Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2009

Mùa hè trong ta đã đỏ hoe

.
Không lẽ cứ mãi chủ đề cái nóng. Mùa hè không nóng thì có mà kiếm tiền đi Úc nghỉ mát. Nhưng cũng có mấy thứ phải đọc - không có con đường nào khác. Mỗi tội, đọc "Những huyền thoại" của Roland Barthes (Phùng Văn Tửu dịch, Cao Việt Dũng giới thiệu và tham gia biên tập cùng Thanh Thủy) thì cứ giả vờ mệt mệt là nhắm mắt ngủ sau khi đọc độ bốn năm bài. Vậy mà cũng đã kéo được 2/3 rồi. Đọc quyển này xin bỏ phiếu cho thái độ trắng trợn gần như là láo xược của tác giả với các "đại tự sự" - ôi cũng đến mệt với các thuật ngữ - đại để là "giải thiêng", nhưng giỏi cái là chuyện ba lăng nhăng nào ông này cũng viết ra triết. Khác với kiểu Trần Đăng Khoa hay Nguyễn Huy Thiệp, các bác nhà mình viết hay kiểu đâm phát hoặc hơi vô trách nhiệm với vấn đề phát hiện ra, dù rất thú vị. Chẳng hạn, chỉ nói tới chuyện cưới xin của các ngôi sao thời năm 1955 mà ông Roland này gợi ra được cả cách ứng xử phải phép của tiểu tư sản, hay chỉ từ cái bộ phim Jules César của Mankiewicz mà ông này lôi ra được hình ảnh có tính ký hiệu học: cái diềm tóc của tất cả các nhân vật như là đặc điểm nhận dạng dân La Mã, rồi mồ hôi được hóa trang bằng vaseline nói lên rằng các nhân vật đang suy nghĩ căng thẳng - một môtip suồng sã của Hollywood... Mà đúng thật, mình vẫn ấn tượng về những cái phim chủ đề La Mã của Mỹ ngày xưa, trông nam nhân nào cũng vạm vỡ, nữ nhân nào cũng đeo hai bâu vải bưng lấy vú, dân Latinh nhưng cánh mũi hẹp dí WASP, hai người đối thoại thể nào cũng có đuốc bập bùng trên các cột đá, thể nào cũng có cảnh dân La Mã tụ họp đông nghịt để chứng kiến một cuộc hành hình và hô "Sát!" như công an hô béc-giê nghiệp vụ tấn công... Đọc thú vị, nhưng đến già nửa quyển thì mình hơi bị bội thực.

Quyển thứ hai là Những di sản của ký ức, Pierre Nora biên soạn, gồm những tiểu luận về lịch sử và tập tục sinh hoạt của nước Pháp một thời đế quốc - mới đọc mục lục và một hai bài nên chưa dám luận. Nhưng có những chỗ đề cập đến di sản của tâm lý thực dân ở các thuộc địa, cái này chắc cần xem kỹ nếu ai nghiên cứu về ảnh hưởng của nền hành chính thuộc địa - mà VN nói chung có ảnh hưởng (đôi khi đang mong tái ảnh hưởng!)

Hai quyển đã đọc xong, vẫn mang ra đọc lại khi ngồi trong toilet (xin thưa là không hề bỡn cợt, vì trong đó là lúc tớ đọc được nhiều thứ phết, tớ có một cái giá để quần áo khô và khăn tắm nhưng bây giờ chất đống sách!) - Thấy PhậtHành trình cùng Hedorotus. Hai quyển này gồm những bài không dài, hợp với việc làm từng "set"... Nhưng tớ thích hai quyển đấy.

Mấy quyển sách kinh doanh, đọc cũng hay, nhưng chả nhớ được mấy. Hình như nhược điểm của những quyển sách đó là viết kiểu Mỹ, vấn đề được đặt ra và giải quyết trọn vẹn, trọn tình trọn nghĩa, đọc xong khoan khoái như mình vừa thắng vụ buôn chứng! Hay mình hời hợt, đọc cho biết tay là chính.

Bắt đầu đọc Bridget Jones' Diaries... Nhất thế giới của bác Nguyễn Lân Dũng mà mình xin em Loan em Thanh Tri Thức thì gợi lại loại tin tức đó đây báo TT&VH thời 15 năm trước. Dù bác ấy khá cẩn thận có đủ hình minh họa và nhiều mục thú vị, nhưng xin nhắc là có chỗ nhầm hay là lộn mục thì phải, những vận động viên nào tham dự điền kinh Olympic mùa hè nhiều huy chương vàng nhất có Carl Lewis, mà Paralympic cũng có Carl Lewis... Cũng thông cảm, vì loại sách này biên tập cực mệt, lắm khi tin tác giả mà chết đứng như Từ Hải. Bây giờ có Google, wikipedia, Britannica, Larousse đủ thể loại, bới tung lên khổ ngang với biên soạn.

Mùa hè đưa ta tới hồng hoang
Trần truồng yêu nhau trong trời đất
(Hạ hồng)

Nghe hai câu trên một dạo cười khoái chí tà dâm, nghe hai chị già Thu-Ly song ca Phạm Duy cũng lạ tai. Đang được rủ đi Nhật Lệ, nên chăng?
.

Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2009

Già hơn liệu có khôn hơn

.
Mấy hôm nay HN mát trời hơn. Nghĩa là hết lúc được tự cho phép mình lề mề đổ tại trời nóng rồi. Tư tưởng mình lúc này y như tình cảnh hầm Kim Liên - đã thông xe nhưng chưa khánh thành! Mọi thứ vẫn ngổn ngang bên trên mặt đất và mình vẫn tránh không đi qua ngã tư đó. Thì công việc bây giờ lại ngổn ngang, có khi lại còn mệt mỏi hơn trước.

Nhớ đến câu chuyện của chị T.A - một ngày không đẹp trời (nắng to) đưa bạn Sài Gòn đi ăn phở HN và uống cà phê phố cổ. Những gì thân thương, yêu dấu bấy lâu bỗng tự nhiên xấu xí và tồi tệ - món ăn không hề ngon, quán xá bẩn nhếch nhác, thái độ phục vụ khó chịu, và chở bạn trên xe máy thì bỗng thấy sao mà đường Hà Nội lắm ổ gà thế! Mình chỉ cười cười mà an ủi - đấy là middle-crisis of your relationship with HN, thường lắm. Mình không muốn lấy ví dụ người này lạc quan hay người kia vẫn yêu HN làm gì, mỗi người có một kiểu nhìn khác nhau. Nhưng vì yêu nên mới thất vọng thì cái thất vọng ấy não nề lắm. Giá cứ thành kiến sẵn thì có khi lại được việc, đỡ phiền não.

Vì sao chúng ta không thể yêu HN mà không phải phiền lòng? Sao bọn tre trẻ nó rồ dại lên, hớn hở mở lòng, thi nhau viết đủ thứ đắm đuối, hết chụp hoa loa kèn lại đến sen hồ Tây, mở blog của bọn nó ra có lúc nào là buồn rũ đâu. Bọn nó chả buồn cay đắng như U40 đâu chị ạ.

À thì ra nguyên nhân là cánh già chúng mình mất tiêu cái tình yêu thuần khiết kiểu kịch Hy Lạp rồi. Nhưng có đúng là bây giờ mình thực sự là trưởng thành trong tư duy? Hay là đã đủ chín chắn và trải đời hơn so với thời người khỏa thân nồng nỗng mà vẫn "trong sáng" ấy? Khi mà mỗi việc làm, mỗi suy nghĩ của mình chả khác gì phản ứng của một người cận thị. Buồn nhất là mình cứ như ngốc. Chị T.A có thấy là cái bực bội với HN như thế là dấu hiệu của trưởng thành hay là vẫn ngốc so với bao nhiêu con người thảnh thơi sống hay thực ra là thản nhiên sống?

Vào thư viện, xem lại báo Tuổi Trẻ và TTVH của 12 năm trước, thấy khi ấy đúng là tràn ngập một không khí hào hứng, lứa thanh niên hôm nay mười năm nữa sẽ đưa VN thành rồng. Buồn với nhận xét của T.A. từ đó đến giờ, hàng vạn thanh niên đã đi và đã về, nhưng "khôn" hơn nhiều. Thôi, em không dám lạm bàn vụ đó, nhưng ngày xưa kháng chiến 10, 15, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, HN, HP và một số thành phố có thể bị tàn phá, nhưng chúng ta nhất định... Thôi, thôi, đùa thế đủ rồi... Hehe....

Nghe nói mồng 10.10 thì khánh thành nút giao thông Kim Liên. Không biết lúc đó bản thân mình sẽ khánh thành được cái gì?
.

Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2009

Bỏ phiếu cho nhạc trẻ

.

.

Ngày 25.6.2009, tại viện Goethe Hà Nội đã diễn ra buổi tọa đàm “Jason Gibbs và câu chuyện âm nhạc Việt Nam” với sự tham gia của nhà nghiên cứu người Mỹ Jason Gibbs, tác giả cuốn sách Rock Hà Nội và Rumba Cửu Long, cùng dịch giả Nguyễn Trương Quý và rocker Tiến Đạt. Báo TTVH cuối tuần xin giới thiệu câu chuyện giữa dịch giả Nguyễn Trương Quý và tác giả Jason Gibbs trao đổi về một vấn đề cụ thể: vị trí của nhạc trẻ.


Nguyễn Trương Quý (NTQ): Anh Jason thân mến, lần này là chuyến về VN thứ mấy của anh? Cảm nhận của anh lần này ra sao?


Jason Gibbs (JG): Đây là lần thứ mười một. Lần này tôi tập trung nhiều hơn vào việc gặp gỡ và nói chuyện với các nhân vật liên quan đến âm nhạc. Ở Việt Nam, âm nhạc có ở mọi nơi. Tôi có thể vào một quán nước, hỏi người bán hàng “ông/bà đang nghe nhạc gì?” Trong sự “lộn xộn và thú vị” của đời sống Việt Nam, ta luôn tìm ra được những thứ bất ngờ. Đĩa nhạc hòa tấu có bài Hoa cỏ mùa xuân của Bảo Chấn mà tôi với bạn đang nghe ở quán này, cũng chứng tỏ là một điều tốt cho nhạc Việt Nam, thay vì lúc tôi đi qua phố Hai Bà Trưng, các cửa hàng điện tử toàn mở những đĩa nhạc techno của nước ngoài rất ầm ĩ.


* Tại sao lại không thể trao giải nhất?


NTQ: Ở Việt Nam có tình trạng, giải thưởng của Hội Nhạc sĩ thì quần chúng chẳng biết bài nào. Ngược lại, các bài hát mà tầng lớp bình dân nghe thường bị các nhạc sĩ của hội chê là kém. Khoảng cách giữa hai cực này theo anh có bình thường không?


JG: Tôi nghĩ thế là bình thường. Nhưng quan sát chuyện giải thưởng, tôi thấy không có lý gì lại không trao giải nhất, mà thay vì đó có đến 3 giải nhì và cả chục giải khuyến khích! Cho dù chất lượng mỗi năm khác nhau, nhưng cần có người có được vinh dự cao nhất. Bởi vì làm như thế kia có vẻ coi thường người sáng tác quá! Người được giải và sản phẩm được giải cũng nên tìm những cách thức để ra thị trường. Tôi đi tìm băng đĩa ở cửa hàng thì không hề thấy đĩa có các tác phẩm được giải của các hội chuyên môn.


NTQ: Trước đây, các nhà lý luận và nhạc sĩ sáng tác của Hội NSVN phê phán nặng nề nhạc não tình và gần đây, họ có những ý kiến không đánh giá cao nhạc Phạm Duy. Dẫu vậy, đấy lại là những sản phẩm có thị trường. Liệu có một mẫu mực nào trong nghiên cứu và sáng tác không?


JG: Các hệ thống nhạc viện Xô-viết, nơi các nhạc sĩ lớp trước VN được đào tạo và chịu ảnh hưởng, vốn được đào tạo bài bản về thẩm mỹ âm nhạc cổ điển châu Âu, nên họ mang cái đánh giá chuẩn mực đó để áp dụng vào thực tế sáng tác âm nhạc VN. Nhưng người nghe VN lại có kiểu thẩm mỹ khác để vừa lỗ tai của họ, nhất là ở một nước không có nhiều người được học về âm nhạc, nên tầng lớp thính giả này khó mà đồng hành được với các nhạc sĩ đó. Các nhạc sĩ nhà nước này đặt ra một tiêu chuẩn quá xa xôi, trong khi có rất nhiều tiêu chuẩn khác nữa. Ví dụ như tôi đánh giá cao tiêu chuẩn của nhạc cổ điển cũng như của nhạc quan họ, nhưng không có gì mâu thuẫn khi tôi theo một tiêu chuẩn khác.


Vừa rồi tôi đi Hải Phòng. Phải nói là một thành phố tuyệt vời! Đời sống âm nhạc của thành phố này rất sôi nổi. Mặc dù thành phố 1 triệu dân này không có dàn nhạc giao hưởng, nhưng tôi đã biết đến 40 người chơi viôlông ở đây! Nếu đánh giá theo tiêu chí châu Âu cổ điển thì âm nhạc VN luôn luôn thiếu, nhưng theo tôi không nên đánh giá theo hướng ấy.


* Nhạc trẻ đang có thời điểm rất thú vị


NTQ: Hiện tượng ca sĩ Việt Nam quay về với dòng nhạc xưa gặp hai luồng đánh giá. Một thì lý giải rằng đó là sự lười biếng và thụt lùi trong khai thác bài hát mới. Ý kiến kia lại nói, việc ca sĩ “hồi cố” là tất yếu khi ca khúc đương đại không đủ đất cho họ. Anh nghĩ sao?


JG: Ở Mỹ có hiện tượng oldies music, hát những bài nhạc xưa. Đó chỉ là một phương tiện để mở rộng việc biểu diễn. Ở Mỹ khi nhạc rap ra đời, nhiều người kêu tại sao lại nghe thứ nhạc dở này, mà không tiếp tục những bài hát theo phong cách tiêu chuẩn.


Ví như trường hợp Đàm Vĩnh Hưng, sau khi đã ra 9-10 đĩa nhạc, thì việc anh ta ra đĩa nhạc “cũ” như chúng ta gọi là nhạc vàng trước đây là bình thường. Các ca sĩ như Hưng hay Phương Thanh, họ cũng đã lớn tuổi, họ sẽ chọn những hình thức nhạc phù hợp hơn thay vì loại nhạc trẻ quen thuộc. Cũng còn có lý do là có thể những ca sĩ mới đã chiếm chỗ của họ.


NTQ: Hơn 15 năm theo dõi âm nhạc Việt Nam, anh có thấy một chu kỳ nào đã vừa hết hay bắt đầu không? Nhưng thế hệ mới chưa có nhà phê bình của mình, mặc dù đã đông người sáng tác. Trước đây văn nghệ được sự quảng bá rộng khắp của hệ thống truyền thông nhà nước, còn hiện tại, hệ thống truyền thông tự do dường như mới chỉ là những “host” (nơi đăng cai, tải phát) chứ không đặt ra một ý niệm gì về ý tưởng nghệ thuật, quan niệm sáng tạo hay tuyên ngôn. Không có những thứ đó, có lẽ nhạc mới (tạm gọi là nhạc tuổi teen) cũng chỉ rơi vào tình trạng yểu mệnh? Anh có chia sẻ ý kiến đó của tôi không?


JG: Tôi thấy giới trẻ đang tìm cảm hứng từ nhiều nơi, nhạc Mỹ, nhạc Hàn cho đến Hồng Kông. Một yếu tố lớn là thời trang bởi nhạc trẻ và thời trang song hành với nhau. VN là một nước có dân số trẻ, sự “lộn xộn” cũng là sự đa dạng của giới trẻ đang tìm mình bằng niềm đam mê của chính mình. Tôi nghĩ việc các cơ quan cứ định hướng nhạc trẻ phải thế này thế khác là việc không có kết quả.


Tôi không rõ nhạc trẻ VN đã có những nhà phê bình của họ chưa. Tôi có tới gặp các bạn ở Kênh 14, thường là họ cũng theo các mốt thịnh hành, chủ yếu giới thiệu các trào lưu âm nhạc. So sánh với tạp chí Rolling Stones chẳng hạn, xuất phát điểm ban đầu cũng là tạp chí phê bình âm nhạc nghiệp dư, sau này mới thành một đại diện cho công nghệ phê bình âm nhạc mang tính thương mại. Nhưng họ tạo ra được không gian đối thoại về âm nhạc. Số lượng người nghe những loại nhạc như rap hay rock ở VN không đủ để hình thành một tạp chí chăng? Sau khi bạn cho xem trang web Vnrock.com, tôi thấy khá chuyên nghiệp, có lẽ là mang tính chất một sân chơi. Nhưng chắc một năm có quá ít album rock để có thể có những bài phê bình.


Tôi quan tâm đến nhạc teen trong bối cảnh hiện tại, vì sau này đó là những gì phản ánh đời sống của một thời đã qua. Ngay như ta hay nói ca khúc vượt thời gian, nhưng phải nhớ rằng nhạc tiền chiến cũng chỉ có 40 ca khúc được nhớ nhưng tận 4000 ca khúc bị quên, nhưng không có nghĩa là chúng kém chất lượng! Hiện nay có 100.000 bài ca được sáng tác, nhiều năm sau có 100 bài vẫn được nhắc đến đã là thành công.


NTQ: Ca sĩ Thanh Lam gần đây đã nói thẳng với báo chí là “Tôi hết nhuệ khí rồi”. Không còn động lực sáng tạo, lặng lẽ chợ chiều, dường như đấy là cảnh tượng chung của những người làm nên bộ mặt sôi động của thị trường âm nhạc VN 10 năm trước. Tôi phải nhắc đến họ vì trong ký ức giới trí thức trẻ VN vẫn coi thời kỳ đó là đỉnh cao của nhạc trẻ đổi mới. Trong khi đó, báo chí khá coi thường nhạc trẻ hiện tại. Khách quan mà nói, anh thấy nhạc trẻ của lứa sinh sau năm 1980 có đáng bị cư xử như một hậu sinh què quặt không?


JG: Tôi nghĩ là sự thực không đơn giản thế. Ví dụ những bài hát của Phương Thanh hồi Làn Sóng Xanh vẫn bị phê là não tình. Luôn luôn có những người phê phán nhạc của giới trẻ. Tôi nhận thấy hiện nay đã có một quá trình đơn giản hóa, chủ yếu về ca từ, so với thời Làn Sóng Xanh. Đó là nhu cầu của giới trẻ, họ lớn lên trong xã hội này, được tiếp thu những giá trị đạo đức, giải trí, truyền thông thế nào thì họ lựa chọn nhạc thế ấy, và nhạc trẻ như đang có là tất yếu. Phê phán nhạc hiện giờ là coi thường giới trẻ.


Trái với cảm nhận bi quan mà bạn nói, tôi nghĩ lúc này là thời gian rất thú vị. Giới trẻ đang tìm tòi để tạo ra phong cách riêng cho họ. Đó là việc đáng mừng. Tuần trước khi tôi ở TPHCM, tôi có xem một kênh truyền hình của VN có tên Yeah!, chắc hẳn phải có cả một ekip tham gia để tạo ra không khí của lớp trẻ rất sôi động và chuyên nghiệp. Ví dụ, chương trình có bốn người cùng ngồi bàn luận về nhạc trẻ bây giờ. Rõ ràng giới trẻ đang tạo ra bối cảnh âm nhạc cho họ, và đó là điều nên ủng hộ. Nhạc thị trường không được người lớn tuổi thích, nhưng tuổi trẻ có nhu cầu và lý lẽ logic của họ.


* Muốn có đỉnh cao, hãy đi mua đĩa


NTQ: Rõ ràng, không gian thông tin hiện nay khác xa 10 năm trước. Đài FM phát Xone với các bảng xếp hạng toàn cầu là chủ yếu, thay vì Làn Sóng Xanh chẳng còn mấy tác dụng. Có lẽ xưa nay VN thường hay chỉ đề cao một vài loại nhạc, nên khi đó mọi thành tựu đều đậm đặc trong một phạm vi hẹp, nên gây ấn tượng là nhiều tác phẩm để đời. Hiện giờ thì các sáng tác bị tãi ra trong một cái bể mênh mông và người ta nghĩ, hình như không có đỉnh cao. Ý kiến của anh thế nào?


Theo tôi, một trở ngại lớn là đĩa lậu. Nếu một tác phẩm tốt ra đời mà người sáng tác bị thiệt hại vì không kiểm soát được vấn đề tác quyền, thì nghĩa là xã hội đang bỏ phiếu vô ích cho âm nhạc VN bằng cách mua đĩa lậu. Muốn âm nhạc phát triển thì xã hội cần mua đĩa xịn, để cổ vũ cho nhạc sĩ, ca sĩ và âm nhạc VN. Nếu thích loại nhạc nào thì họ hãy bỏ phiếu bằng cách mua đĩa đi, cũng như thích thì hãy tự sản xuất loại nhạc của họ. Phê bình thì chưa đủ, mà phải sản xuất và tiêu thụ nữa.


NTQ: Anh có theo dõi thành quả của những nhạc sĩ trẻ từng đi du học không?


JG: Trong số những nhạc sĩ đó thì tôi thấy Đức Trí là một người giỏi. Anh ấy có cả 3 thứ: khả năng hòa âm, phòng thu và kỹ năng sản xuất, bên cạnh đó còn là người sáng tác. Thật sự là anh có được những bài bản chuyên nghiệp cho một thị trường âm nhạc. Nguyễn Xinh Xô thì tôi không thích các sản phẩm của anh ấy lắm, nhưng là do quan niệm riêng thôi. Còn Kim Ngọc thì tôi có đọc báo và biết cô có những sáng tác thể nghiệm về giao hưởng, nhạc sắp đặt… nhưng làm thế nào để tôi nghe được bây giờ?


NTQ: Tôi cảm nhận ở VN, cho mãi đến gần đây, tân nhạc mới thực sự là “hát để vui”, kể cả nhạc não tình hay thất tình. Nhạc tiền chiến hay nhạc miền Nam trước đây, theo tôi vẫn là thứ nhạc để ký thác tâm sự, u sầu và “tải đạo”. Phải chăng vì thế mà phản ứng của những người lớp trước là thấy nhạc trẻ dễ dãi, phù phiếm? Nhưng thực tế là giới trẻ nghêu ngao hát nhạc trẻ mọi lúc, mọi nơi.


JG: Có lẽ do quan niệm Nho giáo ảnh hưởng lâu đời nên thế hệ trước khắt khe với sáng tác của giới trẻ. Những bài “nhạc gây sốc” như “Mặc kệ người ta nói” của ca sĩ Trí Hải, là một phát ngôn mang tính cá nhân trong một xã hội mang quan niệm truyền thống là một người trẻ phải lắng nghe các bậc trên, hàng xóm và phụ thuộc xung quanh.


NTQ: Anh nghĩ nhạc trẻ VN thiếu điều gì không? Có người đòi hỏi “nhạc trẻ phải có học”, anh thấy sao?


JG: Quan trọng là nhạc trẻ đã phản ánh đam mê và khát vọng âm nhạc của giới trẻ, chứ không nên nói là thiếu cái gì. Đây là nhạc giải trí chứ không phải là nhạc giáo dục để đòi hỏi “nhạc trẻ phải có học”. Tôi rất thích nhạc có học thức, có học thức sẽ thú vị hơn về kỹ thuật âm thanh, kỹ thuật, ca từ cho đến biểu diễn, nhưng kết quả của nhạc trẻ là một quá trình tự thân chứ không thể áp đặt được.


NTQ: Lâu nay, những nhà nghiên cứu nước ngoài vẫn quen viết về VN như một đối tượng mang tính ý thức hệ. Tôi nghĩ anh là người đã gặp được độc giả VN ở chỗ anh đã nghiên cứu về VN như một sinh thể văn hóa. Tôi nghĩ còn rất nhiều điều mà người đọc trông đợi ở những nghiên cứu tiếp theo của anh về âm nhạc đương đại VN. Tâm trạng chung của giới nghiên cứu âm nhạc trong nước là giải tỏa cơn hạn hán của chính họ. Sự tương tác của anh với giới này ra sao?


JG: Tôi đang nghiên cứu về những mảng nhạc tôi còn chưa tìm hiểu kỹ trước đây như nhạc kháng chiến chống Pháp, nhạc của thanh niên Hà Nội - Hải Phòng thời chống Mỹ, và cả nhạc trẻ như thời Làn Sóng Xanh. Đương nhiên là tôi rất vui khi công việc của mình được đón nhận. Một lý do để tôi tiếp tục nghiên cứu là tôi nhận được rất nhiều cơ hội giao lưu với những người Việt Nam thú vị. Chẳng hạn như Trần Tiến, người rất “hãnh diện” và đi đâu cũng “khoe” vì đã trở thành nhân vật riêng trong cuốn sách của tôi (cười). Luôn luôn có nhiều bất ngờ xảy ra trong quá trình tìm hiểu của tôi về Việt Nam!


NTQ: Có người không đồng tình với anh ở một số điểm, anh sẵn sàng tranh luận chứ?


JG: Có thể là bàn bạc, chứ không phải là tranh luận (cười). Hi vọng rằng những người không đồng ý thì họ có chứng cứ để trao đổi. Nếu tôi có thiếu sót thì sẵn sàng mong người đó nói lên. Im lặng lúc này không phải là vàng!


NTQ: Xin cảm ơn anh!


TTVH cuối tuần, 26.6.2009
.

Thứ Tư, 24 tháng 6, 2009

Gossip abt Nicknames

.
Trước có một entry nhắc đến chuyện các bút danh hay nick của những người mình biết. Nhưng chắc không ai ngờ cái nick của ta là A mà sẽ có người liên tưởng đến A'.

Có lần nói chuyện với chị Hà Phạm, không hiểu sao nhắc đến bút danh Yên Ba. Tức là anh ấy tên thật là Nguyễn Văn Yên thì phải, thêm cái chữ vào thành gợi lên cả một không gian cổ thi. Vì anh Yên Ba viết báo có tiếng, lại có chơi đồ cổ nên tự nhiên, cái tên Yên Ba thật sương khói - giang thượng sử nhân sầu... Nhưng chị Hà cười hăng hắc, các cậu cứ lãng mạn cuối mùa, tớ cứ chỉ liên tưởng đến thơ Bác Hồ thôi: Yên ba thâm xứ đàm quân sự! Ờ, mà anh Yên Ba đàm quân sự quá đi chứ, anh ấy làm ở báo Quân đội nhân dân mà.

Thế thì mình cũng phải ngàn lần xin lỗi một chị phóng viên đáng kính khác, nhưng vì tên chị ấy trùng tên một nhạc sĩ ngày xưa: Lâm Tuyền. Tên thật luôn, chứ không hề make-up tí nào. Vấn đề là quả đáng tội, cái đầu mình chỉ vang lên cái câu: Kỷ độ lâm tuyền đái nguyệt ma! Hehe, câu thơ của Đặng Dung dĩ nhiên rất hào sảng, nhưng mà... đái nguyệt ma nghe bằng tiếng mẹ đẻ mình thật đầy hình tượng sai lạc! Nhưng mình không tìm ra câu thơ nào có cụm từ Lâm tuyền yêu lao động cả.

Những cái tên khác thì chẳng hạn của Dạ Thảo Phương, tên nàng ấy là Thúy y dài, nhưng cái tên thơ thật hồi đầu mình cứ tưởng theo chân Cung Trầm Tưởng, Trần Dạ Từ, Thanh Tâm Tuyền hay Đynh Trầm Ca. Tên sao người vậy :-)

Lưu danh bạ điện thoại thì mình vẫn chưa biết nên thống nhất, lấy tên riêng hay lấy họ ra trước. Những ai tên Anh thì thật là lẫn với các loại anh trai, anh rể nhà mình. Ví dụ Anh Phạm Hải - là chị Phạm Hải Anh đương nhiên không phải là anh Phạm Hải phóng viên ảnh VNN chẳng hạn.

Chiều nay có một bạn ở báo Sinh viên VN gọi cho mình, em chào anh Qúy ạ, em là Qúy ở báo SVVN đây ạ. Haha, thật là đụng hàng. Đọc email, bảo tên mình Qúy y dài nhé. Vâng, tên em cũng là Qúy nên em biết ạ. :-) Ơ, nhưng đừng đùa, có lần có báo đăng bài mình, họ đổi hết y dài ra i ngắn, thế là Qúi, giống như cái cô chủ nhiệm cấp 2 cứ viết cái tên mình cụt lủn, hà tiện gì cái móc cho thằng cu nó dài ra tí.

Viết đến đây thế nào cũng có đứa chửi, bàn tên ai rồi lại quay về khoe khéo cái tên mình. Biết làm sao, có mỗi cái tên để buôn mà. Nhưng buồn cười nhất là các loại nick và email. Có lần cháu mình chat, thấy bạn có cái nick yeuchanthanh. Mình cười sằng sặc, thế này thì phải lấy nick chetthuychung cho đôi lứa xứng đôi! Nếu ai không luận ra thì đấy là lẹo từ thơ "Em sống trung thành, chết thủy chung" (Núi Đôi, Vũ Cao), cũng như là "till death do us part" của dân đi đạo.

Có một dạo mình lăm le đi viết kịch bản phim, bị chê tới lui vì sao tên nhân vật của mày cứ Hòa với Bình, chán bỏ mẹ (xin lỗi các bạn tên Hòa Bình, nhưng thật vậy). Bạn Phan Việt nếu có đọc cái entry này, cũng nên dừng ngay tên nhân vật Duy và M. nhá, một quyển tiếu thuyết và vài truyện ngắn là bội thực rồi. :-) Nhưng có thể bạn ấy cãi lại, ý đồ của người ta là ở cả đấy, sao lại phải bỏ.

Hôm qua ngồi làm cái slide cho buổi nói chuyện, xem lại các tấm ảnh diễn viên thời xưa, toàn đệm Kim với Ái. Kim Thoa, Kim Xuân, Kim Chung, Kim Phụng, Kim Phúc, Kim Tước, Kim Ngọc. Có khi các bà ấy thầy u đẻ ra chỉ là Thị Thoan, Thị Cúc, sau lên nghệ danh Kim Cương sáng choang. Ái Liên thì là Helene Lê Thị Liên. May mà cô Như Quỳnh con cụ Kim Xuân không lấy nghệ danh Kim Quỳnh. Sao chẳng ai lấy là Kim Bình Mai nhỉ! Có Kim Tiêu hát nhạc Văn Cao ngày xưa nhưng là đàn ông!

Sau đến hồi Phương với Thành. Phương mà 2 chữ còn hiện đại: Phương Thanh, Phương Thùy, chứ 3 chữ như kiểu Dạ Thảo Phương (đã nhắc tới) thì mốt trên mốt: Phương Hồng Hạnh, Phương Hồng Thủy, Phương Hồng Quế, Phương Hồng Đăng (bịa thôi, hehe)... Thành Được, Thành Lộc, Thành Long, Thành Luân... Còn vụ các Thích và Diệu nữa. Có ni cô Trí Hải tức dịch giả Phùng Khánh, nhưng cũng có ca sĩ Trí Hải hát bài Mặc kệ người ta nói, bị đi tù vì lái xe đâm chết người.

Thật là hấp dẫn thế giới nghệ danh, bút danh, pháp danh. Chẳng hạn bây giờ ông Ngọc Đại sắp mất tên, mà toàn được gọi là Đại Linh Lâm. Các ca sĩ có nghệ danh bắt đầu bằng Quang như Quang Dũng, Quang Linh, Quang Minh, Quang Hà, chắc sẽ không có Quang A (vì có bác NQA rồi), Quang Trường (dính tiêu cực bán độ SLNA, xui lắm), Quang Trung (thật người ta lại tưởng sắp diễn tuồng Bắc tiến cưới Ngọc Hân). Dù sao thì mới thấy, cái tên đệm và chữ đầu của nghệ danh nó quan trọng làm sao. Nghe Dương Ngọc Hoàn thì có bậy bạ không, khi đấy là tên của Dương Qúy Phi, và mới đây hóa ra có một quyển truyện in ở NXB Phụ Nữ tác giả tên đấy!!!
.

Thứ Hai, 22 tháng 6, 2009

"Chúng ta cùng ca hát, cuộc sống sẽ vui hơn"

.

.
Thứ 5, ngày 25.6, từ 15-17h, tại Viện Goethe Hà Nội, 56 Nguyễn Thái Học, NXB Tri Thức tổ chức buổi nói chuyện mang tên "Jason Gibbs và câu chuyện âm nhạc Việt Nam", diễn giả là anh Jason Gibbs, tác giả quyển "Rock Hà Nội và Rumba Cửu Long", tôi - Nguyễn Trương Quý, người dịch, và anh Lê Tiến Đạt, thành viên ban nhạc rock Gạt Tàn Đầy.

Chắc chiều nay hoặc ngày mai sẽ có thông cáo của Viện Goethe gửi cho các bạn quan tâm. Buổi nói chuyện sẽ do bạn Phương Loan làm MC, sẽ là cuộc nói chuyện giữa các diễn giả với nhau nhằm làm sao cho các khách mời và người nghe cùng hiểu về một hành trình nghiên cứu về âm nhạc của VN, cũng như các vấn đề họ muốn đặt ra với các diễn giả. Bởi vì các diễn giả cũng đang... học từ họ mà thôi.

Các diễn giả rất muốn làm sao cho buổi nói chuyện thật thoải mái và sôi nổi, thay vì đọc những bài thảo luận dài ngoẵng và buồn ngủ.

Nếu ai cần thông cáo, xin liên hệ với NXB Tri Thức hoặc vào face book của bạn Nguyễn Phương Loan http://www.facebook.com/note.php?note_id=93998456956&ref=mf .

Các bạn quan tâm thì ủng hộ nhé!
.
THÔNG CÁO CHƯƠNG TRÌNH
JASON GIBBS VÀ CÂU CHUYỆN ÂM NHẠC VIỆT NAM
Gặp gỡ tác giả Rock Hà Nội và Rumba Cửu Long

Cuốn sách của Jason Gibbs, như tiêu đề phụ của nó – “Câu chuyện âm nhạc Việt Nam” - là một tự sự (narrative) về lịch sử, văn hoá Việt Nam mà tác giả đã lựa chọn một góc nhìn lâu nay ít được chú ý – âm nhạc - để quan sát. Không bám vào những biến cố, những sự kiện lớn trong suốt thời kỳ hiện đại, nhưng chính từ góc nhìn hẹp này, Jason Gibbs đã khám phá ra những yếu tố bền vững sau nhiều thăng trầm, những tiếp nối ngầm ẩn dưới bề mặt gián đoạn của văn hoá Việt Nam được phản ánh qua đời sống của những ca khúc, những thể loại nhạc, những gương mặt nhạc sĩ.

Cuốn sách không chỉ thể hiện lòng say mê, sự am hiểu của một nhà nghiên cứu nước ngoài về văn hoá, ngôn ngữ và âm nhạc Việt Nam mà còn cho thấy sự lao động công phu, tỉ mỉ để tiếp cận đối tượng của tác giả thể hiện ở nỗ lực sưu tầm, phục dựng một khối lượng tư liệu phong phú cũng như ý thức khắc phục định kiến khi mô tả, tái hiện những hiện tượng âm nhạc trong lịch sử. Chính điều này là một yếu tố quan trọng tạo nên tính thuyết phục của những câu chuyện âm nhạc mà tác giả kể. Cuốn sách cũng có thể xem như một tài liệu tham khảo trong lĩnh vực nghiên cứu văn hoá đại chúng (popular culture) - một lĩnh vực nghiên cứu có ý nghĩa rất lớn trong việc khám phá trạng thái tâm lý, nhận thức của xã hội nhưng cho đến nay, vẫn chưa được quan tâm nhiều ở Việt Nam.

Nhân dịp Jason Gibbs trở lại Hà Nội, Nhà xuất bản Tri thức tổ chức buổi nói chuyện xung quanh nội dung cuốn sách và công việc nghiên cứu âm nhạc Việt Nam của một nhà nghiên cứu Mỹ, mối quan tâm của anh đối với âm nhạc Việt Nam. Những câu chuyện âm nhạc sẽ được tái hiện qua lời kể của Jason Gibbs cùng các khách mời như dịch giả, tác giả Nguyễn Trương Quý, rocker Tiến Đạt... trong một không gian đầy hình ảnh và âm thanh.

Đây là dịp để những người quan tâm tới âm nhạc Việt Nam, quan tâm tới văn hoá Việt Nam và công tác nghiên cứu văn hoá, sinh viên, giới truyền thông và công chúng nói chung... có thể hiểu hơn về góc nhìn của một nhà nghiên cứu bên ngoài Việt Nam.

Buổi toạ đàm được tổ chức tại Viện Goethe Hà Nội, 56 Nguyễn Thái Học, Hà Nội, hồi 15h – 17h, thứ Năm ngày 25 tháng 6 năm 2009.

Xin trân trọng cảm ơn Viện Goethe Hà Nội đã hỗ trợ chúng tôi tổ chức chương trình này!
.
Jason Michael Gibbs sinh năm 1960, Ph.D of Music, hiện làm công tác thư viện ở Thư viện Công cộng San Francisco, California, Hoa Kỳ, chuyên về âm nhạc. Ông từng xuất bản những bài nghiên cứu về nhạc Việt trong các tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, Xưa và Nay, Vietnam Cultural Window, Văn, Asian Music, Experimental Musical Instruments và Journal of Vietnamese Studies. Ông cũng soạn bài về Việt Nam và người Việt hải ngoại cho quyển bách khoa Encyclopedia of Popular Musics of the World (Continuum, 2005).

Nguyễn Trương Quý sinh năm 1977, biên tập viên Nhà xuất bản Trẻ, biên tập, viết văn, viết báo tại Hà Nội. Anh là tác giả của Tự nhiên như người Hà Nội (NXB Trẻ, 2004), Ăn phở rất khó thấy ngon (NXB Trẻ, 2008).

Lê Tiến Đạt sinh năm 1976, hiện làm báo, chơi nhạc, và sáng tác ca khúc tại Hà Nội. Anh là thành viên ban nhạc rock Gạt Tàn Đầy với ca khúc nổi tiếng Đám cưới chuột.
.

Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2009

Giải nóng lâm thời

.


Hà Nội mấy năm gần đây bỗng nổi lên gây chú ý trong các bản tin thời tiết như một nơi có khí hậu khắc nghiệt, thay vì những mùa thu bàng bạc ám ảnh dài tập trong thi ca. Năm kia thì rét kỷ lục, năm ngoái mưa lụt cả tháng trời, năm nay vừa qua đợt nóng gần 40 độ C thì dự báo đã cho biết còn 7 đợt nóng dài hơi nữa. Hà Nội là cái rốn của đồng bằng Bắc Bộ, nơi điển hình về khí hậu nhiệt đới gió mùa, có lạnh thấu xương mà cũng nóng cháy mặt đường. Lạnh thì dù sao vẫn khiến người Hà Nội tự hào là thứ đặc sản mà dân Sài Gòn vẫn phải lụy, chứ nóng thì làm cho người Hà Nội thấy… thường. Trái đất nóng lên, Hà Nội nóng lên cũng là hệ quả tất yếu, nhưng cảm giác người ta càng mất kiên nhẫn hơn xưa, hễ nóng hơn bình thường vào đầu mùa là đã ca cẩm “sao năm nay nóng thế nhỉ?” Mặc dù nếu chịu khó ngó lại quá khứ, nhiệt độ nóng kỷ lục từng được đo là 42,8 độ C, tháng 5 năm 1926, lúc nhà máy còn lèo tèo và xe máy chưa xả khói mù mịt như bây giờ.

.

Nóng lạnh là cảm giác của con người. Trong không khí chật chội của vài chục mét vuông sinh tồn, của tắc đường và ngổn ngang xây dựng đào bới, của tăng giá xăng, của hoa quả dư lượng chất bảo quản gây ung thư… cái nóng như điên dại hơn, ngột ngạt hơn. Biểu nhiệt độ khí hậu dường như song hành với nhiệt độ thời sự xã hội. Trong cái nóng này, con người như dễ cáu kỉnh, dễ làm hỏng và dễ va chạm với nhau hơn. Nhưng Hà Nội đâu đã phải nơi nóng nhất quả đất, và nhiệt độ của những mùa hè nóng nực thế này chắc còn dễ chịu hơn so với thời không có máy lạnh hay tủ đá góp cho cốc nước mát lịm.

.

Các nhà sản xuất bắt trúng nhu cầu tâm lý được giải nhiệt của nhân dân, tung ra ngay những sản phẩm có quảng cáo không thể trực diện hơn như là “nóng trong người - uống trà thảo dược”, “điều hòa mát quá, chỗ nào cũng mát”, thậm chí còn rộn ràng phổ nhạc nữa. Mùa nào thức nấy, câu thành ngữ duyên dáng cũng có thể ứng với trạng thái quảng cáo của TV. Không chỉ nước giải khát hay máy lạnh chen nhau quảng cáo, mà dầu gội đầu cũng cho người mẫu bôi dầu gội như rắc tuyết lên tóc, hoặc dũng cảm hơn, cho Hồ Ngọc Hà bôi kem phơi nắng cả ngày không sợ đen da.

.

Dùng sản phẩm như thế thì cả đến thế kỷ nay vẫn không có công thức nào khác biệt, nhưng sản phẩm cứ đến hẹn lại lên như chuyện mùa hè vẫn mặc định là nóng ngút người. Người Hà Nội chẳng còn hơi đâu nhớ cái rét thấu xương mới cách đây chưa đầy nửa năm, mà bây giờ là cái nóng xen lẫn nỗi lo mưa ngập, những cái lo không thể nào cấp tốc hơn. Cuộc sống của Hà Nội diễn ra rầm rập hàng ngày trên đường phố, chỉ cần ra phố là thấy cái nóng như như nhân lên cái sự rầm rập, cái nhốn nháo của xe cộ và cái lo âu vốn dĩ đã bao trùm cuộc mưu sinh.

.

Đối diện với cái nóng hầm hập, con người ta tìm đủ mọi cách hạ hỏa, nhất là trong tình hình kinh tế khó khăn. Người ta chấp nhận làm việc cầm chừng hơn, viện cớ nóng quá để xí xóa cho cái sự giảm sút của năng suất công việc. Tất cả phập phồng thở chờ cơn nóng qua, như thể chờ kẻng báo yên máy bay thôi oanh tạc. Trong khi trời vẫn còn nóng, ai tranh thủ được việc gì thì cứ nhanh nhẹn mà làm. Dường như tâm lý ấy cũng chẳng riêng dịp này, khi cả thành phố ngập lụt hay là tê liệt vì sự cố gì đó, tất cả bấn lên như chạy loạn. Lâu lâu được vài dịp tập dượt như thế, người Hà Nội chợt nhạy cảm hơn bao giờ hết về sự dao động của thời tiết, cả phương diện khí hậu lẫn kinh tế-xã hội. Người Hà Nội bỗng thấy mình không theo kịp tiến độ thay đổi của thành phố mình đang sống, cái nóng năm này vẫn như cái nóng năm trước mà ngỡ là quá sức chịu đựng. Cái ngẩn ngơ như thể lạc thời ấy thực ra là cái sự “khớp” của ta trước hiện thực: hình như Hà Nội đang thay đổi không theo hình dung ta đã nghĩ. Công trình nào ra đời cũng khiến ít nhiều xôn xao, thậm chí có cái còn bị phản đối, lẽ nào vì chúng ta thiếu tầm nhìn hay là cái khuôn khổ hình ảnh Hà Nội trong ta đã không còn đúng? Hay thực ra là người thực hiện chúng đã không đồng hành được với số đông chúng ta? Cái nóng khiến ta thấy những mâu thuẫn, những bất hợp lý rõ lên mồn một.


***


Trong cái nóng gần 40 độ C, những hình ảnh vui vẻ hóm hỉnh nhất của dân Hà Nội vẫn là những phút giải quyết nhu cầu hạ nhiệt khẩn cấp thông thường như các bà nội trợ tận dụng nước rửa rau hay nước giặt té ra đường, người đi qua hồ Tây nhảy ùm xuống cho mát, cho đến bất thường như nhà nghỉ máy lạnh không còn chỗ trống ban đêm. Có kế hoạch hơn, các gia đình mua vé đi du lịch, thoát khỏi Hà Nội trong một vài tuần. Thành phố trở thành nơi khó sống chỉ vì nhiệt độ chăng? Vậy người dân của các thành phố nơi sa mạc hay băng giá ở các nước thì sao?

.

Người ta vẫn yêu nơi khó sống của mình, và chúng ta yêu Hà Nội vì nhiều lý do. Trong đó có tội lớn của thi ca một thuở là giấu nhẹm đi cái nóng oi ả, chỉ toàn “chiều thu Hồ Tây, mặt nước vàng lay”. Tôi đã phải bật cười với sự ngỡ ngàng của bao người lần đầu đến Hà Nội đúng dịp hè, bởi họ đâu có mong đợi một cái nóng hầm hập, ngột ngạt, oi bức, đến tận đêm vẫn nóng. Với họ, có giải thích bằng đủ lý do, nào là do độ ẩm cao, lại ảnh hưởng gió Lào nên hiện tượng tản nhiệt vào ban đêm khiến không khí như bị hấp hơi…, thì cái sự nóng của Hà Nội chẳng thể thông cảm được. Hà Nội với họ luôn là ngọt ngào hoa sữa, hương sen chen hương cốm, gió sông Hồng thổi dạt dào. Xin thưa là chúng tôi cũng lớn lên với khuôn vàng thước ngọc đó của Hà Nội thôi. Khác cái là có thấm thía cái nóng hun người, người Hà Nội mới thấy cái hơi may sang thu hay cơn mưa phùn ngày Tết nó sang cả thế nào. Có người nhận xét chả hiểu châm chọc hay khen: như thế là dân Hà Nội giỏi PR, giỏi quảng bá cái thi vị của thời tiết giao mùa kia đến mức cái nóng chẳng còn là đặc thù của Hà Nội nữa. Trong khi một năm Hà Nội 5 tháng mùa nóng, tức là mùa hè, áp đảo số tháng của mùa lạnh, nhất là hai kỳ xuân thu nhoằng cái đã hết, nhanh đến mức như chỉ lướt qua làm dáng.

.

Có lẽ không nên quên nhắc đến hai món đặc sản của mùa hè Hà Nội, cũng là những thứ giải nhiệt phổ biến, ấy là kem Tràng Tiền và bia hơi. Tại sao lại là kem Tràng Tiền? Hãy tưởng tượng có hàng kem nào ở Việt Nam lại có thể tập hợp được một đám đông đứng ngồi, dựng xe, dừng xe, đỗ xe, kẹt cả khúc phố Tràng Tiền không? Có hàng kem nào mà người mua chen nhau mua bằng được những chiếc kem có hình thức vuông chằn chặn như bánh xà phòng rồi hỉ hả túm tụm ăn với nhau ngay trên vỉa hè không? Dĩ nhiên là vì kem cốm và kem đậu xanh ở đây có hương vị ngon nổi tiếng. Nóng về chuyện kem đến mức chỉ một tin nghi ngờ có vi khuẩn tả mà người Hà Nội mê kem cũng liêu xiêu. Kem Tràng Tiền giờ thành công ty cho sản xuất bán khắp miền Bắc, nhưng hình như người ta vẫn chỉ thấy ăn kem nhấp nhổm chen nhau ở trước quầy mới là ngon, mặc cho trông vào thấy kem que nhem nhuốc hơn kem ly, mặc cho kem Fanny, kem chua New Zealand bắt mắt hay kem Long Vân - Hồng Vân mới tái xuất giang hồ.

.

Nhưng kem là thứ không ngồi lâu mà ăn được, ăn chậm thì chảy nước mà ăn hai que là “kịch đường tàu”. Thêm nữa, anh đàn ông dĩ nhiên là phải ngồi bên vại bia. Quán bia trong mùa nóng bỗng nhiên có vai trò kép: vừa là nơi có thức uống giải nhiệt hữu hiệu, lại vừa là chốn giải nhiệt những cái đầu nóng, những bầu tâm sự ngùn ngụt hảo hán lâm thời. Quán rượu Lương Sơn Bạc ngày xưa cũng như bia hơi Lan Chín, Dũng Râu bây giờ, không hiểu làm hả cơn nóng hay là ủ cho tăng nhiệt hơn? Người ta bỗng dưng thấy cái phong vị quen thuộc của các loại phiếm đàm, nhàn đàm hoặc đơn giản là nhờ cốc bia mà dễ nói chuyện với nhau hơn, những gì kiểu đàn ông nói chuyện đại sự. Lại nói chuyện hả cơn nóng, có những người phải tìm đến cách “hoành tráng hơn”. Đợt nóng cao điểm vừa rồi, 5000 cổ động viên đất Cảng vào sân Hàng Đẫy, đã phơi nắng hai tiếng mà lại còn phải chịu cái đau thua trận của đội nhà. Không biết đám này yêu bóng đá hay là mượn cái nóng mà chửi bới, đập phá, chặn đường, đánh lộn... đến mức bị cấm bén mảng đến sân khách vô thời hạn. Dân Hà Nội vốn đã oải với cái nóng gay gắt, nay có thêm danh mục thứ không nên đi xem khi trời nóng quá. Hay chính vì thế mà thủ đô có mỗi hai đội bóng chơi giải chuyên nghiệp thì cứ lẹt đẹt ở nửa cuối bảng chăng?

.

Nguyễn Trương Quý

TTVH cuối tuần 19.6.2009

.

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2009

Quảng Châu

.
Quảng Châu là trung tâm của vùng kinh tế lớn nhất Trung Quốc. Dân mình sôi lên vụ vải Quảng Đông nhiễm hóa chất, cũng như tinh thần bài Tàu lên cao, có lẽ cũng nên tìm hiểu. Dân làm ăn đánh hàng ở VN chắc không lạ gì Quảng Châu.

Chuyến đi Quảng Châu có một bà chị chẳng hiểu là dân kiểu gì, nửa như sếp, nửa như mấy bà hàng buôn chuyến. Cũng không hẳn là đẹp, nhưng ngực to, dáng thể thao. Nói giọng kiểu quê quê, nhưng sắc lem lẻm biết đủ thứ thâm cung bí sử, từ cơ quan cũ là về mật mã quân sự cho đến các doanh nghiệp vừa chạy giấy hải quan. Anh T dặn, "bà L này kể gì thì kệ bà ấy nhé, đừng nói gì, con mẹ ấy mafia lắm." Chị L đi ôtô nằm sang Quảng Châu lần này là đi cho vui. Mình thì nghĩ, đại gia cũng càng phải tiết kiệm. Đến cửa khẩu Hữu Nghị thì gặp hai người nữa, là người quen của bà ấy. Tay này kém mình hai tuổi mà nó đã đi Quảng Châu vài chục lần. Hộ chiếu đầy dấu visa. Lần này, hắn sang để đặt thêm hợp đồng mở rộng dây chuyền sản xuất băng vệ sinh phụ nữ. Hai năm trước, hắn mở một nhà máy ở Hà Tây, hàng bán chạy quá nên giờ phải khẩn cấp mở rộng.



Hữu Nghị Quan thì nhiều người đã biết, thực tế cũng là một công trình không có gì đặc biệt về kiến trúc, ngoại trừ cái vòm cuốn thật lớn. Cách đó chừng ba trăm mét về phía cột mốc biên giới là một tiểu cảnh có hòn giả sơn lớn, trên có đề mấy chữ đại tự. Sau này, về nhà được bố vợ bạn Lâm cho biết đó là những chữ của tướng Trần Nghị - ngoại trưởng TQ thời trước. Ấn tượng của ba năm trước là bên TQ xây hoành tráng bao nhiêu, bên mình nhà làm việc của hải quan bé tí và lôi thôi bấy nhiêu.

Sau chuyến đi xe nằm êm ru từ Bằng Tường, xe đến QC lúc sáng sớm.



Sông Châu Giang - trước đây có phim Tình Châu Giang từng hút mắt người xem truyền hình VN. Nhưng cái sông hồi có phim ấy hình như không nhiều nhà cao tầng thế này.



Cây cầu sắt chắc có từ thời trước Thế chiến 2.



Và người ta vẫn luyện thư pháp bằng nước sông với cái bút khổng lồ. Chắc chưa thấy cái đường bờ sông ở VN lại có thể phẳng phiu được như ở đây.



Trạm điện thoại kiểu Tây cũng có từ thời Dân Quốc.



Quảng Châu năm 2006 có hai tuyến tàu điện ngầm. Ở đây mỗi ga có một đề co riêng, màu riêng và nói chung dù có do Tây làm thì vẫn thấy vô cùng sáng tạo và hiện đại chứ không kiểu cũ kỹ như Tầu xuất sang ta. Cũng tàu điện ngầm, nhưng ở Bangkok không lộng lẫy như ở đây.



Hệ thống mái che không tác dụng mấy nhưng hoành tráng.



Ga màu trắng...



... lại màu xanh. Còn có màu đỏ, đen và vàng. Nếu không có metro, mà không biết tiếng Tầu thì bó tay. Bởi lẽ xe bus thì có cả trăm tuyến, không luận được, taxi thì có giở bản đồ, tài xế cũng mất hồi lâu mới xác định được nơi cần đến nếu như không ở trung tâm.



Beijing Lu (Bắc Kinh lộ, hay đường Bắc Kinh) là khu phố đi bộ của QC, nơi đủ thể loại quần áo và hàng thời trang. Giá cả thực tế cũng không rẻ, trừ dịp sale off vào Giáng sinh. Nếu so với những vùng nông thôn TQ thì đây như là một đất nước khác. Gần như ai đến QC cũng đến Pẩy chinh lủ.





Giữa con đường là một khu vực khảo cổ được bảo tồn theo cách làm mặt kính thủy lực bên trên. Người ta có thể thấy các lớp nền đường của thời Đường, Tống, Nguyên, rồi Minh, Thanh... Thật ra người xem cũng chỉ cần ngó thế là đủ. Việt Nam sao không nhờ Coca Cola tài trợ mà làm cái hoàng thành Thăng Long thế này?



Tuy bán đồ hàng hiệu nhiều và quần áo đẹp rất sẵn, nhưng thanh niên TQ không phải ai cũng mặc đẹp. Nhưng những bạn nào đẹp thì đẹp như siêu mẫu vậy: dáng cao và vẻ nhanh nhẹn, mặt lại bí hiểm kiểu người Tàu. Mình vẫn tò mò về cái màn hình video ở lối vào cửa hàng trên, nó hình chữ nhật dài nhưng có ngăn đôi bằng 1 vạch, không rõ là màn hình to giấu bên trong hay là kiểu phân chia màn hình rời như ở các buổi hòa nhạc có màn hình ghép? Đề co thật sáng tạo - như có người đi song song với ngoài phố.

Quảng Châu là đất giang hồ tứ chiếng từ xưa. Thời Dân Quốc nội chiến, Tôn Trung Sơn chọn QC làm nơi đóng chính quyền. Tòa nhà quốc hội giờ làm bảo tàng Tôn Trung Sơn.



Khuôn viên nằm giữa bốn đại lộ lớn, phía sau là ngọn núi Diệp Tú, có công viên và bia liệt sĩ gì đó. Vì đi đã lâu, lại không có bản đồ để đối chiếu nên độ chính xác về địa danh xin bỏ qua.



Kiến trúc tòa nhà cũng đẹp, không kiểu nặng nề hoặc cổ kính quá.



Bên trong là hội trường 2000 chỗ. Mái lấy sáng khá tốt. Không thấy có những kiểu băng rôn đỏ lựng, đấy là điều đáng chú ý. Mình cũng chưa rõ thái độ của cộng sản TQ đối với Dân Quốc là bao nhiêu phần trăm đề cao, nhưng cảm nhận là những gì bày ở đây khá tôn trọng. Thực tế là đi trên đường QC ít thấy cờ quạt khẩu hiệu, cũng như chỉ thấy lác đác cảnh sát công an.





Bản đồ và ảnh Quảng Châu thời năm 1920. Bây giờ địa giới thành phố lớn gấp 5 lần như hình bản đồ trên. Thời gian có hạn nên cũng chưa đi được mấy.



Mặc dù hình dung là ông Tôn này có cái kiểu áo truyền thống nổi tiếng nhưng thấy tượng rất kiểu dân biểu phương Tây: ria mép tỉa, áo măngtô, tay cầm can. Trên mặt tiền tòa nhà có bốn chữ: Thiên hạ...? (chắc không phải thái bình, vì chữ thái giống chữ đại có dấu ở dưới).



Tấm bia này có nội dung dịch ra tiếng Anh ở bên cạnh, đọc hóa ra rất buồn. Nội dung ý là "tôi rất lấy làm hổ thẹn vì đã không làm tròn bổn phận với quốc dân. Hi vọng rằng những người sau sẽ làm được..."

Ở Quảng Châu, khu trung tâm có rất nhiều công viên. Đã nghe nói đến Hoàng Hoa Cương từ hồi đọc sách Từ Hy Thái Hậu của Mộng Bình Sơn, nên bắt taxi đến đó, gọi là Huanghua Gang (nhưng phát âm chẳng giống như đọc).



Tấm biển sơ đồ chỉ dẫn được làm hẳn bằng đá hoa cương đen, chỉ dẫn các khu mộ của 72 liệt sĩ, trong đó có Phạm Hồng Thái. Có bảng thông tin trưng bày ảnh các vị đến thăm, có cả bác Lương nhà ta.



Trung tâm là một đài tưởng niệm bằng đá hoa cương màu vàng, vì thế gọi là Hoàng Hoa Cương. Nói chung mình không thích các kiến trúc ở công viên này, là một sự lai tạp giữa kiến trúc Tây và Tàu, nhìn cũng chẳng hoành tráng mà lại quê quê. Được cái không gian sạch sẽ và ngay ngắn kéo lại.



Trên đài tưởng niệm có 72 viên gạch khắc tên 72 liệt sĩ hi sinh trong thời Dân Quốc, qua nhiều thời kỳ chứ không phải là cùng lúc. Năm 1988, người ta làm một phiên bản tượng Nữ thần Tự do đặt lên trên nóc.





Đây là mộ của một vị liệt sĩ là phi công lái máy bay quân sự người đầu tiên của TQ. Vì thế trên nóc cổng có hình hai cái máy bay cánh kép bà già, còn hai bên bậc thềm là hai quả tên lửa. Trông cũng thật thà.




Mộ Phạm Hồng Thái đặt riêng ở một góc. Không phải cả 72 vị đều có mộ xây thành đài, mà chỉ khoảng 20 vị được thế này. Còn lại có những khu xây kiểu xếp hàng.







Những cái mộ thì cũng chẳng có vị gì, có lẽ đẹp nhất là những con đường cây. Sao mà sạch thế không biết!

QC có một thứ nổi tiếng thế giới, đó là hội chợ quốc tế, mỗi năm 2 lần. Đến nay họ đã tổ chức được hội chợ lần thứ 110 rồi. Có lẽ đây là hội chợ hàng tiêu dùng lớn nhất thế giới, bởi TQ giờ là công xưởng của thế giới, không đâu sản xuất rẻ hơn đây, nên người ta về đây làm ăn là có lý do.



QC có hai trung tâm hội chợ. Trung tâm cũ ở khu phố cũ, cũng chật hẹp kiểu Giảng Võ nhà mình, nhưng hàng hóa đầy ăm ắp. Còn trung tâm mới, xây hiện đại ở một khu xa xa bên kia sông. Trung tâm này có kiểu kiến trúc cùng phong cách với sân bay mới, dùng hệ dàn lớn gây ấn tượng hình thức. Nhìn kỹ thì hơi giống cái bánh xích xe tăng!





Hệ thống đường dẫn vào có kết cấu lượn sóng hoành tráng. Để vào hội chợ, cần đăng ký trước qua website, khi đến chỉ cần mang tờ in ra là sẽ có ngay thẻ đeo, không cần hỏi han số má gì sất. Vào đến chỗ xếp hàng, thấy ngay cảnh tượng nhân viên làm việc nghiêm túc thế nào. Mỗi khi họ xong việc, lập tức họ đứng phắt dậy, giơ tay lên ra hiệu xung phong đón khách làm thẻ tiếp. Chỉ mất 5 phút là có ngay thẻ, cho dù chẳng nói với nhau được câu nào: nhân viên thì không biết ngoại ngữ, khách thì mù tịt tiếng Tầu. Có vẻ như đây chủ yếu là các tình nguyện viên, vì hội chợ mỗi kỳ diễn ra 2 phase, cách nhau 1 tuần.





Phía sau nhà triển lãm là sảnh hút thuốc.



Bên trong là một sân trời rộng, có các dịch vụ ăn uống. Băng tải xuôi ngược đủ kiểu. Có cả những sảnh ăn dành cho người đạo Hồi. Đang đi, thấy có những bác Ảrập khăn quấn đầu, nằm rạp ra một góc làm lễ.



Hệ thống tấm trần xếp theo kiểu domino.



Anh T muốn tham khảo về đồ chơi. Thôi thì đủ cả. Từ mô hình những ôtô nhỏ xíu đến cả những bộ áo giáp kiểu thời Trung cổ.











Những mô hình này đắt, vì sản xuất theo kiểu bán thủ công. Nhưng nếu muốn đặt hàng, số lượng cũng phải vài trăm chiếc trở lên. Ai đi tặng trẻ con một cái trạm bơm xăng làm gì nhỉ?

Quảng Châu là thành phố cũng còn nhiều khu cũ kỹ kiểu thời xưa. Các khu phố mới thì cũng như các đô thị khắp nơi, toàn bêtông kính thép. Nhưng bộ mặt đường phố thì rất sạch, ít thấy rác hay là ngồi chồm hỗm vỉa hè. Nhưng cảm giác lạnh lẽo, khô khan. Từ mặt tiền nhà cửa đến mặt người cứ bí rì rì, không có vẻ nhấm nháy "nhìn đểu" kiểu dân VN hay Đông Nam Á (hê lô mít tơ, xích lô ma đam...).



Một cái ngân hàng có kiến trúc cũ. Người đưa nước vẫn đạp xe thồ giao hàng nhé.



Phía sau là khách sạn mới.





Nhiều kiến trúc hiện đại khá ngon lành về hình thức. Nhưng nhìn đến cái thứ 10 đã thấy chán.



Cái này tình cờ phát hiện trên taxi. Mọi người có thấy cái nhà trung tâm thương mại hàng hải - Ocean Park ở ngã tư Kim Liên của ông Nguyễn Tiến Thuận thiết kế giống cái này không? Trước đây đã nghe có người nói là copy, nhưng chả biết có phải từ đây mà ra không. Nhưng nói chung cũng chẳng phải là những cái nhà hấp dẫn. Những cái băng ngang đều đều như tấm mành nhựa, buồn lắm.



Những cái nhà ở khu đô thị mới này thì đẹp. Đây là khu trên đường đi Thẩm Quyến. Thẩm Quyến cách Quảng Châu chừng 100km về phía Hồng Kông.



Ngoại ô đâu cũng kiểu nhà chuồng thỏ.



Giữa đường là thành phố Đông Quảng (Dong guang). Trên là Ủy ban hành chính, cũng kiểu kiến trúc khai thác truyền thống. Nhưng cái màu đá ốp, màu ngói đỏ và màu xanh kính nhìn quê. Đông Quảng được giới ăn chơi nói rằng là nơi nhiều "dịch vụ", Quảng Châu và Thẩm Quyến phải về đây tìm. Đông Quảng cũng là nơi có mật độ nhà máy nhiều nhất khu vực. Suốt con đường cao tốc từ QC đi TQ, tốc độ là 100-120km/h và chẳng có bóng công an nào.

Đi tàu QC-TQ chỉ mất tiếng rưỡi. Đường tàu khổ rộng nên toa tàu rộng hơn 40cm so với VN, các ghế ngồi quay vào bàn như ở canteen, nói chung là rộng rãi và lịch sự. Cứ nhìn nhân viên phục vụ đứng ở cửa giơ tay tiễn khách thì thấy. Ăn mặc như tiếp viên hàng không, mỗi tội mặt không biểu cảm.



Vì không có thời gian nên chỉ loanh quanh ở Thẩm Quyến một buổi. Khu vực trung tâm cũng xấu xí, toàn nhà cao tầng kiểu TQ, nghĩa là cứ kính nhôm cửa sổ và máy điều hòa san sát. Đại lộ thì kiểu palm-lined và người thì nhiều như kiến.





Mặc cho người qua kẻ lại vội vã, anh chàng sinh viên nhạc này vẫn réo rắt Torna a Surriento. Nhưng có vẻ không lạ. Ồn ào thế, ai mà kiên nhẫn được.



Viết bằng chân may ra còn có khách. Một tay nữa đâu nhỉ, giấu trong áo hay cụt?



Tay cụt ngón, chân bại liệt viết thư pháp. Cậu tùy tùng của chị L vốn dân học ở Quế Lâm nói, có khi bọn nó tự làm thương tật để kiếm ăn ấy chứ, bọn Tầu này kinh lắm.



Cậu đó dịch cái lời trong tờ giấy dưới chân ba đứa kia là: Chúng em là sinh viên trường... bị mất hết tiền, bố em ốm nặng, chúng em xin 500 tệ để về nhà... Trông bọn nó quỳ cũng thật chứ nhỉ?



Cả hội thấy có người bán những con ngựa vằn phi lóc cóc. Ngộ ngộ, lại rẻ, thế là mua...



...chứ chẳng thể mua Nina Ricci được. Nhìn gian hàng bày công phu thấy cũng ghê. Ở các tầng sale off, nhân dân nườm nượp trả giá. Tóm lại là ham mua sắm thì chết tiền. Cứ bảo đồ Tàu độc hại, nhưng các chị em nếu có lạc vào cũng hoang mang rồi tối mắt lại ấy chứ.



Lúc này trung tâm TQ vẫn còn đang xây dựng nhiều. Ấn tượng nói chung là một nơi để đi làm chứ không phải nơi để thưởng thức.



Quay lại nhà ga, lúc này đã tối. Cuối đường là cửa khẩu sang Hồng Kông, bên kia một con sông. Dĩ nhiên là mới chỉ đến tô giới chứ chưa đến khu trung tâm. Ở cửa kiểm soát, hàng đoàn dân Hồng Kông về nhà nghỉ cuối tuần sau ngày làm việc ở Thẩm Quyến. Tòa nhà đằng xa là khách sạn Shangri-La. Shangri-La ở giáp Tây Tạng (theo cách gọi của Tàu, chứ Shangri-La là sản phẩm tưởng tượng của James Hilton) thì mình đã đến, nghĩa là miền cực lạc. Nhưng rồi có ai ở lại mãi đâu. Đi mãi rồi cũng quay về, theo phát hiện của một đạo diễn phim trẻ VN.
.
+ Đã chỉnh sửa thông tin theo "Nặc danh", xin cảm ơn.
.

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ