lớn, rợp những bóng râm hoe hoe. Tán me không rậm rì, lá me lại nhỏ, nên vẫn để cho ánh sáng lọt qua như một bức màn thưa. 

Cảnh trí Bagan cũng thế, không có gì là tuyệt đắc, không đồ sộ đến dị thường, nhưng cả ngàn ngôi tháp như họp lại làm một cuộc tụng niệm trong tâm tưởng. Nhất là khi ta đứng trên tầng cao nhất của một ngọn tháp ở trung tâm, nhìn ra bốn phía thành cổ Bagan, dõi mắt về những rặng núi đá phơi những cái vách tím bên sông màu nâu chảy lừ đừ. Trên nền cảnh ấy, những ngọn tháp màu nâu đỏ lô xô như đàn hươu cao cổ nhởn nhơ dạo bước, có cái lại dát vàng lộng lẫy bật lên dưới ánh hoàng hôn. Đa phần đều là stupa tròn hình chuông, trong đó chùa Schwezigon nổi bật lên vì cái hình bầu bĩnh của stupa mang màu vàng chói lọi. Một vài ngọn tháp khác biệt như ngôi đền Sulamani có phong cách stupa vuông như That Luang ở Lào hay Dhammayangyi, ngôi đền lớn nhất nhưng xây dở dang vào thế kỷ XII, nên không có chóp, tựa như một kim tự tháp Maya. Màu đỏ gạch của chúng hiện lên giữa nền cây xanh và đất đỏ, một hàng phượng đỏ râm ran và đàn dê trắng nhởn nhơ trên những bãi trống, tiếp nối đằng xa là bình nguyên xa tít.

Có người đi Bagan về nói đã khóc khi thấy cảnh này. Tôi thì không đến mức ấy, có thể vì tâm mình lạnh nhạt hơn, có thể vì mình bình an hơn, nhưng trong cái lặng im chỉ có tiếng gió hây hẩy thổi qua bình nguyên, nghĩ đây là một nơi hiếm hoi mà tâm trí mình được cởi giải. Niềm vui khi đi vòng quanh, chụp ảnh bốn phía, so cái nào đẹp hơn cái nào, cũng là một thứ mà chỉ khi tâm bình an mới đem lại được. Mỗi cái tháp như bộc bạch tâm sự của một thế hệ, một lứa người. Cả ngàn cái tháp trầm mặc đứng bên nhau như đang trong một cuộc trò chuyện tập thể, như phơi lòng mình trên những viên gạch lở lói. Bagan đến đây lại làm tôi nhớ Huế, nhớ Hà Nội của những viên gạch đỏ trên các bức tường nhà cũ. Tôi đã từng ước Hà Nội có lúc bình thản như Huế của Thu Bồn, hình như Hà Nội đã từng có lúc thế, mặc dù tôi cũng băn khoăn không hiểu trí nhớ thơ ấu có đánh lừa tôi không: 

Bởi vì em dắt anh lên những ngôi đền cổ
Chén ngọc giờ chìm dưới đáy sông sâu
Những lăng tẩm như hoàng hôn chống lại ngày quên lãng
Mặt trời vàng và mắt em nâu

(Tạm biệt Huế - Thu Bồn)

Cả hơn chục thế kỷ phơi trước mắt, dĩ nhiên đa phần còn lại của những thế kỷ sau. Từ thế kỷ thứ II đến XVI, các triều đại ở miền Trung Myanmar đã xây dựng chùa chiền ở thành phố này, rồi xê dịch quanh mấy kinh đô khác như Saga, Inwa và cuối cùng về Mandalay. Cái nỗi buồn ở đây cũng phảng phất nhẹ nhàng như nỗi buồn của những thời hoàng kim đã từng ghé thăm, như những gánh hát đi qua phố huyện để lại nỗi nhớ hàng năm trời cho những đứa trẻ từng tắm trong hào quang sân khấu rọi xuống.

Phật cũng thế, với tên gọi Tất Đạt Đa Cồ Đàm hay Thích Ca sống ở cõi đời 80 năm, nhưng đã để lại một di sản trường cửu suốt 2500 năm đến giờ. Xây 5000 ngôi chùa với tháp ở Bagan cũng là một cách tỏ lại hào quang Phật, cho dù đấy là tâm đã bình an hay đang mê mị. Có lẽ, tôi cũng đang mê.

Nguyễn Trương Quý

Thứ Hai, 16 tháng 1, 2012

Liêm sỉ / Văn hóa

(bài này được đặt viết nhưng bị đổ phút chót, dọn máy tính nhân ngày ông Công ông Táo)

Trước khi viết bài này, tôi thử tìm kiếm từ khóa “thay đổi văn hóa” thì có đến mấy gợi ý: “Thay đổi bắt đầu từ những cá nhân”, “Thay đổi con người phải bắt đầu từ tư duy”, “Mọi thay đổi phải bắt đầu từ giáo dục”… Chúng đều là đầu đề của những chuyên mục hay bài báo lớn trên các tờ báo quan trọng. Các dẫn chứng được nêu lên đều xoay quanh chuyện văn hóa xuống cấp và sự hoành hoành của thói vô cảm. Tựu trung lại, đều nói đến nhận thức của con người, mà chốt lại liên quan đến thái độ ứng xử của con người với xung quanh, mà ta vẫn biết với hai chữ “liêm sỉ”.

Trong số vô vàn những bài phỏng vấn các ngôi sao, ca sĩ hay người mẫu của năm qua, tôi chú ý đến câu trả lời của ca sĩ Tuấn Ngọc: “Tôi nhớ Đức Phật có câu: ‘Tu 7 kiếp mới thành đàn ông’, nhưng tôi thấy rất nhiều người đàn ông mà nếu phải tu 7 kiếp để thành như họ thì tôi nguyện làm đàn bà hơn… Hồi trẻ, có thể mình nghĩ có con cho vui nhưng đến tuổi này tôi lại nghĩ, không có con là điều tốt hơn. Càng sống, tôi càng thấy sự tồn tại của mình trên trái đất này không giúp ích gì ai hết. Ngược lại, mỗi chúng ta đang góp phần tàn phá trái đất.” Tôi cho đó là một tâm sự thẳng thắn về nhân sinh và có liêm sỉ. Liêm nghĩa là ngay thẳng, không nhận những cái không phải của mình. Sỉ, biết tự hổ thẹn.

Phải có liêm sỉ thì chúng ta mới giới hạn được cái nhu cầu vô độ của bản thân, và có khả năng tự ngượng với chính mình, chứ không phải là chỉ biết xấu hổ khi bị bắt gặp lúc làm chuyện xấu. Vấn đề là chúng ta bày ra quá nhiều cách để thỏa mãn sự sinh tồn của bản thân mà hiếm khi xem xem sự sinh tồn của mình có cấp bách đến độ liên tục đạp đổ những hàng rào giới hạn nhu cầu của mình không. Về mặt ngôn từ, chúng ta viện nhiều thứ như là “quyền mưu cầu hạnh phúc” nhưng rồi lại sẵn sàng đề ra những thứ trên quyền như “đặc quyền”, “siêu quyền” như một thứ còi hú mở đường át những tiếng còi đang hỗn loạn. Thế là luật có thứ ngoài luật, hiến pháp có thứ vi hiến, chúng ta nói năng, bàn bạc về chúng tới mức như cơm bữa. Và trên các trang mạng hay báo chí chuyên khai thác “lộ hàng” hoặc giật gân, dễ dàng thấy những vạch trần, những sỉ vả hả hê mà ngỡ như đó là một cách cầm cân nảy mực văn hóa.

Nhưng những thứ vạch trần, sỉ vả ấy không làm ai sợ, mà lại thấy tấp nập đông vui, bởi vì người ta thấy ồ hóa ra là chiêu trò, chứ không phải là mấy nhà cầm cân đó đưa ra được giá trị thay thế nào. Khi chiêu trò cứ xảy ra đều đặn, chúng thành công thức cho hành vi sống. Thậm chí khi bị chê bai thì chủ nhân các chiêu trò sẵn sàng sửng cồ và hạ thấp những người có lựa chọn khác. Và từ đấy, lối sống càn rỡ và bầy đàn có cơ trở thành một thứ tân bảo thủ. Ở đây, chúng ta có hai nửa ranh giới của một xã hội có văn hóa: liêm sỉ của cá nhân và pháp trị của nhà nước. Văn hóa giống như một phản ứng hóa học chỉ xảy ra khi có điều kiện cần và đủ của cả hai yếu tố đó. Hài lòng với thực tế văn hóa đang có, có lẽ là vì chúng ta không nghĩ đến những chân trời khác, hoặc có nghĩ đến nhưng liêm sỉ của mỗi người lại không đủ để ta tự xấu hổ.

Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2012

Di sản hay rác


Cuối năm, như thường lệ là gia đình tôi dọn dẹp nhà cửa. Ngoài những thứ dễ dàng phân loại cũ mới, thứ dùng tiếp và thứ thải loại là quần áo, thì thứ mất thời gian nhất là sách vở, thư từ và đồ lưu niệm.

Lý do dễ hiểu nhất là quần áo hoặc đồ gia dụng là những thứ thiết thực, nên ranh giới giữa còn dùng được và lỗi mốt thật rõ ràng. Nhắm mắt cũng biết cần bỏ cái gì đi. Còn những thứ thuộc phạm trù “tinh thần” kia, thật khó xử. Sách cũ có ngày sẽ đọc lại. Thư từ của thời chưa có email là những gì lưu giữ tình cảm. Đồ lưu niệm là những thứ đánh dấu những chuyến du lịch, những lần sinh nhật hay lễ Tết. Đó là những thứ được bày nghiêm ngắn trong giá sách, trên kệ hoặc treo tường, có tính chất “văn hóa”. Chúng tựa như những món đồ trưng bày trong một bảo tàng. Dù cũng chỉ vài chục năm, chúng cũng đáng được xếp hạng di sản của nhà tôi.

Trong khi tôi và những người “hiếu cổ” như mẹ tôi đắm chìm trong việc nâng lên đặt xuống những món đồ chẳng nỡ vứt đi thì bố tôi tỏ ra tỉnh táo, thuộc phe “chủ nghĩa tối thiểu”, thốt ra một câu có vẻ phũ phàng: “Toàn là rác!”

Phe hiếu cổ vặc lại: Rác là thế nào? Bao nhiêu tiền của rồi công phu ngần ấy năm?

Phe tối thiểu: Bảo là sách sẽ đọc lại, nhưng “sẽ” là lúc nào? Sẽ mang đồ lưu niệm ra ngắm lúc nào? Hay là để bụi mười năm giờ mới mang ra phủi? Cái gì sau hai năm không sờ đến, giải tán khẩn trương! Nếu không, cái nhà này thành bảo tàng của toàn những thứ vô dụng.

Lý lẽ của bố tôi làm cả nhà nao núng. Có những cuốn sách sau mười năm đọc lần đầu, tôi chưa hề giở lại. Và không ai ở gia đình tôi đọc cả. Những quyển sách hướng dẫn du lịch, những tấm bản đồ các thành phố tôi đã đi, dự tính găm lại để làm tư liệu viết bài, tôi đã quên khuấy mất. Thư từ của một thời, ghi chép những dặn dò hỏi han lặt vặt của chị tôi khi đi nước ngoài, rồi những tấm thiệp sinh nhật xinh xẻo, ghi những lời chúc đầy âu yếm, giờ giăng đầy bụi ở ngăn kéo. Những bức tượng nho nhỏ, những món đồ điêu khắc tầm tầm mua ở những nơi đi tham quan mà tôi dự định làm hẳn một cái tủ trưng bày, giờ vẫn chất đống bên nhau ở một góc giá sách, chỉ vì tủ trưng bày vẫn chưa có. Tóm lại, để phân loại và cân nhắc xử lý những món đồ này, cần cả một núi quyết tâm và kỹ năng bảo tàng. Hay là chúng ta chỉ biết cần mẫn lau chùi và lại xếp đặt lần nữa, đầu hàng trước sức nặng của quá khứ và công của đã bỏ ra.

Khi đi du lịch nước ngoài, tôi luôn phải kiềm chế để tránh việc mua thêm những món đồ lưu niệm này nọ. Món đồ nào cũng tinh khôn cài cắm một vài chức năng này nọ để du khách đỡ áy náy khi tha về làm chật nhà. Khi mua một món đồ như vậy, ta cứ tưởng như mình đã có thể mang được cả không gian ở nơi đó, những di sản của nhân loại mà về tái hiện trong phòng ngủ nhà mình. Nhưng sự thật lúc này thì ngôi nhà tôi chẳng khác một viện bảo tàng thập cẩm những món đồ đều bị bụi như nhau nhưng cộc lệch và chẳng gây một không khí gì ngoài sự bề bộn.

Nhưng nếu theo bố tôi, thì chúng ta sẽ sống ở cuộc đời này với “chủ nghĩa tối thiểu” mà không giữ lại cuốn sách nào, một bức hình nào hay một món quà có ý nghĩa ghi dấu một thời khắc quan trọng hay sao? Bản thân tôi còn in cả mấy cuốn sách, ai cũng như bố tôi thì tội nghiệp cho tôi quá. Bố tôi còn có cả mấy tấm huân chương và giấy mừng thọ lồng khung kính cơ mà! Thật khó mà xét rằng cái nào là “di sản”, cái nào là rác. Đến đống rác của người La Mã cổ đại còn được các nhà khảo cổ bới ra như những di sản của nhân loại.

Dẫu không nói ra, nhưng cả hai phe hiếu cổ lẫn tối thiểu ở nhà tôi đều ngậm ngùi với ý nghĩ: ngần ấy năm sống trên đời, mình đã để lại bao nhiêu là thứ, mà thực sự thứ nào là di sản đây? Hay đã đến lúc phải nói câu “cọp chết để da, người ta chết để rác”.

Nhưng điều làm tôi nghĩ mãi là suốt thời gian khi những món đồ kia được tôi rước về, tôi đã học được gì từ chúng. Tôi đã cày xới được bao nhiêu từ đấy, hay chỉ đọc lớt phớt một lần rồi bỏ, rồi những món đồ xinh đẹp chỉ bắt mắt tôi lúc bỏ tiền ra mua, khi về đến nhà, bị trưng một cách lạc lõng trong tủ kính. Rõ ràng là năm này qua năm khác, sự vô dụng của những món đồ đó không cho tôi một bài học nào. Nếu nhân loại diệt vong, Trái Đất nổ tung chẳng hạn, người ta tiếc nuối ngần ấy di sản của hàng ngàn năm tan vào tro bụi. Cá nhân tôi thì sao, liệu tôi có tiếc những thứ kia không, những thứ gia đình tôi tranh cãi nhau đấy là di sản hay rác. Cho dù chúng cũng thành tro bụi cả thôi.

N.T.Q
(Tạp chí Đẹp 1-2012)

Thứ Tư, 11 tháng 1, 2012

Dư vị của phiêu lãng


Dĩ nhiên là tôi không biết gì về nhạc sĩ Canh Thân ngoài mấy bài hát xa xưa của ông. Nhưng đây đó giữa những dòng hồi ức về lịch sử tân nhạc và cái gọi là ngành công nghiệp giải trí sơ khai của nước nhà ở một Hà Nội cũ, thì Canh Thân là một nhân vật xuất hiện không ít lần. Cái thời mà văn hóa Pháp với sự điệu đà, lẳng lơ và rất chi là “tráng men” của nó đã kịp sinh ra một thế hệ thanh niên vui thú với ánh đèn sân khấu, với những etiquette du nhập từ Tây phương. Mặc Âu phục, đi xe đạp và uống cà phê, thay vì áo dài khăn đóng, đi xe tay và uống trà, kèm theo là những quy cách của một lối thưởng thức được cổ vũ như là đại diện cho sự tân tiến. 

Đều là sản phẩm cây nhập nội, trong khi cao su vốn gây ấn tượng hãi hùng “đi dễ khó về” của đời phu phen thì cà phê chỉ vẳng lại xứ Bắc Kỳ như một thứ sản phẩm thượng lưu. Cà phê vốn dễ thấy ở Sài Gòn, nhưng sự có mặt của nó trong đời sống Hà Nội chỉ nổi lên khi đường sắt Đông Dương khánh thành năm 1936, đi mất 40 giờ, nhanh hơn so với đường tàu biển đi cả tháng trời. Khi ấy cà phê mới có được giá rẻ hơn và bán rộng rãi hơn. Quán cà phê ra đời nhiều hơn, nhờ vào sự tăng trưởng của tầng lớp công chức và trung lưu đô thị. Nhưng hình như còn phải chờ một thứ gì đó để hoàn tất nốt hình ảnh của chúng.


Như người ta kể lại, Canh Thân là một giọng ca đã biểu diễn ở trên sân khấu Nhà hát Lớn Hà Nội vào những năm 1953-1954. Nhưng chừng hai thập niên trước đó, ông là một trong số những thanh niên Hà Nội cuốn theo trào lưu “bài ta theo điệu Tây”, nghĩa là đặt lời Việt cho các bài hát Pháp được phổ biến ở Hà Nội qua các đĩa nhạc 78 vòng, phát ở các cửa hiệu và các quán rượu mà đa số giới trẻ chỉ có thể đứng ở ngoài cửa nghe lén. Canh Thân là một người say mê ca sĩ Tino Rossi, một giọng ca trữ tình Pháp gốc đảo Corse, tham gia hội “ái Tino” và thậm chí lấy nghệ danh là Tino Thân. Giọng hát mùi mẫn và những lời ca yêu đương có phần phóng túng của những bài hát Pháp thời đó đã phủ sóng ảnh hưởng lên lớp thanh niên Hà Nội. 

Truyền thống ái tình và hoan lạc của người Pháp chắc ít nhiều đã tác động đến lối sống giới này. Thời gian đã làm lạc nhiễu thông tin, nên đâu là ái tình thực, đâu là trăng gió thì chúng ta chỉ có thể phỏng đoán. Giữa những câu nhạc phóng túng, mời gọi: “Đi với tôi đến chân trời xa, đến suối mơ là nhà của ta” là những thiết tha ảo mộng: “Mong trông thy bóng cô nàng. Thì trong lòng chàng mi yên.” Lúc đó, những cô hàng cà phê đã lên ngôi hoa hậu trong cuộc thi các nhân vật của tân nhạc, trước hết là nhờ Canh Thân.

Canh Thân là dân Hải Phòng, là cậu của nghệ sĩ cải lương Ái Liên. Mấy người chị của Canh Thân đều là diễn viên cải lương. Bản thân ông lại say mê nhạc mới và hát phụ các bài tân nhạc trong gánh hát của Ái Liên. Chừng ấy xuất xứ cũng khiến cho cuộc đời của ông có phong vị phiêu lãng. Một nhân vật sống cùng thời đã kể lại: “Các ca sĩ thời gian này hầu hết đều đơn ca, hiếm thấy có song ca… Chỉ một lần vào dịp đầu thu năm 1952, tại Nhà hát Lớn Hà Nội trong một buổi văn nghệ nào đó, có cặp ca sĩ Tâm Vấn và nhạc sĩ Canh Thân dắt tay nhau ra nhún nhảy song ca mấy bài hát thể điệu swing nhộn nhịp của Canh Thân như ‘Túi đàn’, ‘Đi với tôi đến chốn trời xa’. Lối trình diễn sống động mà ngổ ngáo của cặp Tâm Vấn - Canh Thân vào lúc đó thật lạ, mới thấy lần đầu.” (Đỗ Văn Minh – Hà Nội 1948-1954: những năm tháng cũ). 

Ca sĩ Tâm Vấn (1953)
 Qua mấy chi tiết được kể lại, ta có thể thấy Canh Thân là một nghệ sĩ trình diễn đa năng, một đứa con lai của nền văn hóa giao thoa Đông-Tây. Nhờ vào tên của ông, ta biết được ông sinh năm 1920, năm Canh Thân, thừa hưởng một cách đặt tên thật Việt Nam, nhưng không khí giao thời mưa Âu gió Á đã nhào nặn nên một Canh Thân rất Tây. Gia đình lại chuyên nghề hát cải lương, một loại hình ca kịch dân gian có ít nhiều pha trộn sân khấu Pháp, sống ở thành phố cảng Hải Phòng, cửa khẩu lớn nhất Bắc Kỳ đương thời, Canh Thân tham gia nhóm Đồng Vọng của Hoàng Quý, cái nôi cho nhiều nhạc sĩ như Văn Cao, Phạm Ngữ, Tô Vũ viết những bài hát cổ vũ lòng tự hào dân tộc cũng như những bài tình ca đầu tiên của tân nhạc. Canh Thân có vẻ như là một người rong chơi, lãng tử, nói theo kiểu bông đùa bây giờ là “nhạc nào cũng nhảy”, nhưng có lẽ không sai. Ông là nhạc sĩ của những giai điệu có chất hài hước, rộn ràng, nhạc sĩ của những thú vui thị thành. 

Người ta hay nói đến sự chín muồi. Hình như phải đợi đến lúc ấy, năm 1951 ở một quán cà phê tản cư chiến khu III, vùng chợ Đại – Cống Thần (Ninh Bình), khi cà phê đã trở thành một thứ đồ uống phổ biến giữa một không gian có phần tạm bợ của thời chiến, giữa một trạng thái của một anh chàng còn giữ máu văn nghệ lãng mạn đi kháng chiến, thì Canh Thân mới viết được Cô hàng cà phê. Nhưng bài ca không tả cà phê, thậm chí chỉ có một câu tả về đồ uống thì lại là “nâng ly trà ướp sen ngạt ngào”, mà chủ yếu tả về “cô hàng với bàn tay ngà”. Cà phê hay các món ăn này nọ hãy còn chưa đến thời được đưa vào ca khúc như một đối tượng thẩm mỹ độc lập. Nhưng tinh thần về một nơi chốn thưởng thức đã bắt nguồn từ một cội rễ văn hóa mà chúng ta đã nói tới.

Quán cà phê của Canh Thân, của những nghệ sĩ thời đấy dù ở đâu hay Hà Nội, nhưng toát lên một tinh thần những quán cà phê Paris hay những kinh đô nghệ thuật, nơi người ta dễ gặp thi hứng từ sự cọ xát của những sáng tạo. Người ta đến để uống cà phê thì rõ rồi, nhưng còn đến để giao lưu, để đua tranh làm bật lên được sự khác biệt của mình, và để thông báo với đời là mình vẫn còn sống, còn yêu và còn sáng tác. Pha cà phê không phải là việc quá cầu kỳ, và rửa ly tách cũng không khó, nhưng ra quán ngồi là cả một ý thức về không gian. Quán cà phê đương nhiên khác quán nước chè, và cũng khác quán rượu, hầm bar. Câu chuyện mà Canh Thân kể đến ở chợ Dầu (là cái tên đã thay đổi so với thực tế), về một cô hàng có thật (là ca sĩ Thái Hằng, sau này là vợ nhạc sĩ Phạm Duy), thật ra không khác gì chuyện đời ở những ca lâu tửu quán khắp thế gian, nơi những khách trăng nước ghé qua ngắm cái đẹp yêu kiều nữ tính hòng làm dịu sự gay gắt bụi bặm đường trường.

Cô hàng cà phê cũng thừa hưởng một cách kể truyện ca truyền thống, mở đầu bằng giọng ngâm, rồi có sử dụng câu sáu của Truyện Kiều: “Lơ thơ tơ liễu buông mành, cho hay cái sắc khuynh thành…” rồi ngắt nhịp đảo phách như hát trống quân. Bài hát dành cho giọng nam đã ghi dấu đậm nét hơn trong đề tài quán ven đường, nơi tài tử giai nhân nan tái ngộ, mà những Tình kỹ nữ, Bên cầu biên giới của Phạm Duy, Tình nghệ sĩ của Đoàn Chuẩn-Từ Linh cũng có lấy cảm hứng từ bối cảnh đó. Nhưng cũng là những tâm sự ngổn ngang của một thế hệ mang cái lãng mạn ra bày đặt giữa thời bom đạn:

- Đêm nay đôi người khách giang h/ Gp nhau tình trăng nước/ Sánh vai nhp bước giang hồ/ K vai ước xây nhà bên sui…
- Em đến bên tôi một chiều khi nắng phai rồi/ Nắng ngừng đây bên chiếc cầu biên giới…
- Đây khách ly hương mấy thu vàng ấm/ Nơi quán cô đơn mơ qua trùng sóng…

Canh Thân mất tại Sài Gòn vào đầu những năm 1970, và gia tài âm nhạc để lại của ông có lẽ nổi bật nhất vẫn là Cô hàng cà phê, bởi sức gợi biểu tượng của nó. Ở đây, cà phê chỉ là cái cớ, nhưng nó là vật chứng của một kỷ niệm, của một đời sống phồn hoa đã để lại sau lưng. Cà phê là vật ký thác cho một ám ảnh vô thức mà người nhạc sĩ vô tình hay hữu ý đã gọi ra. Vì nó không nằm trong các biểu tượng truyền thống nên sự có mặt của nó vẫn nằm trong cái khung âm nhạc của truyện ca mang âm hưởng nét nhạc cổ truyền, khá giống với một ca khúc nổi tiếng khác là Cô hàng nước của Vũ Minh, dù ở đấy là một cô hàng nước chè xanh ở đầu làng Ngũ Xã… Nhưng tinh thần phóng túng, tay chơi của một văn hóa ảnh hưởng Tây phương đã chi phối mạnh lời ca đến mức, chỉ cần hai chữ “cà phê” đã đủ đẩy bài hát lên thành một biểu tượng của ái tình mang màu sắc đô thị, mà ở đây là Hà Nội kiểu Pháp.

Vì thế, nhiều tuyển tập nhạc đã không ngần ngại xếp Cô hàng cà phê của Canh Thân vào số những bài ca Hà Nội. Và dường như nó cũng là đại diện hiếm hoi của dòng nhạc tiền chiến có nhắc đến cà phê. Một sự hiện diện độc nhất nhưng khiến người ta nhớ mãi, như dư vị cà phê ngon trên lưỡi khách khi đã lên đường tiếp tục tha phương, và lữ khách ngẩn ngơ nghĩ đã thực có mùi vị đó sao?

Nguyễn Trương Quý
(Thế giới Cà phê 1.2012

+ Tham khảo bản nhạc:

Thứ Ba, 10 tháng 1, 2012

Gánh rạ rơm vào phố


Thật đáng ngạc nhiên, trong khi rất nhiều thứ được xếp vào danh sách “bảo tồn” của Hà Nội có hẳn khuôn khổ, chương trình hay thậm chí nghiên cứu hàn lâm mà sự tồn tại của chúng lay lắt, thì một thứ có vẻ chẳng theo lề lối gì lại có thể chắc chắn tồn tại qua dâu bể. Ấy là hàng quà rong.

Xin nói ngay từ đầu là tôi không cổ vũ và không phải tín đồ của ăn vặt vỉa hè. Nhưng đã đụng đến cái gì được coi là “vẫn như ngày xưa” hay hơn thế, là mang tinh thần Hà Nội ngày trước, theo cái nghĩa thời Kẻ Chợ hay thời Pháp mà vẫn còn đến giờ, thì hàng quà rong dường như đã là đối thủ đáng gờm của bất cứ “đặc sản văn vật” nào. Chắc chắn là cái sự tích “Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon” của Thị Lộ đã hé mở công việc đi bán rong hồi ấy, khi Hồ Tây nằm ở khá xa Kẻ Chợ và khó lòng có chợ búa gì ở hồ Dâm Đàm hoang vu, nơi Dư địa chí của chính Nguyễn Trãi cũng chỉ nói là có cá to. Hồ Tây là nơi có nguồn lợi thủy sản, với vài ba hành cung nhỏ bé, nằm ở bên ngoài thành thị. Và Thị Lộ có muốn bán được hàng, phải ra 36 phố phường. Một cô gái bán hàng rong đã lọt vào mắt xanh vị đại thần và rồi trở thành một nữ học sĩ – một ước vọng không thay đổi của dân gian. Ba thế kỷ sau, ta lạc vào không khí của chợ đền Bạch Mã, tấp nập mà hỗn loạn, thừa cơ cho kẻ cắp gây chuyện như trong Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ. Chỉ hàng rong mới tạo điều kiện cho những chuyện như bọn xấu trà trộn, móc túi, cướp giật, ăn quỵt… những thứ đừng hòng qua được mắt các bà bán ngồi có cửa hàng. Còn thời Thạch Lam thì ông có hẳn một ghi chép về ăn quà trong Hà Nội băm sáu phố phường. Ông nhận xét: “Trong một ngày, không lúc nào là không có hàng quà. Mỗi giờ là một thứ khác nhau; ăn quà cũng là một nghệ thuật: ăn đúng cái giờ ấy và chọn người bán ấy, mới là người sành ăn.” Qua những ghi chép của các vị nói trên, hàng quà rong xưa nay không khác nhau mấy! Có lẽ trang phục người bán và người ăn khác, cái dụng cụ quẩy gánh đi hoặc cái bát, đôi đũa có khác, nhưng công năng và tinh thần vẫn vậy.

Trên phố Nguyễn Thiệp
Vậy hãy nói về hàng quà rong bây giờ, thứ vật vờ xiêu vẹo trên vỉa hè các đường phố Hà Nội nhưng lại bền bỉ từ sáng tinh mơ đến nửa đêm gà gáy, mùa nào thức nấy, từ năm này qua tháng khác. Kinh tế đói kém vẫn có hàng quà. Anh cu Tràng trong ngày đói vẫn tán cô gái cơ nhỡ bằng câu: “Muốn ăn cơm trắng với giò. Lại đây mà đẩy xe bò với anh”. Nghĩa là dù mơ ước viển vông, nhưng nó là một hiện thực anh ta từng trải nghiệm về món ăn cơm gánh. Chính một người bán hàng quà đã cho món đặc sản giò có cái tên đặc biệt: giò Lụa. Bà phó Lụa quê làng giò chả Ước Lễ (Thanh Oai) ra ngồi nhờ ở hiên nhà 118 Hàng Buồm bán hàng cơm ghế đã bán kèm giò với cơm trắng, rồi món ăn ngon bình dân đã đi vào mâm cỗ sang trọng đất Hà Nội và cái tên của bà đã thành tên món. Còn trong kết cục thiên truyện đặc sắc của Kim Lân, thì cái gia đình “vợ nhặt” đùm bọc nhau bằng nồi cháo cám. Kỷ niệm lần đầu gặp Nguyễn Bính của Tô Hoài là nhà thơ sai đàn em mới quen: “Vào nhà bánh giò ‘Đờ-măng’ chỗ kia, mua dăm chiếc nhé, năm chiếc cũng không thừa đâu. Từ sáng, tớ chưa được miếng nào vào bụng.” Ta đoán được hàng bánh giò ấy là hàng rong, vì “ở xế cửa toà báo hàng ngày Trung Bắc tân văn gần vườn hoa Cửa Nam, bên cái nhà gì của Tây mà người ta gọi là nhà ‘Đờ-măng’ và cũng thành tên hàng bánh giò cạnh đấy”, nghĩa là địa chỉ phải dựa dẫm những mặt tiền, chứ bánh giò không phải là món đủ sang để có hẳn một cửa hiệu!

Thịt chó chợ tạm Hàng Da, phố Phùng Hưng - Hàng Hương
Nhưng chắc chắn số lượng hàng quà rong Hà Nội đầu thế kỷ 21 này chẳng thời nào địch được. Với số dân đông chưa từng có, thì 6 triệu cái mồm ăn nhiều (và có thể kéo theo là sành ăn) của dân Hà Thành phải cần nhiều kiểu phục vụ ăn uống mới thỏa. Khi các chợ kiểu cũ dần nhường chỗ cho các trung tâm thương mại như chợ Hàng Da, chợ Hàng Bè, chợ Cửa Nam, những cái chợ to nhất khu phố cổ có bán đồ thực phẩm chỉ còn lại khu chợ Bắc Qua (chợ Đồng Xuân đã từ lâu chỉ bán đồ khô và hàng tiêu dùng). Các hiệu ăn cũng nhiều, dường như phố nào cũng có hàng ăn, nhưng những món lắt nhắt kiểu dưới ba mươi nghìn một suất thì đa phần là ở các hàng bán vỉa hè hoặc quẩy đi rong. Để tiện so sánh, tôi quy đổi ba mươi nghìn đồng tương đương 1 đô la rưỡi, để sau này ai đọc dễ hình dung về cái thời mà một bữa ăn ngoài hiệu có thể đến triệu bạc! Nghĩa là hàng quà rong có ưu thế giá rẻ, bày biện gọn và ăn nhanh.

Quán bún trước cửa một biệt thự cũ trên phố Tuệ Tĩnh
Về bản chất, hàng bán vỉa hè tuy cũng gọi là có địa chỉ, chẳng hạn bánh gối Lý Quốc Sư hay bún thang bà Đức phố Cầu Gỗ, nhưng chả khác gì hàng di động. Vì khi cần, các hàng này thu dọn “chiến trường” rất nhanh, sáng ra thì mặt bằng đã có hàng khác sử dụng. Gọi là mặt bằng cho đúng kiểu chữ nghĩa thời sốt đất sốt nhà ở Hà Nội bây giờ, chứ thực tế có ba mét vuông cơi nới ra vỉa hè, bày hai bộ bàn ghế nhựa là hết diện tích. Có khác gì cái thời bánh giò Đờ-măng “ngon có tiếng” của Nguyễn Bính ngồi xế cửa tòa báo, những địa chỉ có vẻ rất đỗi xê dịch nhưng đã làm nên một quy ước chất lượng ẩm thực và xa hơn nữa, là lối sống của dân Hà Nội?

Những hàng quà rong vì thế không nhất thiết là phải đi loanh quanh mới bán được hàng. Đi như thế, trật tự viên dễ dàng phạt. Họ sẽ chọn một địa điểm tương đối cố định: tường một nhà nào đấy không trổ cửa ra, gốc một cái cây to, hay một bãi trống hiếm hoi trong khu phố đông đúc. Nhưng nhất định phải gần các quán xá cửa hiệu nhiều chị em đứng bán hàng. Đàn ông kể cũng nhiều người đi ăn quà, nhưng không thể so được với phụ nữ. Và cũng chỉ các bà mới đi bán các thức quà, họ hiểu nhu cầu của một chị gái thèm nhạt bán bún ốc chua cay hay cốc chè ngọt khé họng. Cứ như duyên nợ Thúy Kiều Đạm Tiên, các gánh quà rong nhằm đúng những chỗ mà cánh phụ nữ năng lui tới, dễ bề tụ tập và sì sụp ăn uống tự nhiên như thể đang tâm sự kiếp đoạn trường. Gần xa nô nức yến oanh…

Quán bún ốc lạnh của bà Lan ở phố Bùi Thị Xuân
Phụ nữ vẫn bị xem là mang tính âm. Nhưng ẩm thực là một thứ tích vào người, chẳng biết mang tính dương hay âm, nhưng thị trường hàng quà sôi động như bây giờ, chỉ có thấy tăng lên, như rất nhiều hàng quà bán đắt hàng không thể hình dung nổi. Mặc dù khung cảnh ăn uống thì có khi rất nhếch nhác tệ hại: cống rãnh lộ thiên ngay dưới chân, bàn ghế nhem nhuốc, giấy rác bừa bãi, bếp than tổ ong độc hại, chủ quán nói năng đanh đá điêu ngoa… nhưng đắt hàng quá nên dường như các chủ hàng này không thấy cần phải nâng cấp hàng quà rong của mình thành một cửa hiệu sáng đẹp, phục vụ chuyên nghiệp như những tiêu chuẩn dịch vụ này nọ. Oái oăm ở chỗ, đã có nhiều quán hàng vỉa hè được đầu tư thành cửa hiệu, có địa chỉ và trang trí rình rang, nhưng lại không còn đông khách. Lời giải thích đã có từ thời Thạch Lam: Các hàng quà Hà Nội không giữ được phẩm chất bền bỉ. Cứ ngon và tử tế một thời gian là đi xuống. Khi “bánh cuốn bà Hoành” chỉ là một gánh nhỏ bán ở vỉa hè phố Tô Hiến Thành, ai ăn cũng thấy ngon vì bánh cuốn Thanh Trì này ăn thơm mát, nước chấm dịu ngọt, miếng chả giòn thanh ăn vừa miệng. Nhưng khi hiệu này có hẳn vài ba cửa hàng cũng ở khu phố ấy, có biển hiệu hoành tráng thì những đĩa bánh đã tráng sẵn mang ra nhanh đấy nhưng ăn vừa cứng vừa nguội, miếng chả cứ bợt bạt như viên bột, nhân viên bưng phục vụ bày trên bàn lấy lệ, đến mức nước mắm sánh cả ra bàn… thì hàng quà này chứng minh cho vấn đề trên mà ai cũng biết ở đất Hà Nội.

Làm sao để thoát khỏi tâm lý khi mình “nhược tiểu”, chỉ là những gánh hàng rong thì mình kiểm soát được chất lượng và hình ảnh thương hiệu, còn khi đã hoành tráng hơn thì sinh ra việc “ta nâng cấp lên nghĩa là ta đáng được đề cao hơn”? Có một tâm lý hãnh tiến phảng phất trong lối làm dịch vụ ẩm thực Hà Thành, mà hàng quà rong tưởng như ít bộc lộ, lại là nơi sẽ phơi bày khi có cơ hội. Rất nhiều chủ hàng ý thức sự ngon và thú vị của hàng mình, sinh ra một thói tật là bỗ bã theo lối tương xứng với địa điểm tạm bợ mà mình đang đặt cái nồi nước dùng lên đấy. Cái sự tự tin về chất lượng của mình cũng bị ảnh hưởng từ thời thực phẩm phân phối kênh mậu dịch, cộng thêm tư tưởng “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” rất Nho phong, nên mặc cảm tự ti bị đội lên thành sự đanh đá, đáo để. Nhiều người bán hàng Hà Nội nghĩ mình có cái quyền nói ác với khách, như một cách “nói cứng” khẳng định uy tín của hiệu mình!

Nhưng hàng quà rong Hà Nội khó mà đợi được một vị trí bề trên như thế. Nhiều năm gần đây, dưới áp lực của việc quản lý trật tự đô thị, hàng quà rong gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì hoạt động của mình. Khi các chợ truyền thống dần được thay thế, thì đại diện vệ tinh của chúng là các gánh quà rong cũng chỉ làm tiếp nhiệm vụ cung ứng trong giai đoạn giao thời. Tương lai của chúng sẽ như thế nào? Ở những thành phố hiện đại khác trên thế giới, những hàng quà rong vẫn có, nhưng vai trò và mức độ ảnh hưởng của chúng đến cư dân không thể bằng như ở Hà Nội hay Sài Gòn. Đến đây phải nhắc tới sự đóng góp của truyền thông, phim ảnh, từ chương và thi ca. Bên cạnh tập bút ký về Hà Nội nổi tiếng của Thạch Lam ta đã kể là những thiên truyện óng ả Cô hàng xén của ông, Gánh hàng hoa của Nhất Linh-Khái Hưng, rồi cả một series ca khúc về các “cô hàng” của các nhạc sĩ tiền chiến: Cô hàng nước, cô hàng cà phê, cô hàng hoa và đọng lại với những bức tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh qua dáng vẻ tần tảo của người phụ nữ quẩy gánh trên vai, mặc bộ quần áo tứ thân, đội nón thúng cắm cúi bước trên đường trong mưa phùn gió bấc… Dĩ nhiên, bán hàng quà rong còn có đàn ông như các chú Khách bán dầu cháo quẩy hay sực tắc (tức là phở), những món ăn nóng đòi hỏi người gánh bán phải có sức khỏe, nhưng ngay từ đầu hình ảnh nữ tính đầy chịu đựng đã được đồng nhất với gánh quà rong: Quanh năm buôn bán ở mom sông, nuôi đủ năm con với một chồng… 

Gầm cầu Long Biên - phố Nguyễn Thiện Thuật
Ở đây, Hà Nội trưng ra một đặc điểm riêng biệt của nó: sự hợp tác giữa những khía cạnh đến là mâu thuẫn nhau. Gánh hàng rong mang thực tế của sự rẻ mạt, lam lũ, bụi bặm và vạ vật lộ thiên, nhưng lại chưng cất lên cái tinh túy của món ngon, của sự tươm tất vun vén trong một bát bún, của sự lãng mạn đột xuất của tinh thần chuộng đẹp (ngon chính là một vẻ đẹp của món ăn!) và hơn thế, một cảm giác bất biến về sức sống mang tính dân dã của người Việt. Gánh hàng rong chính là một sự bất ngờ của Hà Nội, chúng len lỏi khắp nơi và có mặt ở ngay cạnh những nơi tưởng như xa hoa nhất. Cứ vào các buổi trưa quanh các khu cao ốc sang trọng gần Bờ Hồ, dễ thấy các nam thanh nữ tú nhân viên văn phòng dù mặc quần áo giá cả triệu bạc ngồi túm tụm quanh các hàng quà trên vỉa hè. Bên cạnh việc cạnh tranh vô địch về giá với các quán ăn cố định, thì sự phong phú và độ ngon miệng của các thức quà trưa luôn hấp dẫn những cái mồm sành ăn của giới chức văn phòng hạng trung.

Vỉa hè cạnh nhà thờ Hàm Long
Hàng quà rong đã giải quyết vấn đề kinh tế gia đình và việc làm cho rất nhiều người nghèo ở các vùng ven và ngay trong Hà Nội. Chưa nói đến những mỹ từ mà người ta hay tận dụng quá đà như “văn hóa ẩm thực” hay “hồn cốt món ngon Hà Thành”, thì những cái bếp di động này đã làm ấm dạ dày của hàng triệu cư dân thủ đô, trong khi các cơ sở hoành tráng hơn không đáp ứng được. Quà đương nhiên khác với cơm, nhưng hình ảnh người bán hàng quà có sự gần gũi như người mẹ, người chị, người vợ ở nhà, vì thế những món quà Hà Nội là một ánh xạ của nếp nhà ở ngoài đường phố. Gia đình người bán hàng sống sao, họ sẽ phục vụ thức quà cho khách vậy. Nhìn vào cách thức trình bày các đồ ăn chế biến, một đĩa thịt gà đã tinh chế xếp có ngọn, một bát hành chẻ trắng muốt, những đĩa bún gọn gàng như vừa rây xong là thấy được mức độ đảm đang của chủ hàng với tổ ấm mà khách không được trực tiếp chứng kiến. Một quán ăn dù thức ngon nhưng xung quanh nhiều giấy rác ắt đem lại tín hiệu về một bà nội trợ hơi bị cẩu thả và thiếu chu toàn.

Hàng cơm phố Hòe Nhai

Hàng quà rong Hà Nội tiếp sức cho những làng nghề ven đô, dường như là thứ khả dĩ chống chọi lại với cơn sốt đô thị hóa. Bún Phú Đô, bánh cuốn Tứ Kỳ, giò chả Ước Lễ, đậu phụ Hoàng Mai còn rôm rả ở các mẹt bún đậu mắm tôm, bánh cuốn chả quế, trong khi cốm Mễ Trì đã lép vế với thịt chó Mễ Trì! Mà giờ cũng không chắc được có phải sản vật các làng ấy làm ra không, hay những chủ hàng quà ranh ma cứ nói bừa cho đắt khách. Nhưng rõ ràng là, như sức sống hàng trăm năm của những hàng quà rong đã chứng tỏ, bây giờ lại đến lượt chúng là thứ kháng sinh mạnh cho công cuộc cầm cự của Hà Nội cũ, một Hà Nội quê quê tỉnh tỉnh, ngửi thấy cả mùi rạ rơm theo những gánh quà đi vào phố.

Nguyễn Trương Quý
(Phụ nữ TPHCM Xuân)

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ