Thứ Năm, 3 tháng 5, 2012

Hà Nội Quý

Cảm ơn chị Lê Minh Hà về bài viết công phu này. Link: http://www.diendan.fr/sang-tac/ha-noi-quy/.

Hà Nội là cái quái gì? Khiến kẻ có tí chữ nghĩa sinh ra lớn lên cùng với phố thì tự hào dù có khi ông nội bà ngoại chân đặt vào trong cõi vẫn còn màu đất, mà không viết được đôi ba trang về nó thì cứ thấy như là mắc nợ? Còn kẻ ở xa về rồi một đời nán lại không có dăm ba chữ về cái quê mới này thì ấm ức chưa tráng được mình qua nước sông Hồng?
Ừ, viết. Thì cứ viết, nhưng Hà Nội là cái quái gì mà viết về nó thì đông, có được cái tên nhờ nó thì vắng. Cứ cho là người xa nào cũng có một quê nhà để nhớ, để bỏ đi gần suốt đời nhưng chỉ tới lúc quay về mới thực sự trở lại là mình, nên viết về thành phố quê mới này khó „tới“, nhưng ngay kẻ sống một đời với phố đổ cả đống chữ đầm đìa tình ý ra mà viết về nó vẫn chỉ thu về được đôi ba cái nhìn lớt phớt từ người đọc, là sao?
Chẳng cần biết. Nhưng rõ ràng là vì thế rất dễ đếm đầu các nhà văn nhà thơ viết về Hà Nội mà được người ta tấm tắc. Bởi rất không nhiều. Khi tôi nói nhà văn nhà thơ là tôi đã giới hạn rồi đấy nhé, trong khái niệm „nhà“ này không có cụ Nguyễn Trãi „góc thành Nam lều một gian“, Lê Hữu Trác “thượng kinh“ rồi „kí sự“, Bà Huyện Thanh Quan „lối xưa xe ngựa hồn thu thảo“, Nguyễn Du „Long thành cầm giả ca“, ngay cả bậc tài hoa tài tử bóng xoài giữa hai thế kỉ giữa đất Hà Nội Tản Đà cũng không có đâu. Gọi các cụ nhà nho nhà nôm xưa là nhà thơ nhà văn? Hihi. Kì cục.
Rất không nhiều người viết về Hà Nội, nhưng ai đã lưu được tuổi tên khi viết về thành phố này thì chắc chắn phải không giống bất kì ai.
Tôi nhớ một người viết về Hà Nội tuyệt hay, dù rất ngắn, người luôn làm tôi có cảm giác đi nhẹ nói khẽ ăn ít no lâu, nhã không thể nào nhã hơn.
Ông có biết không ông, giờ đã có một Hà Nội mới, và nó, thành phố ấy đang được một kẻ hậu sinh ông soi mói, nâng niu, yêu rồi chán yêu, rồi lại yêu thôi, tuyệt tình làm sao được. Rất khác, nhưng đọc, lại thấy như vẫn là cái tình ấy mà tự ngày ấy ông đã làm thức dậy trong lòng người Hà Nội, khiến người ở xa những đâu đâu cũng muốn một lần về.
Cái gã zai đó khi đọc được lần đầu trên một tờ báo mạng từng rất tiếng tăm và sẽ tiếng tăm mãi trong lịch sử báo chí Việt Nam cho mà xem, tôi đã phải hỏi ngay người làm nên hồn vía của nó. Phạm thị khoái chí mà rằng thằng cu ấy là sinh viên Kiến trúc, mới có hai tám tuổi thôi.
Từ ngày đó, gã đã in vèo vèo mấy tập, tập trung quanh một đề tài: thành phố cha sinh mẹ đẻ, thành phố từ đó gã lớn lên và đang già đi. Gã zai đó tôi đeo đuổi từ bấy đến giờ có dễ cũng chục năm đến nơi rồi.
Có thể là do cái nghề gã chọn, cũng có thể gã thuộc lớp người sinh ra sau chiến tranh, lớn lên thời hết cấm vận mà gã cũng dễ dàng đi đó đi đây nhìn ngó nên khi viết về một vẻ đẹp đặc thù, cũng là cái bất cập đáng nói nhất lúc này của Hà Nội, là kiến trúc, gã có cách nhìn không giống những người viết khác. Nếu có cố cho ra vẻ người biết rồng rộng tí, thì chắc phải so sánh cái gã viết với Hà Nội phố phường xưa của cụ Hoàng Đạo Thúy. Hà Nội với phố phường nhà cửa cống rãnh hôm nay qua mắt gã không mang tính kĩ thuật khiến kẻ ngoại đạo sưng đầu, cũng không có cái kiểu mặt tiền nhân thể nhìn rồi suy tư nhớ trước quên sau, à, không phải, nhớ xưa mà chán nay. Cái mà tôi chịu nhất khi đọc những trang gã viết về kiến trúc của thành phố này là gã không thi vị nó, dù tình gã dành cho Hà Nội thì chắc là cũng yêu lắm lắm như tôi. Nói thế để nhân thể thêm rằng Hà Nội bây giờ với tôi mất hẳn vẻ hoành tráng mà bay bổng, với cái kiểu xây cho nhà cao cao mãi dù vốn ít hay nhiều dù nhà nước hay nhân dân làm chủ, cụng như rựa, hehe, là cái lối tả pí lù kính với cột nửa già nửa trẻ làm cho phố tiệt hết duyên xưa, lại còn thêm những biển hiệu chẳng biết dạy khôn hay dạy ngu kiểu Toà nhà FPT, NƠ nơi ở - lối đánh số nhà ở đôi ba khu chung cư đời mới, và lổm nhổm trên trời toàn những Sơn Hà xay gió với đựng nước. Nói thì lại bảo phản động, chứ với tôi, phố Hàng phố Tây phố cổ phố cũ thời thực dân phong kiến ngày xưa đi qua những cuộc oanh tạc của B52 rồi, chiều chiều bời bời gió thơm mùi những mùa với những lặng im cho người ta ngẫm nghĩ mới gọi là Hà Nội.

Nhưng hồn phố đâu phải chỉ là hồn sương nắng trên những mảng tường, ô cửa, bậc thềm. Hồn phố là hồn người ở phố.
Hà Nội biến đổi khiến nhiều người Hà Nội già già mê cái nhịp sống tưởng chừng như bất động của nó, theo quy ước Hà Nội thì phải a phải b phải c. Nhưng thật thì Hà Nội chưa bao giờ không đổi. Có đi thật xa tôi mới hiểu tại sao mình ưa nhịp sống của thành phố lớn với đặc tính vô danh ở đó. Đấy là vì tôi sinh ra lớn lên ở Hà Nội, khi đó rất nhỏ, rất nghèo, rất vắng, nhưng vẫn là một đô thị theo đúng nghĩa, có khả năng dung nạp mà không nhất thiết làm tất cả phải tan hòa. Từ thị dân, nếu không vừa nói vừa nheo mắt khẩy một tiếng cười thì đúng là một từ rất đẹp nhé, vì nó túm vào, nhồi nặn và mở ra một kiểu sống của một tập hợp người không thể nào hiện sinh được ở huyện lị hay thị trấn hay thị xã, dù ở đó có những con đường cũng được gọi là phố như ai.
Thị dân bậc nhất, vừa đáng yêu nhất vừa đáng ghét nhất vừa đáng thương nhất vừa đáng trọng nhất là dân trung lưu có học hành bài bản tí chút. Trong văn xuôi, từng có một kiểu thị dân suy tư trước cái ý vị của „rau thơm tươi hồ tiêu bắc giọt chanh cốm gắt lại điểm thêm chút cà cuống thoảng nhẹ như một nghi ngờ“, sống chậm và nghĩ kĩ - Thạch Lam, từng có kiểu thị dân xê dịch khắp nơi mà nghĩ gì cũng ra màu người phố - Nguyễn Tuân, từng có kiểu thị dân thân Kẻ Mỗ Kẻ Xù Kẻ Đăm Kẻ Nhổn bước một bước qua sông Tô Lịch thì thành kẻ khác: Kẻ Chợ - Tô Hoài… Gần hơn, là Bảo Ninh, Nguyễn Việt Hà, Đỗ Phấn, hay Đinh Vũ Hoàng Nguyên nữa, có cho nhân vật đi từ trong rừng ra hay tống cổ qua tây hay đưa lên núi hay tự đầy vào xóm liều cứ nghĩ một ý nói một câu kể cả nói tục là đọc ngay ra vị người viết là người ở phố. Nhưng người viết tập trung vào nhóm thị dân đáng yêu đáng ghét đáng thương đáng trọng nhiều nhất trước nay thấy độc Nam Cao.
Và bây giờ là gã zai này.

Và tới gã, thì thấy Hà Nội với mình đổi hẳn rồi. Giống một cõi thiên thai chỉ về lại được trong tâm tưởng. Gì thì gì, mấy mươi năm xây dựng xã hội chủ nghĩa, có ai đi nước ngoài lâu đến thế nào, nếu về vẫn trong giai đoạn ấy cũng không thể có cảm giác này đâu. Hà Nội khi đó cứ dậm chân tại chỗ dậm thế thôi, gặp lại chỉ choáng chút nhưng vẫn là Hà Nội „em mãi ngoài hai tuổi ta mãi là mùa xanh xưa“, thế.
Thị dân, trong các tùy bút tản văn của người viết này đích thị là thị dân Hà Nội đương đại. Đấy là những người có học, rất cá tính. Cá tính ngay trong cách sống tẻ nhạt, vừa mạnh mẽ vừa lờ đờ, vừa khôn ngoan sáng tạo vừa lặt vặt tủn mủn, vừa ngạo mạn vừa nhẫn nhục vô lối, đôi lúc dị hợm đôi lúc dị mọ, tạo thành một tập hợp nhờ nhờ không thể thiếu trong mọi điều tra dân số hay xã hội học. Họ thật sự là công chức, phải gồng mình lên mà đáp ứng những đòi hỏi của đời sống chứ không phải là kiểu cán bộ hành chính sự nghiệp trẻ trẻ một thời mà cơ quan nhà nước họ làm như thể là trường cấp năm sau đại học cấp tư. Chính họ, chứ không phải ai khác, là người đi đầu trong quá trình hội nhập với bên ngoài, vừa đi rất nhanh vừa than rất nhiều. Không có trò than vãn này, họ chưa chắc là trí thức.

Viết về họ với một cái nhìn vừa yêu mến vừa châm biếm từ bên trong, dí dủm và đường hoàng, gã zai này gặp bloger Đinh Vũ Hoàng Nguyên vừa đi xa, dù cách đặt vấn đề và thể loại mỗi người tự chọn có khác. Đỗ Phấn, trong đề tài này, ở thể loại tiểu thuyết, rất chi là hóm, đằng sau đó là nỗi muộn phiền, kiểu của một lớp người đã bắt đầu thấy hàng ngày gió lạnh hơn, âm thanh ồn ã hơn, bụi bặm ngột ngạt cũng cứ từng ngày khó chịu hơn một chút. Nam Cao buồn bã, chua chát, sóng ngầm khi sống mòn. Tô Hoài thì càng khác nữa, thị dân Hà Nội của Tô Hoài khôn hơn, hòa với chung quanh một cách đầy ý thức để yên thân, nhất là thị dân thời bao cấp.
Thị dân thời ô tô làm tắc đường chung là mơ ước riêng nhưng xe máy vẫn thống soái đáp ứng được những khát khao đi nhanh bay xa vừa túi của gã zai này tưởng chừng cũng sống mòn, cũng khôn để thân cư đâu cũng yên, nhưng phở còn chê chứ không bảo hoàng trước phở như Thạch Lam, Vũ Bằng, cà phê thay chè chén quán vẩy từ một bờ tường ngõ nhỏ nào. Ấy là vì đời sống đã khác quá rồi và họ là một phần làm nên cái khác ấy. Đời sống của họ là đời sống của tốc độ, của đổi thay, cái mới nhiều khi nham nhở, cái cũ nặng nề, mất giá. Họ không sống chậm được, hay không hề mong sống chậm, họ không nhã được theo kiểu lịch kịch mất thời giờ, nhưng cái lối than van về đời sống vẫn làm cho họ giống cha ông họ, nghĩa là vẫn lịch. Hoặc chí ít là họ muốn giữ cái lịch nhiều đời làm giá cho những cái lịch nội sinh từ thời của họ. Hay là kẻ viết về họ muốn thế. Và nhờ thế, Hà Nội suồng sã, xô bồ, nông và xổi, lừ lừ chuyển động hôm nay trong mắt người xa vẫn nguyên vẹn cái duyên, cái bặt thiệp của ngày tháng cũ, chỉ khác, cái duyên tế vi ấy, cái lịch lãm nhã đạm ấy không phơi trải được dễ dàng nữa mà phải xuyên qua đời thường sôi sục và tẻ nhạt, để nhói lên. Phải vì thế mà đọc Hà Nội của người Hà Nội này, không phải tự dưng mà bất giác ta tưởng tới Võ Phiến - một người viết tùy bút tuyệt vời một thời ở miền Nam trước 75. Vâng, cũng là cách nhìn ấy, cảm mọi hiện tượng văn hóa qua những biến thiên lịch sử, qua những vận động của kinh tế và xã hội.
Nhưng khi viết những tùy bút đó thì cụ Võ Phiến bao tuổi nhỉ? Cậu chàng này còn rất trẻ. Vậy mà cảm giác nó rất già. Viết về đương đại không dại tí nào, cứ tùy tùy thế thôi, thâm trầm, giản dị. Thể loại này đòi công phu nội lực ghê gớm lắm mới giữ được tay người đọc chờ mắt nhòm hết chữ mới giở qua trang. Thiếu nội lực, ở đây là vốn hiểu biết thật sự về điều mình viết, và còn nữa, cái tình dành cho điều mình viết phải mạnh mẽ, phải lặn thật sâu, thiếu, thì viết gì cũng dễ thành lảm nhảm.

Có một người trẻ viết tùy bút cũng nhiều, và cũng hay, lại còn là đàn bà, tôi cũng thích đọc bây giờ, là Nguyễn Ngọc Tư. Nhưng cô Tư thì mang cổ đi đâu đọc cũng được, vì đọc dễ. Còn cậu chàng này khác. Chẳng thú vị gì khi phải nói, nhưng không nói thì làm sao cắt nghĩa được sự mình đeo đuổi người ta bảy tám năm nay: cái tạng tôi, dễ yêu cô Tư nhưng hợp với lối nghĩ lối cảm của cậu này hơn. Cùng là người đấy việc đấy thôi, có người nhìn ra chuyện, lại có người nhìn ra sự. Cậu zai này giỏi nhìn ra sự. Thế nên các tùy bút của cậu ta, dĩ nhiên là đăng báo cả rồi, nhưng nếu coi là văn thì nó có tính báo chí rất cao. Mà nếu coi là báo thì những bài báo đó có chất văn hiếm thấy. Cái này cũng là đáng nói lắm nhé, khi mà mở các trang online cứ ngày qua ngày ngỡ ngàng thấy mục văn hóa giải trí. Đâm bần thần sao không giải trí bằng văn hóa. Nhưng mà giải trí bằng văn hóa, giả dụ bằng tùy bút tản văn của gã zai này? Có mà bận trí thêm. Nhỉ?
Hà Nội một thời từng là Phố Phái trong hội họa. Trong văn chương, mà cụ thể là văn xuôi thì sao? Có một Phố Hoài, hẳn thế. Mới đây Đỗ Phấn in một loạt tiểu thuyết rất ám người, Phố Phấn là phố một thời nay hấp hối, đổi kiếp. Phố của gã zai này chính là kiếp mới của phố ngày xưa, sống động, sục sôi, ồn như rock nặng, thử gọi bằng tên gã, Phố Quý, được chăng?
Tô Hoài dừng lại ở Hà Nội một thời bao cấp. Tô Hoài giỏi nhớ, giỏi ngẫm ngợi, kĩ lưỡng, lẩn mẩn, và Tô Hoài không đặt trước người đọc một khái quát nào. Nguyễn Vinh Phúc được mệnh danh là nhà Hà Nội học, có điều Hà Nội của ông giáo dạy văn này gần với sử. Băng Sơn viết cũng nhiều về Hà Nội, tư liệu cũng như tình yêu đều đáng nể, nhưng chữ của ông nhạt, thiếu văn. Hà Nội của thời nay tính từ khi hết bao cấp, mới đó cũng sắp ba mươi năm rồi, chưa có nhà văn nào trẻ trẻ để tâm và trường hơi đến thế ngoài một cậu chàng này. Lứa tuổi tôi cảm nhận dễ dàng, rõ ràng Hà Nội của Tô Hoài, cảm thông dễ dàng với Hà Nội của Đỗ Phấn, nhưng với người Hà Nội đi xa, cái cảm giác bị chặt phăng khỏi quá khứ buổi đầu là có thật. Người viết này đã cho tôi biết, hiểu và yêu thành phố của mình, không phải bằng một tình yêu mới hay là yêu lại, mà hóa ra là vẫn thế, vì Hà Nội là Hà Nội, vẫn có những góc những người cho mình ngồi lại với nhau.
Gần đây tôi mới biết gã từng học ở trường tôi dạy trước. Biết gã trước khi là sinh viên kiến trúc thì đã là học sinh, chuyên gì không chuyên lại chuyên văn, bất chợt thấy mình run dần dần. Kiểu cảm kiểu nghĩ này của cậu ta, chẳng một ông thầy bà thầy nào gột nổi. Nó là tích tụ của đủ thứ lịch và nhã từ nhà ra đường, từ mây trời xuống bụi phố. May mà mình bỏ trường bỏ lớp trước khi nó vào trường, chứ nếu là người dạy lớp nó ngồi…. Biết đâu lúc mình đang huyên thuyên diễn giải về các thứ tình và trình, nó lại buồn đến không thèm phì ra cười.
Khéo thế thật chứ chẳng bỡn.
Berlin - tháng 4. 2012

Lê Minh Hà

Đăng nhận xét

Nắng thì nắng cũng vừa vừa thôi chứ